Phía sau trang sách

Winner of International Booker 2020: “The Discomfort of Evening” – Tiếng nói thô ráp của những nghi ngại

Published

on

Discomfort is good. In discomfort we are real.

Ted Hodgkinson, chủ tịch ban giám khảo Giải thưởng International Booker 2020, trong đêm trao giải đã hùng hồn nói: “Chúng tôi đặt cho mình nhiệm vụ to lớn, là việc chọn ra người chiến thắng từ một danh sách rút gọn xuất sắc, một tác phẩm chứa sự hư cấu đủ táo bạo để xây dựng một nền móng huyễn hoặc và phá vỡ mọi giới hạn của tiểu thuyết thông thường. Từ trường hợp đặc biệt và trong bối cảnh cũng đặc biệt không kém, chúng tôi đang tìm kiếm một cuốn sách vượt xa sự lặp lại hiện tại lạc hậu và sở hữu giá trị vượt thời gian.”

Bám sát sườn với lời tuyên bố này, The Discomfort of Evening đã nhận được vinh dự cao nhất từ hội đồng International Booker trước sự hài lòng của đông đảo độc giả cùng ít nhiều bất ngờ, đặc biệt khi tác phẩm có lối viết thể nghiệm, ngang tàn và bất cần này vượt qua đề cử có phần truyền thống và tiền lệ hơn (The Memory Police của nữ nhà văn Nhật Bản Yoko Ogawa). Bỏ qua những yếu tố ảnh hưởng bên lề theo dòng chính sự, ta nhìn vào nội tại trần trụi của tác phẩm. “Kết hợp giữa khả năng cảm thụ mới mẻ và bản dịch nhạy cảm kỳ lạ, The Discomfort of Evening là sự gợi lại nội tại nhẹ nhàng về thời thơ ấu bị kẹt giữa sự xấu hổ và cứu rỗi, đồng thời là cuốn sách vô cùng xứng đáng giành được Giải thưởng năm nay.”

Có gì đằng sau cuốn tiểu thuyết vừa được trao giải Booker Quốc tế? Những uẩn khúc nào trong câu chuyện bán tự thuật của nhà văn – nhà thơ Marieke Lucas Rijneveld, một non-binary với cá tính rất khó trộn lẫn của xứ Hà Lan? Có hay không cuối cùng Booker đã tổng hòa được tính văn chương, hay The Discomfort of Evening chỉ là bản hòa ca của những trào lưu thực tế – của dystopia, của LGBTQ+, của nghệ thuật và phong cách ổn?

*

The Discomfort of Evening là cuốn tiểu thuyết mang đến nhiều nghi ngại. Dẫu biết bất công khi nhận xét một cuốn sách bằng tính từ như thế, nhưng rõ ràng với tiểu thuyết đầu tay này, Marieke Lucas Rijneveld không làm gì hơn ngoài gieo rắc tình thế khó chịu trong suốt chiều dài câu chuyện. Bằng giọng văn lạnh tanh, sắc bén như lưỡi dao mổ, Marieke gây mê người đọc khiến họ rơi vào tình trạng bải hoải, đồng thời thách thức những cách tiếp cận văn chương thường thấy, nơi cái duy mỹ, đẹp đẽ vẫn thường trồi lên; để đến với những ung mủ thô ráp nhưng thực của tình trạng yếm thế, của bản chất vô cùng nguyên thủy nơi dòng giống người.

Tiểu thuyết mở đầu bằng bữa tối hai ngày trước Giáng sinh của một gia đình nông dân kính Chúa, nơi ngôi kể chính – Jas – cô bé 10 tuổi, chứng kiến những u ám nối tiếp lẫn nhau. Phát súng đầu tiên là cái chết của Matthies khi cậu bé lọt vào hố băng khi đương trượt tuyết khiến mọi thứ trải ra phẳng lặng. Ám ảnh sâu sắc vì cái chết của đứa con trai, người mẹ bỏ ăn còn người cha cố chống chịu từng ngày trong khi những đứa trẻ còn lại thoi thóp trong sự áp đặt. Nhưng chiếc vòng kiềm tỏa không dừng ở đó, nó ngày càng thít chặt hơn khi đàn bò lâu đời của gia đình họ dần dần mất đi bởi dịch bệnh. Chỉ đến khi đó, họ – cha mẹ của ba đứa trẻ – mới sụp đổ hoàn toàn. Họ nhợt nhạt, buồn thương và vô định trước những ý nghĩ cuộc sống. Cũng từ trong đó, bản chất yếm thế của họ dần dần hiện ra, và sự tự khám phá của những đứa trẻ cũng dần bộc lộ. Với một kịch bản buồn thương nối tiếp buồn thương, Marieke, một cách khó chịu, dẫn dắt người đọc đến bi kịch từ từ, để rồi bất chợt nhận ra, sau bi kịch này là bi kịch khác, nối tiếp – không ngừng.

Tình trạng yếm thế

Marieke rào mở tiểu thuyết bằng kiểu kịch bản đoản hậu đậm chất sân khấu, nơi bi kịch lấy đi nước mắt, còn sự đồng cảm giữ chân người xem. Dường như sau hai cơn bão đánh úp vào gia đình ấy, mỗi một người họ lại héo mòn dần. Người mẹ sau cái chết của Matthies trở thành cái xác không hồn. Bà ở đó, nhưng lại không ở đó. Bỏ ăn, đãng trí và làm những việc không đâu – những hành xử khó hiểu làm nên con người sau tận thế. Người cha cũng không gì hơn, một người kính Chúa, người cha mẫu mực; cuối cùng rồi thì sau khi đàn bò mất đi, ông chỉ ngồi lặng im đó, hút thuốc như đang trôi tuột vào trong hư không.

Marieke xây dựng nhân vật thuộc hai giới vô cùng điển hình: một người mặc trôi, một người cố gượng; một người bỏ xuống, một người đặt lên. Người mẹ hiện ra trước mắt người đọc như loài mực ống với bộ não người máy bơi trong đại dương vô phương bất định – nơi bản thân trong suốt phản chiếu sự đời từ tận bên trong nhưng hành xử được lập trình sẵn mà lại không biết sẽ đi về đâu. Người cha thì hoàn toàn ngược lại. Thân thể vốn luôn sẵn sàng như một người máy chỉ chờ đoạn code, còn tâm trí hoàn toàn là người chìm trong màu xám của nỗi buồn thương.

Nhưng điểm đặc biệt của cuốn sách này không nằm ở đó, mà là ở Jas – một phiên bản khác của chính Marieke. Cũng như tựa đề vận vào cuốn sách, sự khó chịu có ở khắp mọi nơi, từ trong không gian cho đến quần áo, từ trong lời nói đến cả hành động. Jas trong tiếng Hà Lan nghĩa là áo khoác, và cũng như thế, cô bé luôn quấn quanh mình chiếc áo khoá kín với cái khóa kéo ngậm chặt trong miệng. Nơi hai túi áo là hằng hà sa số những thứ linh tinh, những thứ cô giữ cho bản thân mình những mảnh ký ức: chú cóc, râu thỏ, mảnh heo đất vỡ… Jas lý luận rằng: Có hai loại người: giữ lại hoặc cho đi. Tôi thuộc loại thứ hai. Người ta có thể giữ lại một người hoặc một kỉ niệm với những thứ mà họ đã nhặt nhạnh được. Vì thế tôi ném chúng vào túi áo.

Khuôn mặt từ lâu vốn luôn nhợt nhạt cùng với căn bệnh táo bón lâu ngày không khỏi, Jas đứng đó như góc nhìn của Marieke quan sát tất cả. Từ sự dữ dội thèm muốn cái chết của Obbe cho đến vẻ ngây thơ của Hana, từ việc nhận thấy cái chết dần mòn của gia đình mình cho đến ước rời bỏ đi một nơi khác; Jas ẩn chứa trong mình cái yếu đuối của riêng con người, về giống cái, vẻ nhợt nhạt, về căn bệnh, vẻ nhạy cảm… Thông qua lăng kính dường như đại diện cho tất cả ấy, những thứ lờ mờ chỉ càng hiện thêm ngày một rõ hơn đằng sau tiêu cự. Họ là loài người dần dần tan vỡ, trở nên nhạy cảm với những bi thương, ngã quỵ trước nguy kịch. Họ vùng vẫy – như Obbe – nhưng đó cũng là cú vùng vẫy sau chót, vùng vẫy ngay cả khi họ đang bước chân vào vùng cát lún.

Marieke xây dựng một thế chông chênh, nơi mà ông bố và Obbe là hai trụ cột mạnh mẽ. Họ ở đó, chứng tỏ bản thân họ không ngã quỵ, mà còn hơn thế nữa, họ chứng tỏ khả năng làm chủ tình hình của bản thân mình – như Obbe và niềm ham thích ban đi cái chết. Nhưng không, đó chỉ là sự vùng vẫy một cách vụng về, càng làm rõ hơn một vẻ yếm thế vô cùng cố hữu. Vẫy vùng thoát ra, nhưng không gì khác ngoài càng lún sâu.

Bản chất nguyên thủy

Ở một mặt nào đó, The Discomfort of Evening gợi nhắc nhiều tới Flowers in the Attic của V.C. Andrews khi cùng đó là sự bỏ rơi, là sự bỏ mặc tự tìm bản thân. Cốt truyện cả hai cũng khá giống nhau. Cả hai gia đình đều được dựng trên nền móng của sự hoàn hảo: một cha, một mẹ, hai trai, hai gái. Nhưng khi bi kịch đột ngột ập xuống, hy sinh đầu tiên ở cả hai truyện đều là người con trai, và tiếp sau đó là người con gái. Nếu Flowers in the Attic cố định bốn đứa trẻ bởi một không gian vật lý – căn áp mái – nơi họ bị giới hạn bởi sự di chuyển; thì trong The Discomfort of Evening, không gian ấy là không khí ngột ngạt nơi gia đình họ, sau cái chết của Matthies và đàn bò.

Với The Discomfort of Evening, từ tình trạng yếm thế của con người được bộc lộ rõ sau ánh sáng bi kịch. Ngay sau lớp da trong suốt ấy, bản chất nguyên thủy của con người ta như dần hiện ra – mà cụ thể và tỏ tường nhất – chính qua là những đứa trẻ. Dễ thấy từ đầu đến suốt tiểu thuyết, nếu trong Jas là sự băn khoăn tự hỏi đi tìm bản thân, trong Hana là sự ngây thơ vô cùng chiếm hữu, thì trong Obbe là cái khao khát thể hiện bản thân, là sự ê chề bộc phát hành động. Việc giết chết Tiesy – chú chuột hamster, con thỏ cái hay chú vẹt không hẳn bộc lộ điều gì xấu xa; mà chỉ từ trong đó cái thô ráp, xù xì, cái tạm bợ của thuở ấu thời như dần nở rộ. Obbe ham thích bạo lực như kiểu mọi đứa trẻ sẽ dần trải qua, từ từ nỗi ham thích ấy truyền dần sang Jas và không thể chối từ đó là một phần của bản thân ta. Một sự bạo lực mới chớm vô phương kiểm soát.

Với Flowers in the Attic ở thời điểm nó ra đời, người đọc dường như bị sốc vì tính táo bạo, khi những anh chị em cùng chung huyết thống tìm kiếm dục tính thông qua nhau, nơi không gian cố hữu họ bị giam cầm. Lần này với The Discomfort of Evening, Marieke lại một lần nữa lặp lại những bi kịch ấy. Là khi Obbe cho Hana và Jas thấy thứ dựng đứng giữa hai chân mình, khi Jas cảm nhận đầu lưỡi Hana quấn lấy lưỡi mình, khi những đụng chạm vô cùng cá nhân giữa Obbe và Jas hơi hậu môn mắc kẹt hay trò chơi đậm chất dục tính trên con bò gỗ với Belles – cô bé hàng xóm hay Hana – với lon Coca. Nhưng những điều ấy có thật đáng trách? Nhìn sâu vào đó ta hiểu Marieke không cố khơi ra một vụ lùm xùm – dẫu chăng nó đúng là một hiện tượng từ khi ra mắt ở ngay Hà Lan – nhưng đây dường như là điều dễ hiểu, là điều hẳn nhiên rồi sẽ xảy ra. Đứa trẻ – con người, thiện lương – khai phá… Cuối cùng rồi thì đó là bản chất, rồi đến một ngày sẽ vỡ tung ra.

Một điểm khác khiến The Dicomfort of Evening trở nên toàn diện hơn và thực tế hơn so với Flowers in the Attic là bởi nó không quá chú trọng vào tính văn học, chúng được tự do phát triển và đi theo logic bản năng. Flowers in the Attic dĩ nhiên là được tính toán để rồi phát triển theo chuỗi một chronicle đậm chất văn chương dễ gây tranh cãi của chất huê tình, như những Lolita hay Chuyện nàng O đã từng. Còn với The Discomfort of Evening, vốn bản thân là cuốn bán tự thuật – hơn một nửa là những gì đã xảy ra thực với Marieke như sự mất đi người em trai hay bối cảnh nông trại; khiến nó thực tế hơn bao giờ hết. Có khó chịu đấy, có lạ lùng đấy, có thô ráp đấy; nhưng chúng thực tế một cách không ngờ.

Những hình tượng chính

Những hình tượng đặc biệt của The Discomfort of Evening dường như luôn gắn liền với Jas – từ chiếc áo khoác, hai chú cóc cho đến căn bệnh táo bón hay chiếc tủ đông ở phía sau cùng. Jas và chiếc áo khoác như gần dính lìa, cô không rời khỏi dẫu cho sức nóng đến vào mùa hè. Và nơi túi áo luôn luôn chứa đựng những thứ đặc biệt. Jas là áo khoác và là một người. Và cũng là khi người cha quyết định giật chiếc áo khoác ra khỏi tay cô hay khi người mẹ dọa chết sẽ nhảy xuống thang nếu cô không tự cởi chiếc áo ra; chỉ đến khi đó câu chuyện mới dần hạ màn, đi đến một bi kịch mở không ai đoán biết nơi tầng hầm tối mà cô luôn nghĩ là nơi mẹ mình ẩn chứa những người Do Thái trốn khỏi Hitler vào một buổi chiều cũng rất khó chịu một cách như thế.

Áo khoác như một đại diện cho thứ ngột ngạt nơi con người Jas. Sợ hãi, bóng tối, run rẩy – những thứ thường trực ghé ngang qua cô. Căn bệnh táo bón dường như chứa đựng nơi ruột những sự bất định, những biến chần chừ. Một cách thô ráp bằng hình tượng vô cùng khó chịu, Marieke dệt nên một chiếc nồi hơi đang sôi sùng sục chỉ chờ bùng phát. Bao quanh thân cô là chiếc áo màu, chứa trong bụng cô là loài sâu đói; cả hai gậm nhấm từ từ ở cả hai phía, nhưng đều là những di tích cho một cơ thể lớn lên từng ngày, trước khi sẽ bị san phẳng dưới lớp bánh xe của những bi kịch như loài cóc nhái, như loài nhím gai.

*

Marieke Lucas Rijneveld
Ảnh: The Times

Bằng những thô ráp thách thức một cách lạ lùng lối tiếp cận văn chương thường thấy, Marieke thông qua đặc trưng rất Hà Lan đã viết nên The Discomfort of Evening như một nồi hơi sôi sùng sục – nơi con người ta bị thách thức, nơi họ e sợ phát hiện bản thân vốn đã từ lâu chôn giấu những bi kịch khác. Cây bút sinh năm 1991 và cuốn tiểu thuyết bán tự thuật đầu tay này góp mặt vào danh sách rút gọn Giải International Booker 2020 như tiếng nói lạ cho một giọng văn vô cùng cá tính, rất khó hòa trộn và nổi bật lên. Dũng cảm, thẳng thắn và vô cùng bộc trực, The Discomfort of Evening thật sự là tiếng nói mới, một cuốn sách lạ, đánh thức nơi những người đọc một niềm nghi ngại.

Hết.

minh.

Ảnh đầu bài: ig@silkreads

*

The International Booker Prize 2020



Đọc tất cả bài viết của minh.


Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng