Trích đăng

Chương 1 “Thoát đến phương Tây” – Mohsin Hamid

Trong một thành phố bất ổn, giữa một quốc gia chực chờ bùng phát nội chiến, hai người trẻ phải lòng nhau: Nadia, dưới lớp áo choàng phủ kín từ đầu đến chân, là một cô gái độc lập và nổi loạn; Saeed trí thúc, nhẹ nhàng và truyền thống. Hỗn loạn và bạo lực bùng vỡ cũng là lúc bắt đầu dậy lên tin đồn về những cánh cửa có thể đưa người tị nạn vượt thoát sang một nơi khác. Cuốn sách theo bước hành trình của Nadia và Saeed xuyên qua các cánh cửa, vượt không gian và thời gian, đến những nơi chốn xa lạ và một tương lai bất định, để kể lại một câu chuyện tình yêu đầy hy vọng, trắc ẩn và nhân bản.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

[Trích đoạn Chương 1] Thoát đến phương Tây

Trích từ: Thoát đến phương Tây

Tác giả: Mohsin Hamid

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2019

*

Ở một thành phố đang mưng mủ bởi vết thương của những người tị nạn nhưng vẫn giữ được vẻ yên bình, hay chí ít là chưa công khai nổ ra chiến tranh, một chàng trai trẻ đã gặp một cô gái trẻ tại một lớp học và không nói lời nào với cô ấy. Trong nhiều ngày liền. Anh tên là Saeed còn cô tên là Nadia. Anh có một bộ râu, không tới mức xồm xoàm mà như một hàm ria lởm chởm được tỉa tót công phu, còn cô luôn quấn quanh người một chiếc áo thụng đen buông dài từ yết hầu đến đầu ngón chân. Hồi đó, người ta ít nhiều vẫn được tận hưởng việc ăn mặc theo ý muốn, quần áo hay đầu tóc cũng vậy, mặc dù tất cả đều ở trong khuôn khổ nhất định, nên những lựa chọn bề ngoài này có ý nghĩa riêng đối với hai người họ.

Có vẻ là một điều lạ lùng khi những người trẻ tuổi đang sống trong những thành phố chênh vênh bên bờ vực thẳm như thế này vẫn tới lớp – ở đây là một lớp học buổi tối về xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp – nhưng sự đời vốn vẫn thế, trong các thành phố cũng như trong cuộc sống; mới phút trước thôi chúng ta còn đang tất bật với những chuyện lẻ tẻ thường nhật, vậy mà ngay sau đó chúng ta đang nằm chờ chết; với lại, ngay cả cái kết luôn lơ lửng chờ đợi ấy cũng không làm trì hoãn những khởi đầu và phiêu du trong cuộc đời chúng ta cho tới khi nó xảy ra.

Saeed phát hiện một vết chàm duyên dáng trên cổ Nadia, một đốm hạt xoàn màu nâu ngả vàng thỉnh thoảng vẫn di chuyển lên xuống theo nhịp thở của cô, dù không phải lúc nào cũng thế.

Không lâu sau khi nhận ra điều này, Saeed bắt chuyện với Nadia lần đầu tiên. Vẫn chưa có một trận oanh tạc nào xảy ra trong thành phố của họ, ngoại trừ vài vụ xả súng và một cuộc đánh bom xe ô-tô. Trong khi lồng ngực của dân chúng rung nhẹ lên bởi những tiếng nổ thưa thớt như tiếng vang dưới âm tốc từ những cái loa ngoại cỡ dùng trong các buổi diễn âm nhạc, Saeed và Nadia đã thu dọn xong sách vở và đang trên đường rời lớp học.

Trên cầu thang, anh quay về phía cô và hỏi, “Nghe này, em có muốn đi uống một ly cà-phê,” và sau một quãng dừng ngắn ngủi, nói thêm vào như để làm cho lời mời bớt vẻ suồng sã trước bộ trang phục kín đáo của

Nadia, “ở căng-tin với anh không?”

Nadia nhìn vào mắt anh. “Anh không cầu nguyện buổi tối ư?” cô hỏi.

Saeed cố nở một nụ cười dễ mến nhất có thể.

“Không, đáng tiếc không phải lúc nào cũng thế.” Cô vẫn giữ nguyên sắc mặt.

Saeed vẫn kiên trì, bám víu vào nụ cười toe toét với sự tuyệt vọng của một người leo núi sắp rơi xuống vực: “Anh nghĩ rằng đó là một quyết định cá nhân. Mỗi người đàn ông có một cách riêng để cầu nguyện. Hoặc… mỗi người phụ nữ. Không ai là hoàn hảo cả. Và, dù sao đi nữa…”

Cô ngắt lời anh. “Em không cầu nguyện,” cô đáp. Cô tiếp tục nhìn chăm chú vào mắt anh.

Sau đó cô nói tiếp, “Có lẽ để lúc khác nhé.”

Anh nhìn theo bóng cô bước ra khu để xe dành cho học sinh, và tại đó, thay vì che mái tóc lại bằng một chiếc khăn đen như anh đã tưởng, cô đội lên đầu một chiếc mũ bảo hiểm màu đen được chốt vào một chiếc xe mô-tô địa hình bụi bặm cỡ 100cc, kéo sập kính chắn bụi, cưỡi lên xe, rồi rồ ga biến mất về phía mặt trời lặn.

Ngày hôm sau khi ngồi ở chỗ làm, Saeed không tài nào rũ được hình ảnh của Nadia ra khỏi đầu. Công ty của anh là một đại lý chuyên dựng các biển quảng cáo ngoài trời. Họ làm chủ rất nhiều biển quảng cáo quanh thành phố trong khi tiếp tục thuê các biển khác và ký kết hợp đồng quảng cáo với các hãng xe buýt, các sân vận động thể thao, cũng như với chủ nhân của các tòa nhà cao tầng.

Toàn bộ công ty gồm hơn một tá nhân viên, bao trọn hai tầng của một tòa nhà thuộc một dãy nhà liền kề. Tuy là một trong những nhân viên trẻ nhất, nhưng Saeed rất được lòng sếp và hôm nay ông đã ưu ái giao cho anh nhiệm vụ thảo một bản đề xuất để gửi đến một công ty xà phòng địa phương trước năm giờ chiều. Thông thường, Saeed sẽ cố gắng dành thật nhiều thời gian nghiên cứu thông tin trên mạng và dựa vào đó để chỉnh sửa bản đề xuất của mình sao cho ăn rơ hết mức với nhu cầu của từng khách hàng. “Chúng ta không thể kể một câu chuyện mà không có thính giả,” đó là câu nói cửa miệng của sếp anh; còn đối với Saeed, việc này nghĩa là anh phải chứng tỏ cho khách hàng thấy rằng công ty của anh thực sự thấu hiểu việc kinh doanh của họ, có thể đi guốc trong bụng họ và nhìn mọi thứ từ quan điểm của họ.

Nhưng hôm nay, bất chấp tầm quan trọng của bản đề xuất này – mọi bản đề xuất bây giờ đều quan trọng: kinh tế đang trở nên trì trệ do bất ổn định liên miên và quảng cáo ngoài trời là một trong những khoản phí đầu tiên mà các khách hàng muốn cắt giảm – Saeed vẫn không tài nào tập trung nổi. Một cái cây cổ thụ, với thân cao và tán lá um tùm do không được cắt tỉa, ngóc đầu lên từ khoảng sân nhỏ xíu phía sau tòa nhà và che khuất ánh sáng mặt trời, đến độ mảnh sân sau chỉ còn toàn bụi đất và một vài bụi cỏ, rải rác đâu đó những đầu lọc thuốc lá do sếp của anh đã cấm nhân viên không được phép hút thuốc trong văn phòng; trên ngọn cây, Saeed bắt gặp một con diều hâu đang miệt mài xây tổ. Đôi lúc, nó lơ lửng ngang tầm mắt anh, gần như bất động trong cơn gió, và rồi lại thoắt đổi hướng chỉ với một cái hất cánh nhẹ nhàng, hay thậm chí là một cú phẩy ngược của những sợi lông nơi chóp cánh.

Saeed lại tiếp tục nghĩ về Nadia trong lúc ngắm nhìn con diều hâu.

Khi thời hạn gửi email đã tới sát nút, Saeed cuống cuồng chuẩn bị bản đề xuất, cắt dán vội vàng thông tin từ những bản đề xuất anh đã làm trước đó. Chỉ có một nhúm tranh ảnh mà anh đã lựa chọn là có dính dáng đến xà phòng. Anh in ra một bản nháp để mang đến cho sếp và kiềm chế một cái nhăn mặt trong lúc đặt nó lên bàn của ông.

Nhưng đầu óc của sếp anh dường như đang bị chi phối khiến ông không nhận thấy cố gắng cẩu thả của Saeed. Ông chỉ sửa lại vài lỗi nhỏ, đưa trả bản nháp cho anh với một nụ cười đăm chiêu, rồi ra lệnh, “Cậu hãy gửi nó đi đi.”

Điều gì đó trong vẻ mặt của ông sếp làm cho Saeed cảm thấy có lỗi. Anh thầm ước mình đã viết một bản đề xuất tử tế hơn.

Trong lúc email của Saeed đang được khách hàng của anh tải về máy để đọc, ở một nơi xa xôi trên nước Úc, một người phụ nữ với làn da trắng nhợt đang nằm ngủ một mình trong căn nhà ở khu Surry Hills thuộc thành phố Sydney. Chồng của cô đang đi công tác ở Perth. Trên người cô chỉ có một chiếc áo phông dài thượt của chồng và một chiếc nhẫn cưới đeo trên ngón tay. Thân trên và chân trái của cô được che phủ dưới một lớp chăn mỏng còn nhợt nhạt hơn cả màu da của cô, trong khi chân và hông bên phải của cô hoàn toàn phơi trần. Đậu ngay phía trên đường gân Achilles, chạy dọc xuống cổ chân phải của cô, là hình xăm nhỏ bằng mực xanh của một loài chim trong truyền thuyết.

Trong nhà cô có gắn máy chống trộm, nhưng cái máy lúc này đang tắt. Nó được cài bởi những người chủ trước đó, những người đã từng gọi nơi đây là nhà, trước khi giới trung lưu nhiều tiền bắt đầu chuyển tới khu vực này và đẩy tất cả bọn họ dạt đi nơi khác. Người phụ nữ đang ngủ thường chỉ bật cái máy lên những lúc nào chồng cô vắng nhà, nhưng đêm nay cô đã quên mất việc đó. Cửa sổ phòng ngủ của cô, cách mặt đất bốn mét, đang mở he hé.

Trong ngăn kéo tủ đầu giường của cô là nửa hộp thuốc tránh thai còn dư từ ba tháng trước khi cô và chồng còn đang cố gắng không dính thai, hộ chiếu, sổ séc, hóa đơn, vài đồng xu lẻ, chìa khóa nhà, một cái còng số 8, và vài thanh kẹo cao su chưa nhai còn bọc trong giấy gói.

Cánh cửa tủ quần áo trong phòng để mở. Cả căn phòng ngập chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo từ cục sạc máy tính và bộ phát wifi, nhưng bên trong tủ quần áo thì tối như hũ nút, một thứ bóng tối dày đặc hơn cả màn đêm khiến cho cánh cửa nhìn như một hình chữ nhật đen tuyền – như thể bên trong ẩn chứa trái tim của sự tăm tối. Và từ trong lòng bóng tối đó, có một người đàn ông đang rướn người chui ra.

Anh ta là một người da đen, với nước da sậm màu, và bộ tóc xoăn đen nhánh. Anh gồng hết sức để vặn vẹo, hai tay bám chặt vào hai bên cửa tủ như thể đang kéo mình thoát khỏi lực hút của trọng lực, hay lực kéo của một cơn sóng hung tợn. Cổ anh ta tòi ra liền với đầu, hai hàng gân nổi cộm lên dọc thân cổ, rồi đến ngực anh và chiếc áo sơ-mi hai màu nâu xám với hàng cúc phanh tới giữa ngực. Bất chợt, anh ta tạm ngưng nỗ lực vật lộn. Đưa mắt nhìn quanh phòng, anh nhìn thấy người phụ nữ đang ngủ, cánh cửa phòng ngủ đang đóng chặt, và ô cửa sổ đang hé mở. Anh ta lại tiếp tục dồn sức đấu tranh để vào được trong phòng, nhưng mọi cố gắng này diễn ra trong sự im lặng tuyệt vọng của một người đang giãy giụa trên mặt đường, trong một con hẻm, giữa đêm tối, để thoát khỏi hai bàn tay đang siết chặt quanh cổ họng mình. Nhưng không có bàn tay nào quanh cổ người đàn ông này cả. Anh ta chỉ muốn không ai nghe thấy tiếng mình.

Với một cú thúc cuối cùng, anh ta đã chui qua được cánh tủ, run rẩy và quờ quạng bò trên sàn nhà như một con ngựa non mới đẻ. Anh nằm yên, hoàn toàn kiệt sức, cố gắng không thở dốc, rồi từ từ đứng dậy.

Mắt anh ta đảo vòng quanh một cách khiếp sợ. Đúng vậy, khiếp sợ. Hoặc có lẽ điều đó không hoàn toàn đúng. Có lẽ chúng chỉ đang quan sát tất cả mọi thứ xung quanh, từ người phụ nữ, đến chiếc giường, và toàn bộ căn phòng. Vốn đã quen đối mặt với những tình thế hiểm nghèo nơi anh ta sinh ra và lớn lên, người đàn ông nhận thức rất rõ về sự mỏng manh của cơ thể mình. Anh biết rõ những cách để kết liễu cuộc đời một người: một cú thụi vào chỗ hiểm, một viên đạn lạc, một nhát dao chém nhầm chỗ, một cú quẹo gấp của một chiếc xe, một con vi-rút náu mình trong một cái bắt tay, hay thậm chí là một tràng ho khan. Anh ta hiểu rõ rằng khi đứng một mình, con người ta gần như chỉ là số không.

Người phụ nữ đang nằm ngủ một mình. Người đàn ông đứng một mình và nhìn xuống cô ta. Cánh cửa phòng ngủ đang đóng. Cánh cửa sổ đang mở. Anh ta quyết định chọn chiếc cửa sổ. Trong nháy mắt, người đàn ông chui qua ô cửa và nhẹ nhàng thả người xuống con phố bên dưới.

Trong lúc tất cả những chuyện này xảy ra ở Úc, Saeed đang đi mua bánh mì mới ra lò cho bữa tối trên đường về nhà. Anh là một chàng trai trưởng thành, có tư tưởng tự lập, chưa vợ, được ăn học đầy đủ, và có công ăn việc làm ổn định; và cũng giống như đa số những người con trai trưởng thành, có đầu óc tự lập, chưa vợ, được ăn học, và có công việc ổn định thời đó, anh sống cùng với bố mẹ mình.

Mẹ của Saeed luôn toát lên phong thái quyền uy của một bà giáo dù bà đã về hưu, còn bố anh thì phảng phất dáng dấp của một ông giáo sư ở trường đại học nơi ông vẫn đang tiếp tục giảng dạy – mặc dù lương của ông đã bị cắt giảm, do ông đã quá tuổi hưu trí và bị buộc phải làm giáo viên thỉnh giảng. Cả bố và mẹ Saeed, trong một thời kỳ vàng son của đất nước, đã lựa chọn những nghề nghiệp đáng kính mặc dù thực tế thì việc dạy học không còn được coi trọng như xưa nữa. Địa vị và một cuộc sống yên ổn chỉ được tìm thấy ở những nghề nghiệp và mưu cầu khác. Mẹ Saeed sinh anh khá muộn, muộn tới nỗi bà tưởng ông bác sĩ đang bỡn cợt với bà khi ông hỏi rằng bà có nghĩ mình đang mang thai không.

Căn hộ nhỏ của họ tọa lạc trong một ngôi nhà từng trông rất xinh xắn, với mặt tiền chạm trổ từ thời thuộc địa giờ đây đã mủn tróc ra, trong một khu phố từng thuộc về giới thượng lưu, nhưng giờ đã biến thành một khu chợ đông đúc và sầm uất. Căn hộ có ba phòng và được chia ra từ một căn hộ lớn hơn: hai phòng ngủ khiêm tốn và một phòng sinh hoạt chung nơi cả gia đình ăn uống, trò chuyện, giải trí, và xem ti-vi. Căn phòng thứ ba này cũng không lấy gì làm rộng rãi nhưng bù lại trong phòng có những ô cửa sổ cao và một cái ban công tuy hẹp nhưng vẫn sử dụng được; từ ban công nhìn xuống, ta có thể thấy một con hẻm chạy thẳng lên hướng đại lộ về phía một đài phun nước trước kia từng đầy ăm ắp và tỏa sáng lấp lánh trong ánh mặt trời nhưng giờ đã cạn khô. Nếu như trước kia, khi cuộc sống hãy còn yên bình và sung túc, quang cảnh này đã có thể kiếm lời cho chủ tòa nhà, thì giờ đây nó lại trở thành một vấn nạn không mong muốn trong thời buổi xung đột loạn lạc, khi tầm nhìn rộng mở phía trước ban công đặt cả căn hộ vào giữa tầm ngắm của những cỗ súng máy, tên lửa, cùng quân lính đổ bộ vào khu phố: nó chẳng khác nào việc giương mắt nhìn thẳng vào họng một khẩu súng trường cả. Vị trí, vị trí, vị trí nhà là tất cả, những người môi giới bất động sản lặp đi lặp lại. Còn địa thế đất thì quyết định vận mệnh, các sử gia trả lời.

Chẳng mấy chốc, chiến tranh sẽ bào mòn mặt tiền tòa nhà như thể nó đã kích hoạt thời gian trôi nhanh hơn, khiến mức độ tàn phá của một ngày còn ghê gớm hơn cả một thập kỷ.

Khi bố mẹ của Saeed lần đầu gặp gỡ, họ cũng trạc tuổi Saeed và Nadia bây giờ. Họ đến với nhau vì tình yêu, một cuộc hôn nhân giữa hai người xa lạ không hề có sự sắp đặt của gia đình, điều mà, đối với cộng đồng của họ, tuy không phải chưa từng có tiền lệ, nhưng cũng không hoàn toàn phổ biến.

Họ gặp nhau ở rạp chiếu phim, giữa giờ giải lao của một bộ phim về một nàng công chúa khôn ngoan mưu mẹo. Mẹ của Saeed đã lén nhìn ngắm bố anh hút thuốc và bị bất ngờ trước ngoại hình y hệt như chàng diễn viên chính trong phim của ông. Sự giống nhau này không hoàn toàn ngẫu nhiên: mặc dù là một chàng mọt sách nhút nhát, bố của Saeed vẫn ăn mặc và chải chuốt theo phong cách của những nhạc công và minh tinh màn bạc thời bấy giờ, giống như đa phần bạn bè của ông. Tuy nhiên, cặp kính cận của bố Saeed, kèm theo cung cách nói chuyện, làm cho ông có một vẻ mộng mơ chất phác, và thật dễ hiểu khi điều này khiến cho mẹ Saeed nghĩ rằng ông không chỉ nhìn giống nhân vật nam chính, mà thực sự nhập thần vào vai diễn đó. Và bà quyết định lên kế hoạch tiếp cận ông.

Tiến tới đứng trước mặt bố Saeed, bà bắt đầu hào hứng tán gẫu với một cô bạn trong lúc ngó lơ đối tượng của mình. Ông để ý thấy bà đứng đó. Ông lắng tai nghe giọng nói của bà. Ông thu hết can đảm để bắt chuyện với bà. Và đó, giống như cách cả hai vẫn thường nói khi kể lại câu chuyện lần đầu gặp gỡ nhiều năm sau đó, là cách mọi chuyện đã xảy ra.

Cả bố và mẹ của Saeed đều là những người thích đọc sách và ưa tranh luận theo nhiều cách khác nhau; trong những buổi đầu hò hẹn, bạn bè họ thường hay bắt gặp hai người lén lút gặp gỡ trong những tiệm sách. Sau này, khi đã bắt đầu cuộc sống gia đình, họ thường dành những buổi chiều đọc sách cùng nhau trong nhà hàng hay quán cà-phê, hoặc nếu thời tiết cho phép, trên ban công nhà họ. Ông hút thuốc còn bà thì nói mình không thích hút. Nhưng, đôi khi, lúc cụm tàn trên điếu thuốc dường như bị lãng quên trên ngón tay ông càng lúc càng dài ra, bà sẽ lấy điếu thuốc khỏi tay ông, nhẹ nhàng dụi bớt nó vào một cái gạt tàn, rồi rít một hơi thật sâu đầy ngang tàng trước khi duyên dáng trả nó lại.

Rạp chiếu phim nơi bố mẹ Saeed gặp nhau đã không còn nữa khi con trai của họ gặp Nadia, cũng như các tiệm sách họ yêu thích hay các nhà hàng và quán cà-phê mà họ hay lui tới. Điều này không có nghĩa là tất cả các rạp chiếu phim, tiệm sách, nhà hàng, hay quán cà-phê trong thành phố đã bốc hơi, mà chỉ là rất nhiều trong số chúng không còn hiện diện ở chỗ cũ nữa. Một siêu thị bán máy tính và linh kiện điện tử đã mọc lên thế chỗ rạp chiếu phim nơi lưu giữ kỷ niệm của bố mẹ Saeed. Siêu thị mới này mang cái tên cũ của rạp chiếu bóng do cả hai vốn từng chung một chủ, và một phần do rạp chiếu bóng đó từng nổi tiếng đến độ nó trở thành một địa danh quen thuộc với bất cứ ai sống quanh đó. Mỗi khi đi ngang qua siêu thị và nhìn thấy cái tên thân quen chớp tắt trên tấm biển đèn nê-ông mới coóng, đôi lúc bố hay mẹ Saeed sẽ hồi tưởng lại kỷ niệm, và mỉm cười. Hoặc họ hồi tưởng lại, và đứng tần ngần trong im lặng.

Không có sự chung đụng xác thịt nào giữa bố mẹ của Saeed cho tới tận đêm tân hôn của họ. Giữa hai người, mẹ của Saeed là người cảm thấy ngượng ngùng hơn, nhưng bà cũng là người hào hứng muốn thử hơn, nên bà nhất quyết muốn làm chuyện vợ chồng ít nhất ba lần trước lúc bình mình. Trong nhiều năm, mối quan hệ giường chiếu của họ vẫn tiếp diễn như vậy. Nhìn chung, bà luôn cuồng nhiệt trong chuyện chăn gối, còn ông thì luôn tuân theo ý bà. Có lẽ vì bà không có thai, cho đến tận khi thụ thai Saeed hai mươi năm sau đó, và do tưởng rằng mình không thể mang thai, bà có thể làm tình một cách bạo liệt mà không cần nghĩ tới hậu quả hay phiền toái của việc nuôi dạy con cái. Trong khi đó, với tính cách của ông, trong nửa quãng đầu của đời sống vợ chồng, sức sống của bà luôn tạo cho ông một cảm giác bất ngờ thích thú, và bà thì tận dụng điều này hết mức có thể. Bà thích bộ râu rậm rạp của ông và bị kích thích bởi việc làm tình từ đằng sau. Còn ông thì bị kích thích bởi niềm hứng khởi và bản chất đắm dục của bà.

Sau khi Saeed chào đời, tần suất làm tình của bố mẹ anh giảm đi rõ rệt, và nó vẫn tiếp tục theo đà xuống dốc. Tử cung của mẹ anh bắt đầu xệ xuống, còn bố anh thì càng ngày càng chật vật để giữ cho dương vật cương cứng. Trong thời điểm đó, bố Saeed bắt đầu rơi vào vai diễn của người đòi hỏi chuyện ân ái, hoặc giả ông tự phân vai cho mình. Đôi lúc, mẹ Saeed băn khoăn rằng ông làm chuyện này vì ham muốn thực sự, hay vì thói quen, hay đơn giản chỉ vì ông cần sự thân mật giữa hai người. Và bà cố hết sức mình để đáp ứng chồng. Dù vậy, cuối cùng ông cũng phải đầu hàng trước sự cự tuyệt của cả cơ thể mình và của vợ.

Trong năm cuối cùng bên nhau, cái năm mà duyên trời run rủi cho Saeed gặp Nadia, bố mẹ của anh chỉ đúng ba lần thân mật. Số lần giao hoan trong cả năm đó của họ bằng đúng số lần trong đêm động phòng. Mặc dù thế, bố anh vẫn nuôi râu theo yêu cầu của mẹ anh. Và họ cũng chưa bao giờ đổi giường: phần đầu giường được làm giống cánh tay vịn cầu thang, như thể đòi hỏi được những bàn tay vươn lên nắm chặt lấy.

Trong căn phòng nơi cả gia đình Saeed dùng làm phòng khách, họ để một cái kính thiên văn màu đen bóng loáng. Nó được ông nội của Saeed truyền lại cho bố anh, và giờ bố anh để lại nó cho anh; nhưng vì Saeed vẫn sống cùng với gia đình, chiếc kính thiên văn vẫn luôn đứng ở vị trí cũ của nó trong góc nhà trên một giá đỡ ba chân, bên dưới một chiếc thuyền buồm được lắp ghép tinh xảo trong một cái bình thủy tinh bên trong cái tủ để đồ hình tam giác.

Bầu trời thành phố của họ đã trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao. Nhưng vào những buổi tối quang đãng không mây sau trận mưa buổi sớm, bố Saeed thường mang chiếc kính thiên văn ra đặt ngoài ban công, và cả gia đình anh sẽ quây quần bên bình trà xanh, đón chút gió mát, thay phiên nhau nhìn lên và ngắm nghía những tạo vật mà ánh sáng của chúng đã tỏa phát từ trước khi cả ba người ra đời – thứ ánh sáng đã đi qua nhiều thế kỷ trước để chạm đích Trái đất lúc này đây. Bố Saeed vẫn hay gọi đó là cuộc du hành xuyên thời gian.

Một buổi tối nọ, mà thực ra là buổi tối sau khi Saeed phải gấp rút hoàn thiện bản đề xuất cho công ty kinh doanh xà phòng, Saeed đang lơ đãng đưa mắt dò theo một quỹ đạo bên dưới đường chân trời. Trong ống kính của anh hiện lên những ô cửa sổ và mái nhà, đôi lúc đứng yên, có khi lại xẹt qua với tốc độ chóng mặt.

“Tôi nghĩ nó đang nhòm mấy cô gái trẻ đấy,” bố của Saeed nói với mẹ anh.

“Saeed, con đừng có làm gì bậy bạ đấy nhé,” mẹ anh nhắc nhở.

Rồi bà quay qua bố anh và cằn nhằn, “Thì nó là con ông mà.”“Tôi chưa bao giờ cần đến kính thiên văn để làm chuyện đó,” ông cự nự.

“Phải rồi, ông thì chỉ thích bắn pháo tầm gần thôi.” Saeed lắc đầu rồi quay ống kính hướng lên trên.

“Con nhìn thấy sao Hỏa rồi,” anh thông báo. Và quả đúng vậy. Trước mắt anh là hành tinh gần thứ nhì với Trái đất, có một bề mặt không xác định mang màu sắc của mặt trời lặn sau cơn bão cát.

Saeed đặt thẳng điện thoại và hướng ống kính camera về phía thiên hà, sử dụng một phần mềm ứng dụng để định vị các chòm tinh tú mà anh không biết tên. Trên tấm bản đồ điện thoại, sao Hỏa hiện lên chi tiết hơn, mặc dù nó chỉ là hình ảnh sao Hỏa chụp từ một thời điểm khác, một thời đã xa, và được lưu lại trong trí nhớ của người thiết kế ra ứng dụng đó.

Từ đằng xa, cả nhà Saeed chợt nghe thấy tiếng súng trường tự động, những tiếng nổ khô khốc tuy không quá to nhưng vang tới tai người nghe một cách rõ rệt. Cả ba người ngồi im trên ban công thêm một lúc nữa. Rồi mẹ của Saeed thì thầm khuyên mọi người nên quay trở vào trong.

Cuối cùng cũng đến ngày Saeed đi uống cà-phê với Nadia trong căng-tin trường, vào tuần sau khi anh ngỏ lời với cô; sau giờ tan học tiếp theo, Saeed hỏi Nadia về chiếc áo thụng đen kín đáo và che đậy gần như mọi thứ của cô.

“Nếu em không cầu nguyện,” anh hạ giọng thì thầm, “thì tại sao em lại mặc cái áo đó?”

Họ đang ngồi ở một bàn cho hai người bên cửa sổ, nhìn xuống làn xe cộ đông đúc trên con đường bên dưới. Điện thoại của cả hai đều tắt và nằm úp mặt trên bàn, như vũ khí của hai kẻ liều mạng trong một cuộc thương thuyết.

Cô cười, nhấp một ngụm cà-phê, rồi cất tiếng nói trong khi nửa dưới khuôn mặt bị cái tách che khuất.

“Để bọn đàn ông không giở trò mất dạy với em,” cô thong thả đáp.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

1 Comment

1 Bình luận

  1. Pingback: Top 10 Tác phẩm Văn học dịch Quý I/2019 – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Cùng Phạm Công Luận tâm tình về Đường sách Nguyễn Văn Bình

Published

on

By

Trích từ: Với ngày như lá tháng như mây
Tác giả: Phạm Công Luận
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 01.2022

Nơi đầm ấm với sách và cà phê

Hơn ba mươi năm trước, đường Nguyễn hậu bên hông Bưu điện thành phố có quầy nhận bưu phẩm phát nhanh. Hàng tuần, tôi đến đó nhận đồ gửi từ Hà Nội vào, là một vali kẽm chứa những xấp giấy can để in báo, mà người trong cơ quan gọi là “hòm kẽm”. Con đường Nguyễn Hậu đó, sau này đổi tên thành đường Nguyễn Văn Bình, luôn ẩm ướt vào mùa mưa vì những tán cây bên lề đường đọng nhiều nước, thả xuống mặt đường. Mùa khô, đi xuyên đường này từ Bưu điện thành phố để qua phía Hai Bà Trưng, thấy có nhiều xe hơi đậu la liệt. Con đường như bị bỏ quên, dù nằm ngay trung tâm thành phố. Trên xe máy của tôi, cái vali kẽm nảy lên kêu lục cục vì mặt đường bị tróc nhựa nhiều chỗ, để lâu không tu sửa.

Khi con đường vắng vẻ này biến thành Đường Sách thành phố, tôi thầm phục những người khởi xướng đã có mắt xanh chọn đúng nơi chốn với vị trí trung tâm và sự biệt lập của nó. Nó đã lột xác để trở thành một con đường có sức quyến rũ với hai di sản kiến trúc đặc biệt bên cạnh, dù đôi lúc rất đông đúc và sôi động (điều gì có sức quyến rũ thì tất nhiên nhiều người tìm đến). Nếu đến sớm, khoảng 8 giờ sáng, đường còn vắng người đi dạo, chỉ có vài người nhàn tản ngồi uống cà phê ở hai quán đầu và cuối đường. Ban mai Sài Gòn xanh mát, nhìn góc nào trên con đường cũng đẹp với hàng sách có cửa kính, kệ sách, giỏ hoa lá và bảng trang trí. Thỉnh thoảng có những đợt gió thổi thả lá li ti xuống trông như mưa bụi.

Có lần trong quán café ở đây, tôi ngồi giữa nhóm người Sài Gòn cao tuổi sống ở nước ngoài. Họ nhắc chuyện góc đường Lê Lợi hồi trước 1975 có dãy sạp bán sách cũ, chuyện họa sĩ Ngy Cao Uyên mang tranh vào sân bay để đổi những thanh gỗ mang về xây trụ sở Hội Họa sĩ Trẻ hồi năm 1966 trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng). Một anh nhắc chuyện phòng trà Anh Vũ, nghe nói là phòng trà đầu tiên ở Sài Gòn, nhưng các anh chỉ có thể đến đó ăn cơm giá rẻ dàn cho học sinh sinh viên vào ban ngày, thèm thuồng nhìn các tấm áp phích giới thiệu chương trình ca nhạc buổi tối mà mơ có dịp đến một lần. Các anh bảo con đường này khiến họ có cảm hứng nhớ về ngày xưa khi còn trẻ, thích ngồi quán café vỉa hè vì lúc đó còn nhiều đường phố vắng vẻ, yên tĩnh. Các anh đồng ý là nếu về thăm quê hương, dù có đi du lịch ra Bắc ra Trung vẫn không thể thiếu chuyện ra Đường Sách uống cà phê tán gẫu, hẹn bạn bè và mua sách. Một anh họa sĩ từ Pháp về, bảo mỗi lần ra đây, anh có thể gặp ít nhất ba bốn người bạn quen trên facebook. Nhờ đó, anh cảm thấy không lẻ loi như mấy lần trước về chơi, quanh quẩn với gia đình và vài người bạn cũ.

Tôi mua được nhiều sách hay trên con đường này. Nhưng nhớ nhất, không phải là sách, mà là một bộ card postal dạy làm món ăn tây của Kim studio, một cơ sở sản xuất các bộ card dạy nấu ăn qua hình ảnh. Bộ ảnh mười hai tấm đựng trong một phong bì rất tinh tế, dạy cách làm các món bánh như croissant, bánh plum cake, bánh champagne, bánh lưỡi mèo. Nó đặc biệt vì nhà tôi đã từng làm cho các em ăn đủ món nhờ làm theo hướng dẫn từ đó, trong ngôi nhà thời thơ ấu của gia đình tôi.

Đường sách cung cấp tri thức, hẳn rồi, nhưng còn nhiều thứ khác nữa. Là nơi diễn thuyết công cộng, luôn nhiều tâm huyết và ít điệu đà trịnh trọng như trong vài salon. Là nơi đậm đà niềm vui, khi ngồi giữa bạn bè thanh cảnh thích đọc và thích sống nhẹ nhàng như mình. Là nơi nhìn người đẹp qua lại. Nơi thỉnh thoảng nhận ra vài người Sài Gòn xưa qua phong thái, giọng nói, cách trò chuyện và ăn mặc. Là nơi uống ly cà phêm ấm trong không khí lạnh buổi sáng, như ông cha ta trăm năm trước bên ly xây chừng ở chợ Cũ, quán cà phê Nguyễn Văn Đắc bên hông chợ Bến Thành hay trên vỉa hè khách sạn Continental.

Năm năm trôi qua, ở đây tôi đã có những ngày giáp Tết thật vui bên bạn bè. Đã cùng bạn Phúc Tiến đưa hai nhà văn Nhật Tiến và Đỗ Phương Khanh đi dạo, xem sách trong ánh nắng tháng Giêng chỉ vài năm trước khi ông bà mất. tôi may mắn có vài cuốn sách xuất bản trong thời gian này nên có vài buổi giới thiệu sách ở đây, bất ngờ gặp được những độc giả thích bộ sách Sài Gòn chuyện đời của phố và nhờ tác giả ký tên.

Đó là những kỷ niệm đẹp. Nhưng niềm vui lớn nhất, vẫn thường lặp lại, là mua được vài cuốn sách mình thích. Sau đó, nếu quán cà phê cuối đường còn chỗ trống, có thể ngồi nhấm nháp chất nước nâu sánh ở đó và giở vài trang, thả tâm trí vào những con chữ. Con đường dễ thương này chắc chắn đã từng và sẽ tiếp tục mang đến nhiều niềm vui nhẹ nhàng như vậy cho rất nhiều người.

Đường sách khiến tôi yêu và gắn bó thành phố này nhiều hơn.

Với Ngày Như Lá Tháng Như Mây

Tập tản văn Với ngày như lá tháng như mây tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ như nguồn nước không bao giờ cạn mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành. Trải dài qua 30 bài viết, tập tản văn chứa đựng một cuộc du hành trong tâm tưởng của tác giả, đưa người đọc trôi về thời xa vắng của đất Sài Gòn – Gia Định trên dưới nửa thế kỷ trước.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Trích đăng

Truyện ngắn: Thằng Lùn – trích Xứ tháng Mười

Trích truyện ngắn “Thằng lùn” trong tuyển tập “Xứ tháng Mười” của Ray Bradbury.

Published

on

By

Trích từ: Xứ tháng Mười
Tác giả: Ray Bradbury
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

THẰNG LÙN

Aimee ngắm bầu trời, lặng lẽ.

Đêm nay là một trong những đêm hè oi ả im lìm. Sân bến  tàu  bê-tông  vắng  bóng  người,  những  bóng  đèn  vàng, trắng, đỏ giăng mắc cháy sáng như bầy côn trùng lơ lửng bên trên khoảng không đông đặc. Những người quản lý đủ loại gian hàng trò chơi hội chợ đứng bất động, những xác ướp bằng sáp đang tan chảy, không nói năng, mắt nhìn đờ đẫn, không trừ một ai.

Hai khách đã đi qua đây từ một giờ trước. Hai kẻ lẻ loi ấy giờ đang ngồi trên tàu lượn cao tốc, la hét như điên khi đoàn tàu xé màn đêm chói lóa lao thẳng xuống, quay tròn, quay tròn những vòng vô nghĩa.

Aimee chầm chậm đi băng qua bãi biển, mấy vòng gỗ ném cọc bám nhớp nháp trong hai bàn tay. Cô dừng lại sau quầy bán vé trước cửa MÊ CUNG NHÀ KÍNH. Cô thấy bóng mình biến dạng  gớm  guốc  trong  ba  tấm  gương  dợn  sóng bên ngoài Mê Cung. Một ngàn bản sao mệt mỏi của bóng cô tan biến vào lối đi phía bên kia, những ảnh hình nóng hổi giữa vùng gương lạnh trong veo.

Cô bước vào trong quầy vé đứng nhìn hồi lâu cần cổ gầy guộc của Ralph Banghart. Hắn cắn giữa hai hàm răng dài ố vàng lởm chởm một điếu xì-gà chưa châm lửa trong khi bày bộ bài tơi tả ra chơi một mình trên kệ quầy.

Lúc  chiếc  tàu  lượn  quay  rú  lên  rồi  lại  lao  xuống  kinh động như núi lở, cô sực nhớ ra và lên tiếng.

“Loại người nào thích lên tàu lượn cao tốc?”

Ralph Banghart nhấm nhá điếu xì-gà cả ba mươi giây. “Những kẻ muốn chết. Tàu lượn là dễ chết nhất.” Hắn ngồi lắng nghe tiếng súng trường nổ mơ hồ vọng ra từ gian trò chơi bắn súng. “Cái nghề làm hội chợ chó chết này đúng là điên rồ. Chẳng hạn như thằng lùn kia. Cô gặp nó chưa? Tối nào cũng vậy, bỏ một đồng xu, chạy vào Mê Cung Nhà Kính ra tít đằng sau, tới buồng Khổng Lồ. Rồi cô sẽ thấy thằng lùn tịt này chạy thẳng tới đó cho coi. Thiệt tình!”

“Ờ, đúng,” Aimee thốt lên, cô đã nhớ ra. “Em luôn thắc mắc không biết làm người lùn thì cảm giác ra sao. Gặp người lùn nào em cũng thấy thương hại.”

“Tôi cứ muốn tóm lấy nó mà co kéo thun giãn chơi.” “Đừng nói thế chứ!”

“Trời đất,” Ralph đưa bàn tay rảnh rỗi vỗ đùi cô. “Lúc nào cô cũng có thái độ kỳ cục như vậy với những thằng cha thậm chí cô còn chưa gặp.” Hắn lắc đầu cười khúc khích.

“Nó với bí mật của nó. Chỉ có điều nó không biết là tôi biết đó nghe? Thế mới hay chứ!”

“Tối nay nóng.” Cô bồn chồn xóc xóc mấy vòng gỗ lớn trong những ngón tay ướt mồ hôi.

“Đừng  lái  qua  chuyện  khác.  Nó  sẽ  tới  đây,  dù  nắng hay mưa.”

Aimee dợm bước đi.

Ralph nắm lấy khuỷu tay cô. “Này! Cô khùng sao chứ? Không muốn thấy thằng lùn đó à? Suỵt!” Ralph quay lại. “Nó đến rồi kìa!”

Chỉ có mỗi bàn tay Thằng Lùn, đen đúa và lông lá, hiện ra với một đồng xu bạc khi cố với lên ô cửa quầy vé. “Một vé!” Một tiếng nói lanh lảnh như giọng trẻ con.

Bất giác, Aimee chồm tới.

Thằng Lùn ngước nhìn cô, rành rành một gã xấu xí, tóc đen, mắt đen bị lèn chặt trong máy ép, bị vắt nặn và nhồi nhét cho nhỏ choắt thêm, từng chút một, bẻ quặp lui tới, oằn oại ngược xuôi, cho đến khi chỉ còn một đống phẫn nộ nhợt nhạt, bộ mặt sưng húp không hình thù, bộ mặt mà ta phải mở căng mắt tỉnh thức lúc hai và ba và bốn giờ sáng, nằm bẹp trên giường, chỉ có cơ thể say ngủ.

Ralph xé chiếc vé màu vàng làm đôi. “Một vé!”

Dường như hoảng sợ vì cơn dông sắp đến, Thằng Lùn kéo chặt ve áo choàng đen quanh cổ rồi lắc lư hấp tấp bước đi. Một thoáng sau, mười ngàn thằng lùn lang thang lạc loài bò quằn quại giữa những mặt gương, như một đàn bọ hung đen cuống quýt, rồi biến mất.

“Mau!”

Ralph ôm cứng Aimee rồi lôi cô theo hành lang âm u đằng sau những tấm gương. Cô thấy tay hắn vỗ về cô suốt quãng đường đi ngược xuyên qua đường hầm dẫn tới một vách ngăn mỏng có lỗ nhỏ quan sát.

“Chuyện này hay,” hắn cười khúc khích. “Đó… nhìn đi.” Aimee ngần ngừ, rồi úp mặt vào vách ngăn.

“Cô… thấy… nó… không?” Ralph thì thào.

Aimee nghe tim mình đập dồn. Trọn một phút trôi qua. Trong  đó  Thằng  Lùn  đứng  giữa  căn  buồng  nhỏ  màu xanh. Mắt gã nhắm nghiền. Gã chưa sẵn sàng mở mắt nhìn. Giờ thì gã mở hai mi mắt lên rồi ngắm tấm gương lớn trước mặt. Và điều nhìn thấy được trong gương khiến gã mỉm cười. Gã nháy mắt, gã xoay tròn, gã đứng quay sang một bên, gã vẫy tay, gã cúi chào, gã lóng ngóng nhún nhảy khẽ khàng.

Và tấm gương lặp lại từng chuyển động với đôi cánh tay dài ngoằng, với một thân hình cao thêm, cao thêm, với cái nháy mắt to lớn và bóng hồi vọng khổng lồ của điệu múa, kết thúc bằng cái cúi chào vĩ đại!

“Tối nào cũng một trò đó,” Ralph thầm thì vào tai Aimee. “Hay thật đấy chứ?”

Aimee  quay  lại,  hướng  gương  mặt  bất  động  về  phía Ralph nhìn chăm chăm một hồi lâu, không nói năng gì. Rồi cứ như không tự kiềm chế được, cô từ từ quay đầu rất chậm, rất chậm trở lại lỗ quan sát căng mắt nhìn lần nữa. Cô nín thở. Cô thấy đôi mắt mình bắt đầu rướm lệ.

Ralph vừa huých nhẹ cô vừa thì thào.

“Này, thằng oắt lùn đó đang làm gì lúc này?

Nửa giờ sau, hai người cứ uống cà phê trong quầy vé mà chẳng ai nhìn ai khi Thằng Lùn từ trong những tấm gương đi ra. Gã bỏ mũ xuống và dợm bước tới quầy vé nhưng thấy Aimee lại hấp tấp bỏ đi.

“Anh ta muốn cái gì đó,” Aimee nói.

“Đúng.” Ralph dí nát điếu thuốc, vẻ bâng quơ. “Tôi còn biết nó muốn cái gì nữa kìa. Nhưng nó không dám hỏi. Có một đêm nó nói léo nhéo lí nhí, ‘Tôi chắc là mấy tấm gương đó đắt tiền lắm.’ Ôi, tôi giả ngu. Tôi nói, Ờ, đắt lắm. Coi bộ nó nhìn tôi như chờ đợi, rồi thấy tôi không nói gì nữa thì nó đi về, nhưng đêm sau nó lại hỏi. ‘Tôi chắc mấy tấm gương đó cũng phải đến cả năm chục, cả trăm đô?’ Chắc là thế, tôi nói vậy. Rồi tôi chia bài ra chơi một mình.”

“Ralph,” cô gọi.

Hắn ngước lên. “Sao cô nhìn tôi kỳ vậy?”

“Ralph,”  cô  nói,  “sao  không  bán  cho  anh  ta  một  tấm gương nào dư thừa của anh đi?”

“Này, Aimee, tôi có xía vào chuyện quản lý gian hàng ném vòng của cô không?”

“Mấy tấm gương đó bao nhiêu tiền?”

“Tôi có thể mua hàng xài rồi với giá ba mươi lăm đô.” “Thế sao anh không chỉ cho anh ta biết chỗ mua một tấm?”

“Aimee, cô khờ lắm.” Hắn đặt tay trên đầu gối cô. Cô nhích đầu gối ra. “Cho dù tôi chỉ nó chỗ mua thì cô tưởng nó sẽ mua sao? Không đời nào. Lý do? Nó mắc cỡ. Đấy, nó mà biết tôi thấy nó rửng mỡ trước tấm gương trong buồng Khổng Lồ thì nó sẽ không bao giờ quay lại đây đâu. Nó cứ làm bộ như đi vào Mê Cung cho lạc chơi, giống như mọi người. Vờ như nó chẳng quan tâm đến cái buồng đặc biệt ấy. Lúc nào cũng chờ dịp gian hàng này vắng khách, lúc tối khuya, để nó độc chiếm cái buồng cuối cùng đó. Những lúc gian hàng này đắt khách thì có trời mới biết đêm đêm nó giải khuây bằng cái trò gì. Không đâu, xin thưa, nó không dám mua gương ở bất kỳ đâu. Nó không hề có bạn bè, mà có đi chăng nữa nó cũng chẳng dám nhờ họ mua giúp một thứ như vậy. Sĩ diện mà, xin thề, sĩ diện. Lý do duy nhất khiến nó nói chuyện đó với tôi là vì tôi thực tế là người độc nhất mà nó quen biết. Hơn nữa, nhìn nó coi…, làm sao nó có đủ tiền mua tấm gương như vậy được. Nó có thể để dành, nhưng một thằng lùn thì làm đếch gì ra tiền mà để dành? Không ở trong gánh xiếc thì thứ như nó cả đống ngoài kia, đầy đường đầy chợ.

“Em thấy kỳ lạ. Em thấy buồn.” Aimee nhìn đăm đăm ra lối đi lót ván vắng ngắt. “Anh ta ở đâu vậy?”

“Dưới  khu  Flytrap  ngay  bờ  biển.  Ở  Ganghes  Arms. Mà sao?”

“Em si tình anh chàng đó mất rồi, nếu anh muốn biết.” Hắn ngoác miệng cười, răng vẫn cắn điếu xì-gà. “Aimee,”

Hắn nói. “Cô đúng là tiếu lâm hết sức.”

***

Một đêm ấm, một sáng nóng, rồi một trưa cháy bỏng. Mặt biển chói lóa kim tuyến và thủy tinh.

Aimee tản bộ tới, từ các lối đi chật hẹp trong hội chợ ra ngoài biển nóng, men theo bóng râm, tay ôm năm sáu tờ tạp chí bạc màu vì nắng. Cô mở cánh cửa bong tróc, gọi vọng vào vũng tối hầm hập. “Ralph?” Cô lần bước qua hành lang thâm u sau những tấm gương, gót giày nhấn xuống sàn gỗ. “Ralph?” Có người uể oải trở mình trên chiếc giường xếp vải bố.

“Aimee hả?”

Hắn ngồi dậy rồi vặn một bóng đèn tù mù vào đui đèn trên chiếc bàn có gương soi. Mắt nhắm mắt mở, hắn nheo nheo nhìn cô. “Kìa, trông cô hệt như con mèo vừa nuốt được con chim.”

“Ralph, em tới về chuyện gã tí hon!”

“Thằng lùn, Aimee, thằng lùn, cưng ơi. Tí hon là do tế bào, bẩm sinh đã vậy. Còn lùn dị dạng là do tuyến nội tiết…” “Ralph!  Em vừa biết được một chuyện tuyệt hay về anh ta!”

“Trời ơi là trời,” hắn nói với hai bàn tay đang chìa ra như làm chứng cho điều hắn không tin. “Cái cô này! Ai quan tâm cóc khô gì tới một thằng lùn xấu xí…”

“Ralph!” Cô chìa mấy tờ tạp chí ra, mắt sáng lên. “Anh ta là nhà văn! Ai mà nghĩ ra chứ!”

“Hôm nay nóng bức quá rồi, nghĩ ngợi làm chi.” Hắn lại ngả lưng ra rồi quan sát cô, miệng thoáng cười.

“Em tình cờ đi ngang qua Ganghes Arms, và gặp ông Greeley, ông quản lý. Ông ta bảo máy chữ gõ rào rào cả đêm trong phòng ông Lớn!”

“Thằng lùn đó mà tên là Lớn?” Ralph buột miệng cười rống lên.

“Viết truyện trinh thám đăng báo để sống qua ngày. Em tìm được một truyện của anh ta ở chỗ bán tạp chí cũ, và rồi, Ralph, biết gì không?

“Tôi đang mệt đây, Aimee.”

“Anh chàng nhỏ bé này có tâm hồn bao la như trời đất; anh ta có tất cả trong đầu!”

“Thế sao nó không viết cho các tạp chí lớn đi, cô nói tôi nghe coi?”

“Chắc là vì anh ta e ngại… Chắc anh ta không tự biết là có thể làm như thế. Chuyện thường tình. Người ta thường không tự tin vào bản thân. Nhưng nếu anh ta chỉ cần thử thôi, em dám cá anh ta có thể bán truyện ngắn cho bất kỳ đâu trên đời.”

“Thế sao nó không giàu có, tôi hỏi cô đấy?”

“Chắc là vì anh ta chưa nghĩ tới do cuộc sống khổ sở. Ai mà chẳng thế? Thân phận nhỏ nhoi thế kia? Em cho là khó lòng nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài chuyện quá nhỏ nhoi và chuyện sống trong căn hộ một buồng rẻ tiền.”

“Xì!” Ralph cười nhạo. “Cô nói cứ như là bà trùm từ thiện.” Aimee  đưa  tờ  tạp  chí  lên.  “Để  em  đọc  anh  nghe  một đoạn truyện trinh thám của anh ta. Truyện có đủ súng ống và du côn, nhưng do một người lùn thuật lại. Em dám cá là mấy tay biên tập chẳng bao giờ đoán được tác giả này biết rõ mình đang viết cái gì. Ồ, xin anh đừng ngồi ì ra đó, Ralph! Nghe này.”

Và cô bắt đầu đọc to.

Tôi là một thằng lùn và tôi là kẻ giết người. Hai chuyện này không thể tách rời. Cái này là nguyên nhân của cái kia.

Kẻ  bị  tôi  giết  thường  chặn  tôi  giữa  đường  khi  tôi  hai mươi mốt tuổi, đưa hai tay nhấc bổng tôi lên, hôn trán tôi, hát ư ử loạn xạ những bài ru con, lôi tôi vào chợ, ném tôi lên mấy chiếc cân và quát tháo với ông hàng thịt “Cân cho đàng hoàng! Đừng có lấy ngón cái mà đè đĩa cân nghe chưa!”

Bạn có hiểu cuộc đời cả hai đã đi tới kết cục giết người ra sao không? Thằng ngu đó, kẻ hành hạ thân xác và tâm hồn tôi đó!

Còn thời thơ ấu của tôi: cha mẹ tôi đều nhỏ con, không hẳn là lùn, không hẳn. Của thừa kế của cha tôi đã cho cả gia đình sống trong một ngôi nhà búp bê, một thứ kỳ lạ giống như chiếc bánh cưới phủ kem xoắn ốc trắng tinh – những căn phòng nhỏ xíu, bàn ghế nhỏ xíu, tranh ảnh nhỏ xíu, cả đồ trang sức chạm đá, cả những miếng hổ phách có côn trùng mắc kẹt bên trong, tất cả đều tí tẹo, tí tẹo, tí tẹo! Thế giới Khổng Lồ xa vời quá, một tin đồn xấu xa bên kia bức tường vườn nhà. Tội nghiệp mẹ cha! Họ chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho tôi. Họ giữ riết tôi như chiếc lọ sứ, nhỏ bé và quý báu, trong thế giới của kiến, trong những căn phòng tổ ong, trong thư viện li ti, trong mảnh đất có những cửa cái to bằng con bọ hung và cửa sổ to bằng con bướm mối. Mãi tới bây giờ tôi mới thấy được tầm vóc loạn tâm thần kỳ vĩ của cha mẹ tôi! Họ hẳn đã mơ tưởng sẽ sống đời đời, luôn giữ gìn tôi như con bướm khô trong hộp kính. Nhưng cha tôi chết trước, rồi một đám cháy nuốt chửng ngôi nhà tí hon, cái tổ ong bầu ấy, cùng mọi tấm gương soi bé bằng con tem và căn phòng bằng lọ muối bên trong. Mẹ cũng chết luôn! Và còn lại tôi một mình, nhìn tàn lửa rơi, bị quẳng ra ngoài thế giới của Quái Vật và Người Khổng Lồ, bị thực tế như trận đất lở cuốn phăng, quăng quật, lăn lóc, và nát bấy dưới chân vách núi!

Tôi phải mất một năm mới thích ứng được. Không thể nào nghĩ tới một nghề với chút công việc phụ thêm. Dường như đời này không có chỗ nào dành cho tôi. Và rồi, một tháng trước, Kẻ Khủng Bố đó bước vào đời tôi, ấn một cái mũ đàn bà lên mái đầu khờ khạo của tôi, và hét với đám bạn: “Tao muốn tụi bay xem con lùn này!”

Aimee ngừng đọc. Ánh mắt cô bồn chồn và tờ tạp chí run rẩy khi cô đưa cho Ralph. “Anh đọc hết đi. Phần còn lại là câu chuyện giết người. Viết được lắm. Anh thấy vậy không? Lùn mà hay! Lùn mà hay!”

Ralph quẳng tờ tạp chí qua một bên rồi uể oải châm điếu thuốc. “Tôi thích đọc truyện cao bồi hơn.”

“Ralph, anh phải đọc truyện này. Cần có người nói cho ông Lớn biết là anh ta viết tốt lắm và khuyến khích anh ta viết tiếp.”

Ralph nhìn cô, đầu nghiêng một bên. “Thế ai sẽ nói cho nó biết? Chà chà, chúng ta là cánh tay mặt của Đấng Cứu Thế đấy à?”

“Đừng nói cái giọng đó chứ!”

“Tỉnh lại đi, đồ khùng! Nếu tự nhiên cô ào ào nói ra điều đó, nó sẽ nghĩ cô đang bố thí lòng thương hại. Nó sẽ gào rống xua đuổi cô cút khỏi nhà nó.”

Aimee ngồi xuống, ngẫm nghĩ từ tốn lại, cố xoay trở vấn đề xem xét mọi góc cạnh. “Em không biết. Có lẽ anh đúng. Ồ, không phải lòng thương hại đâu, Ralph, thật đó. Nhưng có thể đối với anh ta thì giống như thế. Em phải cẩn thận hết sức.”

Hắn nắm vai cô lắc tới lắc lui, mấy ngón tay bấu nhẹ. “Trời, trời, mặc kệ nó đi, tôi chỉ yêu cầu cô điều đó; cô sẽ hao tâm tốn sức mà chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được gì. Trời, Aimee, chưa hề thấy cô sốt sắng chuyện gì như chuyện này. Thôi, hôm nay nghỉ làm đi chơi, tôi với cô, đi ăn trưa, đổ ít xăng, rồi phóng xe dọc bờ biển đi xa hết cỡ, bơi lội, ăn chiều, xem phim gì hay hay ở thị trấn nhỏ đâu đó… bỏ mẹ cái hội chợ này đi, được không? Một ngày vui đã đời không lo toan. Tôi đã để dành được ít tiền đây rồi.”

“Đó là vì em thấy anh ta khác biệt,” cô nói, mắt nhìn sâu vào bóng tối. “Đó là vì anh ta là người đáng nể mà tụi mình không thể nào bằng được…, anh và em và tất cả lũ chúng ta ở bến tàu này. Ngộ thật, ngộ thật đó. Cuộc đời đã định cho anh ta chẳng được tích sự gì ngoài những gánh xiếc rong, thế mà anh ta lại ở cái xứ này. Và cuộc đời đã định cho tụi mình không phải làm trong gánh xiếc rong, nhưng tụi mình cũng lại ở đây, thế đấy, ở tít tận đây trên cái cầu tàu ngoài biển này. Nhiều lúc tưởng chừng xa bờ đến cả triệu dặm. Ralph, làm sao tụi mình có thân xác này nhưng anh ta lại có được trí óc và có thể nghĩ ra nhiều điều mà tụi mình thậm chí không bao giờ ngờ tới?”

“Nãy giờ tôi nói gì cô đâu có nghe!” Ralph nói.

Cô ngồi còn hắn đứng bên trên, tiếng nói xa vắng. Mắt cô khép hờ và hai bàn tay cô đặt trên đùi, run rẩy.

“Tôi không thích vẻ mặt tinh ranh của cô lúc này,” cuối cùng hắn lên tiếng.

Aimee từ từ mở ví lấy ra một cuộn giấy bạc rồi bắt đầu đếm. “Ba mươi lăm, bốn mươi đô la. Đủ. Em sẽ điện thoại cho Billie Fine nhờ ông ta gửi một tấm gương biến dạng loại cao tới nhà ông Lớn nhỏ con ở Ganghes Arms. Đấy, em sẽ làm thế!”

“Cái gì?”

“Thử nghĩ xem, Ralph, anh ta sẽ sung sướng biết bao khi có tấm gương đó trong phòng riêng bất cứ khi nào anh ta cần tới. Em mượn điện thoại anh nhé?”

“Cứ việc, đúng là khùng.”

Ralph quay lưng thật nhanh rồi bỏ đi về cuối đường hầm. Tiếng cửa đóng sầm.

Aimee chờ một lúc rồi đưa tay nhấc điện thoại, bắt đầu quay số, chậm chạp đến đau khổ. Cô ngừng lại giữa những con số, nín thở, nhắm mắt, tự hỏi thầm nếu trót mang phận nhỏ nhoi trên đời này, và nếu một ngày có người gửi cho một tấm gương đặc biệt thì sẽ như thế nào. Một tấm gương trong phòng riêng nơi ta có thể ẩn náu cùng chiếc bóng phản chiếu to lớn của bản thân, chói sáng, và viết hết truyện này đến truyện khác, không cần phải bước ra thế gian nếu không cần thiết. Khi đó, một mình, cùng ảo ảnh tuyệt diệu toàn vẹn hình hài trong căn phòng ấy thì sẽ như thế nào. Điều này sẽ khiến ta buồn hay vui, nó sẽ giúp ích hay là phá hoại chuyện văn chương? Cô hết ngẩng lại cúi đầu, suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Ít ra thì như thế sẽ chẳng có ai khinh thường ta. Đêm đêm, có thể lén thức giấc lúc ba giờ sáng lạnh lẽo, ta có thể nháy mắt rồi nhảy múa vòng quanh rồi mỉm cười rồi vẫy tay với chính mình, vụt lớn, vụt lớn, cao đẹp ngời ngời trong tấm gương rực rỡ.

Tiếng nói vang trong điện thoại, “Billie Fine đây.” “Ôi, Billie!” cô thổn thức.

Đêm tràn lấp cầu tàu. Biển đen gầm gừ dưới những tấm ván. Ralph ngồi lạnh tái trong chiếc quan tài bằng kính của mình,  tay  chia  bài,  mắt  nhìn  đăm  đăm,  môi  mím  chặt.  Ở khuỷu tay hắn, một kim tự tháp tàn thuốc cứ cao dần. Khi Aimee đi men dưới hàng bóng đèn màu xanh và đỏ rực, tươi cười, vẫy chào, hắn vẫn cứ từ từ, chầm chậm đặt từng quân bài xuống. “Chào Ralph!” cô gọi.

“Chuyện tình ra sao rồi?” – Hắn vừa hỏi vừa uống nước đá lạnh trong chiếc cốc bẩn. “Các chàng minh tinh, tài tử thế nào?”

“Em vừa đi mua chiếc mũ mới,” cô mỉm cười đáp. “Ôi, em thấy sướng quá! Anh biết tại sao không? Ngày mai Billie Fine sẽ cho gửi một tấm gương đi! Ta mà thấy được nét mặt của anh chàng nhỏ bé đó thì hay phải biết!”

“Tôi không giỏi tưởng tượng đâu.”

“Ối trời, bộ anh tưởng em sẽ lấy anh ta làm chồng hay sao.”

“Sao lại không? Bỏ nó vào va-li xách đi khắp nơi. Thiên hạ sẽ hỏi, Chồng cô đâu? Cô chỉ cần mở nắp ra, la lên, Nó đây này! Giống cái kèn bằng bạc. Lôi nó ra khỏi hộp bất cứ lúc nào, thổi một bài, cất vô hộp trở lại. Kiếm cái xô đựng cát nhỏ đặt sau hiên nhà cho nó đứng.”

“Em đang thấy sướng quá,” cô nói.

“Phải nói là nhân đức mới đúng.” Ralph không nhìn cô, miệng hắn căng ra. “N-h-â-n-đức. Tôi chắc mọi chuyện đều do tôi theo dõi thằng đó qua lỗ ván nẻ để làm trò vui chứ gì? Đó là lý do cô mua cho nó tấm gương đó chớ gì? Những người như cô rảnh quá mà, toàn phá hoại niềm vui của kẻ khác.”

“Anh nói thế thì em sẽ không đến chỗ anh uống nước nữa. Em thà không chơi với ai còn hơn chơi với người hèn hạ.” Ralph thở hắt một hơi thật dài. “Aimee, Aimee. Cô không

hiểu là cô chẳng thể giúp ích gì cho thằng cha đó sao? Nó là thằng khùng. Và cái trò điên rồ của cô cũng chẳng khác gì cô nói với nó: Cứ khùng nữa đi, tôi sẽ giúp anh, anh bạn”.

“Dù gì cũng là chuyện ngàn năm một thuở, có sai lầm cũng tốt nếu mình nghĩ việc làm này sẽ giúp người khác vui sướng,” cô nói.

“Cầu  Chúa  cứu  vớt  tôi  thoát  khỏi  những  kẻ  thiện tâm, Aimee.”

“Im đi! Im đi!” cô la lên, rồi không nói thêm gì nữa.

Hắn để cho im lặng đọng lại hồi lâu, rồi đứng dậy, đặt chiếc cốc dính đầy dấu tay qua một bên.

“Trông quầy vé cho tôi được chớ?”

“Được. Nhưng sao vậy?”

Cô thấy mười ngàn bóng hình trắng lạnh của hắn khệnh khạng  đi  theo  các  hành  lang  thủy  tinh,  giữa  những  mặt gương, môi hắn mím chặt và những ngón tay múa máy.

Cô ngồi trong quầy vé cả phút rồi bất chợt rùng mình. Một chiếc đồng hồ nhỏ kêu tích tắc trong quầy và cô lật bộ bài ra, từng lá một, đợi chờ. Cô nghe tiếng búa, gõ, nện, gõ, nện, văng vẳng trong Mê Cung; một lúc im lìm, một lúc chờ đợi thêm, rồi mười ngàn bóng hình gấp lại, mở ra, và tan rã, Ralph vừa sải bước vừa nhìn mười ngàn bóng hình cô ngồi trong quầy vé hồi vọng hai bên lối ra. Cô nghe tiếng cười khẽ khi hắn đi xuống đường dốc.

“Này, có gì mà anh cao hứng thế?” Cô ngờ vực hỏi. “Aimee,” hắn nói thản nhiên, “tụi mình không nên cãi nhau. Cô bảo ngày mai Billie sẽ gửi tấm gương đó tới cho ông Lớn à?”

“Anh không định làm trò quái quỷ gì đấy chứ?”

“Tôi ấy à?” Hắn thế chỗ cô trong quầy vé và vớ lấy bộ bài, miệng ậm ừ, mắt bừng sáng. “Không đời nào, ối trời, không đời nào.” Hắn không nhìn cô mà liền chia bài phành phạch. Cô đứng sau lưng hắn. Mi mắt phải của cô hơi máy. Cô hết khoanh tay rồi lại buông thõng xuống. Một phút trôi qua. Âm thanh duy nhất là tiếng sóng biển dưới gầm cầu ván tăm tối, tiếng Ralph hít thở trong bầu khí nóng, tiếng sột soạt khe khẽ của những lá bài. Bầu trời trên cầu tàu oi bức, dày đặc mây. Ngoài khơi xa, những ánh chớp lờ mờ vụt lóe lên.

“Ralph,” cuối cùng cô lên tiếng. “Thoải mái đi, Aimee,” hắn nói.

“Về chuyện anh muốn đi chơi biển ở miệt dưới…” “Ngày mai,” hắn nói. “Có thể tháng sau. Có thể năm sau.

Thằng Ralph Banghart này là người kiên nhẫn. Tôi không lo đâu, Aimee. Hiểu chưa?” Hắn giơ một bàn tay lên. “Tôi bình thản lắm.”

Cô chờ cho một đợt sóng ngoài biển tan biến.

“Em không muốn làm anh nổi khùng đâu, vậy thôi. Em không muốn chuyện gì xấu xảy ra, hứa với em đi.”

Gió  lúc  nóng  lúc  lạnh  thổi  qua  cầu  tàu.  Có  mùi  mưa trong gió. Đồng hồ kêu tích tắc. Aimee bắt đầu toát mồ hôi khi nhìn những lá bài xê dịch, xê dịch. Xa xa vọng về tiếng những tấm bia trúng đạn và tiếng nổ ở gian hàng trò chơi bắn súng.

Và rồi, gã ta kìa.

Đang lắc lư đi qua cổng chính vắng tanh của khu hội chợ, dưới những bóng đèn như côn trùng, gương mặt méo mó  và  u  ám,  mỗi  chuyển  động  là  một  gắng  gượng.  Gã  đi suốt đoạn đường dài ra cầu tàu trong lúc Aimee quan sát. Cô muốn nói với gã, Đây là đêm cuối cùng của anh, lần cuối cùng anh sẽ tự làm mình xấu hổ vì phải tới đây, lần cuối cùng anh phải chịu đựng con mắt theo dõi của Ralph, dù là lén lút. Cô ước gì mình có thể la lên và cười to và nói điều đó ngay trước mặt Ralph. Nhưng cô lặng thinh.

“Xin chào, xin chào!” Ralph rống lên. “Tối nay miễn phí, gian hàng mời! Đặc biệt dành cho khách quen!”

Thằng Lùn ngước lên, giật mình, đôi mắt đen bắn ra một khối bối rối bềnh bồng. Miệng gã nặn không nên lời cám ơn rồi gã quay lưng, một tay đưa lên cổ kéo chặt hai ve áo nhỏ tí quanh cuống họng co thắt, tay kia thầm ghì xiết đồng xu bạc. Ngoái lại, gã khẽ gật đầu, và rồi hàng trăm gương mặt thống khổ, giày vò, ám màu âm u kỳ lạ dưới ánh đèn, bước lang thang qua những hành lang thủy tinh.

“Ralph,” Aimee kéo khuỷu tay hắn. “Có chuyện gì thế?” Hắn ngoác miệng cười. “Tôi cũng đang nhân đức đây,

Aimee, nhân đức.” “Ralph,” cô kêu lên.

“Suỵt,” hắn nói. “Nghe đi.”

Trong quầy vé, họ chờ đợi giữa im lặng oi bức lê thê. Rồi, từ rất xa, văng vẳng, một tiếng rú.

“Raph!” Aimee kêu lên.

“Nghe đi, nghe đi!” Hắn nói.

Một tiếng rú nữa, lại rú và lại rú, rồi tiếng va đập rồi tiếng  quăng  quật  rồi  tiếng  đổ  vỡ,  âm  thanh  cuống  cuồng vọng khắp mê cung. Kìa, kìa, dội ngược và đối chọi loạn xạ, từ mặt gương này sang mặt gương khác, vừa la thét điên loạn vừa nức nở khóc, mặt đẫm lệ, miệng há hốc, ông Lớn xuất hiện. Gã nhào ra bầu trời đêm hầm hập, cuống cuồng nhìn quanh, rên rỉ, rồi chạy mất hút xuống bến tàu.

“Ralph, có chuyện gì thế?”

Ralph ngồi vừa cười ầm vừa vỗ đùi. Cô tát vào mặt hắn. “Anh đã làm gì?”

Hắn cố nín cười nhưng không được. “Theo tôi. Tôi sẽ cho cô thấy!”

Và  rồi  cô  vào  mê  cung,  hấp  tấp  chạy  qua  những  tấm gương trắng lóa, vết son môi đỏ rực như lửa phản chiếu cả ngàn lần trong cái hang động sáng bạc hừng hực nơi những người đàn bà điên loạn dị kỳ như cô đuổi theo một tên đàn ông tươi cười, đang chạy phăng phăng.

“Theo tôi!” hắn la to. Và họ lao tới căn buồng tí xíu sặc mùi bụi bặm.

“Ralph!”

Họ đứng ở ngưỡng cửa căn buồng nhỏ nơi Thằng Lùn đêm nào cũng đến cả năm nay. Cả hai đứng ở nơi Thằng Lùn đứng đêm đêm, trước khi gã mở mắt nhìn hình tượng thần kỳ trước mặt.

Aimee chầm chậm lê chân, một bàn tay đưa ra trước, bước vào căn buồng lờ mờ tối.

Tấm gương đã bị đổi.

Tấm  gương  mới  khiến  ngay  cả  những  người  bình thường cũng bé, bé, bé thêm; nó khiến ngay cả những kẻ cao lớn cũng thành nhỏ nhoi, tối tăm, dị dạng thấp kém hơn khi lại gần.

Aimee đứng trước tấm gương ấy, một ý nghĩ phản chiếu, nếu gương này biến người lớn thành nhỏ, khi đứng đây, trời ơi, thì sẽ như thế nào với một gã lùn, gã lùn tí hon, gã lùn u ám, gã lùn cô đơn và kinh hoảng?

Cô quay lưng và suýt vấp ngã. Ralph đang đứng nhìn cô. “Ralph,” cô thốt lên. “Trời ơi, sao anh lại làm thế?”

“Aimee, trở lại đây!”

Cô  băng  qua  những  tấm  gương,  vừa  chạy  vừa  khóc. Căng mắt nhìn qua màn lệ thật khó tìm đường, nhưng cô đã lần được lối ra. Cô đứng chớp mắt nhìn cầu tàu vắng lặng, rồi dợm chạy theo một hướng, đổi hướng khác, không biết về đâu, rồi thôi. Ralph chạy tới sau lưng cô, nói gì đó, một giọng nói xa xăm và khác lạ, như đang loáng thoáng sau một bức tường đêm khuya.

“Tôi không muốn nghe nữa,” cô nói.

Có ai đang chạy lên cầu tàu. Đó là Kelly, chủ gian hàng bắn súng. “Này, mấy người có thấy một thằng lùn mới chạy qua không? Thằng lùn đó giật một khẩu súng ở chỗ tôi, đã nạp đạn, rồi chạy mất tiêu, tôi không kịp bắt lại. Mấy người giúp tôi tìm nó với?”

Rồi Kelly đi luôn, vừa chạy hết tốc lực vừa quay đầu qua lại tìm kiếm giữa các căn lều bạt, khuất xa dần dưới những hàng bóng đèn giăng mắc rực đỏ rực vàng rực xanh.

Aimee ngần ngừ một lúc rồi cất bước. “Aimee, cô đi đâu?”

Cô nhìn Ralph như thể hai kẻ vừa rẽ qua một góc đường, hai người xa lạ, tình cờ chạm mặt và lướt qua nhau. “Chắc là…,” cô nói, “Tôi sẽ giúp mọi người đi tìm.”

“Cô chẳng làm gì được đâu.”

“Dù sao cũng phải thử. Ôi, Ralph, lỗi tại tôi cả! Lẽ ra tôi đừng điện thoại cho Billie Fine! Lẽ ra tôi đừng đặt mua tấm gương và khiến anh nổi khùng tới mức làm như thế! Lẽ ra chính tôi phải đi gặp ông Lớn, chứ không phải mua cái thứ điên khùng đó gửi tới! Tôi phải đi tìm người đó, dù có chết cũng phải đi tìm.”

Chầm  chập  xoay  người  lại,  hai  má  ướt  đẫm,  cô  nhìn những tấm gương dựng trước Mê Cung, trên một tấm gương là bóng phản chiếu của Ralph. Cô không thể rời mắt khỏi hình ảnh ấy; nó thu hút cô đứng sững, miệng há hốc, toàn thân run lẩy bẩy buốt lạnh.

“Aimee, sao vậy? Cô làm sao…?”

Hắn nhận ra hướng cô đang nhìn và quay ngoắt lại xem chuyện gì. Hắn sửng sốt.

Hắn quắc mắt nhìn tấm gương sáng rực đó.

Một con người kinh tởm, xấu xa, nhỏ mọn, cao chỉ chừng sáu tấc, bộ mặt bị bóp dẹp dưới vành mũ rơm kiểu xưa, đang

quắc mắt nhìn đáp trả. Ralph đứng đó trừng trừng nhìn bóng mình, hai bàn tay chống nạnh.

Aimee từ từ bước đi rồi bắt đầu nhanh chân và bắt đầu chạy. Cô chạy xuống bến tàu vắng lặng và cơn gió nóng phun những hạt mưa lớn bỏng rát trên trời dội xuống đầu trong lúc cô chạy thật xa.

Ảnh: Joseph Mugnaini

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng