Trích đăng

Chương 1 “Đừng nói chúng ta không lợi quyền” – Madeleine Thien

Madeleine Thien dẫn dắt người đọc đi sâu vào cuộc sống đầy biến động của một gia đình Trung Hoa qua hai thế hệ tiếp nối nhau: thế hệ những người sống qua cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông giữa thế kỷ XX, rồi đến đời con cái của họ – những sinh viên tham gia biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn (1989), Hành trình của hai cô gái trẻ Marie và Ai-Ming không chỉ ráp nối lại từng mảnh ghép của câu chuyện gia đình, mà còn dần hé lộ những bi kịch của một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Trung Quốc, khi mỗi người nghệ sĩ phải đấu tranh với chính cái tôi của mình để sống còn, giữ vững lòng trung thành và cống hiến cho nền âm nhạc mà mình đang theo đuổi.

Published

on

[Trích đoạn Chương 1] Đừng nói chúng ta không lợi quyền

Trích từ: Đừng nói chúng ta không lợi quyền

Tác giả: Madeleine Thien

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2019

*

Trong vòng một năm, cha bỏ chúng tôi hai lần. Lần đầu tiên là khi ông kết thúc cuộc hôn nhân, và lần thứ hai, là khi ông tự kết liễu mình. Vào năm 1989 đó, mẹ tôi bay tới Hồng Kông và đưa cha tôi về an nghỉ ở một nghĩa trang gần biên giới Trung Quốc. Sau đấy, lòng rối bời, bà vội vã trở về nhà ở Vancouver nơi tôi đang ở một mình. Khi đó tôi mười tuổi.

Đây là những gì tôi nhớ:

Cha tôi có khuôn mặt đẹp trai không tuổi; ông là một người tử tế nhưng u sầu. Ông đeo kính không gọng và tròng kính mang lại ấn tượng là chúng chỉ lơ lửng ngay trước mặt ông như tấm màn mỏng nhất. Đôi mắt ông nâu sẫm, thận trọng và bất an; ông chỉ mới 39 tuổi. Cha tôi tên là Jiang Kai và ông sinh ra tại một làng nhỏ ngoại vi Trường Sa[1]. Sau này, khi tôi biết được rằng cha tôi là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng ở Trung Quốc, tôi nghĩ đến cách những ngón tay ông gõ trên bàn bếp, cách chúng nhẹ gõ qua mặt bàn và trên đôi cánh tay mềm của mẹ tôi cho tới tận đầu những ngón tay, khiến bà phát điên và khiến tôi bùng lên niềm vui thú. Ông đặt cho tôi tên tiếng Trung là Jiang Li-ling và tên tiếng Anh là Marie Jiang. Khi ông mất, tôi mới chỉ là một đứa trẻ, và cho dù có rời rạc và không chính xác thì một vài ký ức vẫn là tất cả những gì tôi có về ông.

Tôi không bao giờ để mất chúng.

Trong những năm tháng tuổi hai mươi, những năm tháng khó khăn sau khi cả cha mẹ tôi đều đã mất, tôi toàn tâm toàn ý dành thời gian cho quan sát số, giả thuyết, lô-gích và chứng minh, đây là những công cụ mà các nhà toán học chúng tôi dùng không chỉ để diễn giải, mà còn đơn giản là để mô tả thế giới. Suốt chục năm qua tôi là giáo sư tại Đại học Simon Fraser, Canada. Các con số cho phép tôi di chuyển giữa một lượng lớn không tưởng và một lượng nhỏ vô cùng, cho phép tôi sống một cuộc đời biệt lập khỏi cha mẹ tôi, khỏi những giấc mơ không được hồi đáp của họ, và như tôi từng nghĩ, để sống cuộc đời của chính tôi.

Mấy năm trước, hồi năm 2010, trong khi đi dạo nơi phố Tàu ở Vancouver, tôi đi qua một tiệm bán đĩa DVD. Tôi nhớ rằng trời đang đổ mưa và trên vỉa hè không có ai. Tiếng nhạc cổ điển vang lên từ hai cái loa vĩ đại nằm bên ngoài tiệm. Tôi biết bản nhạc đó, bản Xô-nát số 4 dành cho dương cầm và vĩ cầm của Bach, và tôi bị kéo về phía bản nhạc một cách mãnh liệt như thể ai đó đang dùng tay kéo tôi lại. Bản hòa âm mang nhà soạn nhạc, các nhạc công và thậm chí cả sự im lặng lại với nhau, bản nhạc ấy, với những con sóng xoắn ốc từ nỗi buồn và lòng oán giận là tất cả những gì tôi nhớ.

Choáng váng, tôi dựa vào lớp kính.

Và rồi đột nhiên tôi đang ở trong xe ô-tô với cha tôi. Tôi nghe tiếng mưa văng lên lốp và tiếng cha tôi hát nho nhỏ.

Ông sống động quá, thương yêu quá, đến nỗi sự khó hiểu về việc ông tự sát lại một lần nữa khiến tôi buồn ghê gớm. Lúc đó cha tôi đã mất được hai thập kỷ, và mảnh ký ức về ông tinh nguyên đến như vậy chẳng bao giờ trở lại với tôi nữa. Khi ấy tôi ba mươi mốt tuổi.

Tôi đi vào tiệm. Người nghệ sĩ dương cầm với cái tên Glenn Gould xuất hiện trên màn hình phẳng: ông và Yehudi Menuhin đang trình diễn bản xô-nát của Bach mà tôi đã nhận ra. Glenn Gould đang cong mình trên chiếc dương cầm, ông mặc bộ lễ phục sẫm màu và đang nghe những giai điệu vượt quá tầm mà phần lớn chúng ta có khả năng cảm nhận, ông ta… quá đỗi thân thuộc đối với tôi, giống như cả một ngôn ngữ, cả một thế giới mà tôi đã quên.

Vào năm 1989, cuộc sống trở thành một chuỗi những việc cần thiết hàng ngày đối với mẹ con tôi: đi làm và đi học, xem ti-vi, ăn, ngủ. Lần ra đi đầu của cha tôi xảy đến cùng lúc với những sự kiện quan trọng diễn ra ở Trung Quốc, mẹ tôi chăm chăm xem tin tức về những sự kiện đó trên kênh CNN. Tôi hỏi bà những người biểu tình đó là ai, bà nói rằng họ là sinh viên và dân thường. Tôi hỏi liệu cha tôi có ở đó, và bà nói “Không đâu, đó là Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh.” Các cuộc biểu tình khiến hơn một triệu người dân Trung Quốc xuống đường bắt đầu vào tháng Tư, khi cha vẫn sống với chúng tôi, và tiếp tục đến sau khi ông biến mất để tới Hồng Kông. Và rồi, vào ngày 4 tháng Sáu, cũng như những ngày, rồi những tuần sau đó, mẹ tôi khóc. Tôi ngó bà hết đêm này đến đêm kia. Cha đã rời khỏi Trung Quốc vào năm 1978 và bị cấm quay trở lại. Nhưng sự khó hiểu của tôi gắn liền với những điều tôi có thể thấy: đó là những hình ảnh hỗn loạn và khủng khiếp của người và xe tăng, và hình ảnh mẹ tôi trước màn hình.

Mùa hè năm đó cảm tưởng như một giấc mơ, tôi tiếp tục các bài học thư pháp ở trung tâm văn hóa gần nhà, dùng bút lông và mực sao chép thơ tiếng Trung, hết dòng này đến dòng khác. Nhưng những từ tôi có thể nhận ra được không nhiều, những từ như Đại, Tiểu, Nữ, Nguyệt, Thiên. Cha tôi nói tiếng Quan Thoại còn mẹ nói tiếng Quảng Đông, nhưng tôi chỉ rành tiếng Anh. Hồi đầu, những hình ghép tiếng Trung dường như là một trò chơi hay thú vui, nhưng rồi việc không hiểu được bắt đầu gây trở ngại cho tôi. Tôi viết đi viết lại những ký tự mà tôi không thể đọc được, càng viết càng lớn cho tới khi phần mực thừa làm ướt đẫm tờ giấy mỏng rồi xé mất tờ giấy. Tôi chẳng quan tâm. Tôi không đến lớp nữa.

Vào tháng Mười, hai sĩ quan cảnh sát đến cửa nhà chúng tôi. Họ báo cho mẹ biết rằng cha đã đi rồi, và rằng văn phòng điều tra ở Hồng Kông sẽ lo trường hợp này. Họ nói cái chết của cha là do tự sát. Sau đó, sự im lặng trở thành một người nữa sống trong nhà chúng tôi. Nó ngủ trong tủ đồ cùng với áo, quần và giày của cha, nó bảo vệ những bản nhạc của Beethoven, Prokofiev và Shostakovich, đám mũ, chiếc ghế bành và chiếc cốc đặc biệt của cha. Im lặng chuyển vào tâm trí chúng tôi và dữ dội như biển cả trong mẹ con tôi. Mùa đông năm đó, Vancouver thậm chí còn xám hơn và ướt át hơn lệ thường, như thể làn mưa là chiếc áo len dày mà chúng tôi không thể cởi ra được. Tôi đi ngủ mà vẫn chắc rằng đến sáng, cha sẽ đánh thức tôi dậy như ông luôn làm, giọng ông kéo tôi ra khỏi giấc ngủ, cho tới khi ảo tưởng trộn lẫn với mất mát và gây đau đớn hơn nhiều cảm xúc mang tới trước đó.

Tuần theo tuần trôi qua, và năm 1989 chuyển thành 1990. Mẹ con tôi ăn tối trên ghế xô-pha mỗi tối vì không có chỗ trên bàn ăn. Giấy tờ pháp lý của cha tôi bao gồm các chứng chỉ đủ loại và chứng nhận khai thuế đã được sắp xếp, nhưng các giấy tờ linh tinh vẫn còn. Khi mẹ kiểm tra căn hộ triệt để hơn, các giấy tờ khác được tìm thấy, bao gồm các bản nhạc, một nắm thư từ cha tôi viết nhưng chưa từng gửi (ví dụ như “Chim Sẻ ơi, em không biết liệu lá thư này có tới được với anh không, nhưng…”), và ngày càng nhiều những cuốn sổ. Khi tôi thấy những món đồ này cứ tăng lên, tôi hình dung mẹ tin rằng cha sẽ tái sinh trong một khối hình bằng giấy. Hoặc có thể là giống như tổ tiên mình, bà tin rằng chữ viết trên giấy là bùa hộ mệnh và bằng cách nào đó có thể bảo vệ chúng tôi khỏi nguy hại.

Hầu hết các đêm, mẹ ngồi với đám giấy tờ trong khi vẫn mặc nguyên đồ công sở.

Tôi cố gắng không làm phiền bà. Tôi ở trong phòng khách sát bên và thỉnh thoảng nghe thấy trang giấy giở gần như không phát ra tiếng động.

Nghe thấy hơi thở yên lặng của bà.

Nghe thấy mưa rào chảy xuống khung cửa sổ.

Chúng tôi bị ngưng lại trong dòng thời gian.

Hết lần này đến lần khác, chiếc xe buýt điện số 29 ồn ào chạy qua.

Tôi tưởng tượng ra những cuộc nói chuyện. Tôi cố hình dung cha tái sinh ở thế giới bên kia, đang mua một cuốn nhật ký mới, dùng một loại tiền mới, và nhét tiền thừa vào túi chiếc áo khoác mới, chiếc áo nhẹ làm từ lông vũ, hoặc có thể là áo trùm làm bằng lông lạc đà, áo này đủ chắc cho cả thiên đàng và thế giới bên kia.

Trong lúc đó, mẹ tôi làm mình sao lãng bằng việc cố gắng tìm gia đình của cha tôi để báo cho họ biết rằng người con trai, người anh hay người chú đã mất tích từ lâu của họ không còn sống trên đời này nữa, bất kể họ đang ở đâu. Bà bắt đầu với việc tìm kiếm người cha nuôi của cha, ông từng sống ở Thượng Hải và được biết đến như là “vị Giáo sư”. Ông là người thân duy nhất cha từng nhắc đến. Công cuộc tìm kiếm thông tin diễn ra chậm chạp và nhẫn nại; thời đó chưa có thư điện tử hay mạng Internet, vì thế việc mẹ gửi thư đi thì dễ nhưng khó nhận được câu trả lời chính xác. Cha tôi đã rời Trung Quốc từ lâu và nếu Giáo sư vẫn còn sống, ông phải già lắm rồi.

Bắc Kinh mà chúng tôi thấy trên ti-vi với những nhà xác và những gia đình đau buồn, với xe tăng đóng ở mỗi ngã tư, trang bị đầy súng trường, là một thế giới khác xa với Bắc Kinh mà cha tôi từng biết. Tuy thế, thỉnh thoảng tôi nghĩ, cuối cùng thì cũng không khác nhau nhiều lắm.

Vài tháng sau, tháng Ba năm 1990, mẹ đưa cho tôi xem cuốn Những Bản Ghi. Đêm hôm đó, mẹ ngồi chỗ quen thuộc nơi bàn ăn, đọc cuốn sổ. Cuốn sổ trong tay bà dài và hẹp, kích thước như một cánh cửa nhỏ. Cuốn sổ có một sợi dây cô-tông màu hồ đào buộc hờ lại.

Quá giờ đi ngủ của tôi đã lâu, đột nhiên mẹ để ý thấy tôi.

“Có việc gì với con thế hả!” Bà nói. Và rồi, bối rối bởi chính câu hỏi của mình, bà tiếp: “Con đã làm xong bài tập về nhà chưa? Mấy giờ rồi?”

Tôi đã làm xong từ lâu lắm, và giờ đang xem một bộ phim kinh dị tắt tiếng. Tôi vẫn còn nhớ đó là cảnh một người đàn ông vừa bị giết bằng một chiếc cuốc băng. “Nửa đêm rồi ạ,” tôi nói, thất thần vì ông ta đã mềm như bún.

Mẹ tôi đưa một tay ra và tôi tới chỗ bà. Bà ôm một tay quanh eo tôi, siết chặt. “Con có muốn xem thứ mẹ đang đọc không?”

Tôi nghiêng người qua cuốn sổ và chăm chú nhìn đám chữ. Các ký tự tiếng Trung chạy xuống trang giấy như những dấu chân thú trên tuyết.

“Đó là một câu chuyện,” mẹ nói.

“Thế ạ. Thể loại gì ạ?”

“Mẹ nghĩ đó là tiểu thuyết. Một người ưa mạo hiểm tên là Da-wei giong buồm về châu Mỹ và một nữ anh hùng tên là May Fourth[2] đi bộ qua sa mạc Gobi…”

Tôi cố gắng hơn nữa nhưng những từ ngữ vẫn không thể đọc được.

“Ngày xưa người ta sao nguyên cả quyển sách bằng cách chép tay,” mẹ nói. “Người Nga gọi đó là ‘samizdat’, còn người Trung Quốc gọi là… ờ, mẹ không nghĩ là mình có một từ riêng cho việc đó. Con nhìn xem cuốn sổ này bẩn chưa, có cả ít cỏ trên sổ nữa. Ai mà biết được bao nhiêu người đã mang cuốn sổ tới những nơi nào… cuốn sổ này tuổi đời hơn con mấy chục năm đấy, Li-ling.”

Tôi tự hỏi có thứ gì ít tuổi hơn mình không? Rồi tôi hỏi bà liệu có phải cha đã sao chép cuốn sổ.

Mẹ lắc đầu. Bà nói chữ viết đẹp lắm, phải từ một nhà thư pháp tài giỏi, chứ chữ viết của cha thì chỉ tàm tạm thôi. “Cuốn sổ này là một chương của một cuốn sách dài. Ở đây có ghi ‘Số 17’. Không thấy ghi tên tác giả, nhưng con xem này, có tựa đề là ‘Những Bản Ghi’”.

Bà đặt cuốn sổ xuống. Trên bàn ăn, giấy tờ của cha chất đống như những đợt sóng bạc đầu lao về phía trước, như muốn lao khỏi mặt bàn mà đổ xuống mặt thảm. Tất cả đám thư từ của chúng tôi cũng nằm đó. Từ năm mới đến nay, mẹ bắt đầu nhận được thư từ Bắc Kinh, đó là những lời chia buồn của các nhạc công trong Dàn nhạc Giao hưởng Trung ương, mãi gần đây họ mới biết về cái chết của cha. Mẹ đọc những lá thư này với quyển từ điển trong tay bởi chúng được viết bằng tiếng Trung Giản thể, kiểu chữ mẹ chưa từng học. Mẹ tôi được giáo dục ở Hồng Kông, bà học chữ tiếng Trung truyền thống. Nhưng ở đại lục, trong những năm 1950, một bảng chữ mới đơn giản hơn đã trở thành luật tại Trung Hoa Cộng sản. Hàng ngàn từ đã thay đổi; ví dụ, từ “viết” đổi từ 寫 thành 写, từ “biết” đổi từ 識 thành 识. Thậm chí từ “Đảng Cộng sản” cũng đổi từ 共產黨 thành 共产党. Đôi khi mẹ nhìn ra được từ cũ, còn lại mẹ đoán nghĩa. Bà bảo giống như là đọc một lá thư từ tương lai hoặc nói chuyện với một người quay lưng về phía mình vậy. Đã thế còn thêm phức tạp vì thực tế là hiếm khi bà đọc tiếng Trung nữa, bà chủ yếu bộc lộ suy nghĩ bằng tiếng Anh. Bà không thích tiếng Quan Thoại của tôi vì bà nói “Trọng âm của con méo mó hết thảy.”

“Ở đây lạnh quá,” tôi thì thầm. “Mẹ con mình mặc đồ ngủ rồi vào giường đi mẹ.”

Mẹ nhìn cuốn sổ chằm chằm, không nghe thấy.

“Đến sáng mẹ sẽ bị mệt đấy,” tôi khăng khăng. “Mẹ sẽ ngủ gà gật tới hai chục lần cho xem.”

Mẹ mỉm cười nhưng đôi mắt sau cặp kính căng lại vì điều gì đó. “Đi ngủ đi con,” bà nói. “Đừng thức chờ mẹ.”

Tôi hôn gò má mềm mại của bà. Bà hỏi, “Nhà sư nói gì với thợ làm bánh pizza?”

“Nói gì ạ?”

“Làm cho tôi một cái đầy đủ các thứ.”

Tôi cười lớn, rên rỉ rồi lại cười lớn, đoạn rùng mình khi nghĩ đến nạn nhân trong bộ phim trên ti-vi, nghĩ đến làn da trắng bệch của ông ta. Mỉm cười, bà kiên quyết dùng khuỷu tay đẩy tôi ra.

Nằm trên giường, tôi cân nhắc mấy điều thực tế.

Điều đầu tiên là ở lớp Năm mà tôi đang theo học, tôi là một người khác hẳn. Tôi rất thuần hậu, biết cư xử và đạt kết quả tốt đến nỗi tôi phải tự hỏi liệu bộ não và linh hồn mình có tách biệt không.

Điều thứ hai là tại những nước nghèo hơn, người như mẹ con tôi sẽ không cô đơn đến thế này. Trên ti-vi, những nước nghèo đông đúc lắm, họ là những chiếc thang máy quá tải đang cố vươn lên trời cao. Người ta ngủ tới sáu người chung một giường và cả tá người chung một phòng. Ở đó bạn có thể luôn nói lớn suy nghĩ của mình, yên tâm là sẽ có ai đó nghe thấy bạn kể cả nếu họ không muốn. Thật ra, cách trừng phạt một người chắc là loại bỏ họ khỏi gia đình và bè bạn, cô lập họ ở một đất nước lạnh lẽo và phá vỡ họ bằng nỗi cô đơn.

Điều thứ ba không phải là một thực tế mà là một câu hỏi:

Vì sao tình yêu của chúng tôi lại không mấy ý nghĩa đối với cha?

Hẳn là tôi đã ngủ, vì thình lình tôi thức dậy và thấy mẹ đang khom người phía trên tôi. Ngón tay bà lau mặt tôi. Tôi chẳng bao giờ khóc vào ban ngày cả, chỉ đêm thôi.

“Đừng thế này, Li-ling,” mẹ nói. Bà lẩm bẩm nhiều thứ. Bà nói, “Nếu con bị mắc kẹt trong một căn phòng và không ai đến cứu con thì con có thể làm gì? Con phải đập mạnh vào tường và phá cửa sổ. Con phải trèo ra và cứu chính mình. Li-ling à, hiển nhiên là khóc không giúp người ta sống sót đâu.”

“Tên con là Marie,” tôi gào. “Là Marie!”

Bà mỉm cười. “Con là ai?”

“Con là Li-ling!”

“Con là Nữ.” Bà dùng tên ở nhà cha gọi tôi, vì chữ “nữ” vừa có nghĩa là nữ, vừa có nghĩa là con gái. Ông thích nói đùa là ở nơi ông sinh ra, người nghèo còn chẳng buồn đặt tên cho con gái họ. Mẹ sẽ đánh vào vai ông và nói bằng tiếng Quảng Đông, “Đừng tiêm nhiễm mấy thứ vớ vẩn vào đầu óc con bé.”

Được bảo bọc trong vòng tay mẹ, tôi cuộn mình vào giấc ngủ một lần nữa.

Sau đó tôi thức giấc nghe tiếng mẹ lẩm bẩm dòng suy tư và bà đang cười nhẹ. Sáng mùa đông thật tối tăm, nhưng tiếng cười bất chợt của mẹ cắt ngang phòng như tiếng kêu của chiếc máy sưởi điện. Da bà thơm mùi gối sạch và mùi kem hương hoa mộc tê ngọt ngào mà bà dùng.

Khi tôi thì thầm tên bà, bà lẩm bẩm, “Ha.” Rồi sau đó, “Ha ha.” Tôi hỏi bà, “Mẹ đang bước đi trên đất liền hay dưới biển vậy?”

Với vẻ rất khác lạ, bà nói, “Ông ấy đây rồi.”

“Ai cơ ạ?” Tôi cố nhìn trong bóng tối của căn phòng. Tôi thực sự tin là ông ấy ở đây.

“Người nhận nuôi. Người… Ừm… Vị Giáo sư đó.”

Tôi nắm chặt tay bà. Phía bên kia tấm màn cửa, bầu trời đang đổi màu. Tôi muốn theo bà đi vào quá khứ của cha, vậy nhưng tôi không tin được. Người ta có thể đi xa vào ảo tưởng, họ có thể thấy điều gì đó quá thu hút khiến họ không màng quay lại. Tôi sợ rằng giống như cha, bà sẽ không còn nhớ lý do để về nhà nữa.

Cuộc sống bên ngoài, từ việc bắt đầu năm học mới, các bài kiểm tra thường kỳ, đến các trại toán học đầy vui thú, vẫn tiếp tục như thể chưa từng dừng lại, cuộc sống ấy được lái về phía trước bởi các mùa vòng đi vòng lại. Áo hè và áo đông của cha vẫn chờ đợi bên cánh cửa, bên dưới mũ và phía trên giày của ông.

Sớm tháng Mười hai, một phong bì thư dày được gửi đến từ Thượng Hải, một lần nữa mẹ ngồi xuống với cuốn từ điển. Cuốn từ điển cỡ nhỏ, bìa cứng cực kỳ dày với lớp bìa màu xanh lá và trắng. Khi tôi giở sách, các trang trong mờ và nhẹ gần như không khí. Đây đó, tôi thấy một vệt dầu mỡ hoặc vết cà phê hình khuyên, chắc là do cốc cà phê của mẹ hoặc có thể của tôi cũng nên. Mỗi từ được viết dưới phần gốc của từ đó, hay còn gọi là ngữ căn. Ví dụ như từ 門 nghĩa là “môn” (cánh cổng), nhưng nó cũng là một ngữ căn, có nghĩa nó là một khối cơ sở xây nên các từ và khái niệm khác. Nếu ánh sáng, hay “nhật” 日, soi sáng qua “môn”, chúng ta có từ “không gian” 間. Nếu có chữ “mã” 馬 trong “môn”, nó có nghĩa là sự mai phục 闖, và nếu có chữ “khẩu” 口 trong “môn”, chúng ta có từ “câu hỏi” 問. Nếu có chữ “thị” (mắt) 目 và “cẩu” 犬 bên trong, chúng ta có từ “yên lặng” 闃.

Lá thư từ Thượng Hải dài ba mươi trang được viết bởi một bàn tay viết rối; sau vài phút tôi thấy mệt khi nhìn mẹ khó khăn đọc nó. Tôi đi ra phòng trước và chằm chằm nhìn sang hàng xóm. Ngang qua sân, tôi thấy một cây thông Noel khốn khổ. Trông như thể ai đó đã cố gắng làm cái cây ngộp thở bằng vòng kim tuyến.

Mưa trút xuống và gió thổi qua. Tôi mang cho mẹ một cốc kem trứng.

 “Thư mang tin tốt không ạ?”

Mẹ đặt những trang thư xuống. Hai mí mắt bà trông sưng lên. “Đây không phải là điều mẹ chờ đợi.”

Tôi đưa ngón tay chạy ngang qua phong bì và bắt đầu giải nghĩa tên người gửi. Cái tên đó khiến tôi ngạc nhiên. “Một phụ nữ ạ?” Tôi hỏi, đột nhiên thấy sợ.

Mẹ gật đầu.

“Bà ấy có một yêu cầu,” mẹ nói khi lấy phong bì từ tay tôi rồi đẩy nó xuống dưới mấy trang giấy. Tôi dịch lại gần mẹ hơn, như thể bà là một lọ hoa sắp rơi khỏi bàn, nhưng cặp mắt sưng tấy của mẹ mang một thứ cảm xúc không ngờ. Phải chăng là sự an ủi? Hay là, trước sự kinh ngạc của tôi, có lẽ nào đó là niềm hân hoan? Mẹ tiếp lời: “Bà ấy muốn xin một ân huệ.”

“Mẹ sẽ đọc lá thư cho con nghe chứ?”

Mẹ nhéo đầu sống mũi giữa hai mắt mình và nói. “Cả lá thư dài lắm. Bà ấy nói rằng đã nhiều năm rồi bà ấy không gặp cha con. Nhưng đã có lúc họ thân thiết như gia đình.” Mẹ ngập ngừng ở từ gia đình. “Bà ấy nói rằng chồng bà là giáo viên soạn nhạc của cha con ở Học viện Âm nhạc Thượng Hải. Nhưng rồi họ mất liên lạc với nhau trong những năm tháng khó khăn đó.”

“Những năm tháng khó khăn nào ạ?” Tôi bắt đầu nghi ngờ là cái ân huệ kia có liên quan đến đô-la Mỹ hoặc một cái tủ lạnh mới, và tôi sợ rằng bà sẽ bị lợi dụng.

“Trước khi con ra đời cơ, hồi những năm 1960. Khi cha con còn là một sinh viên nhạc.” Mẹ nhìn xuống với một biểu cảm không thể đọc được. “Bà ấy nói rằng năm ngoái cha con liên lạc với họ. Cha gửi thư cho bà ấy từ Hồng Kông vài ngày trước khi ông mất.”

Một chuỗi câu hỏi nảy ra trong tôi. Tôi biết mình không nên làm phiền bà nhưng cuối cùng chỉ vì muốn hiểu được câu chuyện, tôi hỏi, “Bà ta là ai ạ? Tên bà ta là gì?”

“Họ của bà ấy là Đặng.”

“Tên bà ta cơ ạ.”

Mẹ mở miệng nhưng không thốt ra lời nào. Cuối cùng, bà nhìn thẳng vào mắt tôi và nói, “Tên bà ấy là Li-ling.”

Bà ta có cùng tên với tôi, chỉ có điều viết bằng tiếng Trung giản thể. Tôi với tay về phía lá thư. Mẹ kiên quyết đặt tay lên tay tôi. Chặn trước câu hỏi tiếp theo của tôi, bà nói tiếp, “Ba mươi trang thư này nói về hiện tại chứ không phải quá khứ. Con gái của Đặng Li-ling đã đến Toronto nhưng hộ chiếu của con bé không thể sử dụng được. Con gái bà ấy không có nơi nào để đi và bà ấy cần sự giúp đỡ của chúng ta. Con gái bà ấy…” Mau lẹ, bà đẩy lá thư vào trong bì thư. “Con gái bà ấy sẽ tới sống với chúng ta một thời gian. Con có hiểu không? Lá thư này là về hiện tại.”

Tôi cảm thấy ruột gan vặn xoắn và thế giới đảo lộn tùng phèo. Vì sao một người lạ lại sống cùng chúng tôi chứ?

“Con gái bà ấy tên là Ai-ming,” mẹ nói, ráng đưa tôi về thực tại. “Giờ mẹ sẽ đi gọi điện để sắp xếp cho con bé đến đây.”

“Con và cô ta có cùng tuổi không?”

Trông mẹ bối rối. “Không đâu con, cô ấy hẳn phải mười chín tuổi rồi và đang là sinh viên. Đặng Li-ling nói rằng con gái bà ấy… bà ấy nói rằng Ai-ming dính vào rắc rối ở Bắc Kinh trong thời gian biểu tình Thiên An Môn diễn ra. Con bé đã chạy trốn.”

“Rắc rối thế nào ạ?”

“Đủ rồi,” mẹ tôi nói. “Đó là tất cả những gì con cần biết.” “Không! Con cần biết nữa.”

Bực bội, mẹ đóng mạnh cuốn từ điển lại. “Ai nuôi con lớn thế hả? Con còn quá bé để tọc mạch thế này!”

“Nhưng mà…“

“Đủ rồi.”

Mẹ chờ cho tới khi tôi vào giường mới gọi điện. Bà nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình, tiếng Quảng Đông, với một ít tiếng Quan Thoại chen vào, thậm chí qua cánh cửa đóng, tôi có thể nghe thấy giọng bà ngấp ngứ với những thanh dấu vốn chưa bao giờ trở thành một phần ngôn ngữ tự nhiên đối với bà.

“Nơi cháu đang ở có lạnh lắm không?” Tôi nghe mẹ nói.

Rồi tiếp: “Cháu sẽ nhận vé xe buýt của hãng Greyhound ở…”

Tôi bỏ kính xuống rồi trông ra ngoài cửa sổ mờ mịt. Mưa nhìn như tuyết. Giọng mẹ nghe như tiếng nước ngoài.

Sau một hồi lâu im lặng, tôi đeo lại kính qua tai, trèo ra khỏi giường và đi ra ngoài. Mẹ đang cầm cây bút trong tay, một đống hóa đơn nằm trước mặt bà như thể chờ để sai khiến. Bà thấy tôi và hỏi, “Dép của con đâu?” Tôi nói là tôi không biết.

Mẹ bùng nổ. “Vào giường đi Nữ! Sao con không hiểu hả? Mẹ chỉ muốn một chút yên bình thôi! Con không bao giờ để mẹ một mình cả, con cứ nhìn mẹ và cứ như là con nghĩ mẹ sẽ…” Bà đập cây bút xuống. Một số mảnh vỡ ra và lăn qua sàn nhà. “Con nghĩ mẹ sẽ rời bỏ à? Con nghĩ mẹ ích kỷ như cha con à? Con nghĩ sẽ có lúc mẹ bỏ rơi con và làm con tổn thương như ông ấy đã làm à?” Một từ tiếng Quảng Đông dài dữ dội bùng ra, rồi bà tiếp: “Đi về giường đi!”

Trông bà có tuổi và mong manh quá, ngồi đó với cuốn từ điển cũ nặng nề.

Tôi lao vào phòng tắm, đóng sầm cửa, mở ra, rồi đóng sầm lớn tiếng hơn, và đổ ra khóc. Tôi mở nước vào bồn, nhận ra rằng quả thực điều tôi thật sự muốn là đi về giường. Những tiếng nức nở của tôi trở thành tiếng nấc, và khi tiếng nấc cuối cùng cũng ngưng, tất cả những gì tôi nghe được là tiếng nước rơi xuống. Ngồi lên cạnh bồn, tôi ngắm chân mình méo đi dưới làn nước. Cặp chân xanh xao của tôi gập lại khi tôi nhúng mình xuống nước.

Người cha trong ký ức trở lại với tôi. Ông đẩy băng cát-xét vào máy chạy cát-xét, bảo tôi cuộn cửa sổ xuống, rồi chúng tôi chạy xe tới Main Street, dọc theo Great Northern Way, kèn vang theo bản Công-xéc-tô Hoàng Đế của Beethoven do Glenn Gould trình diễn dưới sự chỉ huy của Leopold Stokowski. Những nốt nhạc lộn xộn chảy xuống như thác và lên vô tận, cha tôi chỉ huy bằng tay phải trong khi lái xe bằng tay trái. Tôi nghe tiếng ông ngân nho nhỏ, đầy giai điệu và gõ nhịp: DA! DA-de-de-de DA!

Da, da, da! Tôi có cảm giác rằng khi chúng tôi diễu hành trong khúc khải hoàn ngang qua Vancouver, khúc nhạc đầu tiên được tạo ra bởi cha tôi chứ không phải Beethoven. Tay ông chuyển động theo nhịp 4/4, điểm nhấn treo ngang giữa nhịp bốn và nhịp một, và tôi tự hỏi việc một người đã từng nổi tiếng, từng trình diễn tại Bắc Kinh trước mặt chính Mao Trạch Đông mà thậm chí không có một chiếc dương cầm trong nhà mình, việc đó có thể hiểu như thế nào? Phải chăng ông kiếm tiền bằng công việc trong một cửa tiệm? Thực ra, mặc dù tôi đã nài nỉ được học chơi vĩ cầm, câu trả lời của cha tôi luôn là “không”. Vậy mà giờ chúng tôi đang ở đây, băng ngang thành phố, được bao trùm trong giai điệu chiến thắng này, để cho quá khứ của cả Beethoven và của cha tôi, chưa bao giờ chết mà chỉ phản chiếu lại bên dưới kính chắn gió, rồi trỗi dậy và bao phủ chúng tôi như vầng mặt trời.

Chiếc xe hiệu Buick đó không còn nữa vì mẹ đã bán nó rồi. Mẹ đã luôn là người mạnh mẽ hơn cha, giống như cây xương rồng trong phòng khách – cái cây trong nhà duy nhất còn sống sót sau sự ra đi của cha. Để sống thì cha tôi cần nhiều hơn nữa. Nước trong bồn phủ qua người tôi. Xấu hổ vì để phí nước, tôi vặn mạnh khóa nước vào. Cha tôi từng nói rằng âm nhạc tràn đầy những khoảng lặng. Ông không để lại gì cho tôi hết, không thư từ, không nhắn gửi. Không một lời.

Mẹ gõ cửa.

“Marie ơi,” bà nói. Mẹ vặn tay nắm nhưng cửa bị khóa.

“Li-ling ơi, con có ổn không?”

Một khoảng lặng dài trôi qua.

Sự thật là tôi đã yêu cha nhiều hơn thế. Nhận thức đó đến với tôi cùng lúc khi tôi biết mà không chút hồ nghi rằng cha hẳn đã phải đau đớn lắm, rằng mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi. Mẹ cũng đã yêu cha. Nước mắt rơi, tôi đặt hai bàn tay lên mặt nước. “Con chỉ muốn tắm thôi.”

“Ồ,” bà nói. Giọng bà dường như vang vọng lại trong chính chiếc bồn. “Đừng để bị lạnh trong đó nhé.”

Bà cố mở cửa lần nữa nhưng cửa vẫn khóa.

“Chúng ta sẽ ổn thôi,” cuối cùng bà nói.

Hơn tất thảy, tôi muốn đánh thức cả hai chúng tôi dậy khỏi giấc mơ này. Thay vì thế, tôi té nước một cách vô vọng lên dòng nước mắt của mình và gật đầu, “Con biết.”

Tôi lắng nghe tiếng dép của bà xa dần khi chúng rời đi.

Vào ngày 16 tháng 12 năm 1990, mẹ về nhà trong xe tắc-xi cùng với đứa con gái mới nhận, người đó không mặc áo khoác, chỉ quấn một chiếc khăn dày, mặc áo len, quần bò xanh và đi giày bằng vải bố. Trước đây tôi chưa từng gặp một cô gái người Trung Quốc – người cũng đến từ Trung Hoa đại lục giống cha tôi. Một đôi găng tay màu xám treo tòn ten từ một sợi dây quanh cổ cô ta, chúng lắc lư theo nhịp một cách căng thẳng trên đôi chân cô. Hai đầu chiếc khăn xanh viền tua, một ngã ra trước, một nằm phía sau, khiến cô trông giống như một học giả. Mưa đang rơi nặng hạt, cô ta bước đi, đầu cúi xuống, tay cầm chiếc va-li cỡ trung trông như trống rỗng. Cô ta xanh xao, tóc cô ta nhấp nhánh màu biển.

Tôi mở cửa ra như bình thường, mắt mở to như thể tôi không nghĩ có khách đến.

“Nữ ơi,” mẹ nói. “Cầm va-li đi con. Mau nào.”

Ai-ming bước vào nhà, dừng lại bên rìa thảm chùi chân. Khi tôi với tay cầm chiếc va-li, tay tôi tình cờ chạm tay cô ta, nhưng cô ta không rụt lại. Thay vì thế cô ta đưa bàn tay kia ra và nhẹ phủ lên tay tôi. Cô ta nhìn thẳng vào tôi với một sự cởi mở và hiếu kỳ đến mức khiến tôi xấu hổ mà nhắm mắt lại.

“Ai-ming à,” tiếng mẹ đang nói. “Để chị giới thiệu với em, đây là con gái của chị.”

Tôi rút tay ra và mở mắt.

Mẹ tôi vừa cởi áo khoác vừa liếc nhìn trước tiên là tôi, rồi đến căn phòng. Ghế xô-pha màu nâu với ba sọc màu lạc đà trông đã khá cũ, nhưng tôi đã trang hoàng nó với gối hoa và thú nhồi bông lấy từ giường tôi. Tôi cũng đã bật ti-vi lên để khiến căn phòng có diện mạo sống động hơn. Mẹ gật mạnh đầu với tôi. “Nữ à, chào cô con đi.”

“Ô kìa, cứ gọi em là Ai-ming là được rồi. Làm ơn ạ. Ừm, thật ra, em thích như vậy hơn.”

Để cả hai đều vừa lòng, tôi nói, “Xin chào.”

Đúng như tôi nghi ngờ, chiếc va-li rất nhẹ. Tay kia tôi đưa ra để cầm áo khoác cho Ai-ming, nhưng nhớ ra quá muộn là cô không mặc áo khoác. Tay tôi ve vẩy trong không khí như một dấu hỏi. Cô đưa tay ra nắm lấy tay tôi rồi bắt tay tôi thật chặt.

Đôi mắt cô dò hỏi. Tóc cô được ghim lại một bên và buông xõa phía bên kia, khiến cô tựa như luôn mãi ở góc nghiêng và đang chực quay sang tôi. Cô bỏ giày ra khỏi chân không một tiếng động trong khi vẫn nắm tay tôi, xong chiếc này đến chiếc kia. Những vệt mưa mờ đọng trên khăn của cô. Cuộc sống của chúng tôi đã thu nhỏ lại đến mức mà tôi không thể nhớ nổi lần cuối cùng một người lạ bước vào nhà chúng tôi là bao giờ nữa; sự hiện diện của Ai-ming khiến mọi thứ trở nên lạ lẫm, như thể những bức tường tụ lại gần hơn để ngó cô ấy. Đêm hôm trước, cuối cùng thì chúng tôi cũng đã xếp gọn giấy tờ, sổ sách của cha, đặt chúng vào các thùng rồi chất dưới bàn bếp. Giờ đây tôi thấy mặt bàn trống không đầy giả dối. Tôi lấy tay mình ra, bảo rằng tôi sẽ đặt va-li trong phòng cô ấy.

Mẹ chỉ cô đi xem quanh nhà. Tôi quay lại ghế xô-pha, giả vờ đang xem kênh Thời tiết, dự báo là mưa đến hết tuần, mưa đến hết năm 1990, mưa đến hết thế kỷ, thậm chí là đến hết phần còn lại của vô tận thời gian. Hai giọng nói vang lên tiếp nối nhau như những toa xe cáp treo, thi thoảng ngắt quãng bởi im lặng. Sự căng thẳng trong căn hộ trườn vào bên trong tôi và tôi có cảm giác rằng sàn nhà làm bằng giấy, rằng mọi chốn đều có chữ viết lên mà tôi không thể đọc được, và chỉ cần một cử chỉ không suy nghĩ cũng có thể nghiền nát toàn bộ nơi này.

Chúng tôi ngồi quanh bàn ăn tối cùng nhau. Mẹ đã bỏ đi một bên lá bàn, biến đổi chiếc bàn từ hình trứng sang hình tròn. Bà tự ngắt lời nói dông dài của mình để ném cho tôi một cái nhìn nói rằng, Thôi nhìn chằm chằm đi.

Thỉnh thoảng chân tôi lại tình cờ đá vào một trong những chiếc thùng dưới gầm bàn, khiến Ai-ming giật mình.

“Ai-ming, em có thấy trời lạnh không?” Mẹ nói một cách vui vẻ, lờ tôi đi. “Chính chị cũng chưa từng trải nghiệm mùa đông cho tới khi chị tới Canada.”

“Ở Bắc Kinh cũng có mùa đông nhưng em không thấy phiền. Thực ra nơi em lớn lên cách xa Bắc Kinh, nơi đó ở miền Nam nên nóng ẩm, vì vậy khi chuyển lên Bắc Kinh em mới biết cái lạnh là thế nào.”

“Chị chưa bao giờ đến thủ đô, nhưng chị nghe nói bụi bay đến từ các sa mạc phía tây.”

“Đúng ạ.” Ai-ming gật đầu, tươi cười. “Bụi dính vào quần áo với tóc, rồi cả vào đồ ăn thức uống nữa.”

Ngồi đối diện cô trên bàn, tôi có thể thấy cô đúng thực mười chín tuổi. Đôi mắt cô sưng tấy mệt mỏi, và không ngờ điều đó lại nhắc tôi nhớ tới khuôn mặt đau buồn của mẹ. Tôi nghĩ rằng, đôi khi bạn có thể nhìn một người và biết rằng họ chứa đầy từ ngữ. Có thể lời lẽ bị giữ lại vì nỗi đau hay sự riêng tư, hoặc là một sự lừa gạt. Có thể là những lời lẽ sắc như dao đang chờ rút máu. Tôi cảm giác như mình vừa là trẻ con vừa là người lớn. Tôi muốn mẹ con tôi được ở một mình, nhưng vì lý do nào đó không thể giải thích được, tôi cũng muốn được gần cô.

“Chữ ‘ming’ trong từ Ai-ming nghĩa là gì?” tôi hỏi bằng tiếng Anh, vừa đá một thùng để nhấn mạnh. “Chữ ‘ming’ có nghĩa là hiểu, hay nghĩa là số phận?” Cả hai người họ nhìn tôi.

“Ăn phần gà của con đi,” mẹ nói.

Người con gái quan sát tôi, vẻ mặt hài lòng. Cô vẽ một hình trong không trung giữa chúng tôi, 明 – “nhật” và “nguyệt” kết hợp lại nghĩa là hiểu biết hoặc sáng suốt. Đó là một từ thông dụng.

“Cha mẹ cô đặt tên theo nghĩa của từ aì-míng,” cô nói. “Nghĩa là ‘tôn vinh sự thông thái’. Nhưng cháu nói đúng, tiếng đó cũng chứa đựng hồ nghi. Nghĩa là… ừm, không phải là tôn vinh số phận đâu, mà là chấp nhận số phận.” Cô lại nhấc bát lên rồi thọc đầu đũa vào phần cơm mềm.

Mẹ hỏi xem cô có cần gì hoặc cô có muốn làm gì không.

Ai-ming đặt bát xuống. “Nói thật với chị, em có cảm tưởng như đã lâu lắm rồi không có lấy một giấc ngủ ngon. Em không thể nào nghỉ ngơi ở Toronto. Cứ mỗi vài tuần em lại di chuyển.” “Chuyển nhà à?” Mẹ hỏi.

Ai-ming run rẩy. “Em đã nghĩ là… em sợ cảnh sát. Em sợ họ sẽ gửi em về nước. Em không biết liệu mẹ em đã kể với chị hết mọi chuyện chưa. Em hi vọng vậy. Ở Bắc Kinh, em không làm gì sai cả, không phạm tội gì cả, nhưng kể cả thế… Dì và chú em giúp em rời khỏi Trung Quốc, em đi xuyên qua biên giới sang Kyrgyzstan và sau đó… chị mua vé cho em tới đây.

Bất chấp tất cả mọi điều, chị đã giúp em… Em rất biết ơn, em e là mình sẽ không bao giờ cảm ơn chị cho đủ. Em xin lỗi về mọi thứ…”

Trông mẹ ngượng ngùng. “Đây,” bà nói. “Ăn gì đi.”

Nhưng một thay đổi xuất hiện nơi Ai-ming. Hai tay cô run rẩy dữ dội đến nỗi không thể cầm đũa. “Mỗi ngày em nghĩ đi nghĩ lại về mọi chuyện nhưng em không thể hiểu nổi làm thế nào mình lại đến đây. Giống như em là một kẻ trốn chạy vậy. Ở nhà, mẹ em đang vật lộn. Em sợ giấc ngủ… đôi khi em mơ rằng tất cả những chuyện này không thật sự diễn ra, nhưng rồi việc thức dậy trở thành cơn ác mộng. Nếu mà em ở bên mẹ, giá mà cha em còn sống, giá mà ông đã không… nhưng điều quan trọng nhất là em phải khiến mình trở thành một điều gì đó, bởi vì ngay lúc này đây, em không có gì hết. Em còn không có cả hộ chiếu nữa. Em sợ dùng cuốn hộ chiếu em có lúc trước, bởi vì cuốn hộ chiếu đó là… bất hợp pháp. Cuốn hộ chiếu đó không phải của em, nhưng em không có lựa chọn nào khác. Em nghe nói là nếu có thể xuyên biên giới sang Mỹ thì ở đó có lệnh ân xá cho sinh viên Trung Quốc và em có thể đủ tiêu chuẩn. Kể cả nếu không có gì chăng nữa thì em cũng sẽ trả lại chị mọi thứ, em thề đấy. Em hứa mà.”

Zhí nǔ,” mẹ nghiêng người về phía cô và nói. Từ ấy khiến tôi lúng túng. Từ ấy có nghĩa “con gái của anh tôi”, nhưng mẹ không có anh em trai nào cả.

“Em muốn chăm sóc họ nhưng mọi thứ thay đổi nhanh quá. Mọi thứ đi sai hết cả.”

“Em không cần biện giải cho mình ở đây,” mẹ nói. “Chúng ta là gia đình, và đó không chỉ là lời nói đâu, em hiểu không? Nó có nghĩa hơn lời nói nhiều.”

“Và nữa,” Ai-ming nói, trở nên xanh xao, “em thật lòng chia buồn với sự mất mát của chị.”

Mẹ tôi và Ai-ming nhìn nhau. “Cảm ơn em,” mẹ nói. Những giọt nước mắt bất thần nơi mắt bà khiến mọi thứ trong tôi bất động. Bất chấp tất cả những gì chúng tôi đã trải qua, mẹ hiếm khi khóc. “Chị cũng chia buồn với sự mất mát của em. Chồng chị rất yêu thương cha em.”

Vào ngày thứ Bảy đầu tiên mẹ không phải đi làm, bà xuống phố rồi về nhà với tất, áo len, một đôi giày đi mùa đông cùng một áo khoác. Hồi đầu, Ai-ming ngủ rất nhiều. Cô thường xuất hiện từ phòng ngủ của mẹ với mái tóc rối, khi đang mặc đôi quần tất của tôi cùng chiếc áo phông cũ của mẹ. Ai-ming sợ đi ra ngoài, vì thế đã mấy tuần trôi qua trước khi cô đi đôi giày mới. Tuy nhiên cô mặc chiếc áo khoác hàng ngày. Vào các buổi chiều, cô đọc sách nhiều lắm, cô ngồi bên bàn ăn với một đống sách của cha tôi. Cô để hai tay trong túi áo khoác khi đọc và dùng một con dao phay để giữ sách thẳng ra. Đôi khi tóc cô trượt về phía trước che mất ánh sáng, khi ấy cô sẽ cuộn tóc lên rồi nhét búi tóc vào trong cổ áo len.

Một đêm, sau khi ở với chúng tôi chừng một tuần, cô bảo mẹ cắt tóc cho. Tôi nhớ là lúc ấy vừa sau Giáng sinh. Vì không phải đến trường nên tôi dành phần lớn thời gian ăn sô-cô-la Turtles trước truyền hình. Mẹ yêu cầu tôi qua giúp xịt nước từ bình nhựa vào tóc của Ai-ming nhưng tôi từ chối, nói là không nên cắt tóc vị khách của chúng tôi.

Hai người phụ nữ cười lớn. Ai-ming nói rằng cô muốn có vẻ ngoài hiện đại. Họ đi vào bếp rồi đặt các tấm giấy báo xuống, Ai-ming cởi áo khoác ra, trèo lên ngồi trên chiếc ghế đẩu kê chân để mái tóc dài của cô buông xõa tự do tiện đường cho mấy cây kéo của mẹ. Tôi đang xem một tập phim “The A-Team” nhưng tiếng kéo lách cách và tiếng họ cười khúc khích khiến tôi không thể tập trung được. Đến đoạn quảng cáo đầu tiên, tôi vào bếp xem họ làm đến đâu rồi.

Hai tay Ai-ming chắp lại như thể đang cầu nguyện, cô đảo mắt về phía tôi. Mẹ đã cắt một phần ba mái tóc của cô, phần đuôi tóc ướt nằm dài trên sàn như những sinh vật biển bị tàn sát. “Ôi,” tôi nói, “sao mẹ cắt thế này?”

Mẹ giơ vũ khí của mình lên. “Con là người tiếp theo đấy, Nữ.”

“Ma-li à, gần năm mới rồi. Đây là lúc cắt tóc.” Ai-ming khó phát âm cái tên Marie, vì vậy cô đã chọn một biến thể tiếng Trung, từ này trong từ điển có nghĩa là “khoáng chất hấp dẫn”.

Ngay lúc đó, mẹ cắt một đám tóc khá lớn nữa. Đám tóc lượn bay xuống sàn, như thể vẫn còn đang thở.

“Đây là năm mới ở Canada. Người Canada không cắt tóc vào năm mới. Họ uống rượu sâm-banh.”

Mỗi lần mẹ kéo cò chai nước nhựa, một làn hơi nước bao phủ Ai-ming, cô nhắm chặt mắt chống lại cái lạnh. Tôi quan sát Ai-ming biến đổi ngay trước mắt tôi. Ngay đến làn da tái của cô cũng bắt đầu có vẻ bớt tệ. Khi đã cắt tóc đến ngang vai, mẹ bắt đầu tạo dáng cho những lọn tóc nằm ngang qua trán Ai-ming theo phong cách sang chảnh rõ ràng. Cô rất, rất xinh đẹp. Đôi mắt sẫm màu trong veo, khuôn miệng như nụ hồng trên làn da của cô – giống như các nhà thơ vẫn tả. Gò má Ai-ming ửng hồng, sắc độ này chưa từng thấy chỉ một giờ trước, màu hồng càng ngày càng đậm mỗi lần mẹ nhìn cô chăm chú một lúc lâu nhằm đánh giá tác phẩm thủ công của mình. Họ quên hết về tôi.

Tôi quay lại căn phòng kia, danh sách những người làm phim “The A-Team” đang chạy. Tôi ngồi sụp xuống đi-văng, kéo gối lên đến ngực. Gần như ở cửa sổ nào đèn trang trí cũng đang tỏa sáng, chỉ mỗi cửa sổ nhà chúng tôi là không, và tôi có cảm giác rằng căn hộ của chúng tôi nằm dưới sự giám sát của một đám người ngoài hành tinh trong vật thể bay của họ, họ không chắc là liệu nên đỗ xuống Vancouver hay là bay đi nơi khác. Những người ngoài hành tinh đó đang hỏi lẫn nhau: Họ có sô-đa không nhỉ? Họ ăn đồ gì vậy? Có lẽ chúng ta nên chờ rồi quay lại vào mùa xuân nhỉ? Đỗ xuống đi, tôi bảo họ. Người ta không có cấu tạo để trôi nổi được trong không gian. Trừ khi chúng ta biết trọng lượng cơ thể mình và cảm nhận được trọng lực, nếu không chúng ta sẽ quên mất mình là gì, và sẽ để mất mình mà thậm chí còn không để ý.

Ai-ming đang đọc một trong những cuốn thơ song ngữ của cha tôi. Giờ tôi cầm cuốn sách lên, cuốn sách thân thuộc với tôi vì tôi đã dùng sách cho các bài học thư pháp. Tôi giở sách cho tới khi thấy một bài thơ mà tôi biết, bài thơ có các từ mà cha tôi gạch chân,

Ngắm từng chút một màn đêm quay đầu.

Tiếng dội trong nhà; muốn đi lên mà không dám.

Ánh sáng rực rỡ sau tấm mành; mong đi qua mà không thể.

Đau đớn lắm khi thấy chú chim nhạn trên trâm cài tóc của em.

Tôi thật xấu hổ khi thấy phượng hoàng trong gương của em.

Tôi trở về Hoành Đường lúc bình minh

Mờ dần đi như ánh sáng trên yên ngựa nạm ngọc.

Tôi đọc bài thơ hai lần rồi đóng sách lại. Tôi hi vọng rằng ở kiếp sau nơi cha tôi chuyển sinh, ông cũng đang đón Giáng sinh và năm mới, nhưng tôi sợ rằng ông đang cô đơn, và giống như Ai-ming, ông chưa tìm được một gia đình để bảo bọc ông. Bất chấp sự giận dữ của tôi đối với ông và nỗi đau không rời xa mình, tôi không thể hất bỏ lòng khao khát cho ông được hạnh phúc.

Đương nhiên không thể tránh khỏi việc Ai-ming khám phá ra những chiếc thùng dưới bàn. Vào tháng Một, tôi về nhà sau buổi học và thấy giấy tờ của cha bị mở ra hết, Ai-ming không di chuyển đám thùng mà đẩy bàn ăn về phía sau. Một thùng hoàn toàn trống rỗng. Các cuốn nhật ký của cha trải khắp bàn, khiến tôi nghĩ đến một phiên chợ trời nghèo nàn ở Vancouver. Tệ hơn nữa là Ai-ming có thể đọc được tất cả những ký tự mà tôi, đứa con gái duy nhất của ông, không thể đọc nổi một dòng.

Cô đang làm xà-lách cải bắp, cô đã mài quá nhiều cải ngựa đến nỗi tôi tự hỏi liệu từ xà-lách cải bắp có thực là cái tên phù hợp.

Tôi bảo rằng tôi không biết liệu bụng mình có thể tiêu hóa từng đó cải ngựa hay không.

Cô gật đầu bâng quơ và quăng đám cải bắp vào, đảo mạnh tay. Các nguyên liệu bay lên không trung rồi rơi xuống một chiếc bát. Ai-ming đang đeo chiếc tạp dề đề chữ “Canada: Thế Giới Hàng Xóm” của mẹ, chiếc áo khoác đông của cô nằm bên dưới.

Cô đi về bàn. “Có lần, hồi cô còn rất nhỏ, cô đã gặp cha cháu.”

Tôi đứng nguyên tại chỗ. Ai-ming và tôi chưa từng nói về cha. Việc cô biết cha tôi và chưa từng nhắc chuyện đó với tôi khiến tôi tràn ngập một nỗi thất vọng quá mãnh liệt đến khó thở.

“Chiều nay,” cô nói, “cô bắt đầu xem những thứ trong thùng. Đó là những món đồ của cha cháu đúng không?

Dĩ nhiên là cô biết mình nên xin phép trước, nhưng có bao nhiêu là sổ sách.”

Tôi đáp mà không nhìn cô. “Cha cháu chuyển đến Canada vào năm 1979. Đó là mười hai năm ghi chép. Cả cuộc đời ông. Ông hầu như không để lại gì cho mẹ con cháu cả.”

“Cô gọi những thứ này là phòng zá jì,” cô nói. “Nơi chứa những thứ không phù hợp. Những mẩu nhỏ thứ này thứ kia…”

Để nguôi cơn run rẩy bắt đầu từ ngực và giờ đang tỏa xuống tứ chi, tôi lặp đi lặp lại trong đầu từ mà Ai-ming đã dùng, từ đó tôi chưa từng nghe trước đây: zá jì.

“Cháu hiểu đúng không?” Cô nói. “Những thứ chúng ta chưa bao giờ nói ra sẽ kết thúc ở đây, nằm trong nhật ký và sổ sách, nằm tại những nơi riêng tư. Đến lúc chúng ta khám phá ra chúng thì đã quá trễ rồi.” Ai-ming đang giữ chặt một cuốn sổ. Tôi nhận ra nó tức thì: cuốn sổ dài nhưng mỏng có hình dạng như một cánh cửa nhỏ với dây buộc hờ bằng sợi cô-tông.

Đó là cuốn Những Bản Ghi.

“Thế cháu đã thấy cuốn sổ này chưa?” Khi thấy tôi vẫn không trả lời, cô mỉm cười buồn bã với tôi. “Đây là chữ viết tay của cha cô. Cháu thấy không? Chữ của ông ấy trông quá nghệ thuật và được viết ra quá dễ dàng. Ông luôn viết rất cẩn thận, kể cả nếu đó là một chữ dễ viết. Bản tính của ông là để ý đến từng chi tiết.”

Cô mở cuốn sổ. Những từ ngữ dường như nổi trên mặt giấy và chuyển động theo ý chúng. Tôi lui lại. Cô không cần chỉ cho tôi xem, tôi biết cuốn sổ trông thế nào.

“Cô có zá ji của chính mình,” cô nói tiếp. “Nhưng giờ nó ở khắp nơi và cô không biết làm sao để chứa nó. Cháu có biết vì sao chúng ta giữ ghi chép không Ma-li? Hẳn phải có lý do, nhưng giữ những thứ không đáng kể này thì ích gì chứ? Cha cô từng là một nhà soạn nhạc tài ba, một nhạc công tuyệt vời, nhưng ông đã từ bỏ tài năng ấy để có thể bảo vệ cô. Ông là con người ngay thẳng và trung thực, thậm chí cha cháu cũng muốn giữ một phần của ông ấy. Thậm chí cha cháu cũng yêu thương ông ấy. Nhưng họ đã để ông chết. Họ đã giết ông như thể ông là một con vật. Làm thế nào có ai đó có thể giải thích những điều này cho cô chứ? Nếu cha cô vẫn còn sống, cô đã không ở đây. Cô đã không phải ở một mình. Còn cha cháu, cha cháu sẽ không cần… Ôi Ma-li, cô xin lỗi. Cô rất xin lỗi.”

Ai-ming làm một điều mà tôi chưa từng thấy cô làm kể từ khi đến đây hơn một tháng trước. Cô không chỉ khóc, cô mất tự chủ đến nỗi không quay đi hay che mặt lại. Âm thanh đó khiến tôi rối loạn quá đỗi, tiếng khóc ai oán nho nhỏ ấy phá vỡ mọi thứ. Tôi nghĩ cô đang nói, “Hãy giúp tôi, hãy giúp tôi.” Tôi sợ rằng nếu tôi động vào cô, nỗi đau đớn nơi cô sẽ phình lên trong tôi và vĩnh viễn trở thành nỗi đau của chính tôi. Tôi không thể chịu đựng được. Tôi quay người khỏi cô. Tôi vào phòng mình và đóng cửa lại.

Căn phòng cảm giác rất nhỏ. Tôi thì thầm với chính mình, gia đình là chiếc hộp quý giá không thể mở ra đóng lại tùy ý chỉ bởi vì mẹ nói vậy. Bức ảnh cha trên tủ áo khiến tôi đau đớn quá đỗi. Không, không phải do bức ảnh của cha, mà là cảm giác nó gây ra, thứ cảm xúc tức tối này đã biến tất cả mọi thứ, kể cả tình yêu tôi dành cho mẹ và Ai-ming, trở nên cay đắng. Tôi muốn ném bức ảnh xuống sàn nhưng lại sợ rằng hình ảnh là thực, bức ảnh thực sự chứa đựng cha tôi, và nếu tôi làm hỏng nó thì ông sẽ không bao giờ có thể về nhà. Mưa bên ngoài nện vào dòng suy nghĩ của tôi. Dưới lớp kính cửa sổ, nước mưa thay đổi và trượt xuống, và tất cả những lạch nước nhỏ ấy trở thành những dòng lớn nhỏ, tụ lại và run rẩy, chúng bắt đầu khiến tôi khó nghĩ và thôi miên tôi. Phải chăng tôi cũng nhỏ nhoi như vậy? Liệu tôi có bao giờ thay đổi được gì không? Bỗng nhiên tôi nhớ mùi của cha, mùi đó ngọt ngào như lá non hoặc như cỏ mới cắt, đó là mùi hương xà phòng cha dùng. Giọng ông vang lên với cú pháp nghiêm trang kỳ cục, “Con gái muốn nói gì với cha nào? Vì sao con khóc?” Giọng ông không giống bất cứ giọng người sống nào.

Dù không mong muốn, tôi nhớ lại mình nghe lỏm mẹ nói rằng khi cha được tìm thấy, ông ấy hầu như không có đồ đạc gì cả. Mẹ lúc ấy đang nói chuyện trên điện thoại trong một cú gọi đường dài với một người bạn ở Hồng Kông. Bà nói rằng chiếc va-li đầy ắp khi ông rời đi giờ trống rỗng. Cha đã từ bỏ mọi thứ, bao gồm cả chiếc nhẫn cưới, máy chơi đĩa CD cầm tay hiệu Sony và nhạc của mình. Thậm chí ông còn không mang một tấm ảnh nào của chúng tôi. Mẩu giấy nhắn duy nhất ông để lại không phải là lời từ biệt. Mẩu giấy chỉ nói rằng ông có những khoản nợ không thể trả được, những thất bại ông không thể sống cùng, và rằng ông mong được chôn ở Hồng Kông nơi biên giới Trung Quốc. Ông nói rằng ông yêu chúng tôi.

Mỗi năm một lần, cha thường đưa chúng tôi đi nghe nhạc giao hưởng. Chẳng bao giờ chúng tôi có ghế tốt cả nhưng cha nói điều đó không thành vấn đề, quan trọng là được ở đó, là có mặt trong phòng khi bản nhạc, cho dù già cỗi đến mấy, được hồi sinh. Cha thường bảo rằng cuộc sống tràn đầy những trở ngại, và không ai có thể chắc chắn rằng ngày mai hay năm tới, mọi thứ sẽ vẫn y nguyên như vậy. Ông kể rằng khi ông còn là một cậu bé, người cha nuôi của cha, vị Giáo sư, đã đi cùng ông tới một buổi hòa nhạc ở Thượng Hải, và trải nghiệm đó đã mãi mãi thay đổi ông. Bên trong ông, những bức tường mà ông chưa từng biết đến sự tồn tại của chúng đột nhiên để lộ chính mình. “Cha biết là mình được số mệnh sắp đặt cho một cuộc đời kiểu khác,” ông nói. Một khi nhận thức được những bức tường này, tất cả những gì ông nghĩ được là làm sao để kéo ngã chúng.

“Những bức tường nào ạ?” Tôi hỏi.

Mìng,” ông nói. “Nghĩa là số phận.” Chỉ sau này khi tôi tra từ này một lần nữa, tôi mới biết rằng mìng có nghĩa là số phận, nhưng cũng có nghĩa là cuộc sống.

Tiếng gõ cửa đưa tôi về hiện tại với mưa, với căn phòng và với bản thân tôi.


[1] Thủ phủ tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc – ND.

[2] Nghĩa là ngày 4 tháng Năm – ND.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Trích đăng

Truyện ngắn: Thằng Lùn – trích Xứ tháng Mười

Trích truyện ngắn “Thằng lùn” trong tuyển tập “Xứ tháng Mười” của Ray Bradbury.

Published

on

By

Trích từ: Xứ tháng Mười
Tác giả: Ray Bradbury
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

THẰNG LÙN

Aimee ngắm bầu trời, lặng lẽ.

Đêm nay là một trong những đêm hè oi ả im lìm. Sân bến  tàu  bê-tông  vắng  bóng  người,  những  bóng  đèn  vàng, trắng, đỏ giăng mắc cháy sáng như bầy côn trùng lơ lửng bên trên khoảng không đông đặc. Những người quản lý đủ loại gian hàng trò chơi hội chợ đứng bất động, những xác ướp bằng sáp đang tan chảy, không nói năng, mắt nhìn đờ đẫn, không trừ một ai.

Hai khách đã đi qua đây từ một giờ trước. Hai kẻ lẻ loi ấy giờ đang ngồi trên tàu lượn cao tốc, la hét như điên khi đoàn tàu xé màn đêm chói lóa lao thẳng xuống, quay tròn, quay tròn những vòng vô nghĩa.

Aimee chầm chậm đi băng qua bãi biển, mấy vòng gỗ ném cọc bám nhớp nháp trong hai bàn tay. Cô dừng lại sau quầy bán vé trước cửa MÊ CUNG NHÀ KÍNH. Cô thấy bóng mình biến dạng  gớm  guốc  trong  ba  tấm  gương  dợn  sóng bên ngoài Mê Cung. Một ngàn bản sao mệt mỏi của bóng cô tan biến vào lối đi phía bên kia, những ảnh hình nóng hổi giữa vùng gương lạnh trong veo.

Cô bước vào trong quầy vé đứng nhìn hồi lâu cần cổ gầy guộc của Ralph Banghart. Hắn cắn giữa hai hàm răng dài ố vàng lởm chởm một điếu xì-gà chưa châm lửa trong khi bày bộ bài tơi tả ra chơi một mình trên kệ quầy.

Lúc  chiếc  tàu  lượn  quay  rú  lên  rồi  lại  lao  xuống  kinh động như núi lở, cô sực nhớ ra và lên tiếng.

“Loại người nào thích lên tàu lượn cao tốc?”

Ralph Banghart nhấm nhá điếu xì-gà cả ba mươi giây. “Những kẻ muốn chết. Tàu lượn là dễ chết nhất.” Hắn ngồi lắng nghe tiếng súng trường nổ mơ hồ vọng ra từ gian trò chơi bắn súng. “Cái nghề làm hội chợ chó chết này đúng là điên rồ. Chẳng hạn như thằng lùn kia. Cô gặp nó chưa? Tối nào cũng vậy, bỏ một đồng xu, chạy vào Mê Cung Nhà Kính ra tít đằng sau, tới buồng Khổng Lồ. Rồi cô sẽ thấy thằng lùn tịt này chạy thẳng tới đó cho coi. Thiệt tình!”

“Ờ, đúng,” Aimee thốt lên, cô đã nhớ ra. “Em luôn thắc mắc không biết làm người lùn thì cảm giác ra sao. Gặp người lùn nào em cũng thấy thương hại.”

“Tôi cứ muốn tóm lấy nó mà co kéo thun giãn chơi.” “Đừng nói thế chứ!”

“Trời đất,” Ralph đưa bàn tay rảnh rỗi vỗ đùi cô. “Lúc nào cô cũng có thái độ kỳ cục như vậy với những thằng cha thậm chí cô còn chưa gặp.” Hắn lắc đầu cười khúc khích.

“Nó với bí mật của nó. Chỉ có điều nó không biết là tôi biết đó nghe? Thế mới hay chứ!”

“Tối nay nóng.” Cô bồn chồn xóc xóc mấy vòng gỗ lớn trong những ngón tay ướt mồ hôi.

“Đừng  lái  qua  chuyện  khác.  Nó  sẽ  tới  đây,  dù  nắng hay mưa.”

Aimee dợm bước đi.

Ralph nắm lấy khuỷu tay cô. “Này! Cô khùng sao chứ? Không muốn thấy thằng lùn đó à? Suỵt!” Ralph quay lại. “Nó đến rồi kìa!”

Chỉ có mỗi bàn tay Thằng Lùn, đen đúa và lông lá, hiện ra với một đồng xu bạc khi cố với lên ô cửa quầy vé. “Một vé!” Một tiếng nói lanh lảnh như giọng trẻ con.

Bất giác, Aimee chồm tới.

Thằng Lùn ngước nhìn cô, rành rành một gã xấu xí, tóc đen, mắt đen bị lèn chặt trong máy ép, bị vắt nặn và nhồi nhét cho nhỏ choắt thêm, từng chút một, bẻ quặp lui tới, oằn oại ngược xuôi, cho đến khi chỉ còn một đống phẫn nộ nhợt nhạt, bộ mặt sưng húp không hình thù, bộ mặt mà ta phải mở căng mắt tỉnh thức lúc hai và ba và bốn giờ sáng, nằm bẹp trên giường, chỉ có cơ thể say ngủ.

Ralph xé chiếc vé màu vàng làm đôi. “Một vé!”

Dường như hoảng sợ vì cơn dông sắp đến, Thằng Lùn kéo chặt ve áo choàng đen quanh cổ rồi lắc lư hấp tấp bước đi. Một thoáng sau, mười ngàn thằng lùn lang thang lạc loài bò quằn quại giữa những mặt gương, như một đàn bọ hung đen cuống quýt, rồi biến mất.

“Mau!”

Ralph ôm cứng Aimee rồi lôi cô theo hành lang âm u đằng sau những tấm gương. Cô thấy tay hắn vỗ về cô suốt quãng đường đi ngược xuyên qua đường hầm dẫn tới một vách ngăn mỏng có lỗ nhỏ quan sát.

“Chuyện này hay,” hắn cười khúc khích. “Đó… nhìn đi.” Aimee ngần ngừ, rồi úp mặt vào vách ngăn.

“Cô… thấy… nó… không?” Ralph thì thào.

Aimee nghe tim mình đập dồn. Trọn một phút trôi qua. Trong  đó  Thằng  Lùn  đứng  giữa  căn  buồng  nhỏ  màu xanh. Mắt gã nhắm nghiền. Gã chưa sẵn sàng mở mắt nhìn. Giờ thì gã mở hai mi mắt lên rồi ngắm tấm gương lớn trước mặt. Và điều nhìn thấy được trong gương khiến gã mỉm cười. Gã nháy mắt, gã xoay tròn, gã đứng quay sang một bên, gã vẫy tay, gã cúi chào, gã lóng ngóng nhún nhảy khẽ khàng.

Và tấm gương lặp lại từng chuyển động với đôi cánh tay dài ngoằng, với một thân hình cao thêm, cao thêm, với cái nháy mắt to lớn và bóng hồi vọng khổng lồ của điệu múa, kết thúc bằng cái cúi chào vĩ đại!

“Tối nào cũng một trò đó,” Ralph thầm thì vào tai Aimee. “Hay thật đấy chứ?”

Aimee  quay  lại,  hướng  gương  mặt  bất  động  về  phía Ralph nhìn chăm chăm một hồi lâu, không nói năng gì. Rồi cứ như không tự kiềm chế được, cô từ từ quay đầu rất chậm, rất chậm trở lại lỗ quan sát căng mắt nhìn lần nữa. Cô nín thở. Cô thấy đôi mắt mình bắt đầu rướm lệ.

Ralph vừa huých nhẹ cô vừa thì thào.

“Này, thằng oắt lùn đó đang làm gì lúc này?

Nửa giờ sau, hai người cứ uống cà phê trong quầy vé mà chẳng ai nhìn ai khi Thằng Lùn từ trong những tấm gương đi ra. Gã bỏ mũ xuống và dợm bước tới quầy vé nhưng thấy Aimee lại hấp tấp bỏ đi.

“Anh ta muốn cái gì đó,” Aimee nói.

“Đúng.” Ralph dí nát điếu thuốc, vẻ bâng quơ. “Tôi còn biết nó muốn cái gì nữa kìa. Nhưng nó không dám hỏi. Có một đêm nó nói léo nhéo lí nhí, ‘Tôi chắc là mấy tấm gương đó đắt tiền lắm.’ Ôi, tôi giả ngu. Tôi nói, Ờ, đắt lắm. Coi bộ nó nhìn tôi như chờ đợi, rồi thấy tôi không nói gì nữa thì nó đi về, nhưng đêm sau nó lại hỏi. ‘Tôi chắc mấy tấm gương đó cũng phải đến cả năm chục, cả trăm đô?’ Chắc là thế, tôi nói vậy. Rồi tôi chia bài ra chơi một mình.”

“Ralph,” cô gọi.

Hắn ngước lên. “Sao cô nhìn tôi kỳ vậy?”

“Ralph,”  cô  nói,  “sao  không  bán  cho  anh  ta  một  tấm gương nào dư thừa của anh đi?”

“Này, Aimee, tôi có xía vào chuyện quản lý gian hàng ném vòng của cô không?”

“Mấy tấm gương đó bao nhiêu tiền?”

“Tôi có thể mua hàng xài rồi với giá ba mươi lăm đô.” “Thế sao anh không chỉ cho anh ta biết chỗ mua một tấm?”

“Aimee, cô khờ lắm.” Hắn đặt tay trên đầu gối cô. Cô nhích đầu gối ra. “Cho dù tôi chỉ nó chỗ mua thì cô tưởng nó sẽ mua sao? Không đời nào. Lý do? Nó mắc cỡ. Đấy, nó mà biết tôi thấy nó rửng mỡ trước tấm gương trong buồng Khổng Lồ thì nó sẽ không bao giờ quay lại đây đâu. Nó cứ làm bộ như đi vào Mê Cung cho lạc chơi, giống như mọi người. Vờ như nó chẳng quan tâm đến cái buồng đặc biệt ấy. Lúc nào cũng chờ dịp gian hàng này vắng khách, lúc tối khuya, để nó độc chiếm cái buồng cuối cùng đó. Những lúc gian hàng này đắt khách thì có trời mới biết đêm đêm nó giải khuây bằng cái trò gì. Không đâu, xin thưa, nó không dám mua gương ở bất kỳ đâu. Nó không hề có bạn bè, mà có đi chăng nữa nó cũng chẳng dám nhờ họ mua giúp một thứ như vậy. Sĩ diện mà, xin thề, sĩ diện. Lý do duy nhất khiến nó nói chuyện đó với tôi là vì tôi thực tế là người độc nhất mà nó quen biết. Hơn nữa, nhìn nó coi…, làm sao nó có đủ tiền mua tấm gương như vậy được. Nó có thể để dành, nhưng một thằng lùn thì làm đếch gì ra tiền mà để dành? Không ở trong gánh xiếc thì thứ như nó cả đống ngoài kia, đầy đường đầy chợ.

“Em thấy kỳ lạ. Em thấy buồn.” Aimee nhìn đăm đăm ra lối đi lót ván vắng ngắt. “Anh ta ở đâu vậy?”

“Dưới  khu  Flytrap  ngay  bờ  biển.  Ở  Ganghes  Arms. Mà sao?”

“Em si tình anh chàng đó mất rồi, nếu anh muốn biết.” Hắn ngoác miệng cười, răng vẫn cắn điếu xì-gà. “Aimee,”

Hắn nói. “Cô đúng là tiếu lâm hết sức.”

***

Một đêm ấm, một sáng nóng, rồi một trưa cháy bỏng. Mặt biển chói lóa kim tuyến và thủy tinh.

Aimee tản bộ tới, từ các lối đi chật hẹp trong hội chợ ra ngoài biển nóng, men theo bóng râm, tay ôm năm sáu tờ tạp chí bạc màu vì nắng. Cô mở cánh cửa bong tróc, gọi vọng vào vũng tối hầm hập. “Ralph?” Cô lần bước qua hành lang thâm u sau những tấm gương, gót giày nhấn xuống sàn gỗ. “Ralph?” Có người uể oải trở mình trên chiếc giường xếp vải bố.

“Aimee hả?”

Hắn ngồi dậy rồi vặn một bóng đèn tù mù vào đui đèn trên chiếc bàn có gương soi. Mắt nhắm mắt mở, hắn nheo nheo nhìn cô. “Kìa, trông cô hệt như con mèo vừa nuốt được con chim.”

“Ralph, em tới về chuyện gã tí hon!”

“Thằng lùn, Aimee, thằng lùn, cưng ơi. Tí hon là do tế bào, bẩm sinh đã vậy. Còn lùn dị dạng là do tuyến nội tiết…” “Ralph!  Em vừa biết được một chuyện tuyệt hay về anh ta!”

“Trời ơi là trời,” hắn nói với hai bàn tay đang chìa ra như làm chứng cho điều hắn không tin. “Cái cô này! Ai quan tâm cóc khô gì tới một thằng lùn xấu xí…”

“Ralph!” Cô chìa mấy tờ tạp chí ra, mắt sáng lên. “Anh ta là nhà văn! Ai mà nghĩ ra chứ!”

“Hôm nay nóng bức quá rồi, nghĩ ngợi làm chi.” Hắn lại ngả lưng ra rồi quan sát cô, miệng thoáng cười.

“Em tình cờ đi ngang qua Ganghes Arms, và gặp ông Greeley, ông quản lý. Ông ta bảo máy chữ gõ rào rào cả đêm trong phòng ông Lớn!”

“Thằng lùn đó mà tên là Lớn?” Ralph buột miệng cười rống lên.

“Viết truyện trinh thám đăng báo để sống qua ngày. Em tìm được một truyện của anh ta ở chỗ bán tạp chí cũ, và rồi, Ralph, biết gì không?

“Tôi đang mệt đây, Aimee.”

“Anh chàng nhỏ bé này có tâm hồn bao la như trời đất; anh ta có tất cả trong đầu!”

“Thế sao nó không viết cho các tạp chí lớn đi, cô nói tôi nghe coi?”

“Chắc là vì anh ta e ngại… Chắc anh ta không tự biết là có thể làm như thế. Chuyện thường tình. Người ta thường không tự tin vào bản thân. Nhưng nếu anh ta chỉ cần thử thôi, em dám cá anh ta có thể bán truyện ngắn cho bất kỳ đâu trên đời.”

“Thế sao nó không giàu có, tôi hỏi cô đấy?”

“Chắc là vì anh ta chưa nghĩ tới do cuộc sống khổ sở. Ai mà chẳng thế? Thân phận nhỏ nhoi thế kia? Em cho là khó lòng nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài chuyện quá nhỏ nhoi và chuyện sống trong căn hộ một buồng rẻ tiền.”

“Xì!” Ralph cười nhạo. “Cô nói cứ như là bà trùm từ thiện.” Aimee  đưa  tờ  tạp  chí  lên.  “Để  em  đọc  anh  nghe  một đoạn truyện trinh thám của anh ta. Truyện có đủ súng ống và du côn, nhưng do một người lùn thuật lại. Em dám cá là mấy tay biên tập chẳng bao giờ đoán được tác giả này biết rõ mình đang viết cái gì. Ồ, xin anh đừng ngồi ì ra đó, Ralph! Nghe này.”

Và cô bắt đầu đọc to.

Tôi là một thằng lùn và tôi là kẻ giết người. Hai chuyện này không thể tách rời. Cái này là nguyên nhân của cái kia.

Kẻ  bị  tôi  giết  thường  chặn  tôi  giữa  đường  khi  tôi  hai mươi mốt tuổi, đưa hai tay nhấc bổng tôi lên, hôn trán tôi, hát ư ử loạn xạ những bài ru con, lôi tôi vào chợ, ném tôi lên mấy chiếc cân và quát tháo với ông hàng thịt “Cân cho đàng hoàng! Đừng có lấy ngón cái mà đè đĩa cân nghe chưa!”

Bạn có hiểu cuộc đời cả hai đã đi tới kết cục giết người ra sao không? Thằng ngu đó, kẻ hành hạ thân xác và tâm hồn tôi đó!

Còn thời thơ ấu của tôi: cha mẹ tôi đều nhỏ con, không hẳn là lùn, không hẳn. Của thừa kế của cha tôi đã cho cả gia đình sống trong một ngôi nhà búp bê, một thứ kỳ lạ giống như chiếc bánh cưới phủ kem xoắn ốc trắng tinh – những căn phòng nhỏ xíu, bàn ghế nhỏ xíu, tranh ảnh nhỏ xíu, cả đồ trang sức chạm đá, cả những miếng hổ phách có côn trùng mắc kẹt bên trong, tất cả đều tí tẹo, tí tẹo, tí tẹo! Thế giới Khổng Lồ xa vời quá, một tin đồn xấu xa bên kia bức tường vườn nhà. Tội nghiệp mẹ cha! Họ chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho tôi. Họ giữ riết tôi như chiếc lọ sứ, nhỏ bé và quý báu, trong thế giới của kiến, trong những căn phòng tổ ong, trong thư viện li ti, trong mảnh đất có những cửa cái to bằng con bọ hung và cửa sổ to bằng con bướm mối. Mãi tới bây giờ tôi mới thấy được tầm vóc loạn tâm thần kỳ vĩ của cha mẹ tôi! Họ hẳn đã mơ tưởng sẽ sống đời đời, luôn giữ gìn tôi như con bướm khô trong hộp kính. Nhưng cha tôi chết trước, rồi một đám cháy nuốt chửng ngôi nhà tí hon, cái tổ ong bầu ấy, cùng mọi tấm gương soi bé bằng con tem và căn phòng bằng lọ muối bên trong. Mẹ cũng chết luôn! Và còn lại tôi một mình, nhìn tàn lửa rơi, bị quẳng ra ngoài thế giới của Quái Vật và Người Khổng Lồ, bị thực tế như trận đất lở cuốn phăng, quăng quật, lăn lóc, và nát bấy dưới chân vách núi!

Tôi phải mất một năm mới thích ứng được. Không thể nào nghĩ tới một nghề với chút công việc phụ thêm. Dường như đời này không có chỗ nào dành cho tôi. Và rồi, một tháng trước, Kẻ Khủng Bố đó bước vào đời tôi, ấn một cái mũ đàn bà lên mái đầu khờ khạo của tôi, và hét với đám bạn: “Tao muốn tụi bay xem con lùn này!”

Aimee ngừng đọc. Ánh mắt cô bồn chồn và tờ tạp chí run rẩy khi cô đưa cho Ralph. “Anh đọc hết đi. Phần còn lại là câu chuyện giết người. Viết được lắm. Anh thấy vậy không? Lùn mà hay! Lùn mà hay!”

Ralph quẳng tờ tạp chí qua một bên rồi uể oải châm điếu thuốc. “Tôi thích đọc truyện cao bồi hơn.”

“Ralph, anh phải đọc truyện này. Cần có người nói cho ông Lớn biết là anh ta viết tốt lắm và khuyến khích anh ta viết tiếp.”

Ralph nhìn cô, đầu nghiêng một bên. “Thế ai sẽ nói cho nó biết? Chà chà, chúng ta là cánh tay mặt của Đấng Cứu Thế đấy à?”

“Đừng nói cái giọng đó chứ!”

“Tỉnh lại đi, đồ khùng! Nếu tự nhiên cô ào ào nói ra điều đó, nó sẽ nghĩ cô đang bố thí lòng thương hại. Nó sẽ gào rống xua đuổi cô cút khỏi nhà nó.”

Aimee ngồi xuống, ngẫm nghĩ từ tốn lại, cố xoay trở vấn đề xem xét mọi góc cạnh. “Em không biết. Có lẽ anh đúng. Ồ, không phải lòng thương hại đâu, Ralph, thật đó. Nhưng có thể đối với anh ta thì giống như thế. Em phải cẩn thận hết sức.”

Hắn nắm vai cô lắc tới lắc lui, mấy ngón tay bấu nhẹ. “Trời, trời, mặc kệ nó đi, tôi chỉ yêu cầu cô điều đó; cô sẽ hao tâm tốn sức mà chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được gì. Trời, Aimee, chưa hề thấy cô sốt sắng chuyện gì như chuyện này. Thôi, hôm nay nghỉ làm đi chơi, tôi với cô, đi ăn trưa, đổ ít xăng, rồi phóng xe dọc bờ biển đi xa hết cỡ, bơi lội, ăn chiều, xem phim gì hay hay ở thị trấn nhỏ đâu đó… bỏ mẹ cái hội chợ này đi, được không? Một ngày vui đã đời không lo toan. Tôi đã để dành được ít tiền đây rồi.”

“Đó là vì em thấy anh ta khác biệt,” cô nói, mắt nhìn sâu vào bóng tối. “Đó là vì anh ta là người đáng nể mà tụi mình không thể nào bằng được…, anh và em và tất cả lũ chúng ta ở bến tàu này. Ngộ thật, ngộ thật đó. Cuộc đời đã định cho anh ta chẳng được tích sự gì ngoài những gánh xiếc rong, thế mà anh ta lại ở cái xứ này. Và cuộc đời đã định cho tụi mình không phải làm trong gánh xiếc rong, nhưng tụi mình cũng lại ở đây, thế đấy, ở tít tận đây trên cái cầu tàu ngoài biển này. Nhiều lúc tưởng chừng xa bờ đến cả triệu dặm. Ralph, làm sao tụi mình có thân xác này nhưng anh ta lại có được trí óc và có thể nghĩ ra nhiều điều mà tụi mình thậm chí không bao giờ ngờ tới?”

“Nãy giờ tôi nói gì cô đâu có nghe!” Ralph nói.

Cô ngồi còn hắn đứng bên trên, tiếng nói xa vắng. Mắt cô khép hờ và hai bàn tay cô đặt trên đùi, run rẩy.

“Tôi không thích vẻ mặt tinh ranh của cô lúc này,” cuối cùng hắn lên tiếng.

Aimee từ từ mở ví lấy ra một cuộn giấy bạc rồi bắt đầu đếm. “Ba mươi lăm, bốn mươi đô la. Đủ. Em sẽ điện thoại cho Billie Fine nhờ ông ta gửi một tấm gương biến dạng loại cao tới nhà ông Lớn nhỏ con ở Ganghes Arms. Đấy, em sẽ làm thế!”

“Cái gì?”

“Thử nghĩ xem, Ralph, anh ta sẽ sung sướng biết bao khi có tấm gương đó trong phòng riêng bất cứ khi nào anh ta cần tới. Em mượn điện thoại anh nhé?”

“Cứ việc, đúng là khùng.”

Ralph quay lưng thật nhanh rồi bỏ đi về cuối đường hầm. Tiếng cửa đóng sầm.

Aimee chờ một lúc rồi đưa tay nhấc điện thoại, bắt đầu quay số, chậm chạp đến đau khổ. Cô ngừng lại giữa những con số, nín thở, nhắm mắt, tự hỏi thầm nếu trót mang phận nhỏ nhoi trên đời này, và nếu một ngày có người gửi cho một tấm gương đặc biệt thì sẽ như thế nào. Một tấm gương trong phòng riêng nơi ta có thể ẩn náu cùng chiếc bóng phản chiếu to lớn của bản thân, chói sáng, và viết hết truyện này đến truyện khác, không cần phải bước ra thế gian nếu không cần thiết. Khi đó, một mình, cùng ảo ảnh tuyệt diệu toàn vẹn hình hài trong căn phòng ấy thì sẽ như thế nào. Điều này sẽ khiến ta buồn hay vui, nó sẽ giúp ích hay là phá hoại chuyện văn chương? Cô hết ngẩng lại cúi đầu, suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Ít ra thì như thế sẽ chẳng có ai khinh thường ta. Đêm đêm, có thể lén thức giấc lúc ba giờ sáng lạnh lẽo, ta có thể nháy mắt rồi nhảy múa vòng quanh rồi mỉm cười rồi vẫy tay với chính mình, vụt lớn, vụt lớn, cao đẹp ngời ngời trong tấm gương rực rỡ.

Tiếng nói vang trong điện thoại, “Billie Fine đây.” “Ôi, Billie!” cô thổn thức.

Đêm tràn lấp cầu tàu. Biển đen gầm gừ dưới những tấm ván. Ralph ngồi lạnh tái trong chiếc quan tài bằng kính của mình,  tay  chia  bài,  mắt  nhìn  đăm  đăm,  môi  mím  chặt.  Ở khuỷu tay hắn, một kim tự tháp tàn thuốc cứ cao dần. Khi Aimee đi men dưới hàng bóng đèn màu xanh và đỏ rực, tươi cười, vẫy chào, hắn vẫn cứ từ từ, chầm chậm đặt từng quân bài xuống. “Chào Ralph!” cô gọi.

“Chuyện tình ra sao rồi?” – Hắn vừa hỏi vừa uống nước đá lạnh trong chiếc cốc bẩn. “Các chàng minh tinh, tài tử thế nào?”

“Em vừa đi mua chiếc mũ mới,” cô mỉm cười đáp. “Ôi, em thấy sướng quá! Anh biết tại sao không? Ngày mai Billie Fine sẽ cho gửi một tấm gương đi! Ta mà thấy được nét mặt của anh chàng nhỏ bé đó thì hay phải biết!”

“Tôi không giỏi tưởng tượng đâu.”

“Ối trời, bộ anh tưởng em sẽ lấy anh ta làm chồng hay sao.”

“Sao lại không? Bỏ nó vào va-li xách đi khắp nơi. Thiên hạ sẽ hỏi, Chồng cô đâu? Cô chỉ cần mở nắp ra, la lên, Nó đây này! Giống cái kèn bằng bạc. Lôi nó ra khỏi hộp bất cứ lúc nào, thổi một bài, cất vô hộp trở lại. Kiếm cái xô đựng cát nhỏ đặt sau hiên nhà cho nó đứng.”

“Em đang thấy sướng quá,” cô nói.

“Phải nói là nhân đức mới đúng.” Ralph không nhìn cô, miệng hắn căng ra. “N-h-â-n-đức. Tôi chắc mọi chuyện đều do tôi theo dõi thằng đó qua lỗ ván nẻ để làm trò vui chứ gì? Đó là lý do cô mua cho nó tấm gương đó chớ gì? Những người như cô rảnh quá mà, toàn phá hoại niềm vui của kẻ khác.”

“Anh nói thế thì em sẽ không đến chỗ anh uống nước nữa. Em thà không chơi với ai còn hơn chơi với người hèn hạ.” Ralph thở hắt một hơi thật dài. “Aimee, Aimee. Cô không

hiểu là cô chẳng thể giúp ích gì cho thằng cha đó sao? Nó là thằng khùng. Và cái trò điên rồ của cô cũng chẳng khác gì cô nói với nó: Cứ khùng nữa đi, tôi sẽ giúp anh, anh bạn”.

“Dù gì cũng là chuyện ngàn năm một thuở, có sai lầm cũng tốt nếu mình nghĩ việc làm này sẽ giúp người khác vui sướng,” cô nói.

“Cầu  Chúa  cứu  vớt  tôi  thoát  khỏi  những  kẻ  thiện tâm, Aimee.”

“Im đi! Im đi!” cô la lên, rồi không nói thêm gì nữa.

Hắn để cho im lặng đọng lại hồi lâu, rồi đứng dậy, đặt chiếc cốc dính đầy dấu tay qua một bên.

“Trông quầy vé cho tôi được chớ?”

“Được. Nhưng sao vậy?”

Cô thấy mười ngàn bóng hình trắng lạnh của hắn khệnh khạng  đi  theo  các  hành  lang  thủy  tinh,  giữa  những  mặt gương, môi hắn mím chặt và những ngón tay múa máy.

Cô ngồi trong quầy vé cả phút rồi bất chợt rùng mình. Một chiếc đồng hồ nhỏ kêu tích tắc trong quầy và cô lật bộ bài ra, từng lá một, đợi chờ. Cô nghe tiếng búa, gõ, nện, gõ, nện, văng vẳng trong Mê Cung; một lúc im lìm, một lúc chờ đợi thêm, rồi mười ngàn bóng hình gấp lại, mở ra, và tan rã, Ralph vừa sải bước vừa nhìn mười ngàn bóng hình cô ngồi trong quầy vé hồi vọng hai bên lối ra. Cô nghe tiếng cười khẽ khi hắn đi xuống đường dốc.

“Này, có gì mà anh cao hứng thế?” Cô ngờ vực hỏi. “Aimee,” hắn nói thản nhiên, “tụi mình không nên cãi nhau. Cô bảo ngày mai Billie sẽ gửi tấm gương đó tới cho ông Lớn à?”

“Anh không định làm trò quái quỷ gì đấy chứ?”

“Tôi ấy à?” Hắn thế chỗ cô trong quầy vé và vớ lấy bộ bài, miệng ậm ừ, mắt bừng sáng. “Không đời nào, ối trời, không đời nào.” Hắn không nhìn cô mà liền chia bài phành phạch. Cô đứng sau lưng hắn. Mi mắt phải của cô hơi máy. Cô hết khoanh tay rồi lại buông thõng xuống. Một phút trôi qua. Âm thanh duy nhất là tiếng sóng biển dưới gầm cầu ván tăm tối, tiếng Ralph hít thở trong bầu khí nóng, tiếng sột soạt khe khẽ của những lá bài. Bầu trời trên cầu tàu oi bức, dày đặc mây. Ngoài khơi xa, những ánh chớp lờ mờ vụt lóe lên.

“Ralph,” cuối cùng cô lên tiếng. “Thoải mái đi, Aimee,” hắn nói.

“Về chuyện anh muốn đi chơi biển ở miệt dưới…” “Ngày mai,” hắn nói. “Có thể tháng sau. Có thể năm sau.

Thằng Ralph Banghart này là người kiên nhẫn. Tôi không lo đâu, Aimee. Hiểu chưa?” Hắn giơ một bàn tay lên. “Tôi bình thản lắm.”

Cô chờ cho một đợt sóng ngoài biển tan biến.

“Em không muốn làm anh nổi khùng đâu, vậy thôi. Em không muốn chuyện gì xấu xảy ra, hứa với em đi.”

Gió  lúc  nóng  lúc  lạnh  thổi  qua  cầu  tàu.  Có  mùi  mưa trong gió. Đồng hồ kêu tích tắc. Aimee bắt đầu toát mồ hôi khi nhìn những lá bài xê dịch, xê dịch. Xa xa vọng về tiếng những tấm bia trúng đạn và tiếng nổ ở gian hàng trò chơi bắn súng.

Và rồi, gã ta kìa.

Đang lắc lư đi qua cổng chính vắng tanh của khu hội chợ, dưới những bóng đèn như côn trùng, gương mặt méo mó  và  u  ám,  mỗi  chuyển  động  là  một  gắng  gượng.  Gã  đi suốt đoạn đường dài ra cầu tàu trong lúc Aimee quan sát. Cô muốn nói với gã, Đây là đêm cuối cùng của anh, lần cuối cùng anh sẽ tự làm mình xấu hổ vì phải tới đây, lần cuối cùng anh phải chịu đựng con mắt theo dõi của Ralph, dù là lén lút. Cô ước gì mình có thể la lên và cười to và nói điều đó ngay trước mặt Ralph. Nhưng cô lặng thinh.

“Xin chào, xin chào!” Ralph rống lên. “Tối nay miễn phí, gian hàng mời! Đặc biệt dành cho khách quen!”

Thằng Lùn ngước lên, giật mình, đôi mắt đen bắn ra một khối bối rối bềnh bồng. Miệng gã nặn không nên lời cám ơn rồi gã quay lưng, một tay đưa lên cổ kéo chặt hai ve áo nhỏ tí quanh cuống họng co thắt, tay kia thầm ghì xiết đồng xu bạc. Ngoái lại, gã khẽ gật đầu, và rồi hàng trăm gương mặt thống khổ, giày vò, ám màu âm u kỳ lạ dưới ánh đèn, bước lang thang qua những hành lang thủy tinh.

“Ralph,” Aimee kéo khuỷu tay hắn. “Có chuyện gì thế?” Hắn ngoác miệng cười. “Tôi cũng đang nhân đức đây,

Aimee, nhân đức.” “Ralph,” cô kêu lên.

“Suỵt,” hắn nói. “Nghe đi.”

Trong quầy vé, họ chờ đợi giữa im lặng oi bức lê thê. Rồi, từ rất xa, văng vẳng, một tiếng rú.

“Raph!” Aimee kêu lên.

“Nghe đi, nghe đi!” Hắn nói.

Một tiếng rú nữa, lại rú và lại rú, rồi tiếng va đập rồi tiếng  quăng  quật  rồi  tiếng  đổ  vỡ,  âm  thanh  cuống  cuồng vọng khắp mê cung. Kìa, kìa, dội ngược và đối chọi loạn xạ, từ mặt gương này sang mặt gương khác, vừa la thét điên loạn vừa nức nở khóc, mặt đẫm lệ, miệng há hốc, ông Lớn xuất hiện. Gã nhào ra bầu trời đêm hầm hập, cuống cuồng nhìn quanh, rên rỉ, rồi chạy mất hút xuống bến tàu.

“Ralph, có chuyện gì thế?”

Ralph ngồi vừa cười ầm vừa vỗ đùi. Cô tát vào mặt hắn. “Anh đã làm gì?”

Hắn cố nín cười nhưng không được. “Theo tôi. Tôi sẽ cho cô thấy!”

Và  rồi  cô  vào  mê  cung,  hấp  tấp  chạy  qua  những  tấm gương trắng lóa, vết son môi đỏ rực như lửa phản chiếu cả ngàn lần trong cái hang động sáng bạc hừng hực nơi những người đàn bà điên loạn dị kỳ như cô đuổi theo một tên đàn ông tươi cười, đang chạy phăng phăng.

“Theo tôi!” hắn la to. Và họ lao tới căn buồng tí xíu sặc mùi bụi bặm.

“Ralph!”

Họ đứng ở ngưỡng cửa căn buồng nhỏ nơi Thằng Lùn đêm nào cũng đến cả năm nay. Cả hai đứng ở nơi Thằng Lùn đứng đêm đêm, trước khi gã mở mắt nhìn hình tượng thần kỳ trước mặt.

Aimee chầm chậm lê chân, một bàn tay đưa ra trước, bước vào căn buồng lờ mờ tối.

Tấm gương đã bị đổi.

Tấm  gương  mới  khiến  ngay  cả  những  người  bình thường cũng bé, bé, bé thêm; nó khiến ngay cả những kẻ cao lớn cũng thành nhỏ nhoi, tối tăm, dị dạng thấp kém hơn khi lại gần.

Aimee đứng trước tấm gương ấy, một ý nghĩ phản chiếu, nếu gương này biến người lớn thành nhỏ, khi đứng đây, trời ơi, thì sẽ như thế nào với một gã lùn, gã lùn tí hon, gã lùn u ám, gã lùn cô đơn và kinh hoảng?

Cô quay lưng và suýt vấp ngã. Ralph đang đứng nhìn cô. “Ralph,” cô thốt lên. “Trời ơi, sao anh lại làm thế?”

“Aimee, trở lại đây!”

Cô  băng  qua  những  tấm  gương,  vừa  chạy  vừa  khóc. Căng mắt nhìn qua màn lệ thật khó tìm đường, nhưng cô đã lần được lối ra. Cô đứng chớp mắt nhìn cầu tàu vắng lặng, rồi dợm chạy theo một hướng, đổi hướng khác, không biết về đâu, rồi thôi. Ralph chạy tới sau lưng cô, nói gì đó, một giọng nói xa xăm và khác lạ, như đang loáng thoáng sau một bức tường đêm khuya.

“Tôi không muốn nghe nữa,” cô nói.

Có ai đang chạy lên cầu tàu. Đó là Kelly, chủ gian hàng bắn súng. “Này, mấy người có thấy một thằng lùn mới chạy qua không? Thằng lùn đó giật một khẩu súng ở chỗ tôi, đã nạp đạn, rồi chạy mất tiêu, tôi không kịp bắt lại. Mấy người giúp tôi tìm nó với?”

Rồi Kelly đi luôn, vừa chạy hết tốc lực vừa quay đầu qua lại tìm kiếm giữa các căn lều bạt, khuất xa dần dưới những hàng bóng đèn giăng mắc rực đỏ rực vàng rực xanh.

Aimee ngần ngừ một lúc rồi cất bước. “Aimee, cô đi đâu?”

Cô nhìn Ralph như thể hai kẻ vừa rẽ qua một góc đường, hai người xa lạ, tình cờ chạm mặt và lướt qua nhau. “Chắc là…,” cô nói, “Tôi sẽ giúp mọi người đi tìm.”

“Cô chẳng làm gì được đâu.”

“Dù sao cũng phải thử. Ôi, Ralph, lỗi tại tôi cả! Lẽ ra tôi đừng điện thoại cho Billie Fine! Lẽ ra tôi đừng đặt mua tấm gương và khiến anh nổi khùng tới mức làm như thế! Lẽ ra chính tôi phải đi gặp ông Lớn, chứ không phải mua cái thứ điên khùng đó gửi tới! Tôi phải đi tìm người đó, dù có chết cũng phải đi tìm.”

Chầm  chập  xoay  người  lại,  hai  má  ướt  đẫm,  cô  nhìn những tấm gương dựng trước Mê Cung, trên một tấm gương là bóng phản chiếu của Ralph. Cô không thể rời mắt khỏi hình ảnh ấy; nó thu hút cô đứng sững, miệng há hốc, toàn thân run lẩy bẩy buốt lạnh.

“Aimee, sao vậy? Cô làm sao…?”

Hắn nhận ra hướng cô đang nhìn và quay ngoắt lại xem chuyện gì. Hắn sửng sốt.

Hắn quắc mắt nhìn tấm gương sáng rực đó.

Một con người kinh tởm, xấu xa, nhỏ mọn, cao chỉ chừng sáu tấc, bộ mặt bị bóp dẹp dưới vành mũ rơm kiểu xưa, đang

quắc mắt nhìn đáp trả. Ralph đứng đó trừng trừng nhìn bóng mình, hai bàn tay chống nạnh.

Aimee từ từ bước đi rồi bắt đầu nhanh chân và bắt đầu chạy. Cô chạy xuống bến tàu vắng lặng và cơn gió nóng phun những hạt mưa lớn bỏng rát trên trời dội xuống đầu trong lúc cô chạy thật xa.

Ảnh: Joseph Mugnaini

Hết.

Đọc bài viết

Trích đăng

Hoài niệm mùi hương Sài Gòn – trích đoạn “Với ngày như lá tháng như mây”

Tập tản văn tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành.

Published

on

By

Trích từ: Với ngày như lá tháng như mây
Tác giả: Phạm Công Luận
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 01.2022

Bạn đọc Việt Nam đã quen thuộc với nhà báo, tác giả Phạm Công Luận qua những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu sức viết dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm

Tập tản văn Với ngày như lá tháng như mây tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ như nguồn nước không bao giờ cạn mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành. Trải dài qua 30 bài viết, tập tản văn chứa đựng một cuộc du hành trong tâm tưởng của tác giả, đưa người đọc trôi về thời xa vắng của đất Sài Gòn – Gia Định trên dưới nửa thế kỷ trước.

MÙI HƯƠNG CŨ

Chuyện giữa những người trung niên từng học chung lớp ở trường phổ thông hồi mới lớn, quanh đi quẩn lại cũng quay về bạn cũ, thầy cô xưa. Một người nhắc lại hồi năm lớp Tám, ở góc bàn của cô bạn trong lớp luôn tỏa ra mùi thơm nhẹ. Ai đến gần mới cảm thấy nhưng không rõ từ đâu. Sau có người kể là mỗi buổi sáng đi học, bạn ấy luôn mang theo một nhánh bông dạ lý hương ngắt từ vườn nhà và bỏ vào hộc bàn.

Câu chuyện dễ thương ấy bỗng dưng kéo cả đám sồn sồn gần tuổi sáu mươi về lại hơn bốn mươi năm trước. Từ câu chuyện trên, những hồi tưởng về mùi hương mở rộng ra. Họ nhắc lại mùi nước hoa thoảng nhẹ của cô giáo dạy Anh văn, mùi ban mai tinh khiết ở khu lớp phía sau sân trường, bên cạnh mấy cây cổ thụ. Một anh bảo có ai nhớ mùi sâm đại hành hồi học trường Nguyễn Thượng Hiền không, nó the the cay cay, nhất là khi lén bứt đọt non đưa lên mũi ngửi. Một anh bảo: Tao nhớ mùi tóc… mấy đứa con gái. Đi tập văn nghệ, mình ôm đàn đánh cho mấy nhỏ đó hát, tóc đứa nào cũng thơm. Tóc con gái miệt Bà Quẹo thơm mùi bồ kết, tóc con gái khu Ông Tạ xài xà bông Trầm, Lux thơm nức.

Những mùi hương cũ, sao có thể buộc ta nhớ nhiều đến vậy! Chúng đánh thức ký ức và những mộng tưởng đã mất, kéo ta về thời tuổi trẻ thần thánh không bao giờ quay lại.

Người ta cho rằng khứu giác cũng quan trọng như tất cả các giác quan nhìn, nghe, nếm và chạm. Nhưng đối với nhiều người, khứu giác quan trọng hơn cả, vì nó dựa vào tiềm thức để tồn tại, có thể dẫn chúng ta đến những điều từng không hiểu rõ, thậm chí được cho là không đáng quan tâm. Nó có thể mang lại niềm hạnh phúc, cũng có thể mang đến ký ức về một điều nguy hiểm đã từng xảy ra.

Trong tâm trí tôi, có một mùi clo trong nước hồ bơi công cộng tỏa ra vào những ngày hè ở hồ bơi Nhà văn hóa Lao động thập niên 1990. Nắng thời tuổi trẻ lung linh vàng lóa dưới mặt nước và những cô gái mặc áo tắm đi qua gợi cảm giác vui thú và nhàn tản của một mùa hè rong chơi. Cảm giác về mùi clo ấy tưởng chừng như không hề có trong tiềm thức, chợt đến đột ngột khi tôi quay lại chính hồ bơi ngày xưa lúc vừa thay nước.

Mùi nước hoa Pháp là mùi hương sâu đậm nhất về má tôi trong những ngày Tết, không phải từ mùi nhang trầm thắp đêm Giao thừa. Những sáng mùng Một, má diện áo dài màu ruốc nhạt hay nhung đen, xức chút nước hoa sau gáy, trên cườm tay… đi chùa cùng bà bạn hàng xóm, sau đó là đi chúc Tết. Tôi thường trông lúc má đứng trước gương chải lại mái tóc trước khi đi, để được ôm bà, cảm nhận mùi nước hoa với mùi vải áo dài.

Sau này, khi nhớ về người mẹ đã khuất, tôi nhớ thêm mùi hương khác, không dễ chịu cho lắm, là mùi dấm chua ngai ngái thấm vào cục bột nhão mà má nắm lấy để lăn trên lưng cho tôi khi đang trong cơn sốt. Trong cơn mệt mỏi của đứa trẻ bảy tuổi, tôi biết có giọt nước mắt má nhỏ xuống lưng mình.

Lần đầu tiên ra nước ngoài hơn hai mươi năm trước, tôi ở Nhật cả tháng trời và mùi hương tôi nhớ nhất là mùi… khoai tây chiên tỏa ra từ các trung tâm thương mại. Sau này, món khoai tây chiên ở đâu cũng có, nhưng khi trở lại Nhật, tôi nhận ra đó là một mùi rất riêng biệt. Đó là mùi thành phố của nước Nhật, có khi chỉ mình tôi nghĩ vậy. Chắc chắn mỗi thành phố, mỗi khu phố đều có một mùi riêng. Mùi của vài con phố ở Hà Nội là mùi dấm tỏi trong món phở và mùi chả cá. Mùi của Chợ Lớn là mùi thuốc Bắc khi quẹo khúc cua trên đường Hải Thượng Lãn Ông. Mùi của xóm tôi một thời là mùi bông nguyệt quế ban đêm. Mùi của ngôi nhà thời ấu thơ là mùi thuốc tẩu của ba và mùi sơn dầu của ông anh trước cái giá vẽ. Mùi của khu đường rầy xe lửa cổng số 8 cắt ngang đường Nguyễn Minh Chiếu là mùi bò nhúng dấm cộng với mùi bia tỏa ra từ quán Ánh Hồng của ông bà Tư Khá. Mùi của nhà hàng xóm sát bên là mùi chuối nếp nướng chuẩn bị cho buổi bán chiều.

Khi nhớ đến những mùi hương thoảng qua đời mình như vậy, tôi nhận lại nhiều ký ức lung linh. Những ký ức đó đẹp vì diễn ra trong thời thơ ấu, lúc không vướng bận những trách nhiệm và lo toan của tuổi trưởng thành. Có thể khi nhớ lại, chúng ta lý tưởng hóa chúng dù trải nghiệm thật sự không dễ chịu. Dầu biết vậy, tôi cảm thấy điều đó thật tốt cho một “người lớn” sau này, khi luôn trong trạng thái đối diện với cuộc sống trần trụi.

Tôi đọc được đâu đó là ở nước Mỹ, những người sinh trước năm 1930 có xu hướng nhớ lại những mùi liên quan đến thiên nhiên nhiều hơn những người sinh ra trong những thập kỷ sau đó. Điều này có thể phản ánh sự đô thị hóa ngày càng tăng sau những năm 1930 ở nước Mỹ. Ở Việt Nam, thế hệ nào còn nhớ nhiều nhất những mùi hương của thiên nhiên?

“Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình”, “Để tưởng nhớmùihương”, “Mùi của ký ức”,… những câu thơ, tên sách, tên truyện đậm cảm xúc về một mùi hương xa xưa. Những mùi hương một thuở ấy, có thể vô can vô cớ đến với ta lúc bất ngờ nhất, có thể khiến một người chai sạn mùi đời ngẩn ngơ và thả nỗi nhung nhớ đi rất xa. Tôi đọc một đoạn văn trong cuốn sách Sống và viết với, có bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Hiến Lê của tác giả Nguyễn Ngu Í.

Ông Nguyễn Hiến Lê giữa thập niên 1960 sống trên đường Huỳnh Tịnh Của. Một lần đi bộ đến cuối đường Pasteur gần đó, ông bắt gặp một mùi hương nhẹ khiến ông cảm thấy như “lạc vào một thế giới khác”. Đó là mùi hương của cây sao. Khi nhắc đến câu chuyện đó với nhà báo, ông kể chuyện làng Ngọc Hà ngoài Hà Nội khi ông còn nhỏ và cảnh phố Hàng Đường gần chợ Đồng Xuân những ngày rằm và mồng Một. Ngày đó người ta quý bông ngọc lan hay hoàng lan, chỉ ngắt từng đóa chứ ít khi bẻ trọn cành để chưng hay để bán. Một xu được năm sáu bông quế hay hồng, lan, sói, móng rồng,… Tất cả gói trong lá chuối, mang về chưng trong đĩa sứ. Khi vào sống ở Sài Gòn, ông trồng hoàng lan trong góc sân. Khi ngồi viết, hương hoa thoang thoảng khiến ông có cảm tưởng mùi hương đến thăm ông, an ủi hay nhắc nhở, cười cợt,… tùy lúc. Ông nói: “Sắc thì ta phải đi tìm nó để thưởng nó, hương thì nó tìm ta để làm dịu hồn ta. Nó âm thầm, kín đáo, tế nhị, chỉ cho thôi chứ không cần đáp. Nó bỗng tới rồi bỗng đi, nó phảng phất, nó phiêu diêu…”. Nguyễn Hiến Lê tự nhận mình là người không lãng mạn, nhưng khi nói lên điều này, ông thể hiện tâm hồn lãng mạn và yêu thiên nhiên sâu sắc.

Nhớ mấy chục năm trước, sau hai tháng đi công tác xa, tôi về tới nhà vào buổi tối và chìm ngay vào giấc ngủ. Sáng sớm, thoang thoảng hương cà phê lan tỏa từ cái phòng nhỏ bên cạnh bếp, nơi ba tôi ngồi pha cà phê uống mỗi sáng sớm. Lúc đó, cảm giác bình yên ập tới khiến tôi thấy yêu gia đình biết bao nhiêu. Mùi cà phê quen thuộc giúp tôi định vị được cái ổ an toàn và thân thuộc từ hồi tấm bé của mình. Sau này, khi lập gia đình, loại mùi hương quan trọng với tôi đó là mùi thịt nướng dưới bếp, mùi xoài chín từ Cam Ranh gửi vào, mùi nắng trên sân thượng ấm nồng trên chồng quần áo vừa khô… và mùi hương tóc, hương da thân thuộc của những người thân yêu trong gia đình nhỏ.

- Còn tiếp -

Đọc bài viết

Cafe sáng