Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Đừng nói chúng ta không lợi quyền” – Madeleine Thien

Madeleine Thien dẫn dắt người đọc đi sâu vào cuộc sống đầy biến động của một gia đình Trung Hoa qua hai thế hệ tiếp nối nhau: thế hệ những người sống qua cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông giữa thế kỷ XX, rồi đến đời con cái của họ – những sinh viên tham gia biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn (1989), Hành trình của hai cô gái trẻ Marie và Ai-Ming không chỉ ráp nối lại từng mảnh ghép của câu chuyện gia đình, mà còn dần hé lộ những bi kịch của một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Trung Quốc, khi mỗi người nghệ sĩ phải đấu tranh với chính cái tôi của mình để sống còn, giữ vững lòng trung thành và cống hiến cho nền âm nhạc mà mình đang theo đuổi.

Published

on

[Trích đoạn Chương 1] Đừng nói chúng ta không lợi quyền

Trích từ: Đừng nói chúng ta không lợi quyền

Tác giả: Madeleine Thien

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2019

*

Trong vòng một năm, cha bỏ chúng tôi hai lần. Lần đầu tiên là khi ông kết thúc cuộc hôn nhân, và lần thứ hai, là khi ông tự kết liễu mình. Vào năm 1989 đó, mẹ tôi bay tới Hồng Kông và đưa cha tôi về an nghỉ ở một nghĩa trang gần biên giới Trung Quốc. Sau đấy, lòng rối bời, bà vội vã trở về nhà ở Vancouver nơi tôi đang ở một mình. Khi đó tôi mười tuổi.

Đây là những gì tôi nhớ:

Cha tôi có khuôn mặt đẹp trai không tuổi; ông là một người tử tế nhưng u sầu. Ông đeo kính không gọng và tròng kính mang lại ấn tượng là chúng chỉ lơ lửng ngay trước mặt ông như tấm màn mỏng nhất. Đôi mắt ông nâu sẫm, thận trọng và bất an; ông chỉ mới 39 tuổi. Cha tôi tên là Jiang Kai và ông sinh ra tại một làng nhỏ ngoại vi Trường Sa[1]. Sau này, khi tôi biết được rằng cha tôi là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng ở Trung Quốc, tôi nghĩ đến cách những ngón tay ông gõ trên bàn bếp, cách chúng nhẹ gõ qua mặt bàn và trên đôi cánh tay mềm của mẹ tôi cho tới tận đầu những ngón tay, khiến bà phát điên và khiến tôi bùng lên niềm vui thú. Ông đặt cho tôi tên tiếng Trung là Jiang Li-ling và tên tiếng Anh là Marie Jiang. Khi ông mất, tôi mới chỉ là một đứa trẻ, và cho dù có rời rạc và không chính xác thì một vài ký ức vẫn là tất cả những gì tôi có về ông.

Tôi không bao giờ để mất chúng.

Trong những năm tháng tuổi hai mươi, những năm tháng khó khăn sau khi cả cha mẹ tôi đều đã mất, tôi toàn tâm toàn ý dành thời gian cho quan sát số, giả thuyết, lô-gích và chứng minh, đây là những công cụ mà các nhà toán học chúng tôi dùng không chỉ để diễn giải, mà còn đơn giản là để mô tả thế giới. Suốt chục năm qua tôi là giáo sư tại Đại học Simon Fraser, Canada. Các con số cho phép tôi di chuyển giữa một lượng lớn không tưởng và một lượng nhỏ vô cùng, cho phép tôi sống một cuộc đời biệt lập khỏi cha mẹ tôi, khỏi những giấc mơ không được hồi đáp của họ, và như tôi từng nghĩ, để sống cuộc đời của chính tôi.

Mấy năm trước, hồi năm 2010, trong khi đi dạo nơi phố Tàu ở Vancouver, tôi đi qua một tiệm bán đĩa DVD. Tôi nhớ rằng trời đang đổ mưa và trên vỉa hè không có ai. Tiếng nhạc cổ điển vang lên từ hai cái loa vĩ đại nằm bên ngoài tiệm. Tôi biết bản nhạc đó, bản Xô-nát số 4 dành cho dương cầm và vĩ cầm của Bach, và tôi bị kéo về phía bản nhạc một cách mãnh liệt như thể ai đó đang dùng tay kéo tôi lại. Bản hòa âm mang nhà soạn nhạc, các nhạc công và thậm chí cả sự im lặng lại với nhau, bản nhạc ấy, với những con sóng xoắn ốc từ nỗi buồn và lòng oán giận là tất cả những gì tôi nhớ.

Choáng váng, tôi dựa vào lớp kính.

Và rồi đột nhiên tôi đang ở trong xe ô-tô với cha tôi. Tôi nghe tiếng mưa văng lên lốp và tiếng cha tôi hát nho nhỏ.

Ông sống động quá, thương yêu quá, đến nỗi sự khó hiểu về việc ông tự sát lại một lần nữa khiến tôi buồn ghê gớm. Lúc đó cha tôi đã mất được hai thập kỷ, và mảnh ký ức về ông tinh nguyên đến như vậy chẳng bao giờ trở lại với tôi nữa. Khi ấy tôi ba mươi mốt tuổi.

Tôi đi vào tiệm. Người nghệ sĩ dương cầm với cái tên Glenn Gould xuất hiện trên màn hình phẳng: ông và Yehudi Menuhin đang trình diễn bản xô-nát của Bach mà tôi đã nhận ra. Glenn Gould đang cong mình trên chiếc dương cầm, ông mặc bộ lễ phục sẫm màu và đang nghe những giai điệu vượt quá tầm mà phần lớn chúng ta có khả năng cảm nhận, ông ta… quá đỗi thân thuộc đối với tôi, giống như cả một ngôn ngữ, cả một thế giới mà tôi đã quên.

Vào năm 1989, cuộc sống trở thành một chuỗi những việc cần thiết hàng ngày đối với mẹ con tôi: đi làm và đi học, xem ti-vi, ăn, ngủ. Lần ra đi đầu của cha tôi xảy đến cùng lúc với những sự kiện quan trọng diễn ra ở Trung Quốc, mẹ tôi chăm chăm xem tin tức về những sự kiện đó trên kênh CNN. Tôi hỏi bà những người biểu tình đó là ai, bà nói rằng họ là sinh viên và dân thường. Tôi hỏi liệu cha tôi có ở đó, và bà nói “Không đâu, đó là Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh.” Các cuộc biểu tình khiến hơn một triệu người dân Trung Quốc xuống đường bắt đầu vào tháng Tư, khi cha vẫn sống với chúng tôi, và tiếp tục đến sau khi ông biến mất để tới Hồng Kông. Và rồi, vào ngày 4 tháng Sáu, cũng như những ngày, rồi những tuần sau đó, mẹ tôi khóc. Tôi ngó bà hết đêm này đến đêm kia. Cha đã rời khỏi Trung Quốc vào năm 1978 và bị cấm quay trở lại. Nhưng sự khó hiểu của tôi gắn liền với những điều tôi có thể thấy: đó là những hình ảnh hỗn loạn và khủng khiếp của người và xe tăng, và hình ảnh mẹ tôi trước màn hình.

Mùa hè năm đó cảm tưởng như một giấc mơ, tôi tiếp tục các bài học thư pháp ở trung tâm văn hóa gần nhà, dùng bút lông và mực sao chép thơ tiếng Trung, hết dòng này đến dòng khác. Nhưng những từ tôi có thể nhận ra được không nhiều, những từ như Đại, Tiểu, Nữ, Nguyệt, Thiên. Cha tôi nói tiếng Quan Thoại còn mẹ nói tiếng Quảng Đông, nhưng tôi chỉ rành tiếng Anh. Hồi đầu, những hình ghép tiếng Trung dường như là một trò chơi hay thú vui, nhưng rồi việc không hiểu được bắt đầu gây trở ngại cho tôi. Tôi viết đi viết lại những ký tự mà tôi không thể đọc được, càng viết càng lớn cho tới khi phần mực thừa làm ướt đẫm tờ giấy mỏng rồi xé mất tờ giấy. Tôi chẳng quan tâm. Tôi không đến lớp nữa.

Vào tháng Mười, hai sĩ quan cảnh sát đến cửa nhà chúng tôi. Họ báo cho mẹ biết rằng cha đã đi rồi, và rằng văn phòng điều tra ở Hồng Kông sẽ lo trường hợp này. Họ nói cái chết của cha là do tự sát. Sau đó, sự im lặng trở thành một người nữa sống trong nhà chúng tôi. Nó ngủ trong tủ đồ cùng với áo, quần và giày của cha, nó bảo vệ những bản nhạc của Beethoven, Prokofiev và Shostakovich, đám mũ, chiếc ghế bành và chiếc cốc đặc biệt của cha. Im lặng chuyển vào tâm trí chúng tôi và dữ dội như biển cả trong mẹ con tôi. Mùa đông năm đó, Vancouver thậm chí còn xám hơn và ướt át hơn lệ thường, như thể làn mưa là chiếc áo len dày mà chúng tôi không thể cởi ra được. Tôi đi ngủ mà vẫn chắc rằng đến sáng, cha sẽ đánh thức tôi dậy như ông luôn làm, giọng ông kéo tôi ra khỏi giấc ngủ, cho tới khi ảo tưởng trộn lẫn với mất mát và gây đau đớn hơn nhiều cảm xúc mang tới trước đó.

Tuần theo tuần trôi qua, và năm 1989 chuyển thành 1990. Mẹ con tôi ăn tối trên ghế xô-pha mỗi tối vì không có chỗ trên bàn ăn. Giấy tờ pháp lý của cha tôi bao gồm các chứng chỉ đủ loại và chứng nhận khai thuế đã được sắp xếp, nhưng các giấy tờ linh tinh vẫn còn. Khi mẹ kiểm tra căn hộ triệt để hơn, các giấy tờ khác được tìm thấy, bao gồm các bản nhạc, một nắm thư từ cha tôi viết nhưng chưa từng gửi (ví dụ như “Chim Sẻ ơi, em không biết liệu lá thư này có tới được với anh không, nhưng…”), và ngày càng nhiều những cuốn sổ. Khi tôi thấy những món đồ này cứ tăng lên, tôi hình dung mẹ tin rằng cha sẽ tái sinh trong một khối hình bằng giấy. Hoặc có thể là giống như tổ tiên mình, bà tin rằng chữ viết trên giấy là bùa hộ mệnh và bằng cách nào đó có thể bảo vệ chúng tôi khỏi nguy hại.

Hầu hết các đêm, mẹ ngồi với đám giấy tờ trong khi vẫn mặc nguyên đồ công sở.

Tôi cố gắng không làm phiền bà. Tôi ở trong phòng khách sát bên và thỉnh thoảng nghe thấy trang giấy giở gần như không phát ra tiếng động.

Nghe thấy hơi thở yên lặng của bà.

Nghe thấy mưa rào chảy xuống khung cửa sổ.

Chúng tôi bị ngưng lại trong dòng thời gian.

Hết lần này đến lần khác, chiếc xe buýt điện số 29 ồn ào chạy qua.

Tôi tưởng tượng ra những cuộc nói chuyện. Tôi cố hình dung cha tái sinh ở thế giới bên kia, đang mua một cuốn nhật ký mới, dùng một loại tiền mới, và nhét tiền thừa vào túi chiếc áo khoác mới, chiếc áo nhẹ làm từ lông vũ, hoặc có thể là áo trùm làm bằng lông lạc đà, áo này đủ chắc cho cả thiên đàng và thế giới bên kia.

Trong lúc đó, mẹ tôi làm mình sao lãng bằng việc cố gắng tìm gia đình của cha tôi để báo cho họ biết rằng người con trai, người anh hay người chú đã mất tích từ lâu của họ không còn sống trên đời này nữa, bất kể họ đang ở đâu. Bà bắt đầu với việc tìm kiếm người cha nuôi của cha, ông từng sống ở Thượng Hải và được biết đến như là “vị Giáo sư”. Ông là người thân duy nhất cha từng nhắc đến. Công cuộc tìm kiếm thông tin diễn ra chậm chạp và nhẫn nại; thời đó chưa có thư điện tử hay mạng Internet, vì thế việc mẹ gửi thư đi thì dễ nhưng khó nhận được câu trả lời chính xác. Cha tôi đã rời Trung Quốc từ lâu và nếu Giáo sư vẫn còn sống, ông phải già lắm rồi.

Bắc Kinh mà chúng tôi thấy trên ti-vi với những nhà xác và những gia đình đau buồn, với xe tăng đóng ở mỗi ngã tư, trang bị đầy súng trường, là một thế giới khác xa với Bắc Kinh mà cha tôi từng biết. Tuy thế, thỉnh thoảng tôi nghĩ, cuối cùng thì cũng không khác nhau nhiều lắm.

Vài tháng sau, tháng Ba năm 1990, mẹ đưa cho tôi xem cuốn Những Bản Ghi. Đêm hôm đó, mẹ ngồi chỗ quen thuộc nơi bàn ăn, đọc cuốn sổ. Cuốn sổ trong tay bà dài và hẹp, kích thước như một cánh cửa nhỏ. Cuốn sổ có một sợi dây cô-tông màu hồ đào buộc hờ lại.

Quá giờ đi ngủ của tôi đã lâu, đột nhiên mẹ để ý thấy tôi.

“Có việc gì với con thế hả!” Bà nói. Và rồi, bối rối bởi chính câu hỏi của mình, bà tiếp: “Con đã làm xong bài tập về nhà chưa? Mấy giờ rồi?”

Tôi đã làm xong từ lâu lắm, và giờ đang xem một bộ phim kinh dị tắt tiếng. Tôi vẫn còn nhớ đó là cảnh một người đàn ông vừa bị giết bằng một chiếc cuốc băng. “Nửa đêm rồi ạ,” tôi nói, thất thần vì ông ta đã mềm như bún.

Mẹ tôi đưa một tay ra và tôi tới chỗ bà. Bà ôm một tay quanh eo tôi, siết chặt. “Con có muốn xem thứ mẹ đang đọc không?”

Tôi nghiêng người qua cuốn sổ và chăm chú nhìn đám chữ. Các ký tự tiếng Trung chạy xuống trang giấy như những dấu chân thú trên tuyết.

“Đó là một câu chuyện,” mẹ nói.

“Thế ạ. Thể loại gì ạ?”

“Mẹ nghĩ đó là tiểu thuyết. Một người ưa mạo hiểm tên là Da-wei giong buồm về châu Mỹ và một nữ anh hùng tên là May Fourth[2] đi bộ qua sa mạc Gobi…”

Tôi cố gắng hơn nữa nhưng những từ ngữ vẫn không thể đọc được.

“Ngày xưa người ta sao nguyên cả quyển sách bằng cách chép tay,” mẹ nói. “Người Nga gọi đó là ‘samizdat’, còn người Trung Quốc gọi là… ờ, mẹ không nghĩ là mình có một từ riêng cho việc đó. Con nhìn xem cuốn sổ này bẩn chưa, có cả ít cỏ trên sổ nữa. Ai mà biết được bao nhiêu người đã mang cuốn sổ tới những nơi nào… cuốn sổ này tuổi đời hơn con mấy chục năm đấy, Li-ling.”

Tôi tự hỏi có thứ gì ít tuổi hơn mình không? Rồi tôi hỏi bà liệu có phải cha đã sao chép cuốn sổ.

Mẹ lắc đầu. Bà nói chữ viết đẹp lắm, phải từ một nhà thư pháp tài giỏi, chứ chữ viết của cha thì chỉ tàm tạm thôi. “Cuốn sổ này là một chương của một cuốn sách dài. Ở đây có ghi ‘Số 17’. Không thấy ghi tên tác giả, nhưng con xem này, có tựa đề là ‘Những Bản Ghi’”.

Bà đặt cuốn sổ xuống. Trên bàn ăn, giấy tờ của cha chất đống như những đợt sóng bạc đầu lao về phía trước, như muốn lao khỏi mặt bàn mà đổ xuống mặt thảm. Tất cả đám thư từ của chúng tôi cũng nằm đó. Từ năm mới đến nay, mẹ bắt đầu nhận được thư từ Bắc Kinh, đó là những lời chia buồn của các nhạc công trong Dàn nhạc Giao hưởng Trung ương, mãi gần đây họ mới biết về cái chết của cha. Mẹ đọc những lá thư này với quyển từ điển trong tay bởi chúng được viết bằng tiếng Trung Giản thể, kiểu chữ mẹ chưa từng học. Mẹ tôi được giáo dục ở Hồng Kông, bà học chữ tiếng Trung truyền thống. Nhưng ở đại lục, trong những năm 1950, một bảng chữ mới đơn giản hơn đã trở thành luật tại Trung Hoa Cộng sản. Hàng ngàn từ đã thay đổi; ví dụ, từ “viết” đổi từ 寫 thành 写, từ “biết” đổi từ 識 thành 识. Thậm chí từ “Đảng Cộng sản” cũng đổi từ 共產黨 thành 共产党. Đôi khi mẹ nhìn ra được từ cũ, còn lại mẹ đoán nghĩa. Bà bảo giống như là đọc một lá thư từ tương lai hoặc nói chuyện với một người quay lưng về phía mình vậy. Đã thế còn thêm phức tạp vì thực tế là hiếm khi bà đọc tiếng Trung nữa, bà chủ yếu bộc lộ suy nghĩ bằng tiếng Anh. Bà không thích tiếng Quan Thoại của tôi vì bà nói “Trọng âm của con méo mó hết thảy.”

“Ở đây lạnh quá,” tôi thì thầm. “Mẹ con mình mặc đồ ngủ rồi vào giường đi mẹ.”

Mẹ nhìn cuốn sổ chằm chằm, không nghe thấy.

“Đến sáng mẹ sẽ bị mệt đấy,” tôi khăng khăng. “Mẹ sẽ ngủ gà gật tới hai chục lần cho xem.”

Mẹ mỉm cười nhưng đôi mắt sau cặp kính căng lại vì điều gì đó. “Đi ngủ đi con,” bà nói. “Đừng thức chờ mẹ.”

Tôi hôn gò má mềm mại của bà. Bà hỏi, “Nhà sư nói gì với thợ làm bánh pizza?”

“Nói gì ạ?”

“Làm cho tôi một cái đầy đủ các thứ.”

Tôi cười lớn, rên rỉ rồi lại cười lớn, đoạn rùng mình khi nghĩ đến nạn nhân trong bộ phim trên ti-vi, nghĩ đến làn da trắng bệch của ông ta. Mỉm cười, bà kiên quyết dùng khuỷu tay đẩy tôi ra.

Nằm trên giường, tôi cân nhắc mấy điều thực tế.

Điều đầu tiên là ở lớp Năm mà tôi đang theo học, tôi là một người khác hẳn. Tôi rất thuần hậu, biết cư xử và đạt kết quả tốt đến nỗi tôi phải tự hỏi liệu bộ não và linh hồn mình có tách biệt không.

Điều thứ hai là tại những nước nghèo hơn, người như mẹ con tôi sẽ không cô đơn đến thế này. Trên ti-vi, những nước nghèo đông đúc lắm, họ là những chiếc thang máy quá tải đang cố vươn lên trời cao. Người ta ngủ tới sáu người chung một giường và cả tá người chung một phòng. Ở đó bạn có thể luôn nói lớn suy nghĩ của mình, yên tâm là sẽ có ai đó nghe thấy bạn kể cả nếu họ không muốn. Thật ra, cách trừng phạt một người chắc là loại bỏ họ khỏi gia đình và bè bạn, cô lập họ ở một đất nước lạnh lẽo và phá vỡ họ bằng nỗi cô đơn.

Điều thứ ba không phải là một thực tế mà là một câu hỏi:

Vì sao tình yêu của chúng tôi lại không mấy ý nghĩa đối với cha?

Hẳn là tôi đã ngủ, vì thình lình tôi thức dậy và thấy mẹ đang khom người phía trên tôi. Ngón tay bà lau mặt tôi. Tôi chẳng bao giờ khóc vào ban ngày cả, chỉ đêm thôi.

“Đừng thế này, Li-ling,” mẹ nói. Bà lẩm bẩm nhiều thứ. Bà nói, “Nếu con bị mắc kẹt trong một căn phòng và không ai đến cứu con thì con có thể làm gì? Con phải đập mạnh vào tường và phá cửa sổ. Con phải trèo ra và cứu chính mình. Li-ling à, hiển nhiên là khóc không giúp người ta sống sót đâu.”

“Tên con là Marie,” tôi gào. “Là Marie!”

Bà mỉm cười. “Con là ai?”

“Con là Li-ling!”

“Con là Nữ.” Bà dùng tên ở nhà cha gọi tôi, vì chữ “nữ” vừa có nghĩa là nữ, vừa có nghĩa là con gái. Ông thích nói đùa là ở nơi ông sinh ra, người nghèo còn chẳng buồn đặt tên cho con gái họ. Mẹ sẽ đánh vào vai ông và nói bằng tiếng Quảng Đông, “Đừng tiêm nhiễm mấy thứ vớ vẩn vào đầu óc con bé.”

Được bảo bọc trong vòng tay mẹ, tôi cuộn mình vào giấc ngủ một lần nữa.

Sau đó tôi thức giấc nghe tiếng mẹ lẩm bẩm dòng suy tư và bà đang cười nhẹ. Sáng mùa đông thật tối tăm, nhưng tiếng cười bất chợt của mẹ cắt ngang phòng như tiếng kêu của chiếc máy sưởi điện. Da bà thơm mùi gối sạch và mùi kem hương hoa mộc tê ngọt ngào mà bà dùng.

Khi tôi thì thầm tên bà, bà lẩm bẩm, “Ha.” Rồi sau đó, “Ha ha.” Tôi hỏi bà, “Mẹ đang bước đi trên đất liền hay dưới biển vậy?”

Với vẻ rất khác lạ, bà nói, “Ông ấy đây rồi.”

“Ai cơ ạ?” Tôi cố nhìn trong bóng tối của căn phòng. Tôi thực sự tin là ông ấy ở đây.

“Người nhận nuôi. Người… Ừm… Vị Giáo sư đó.”

Tôi nắm chặt tay bà. Phía bên kia tấm màn cửa, bầu trời đang đổi màu. Tôi muốn theo bà đi vào quá khứ của cha, vậy nhưng tôi không tin được. Người ta có thể đi xa vào ảo tưởng, họ có thể thấy điều gì đó quá thu hút khiến họ không màng quay lại. Tôi sợ rằng giống như cha, bà sẽ không còn nhớ lý do để về nhà nữa.

Cuộc sống bên ngoài, từ việc bắt đầu năm học mới, các bài kiểm tra thường kỳ, đến các trại toán học đầy vui thú, vẫn tiếp tục như thể chưa từng dừng lại, cuộc sống ấy được lái về phía trước bởi các mùa vòng đi vòng lại. Áo hè và áo đông của cha vẫn chờ đợi bên cánh cửa, bên dưới mũ và phía trên giày của ông.

Sớm tháng Mười hai, một phong bì thư dày được gửi đến từ Thượng Hải, một lần nữa mẹ ngồi xuống với cuốn từ điển. Cuốn từ điển cỡ nhỏ, bìa cứng cực kỳ dày với lớp bìa màu xanh lá và trắng. Khi tôi giở sách, các trang trong mờ và nhẹ gần như không khí. Đây đó, tôi thấy một vệt dầu mỡ hoặc vết cà phê hình khuyên, chắc là do cốc cà phê của mẹ hoặc có thể của tôi cũng nên. Mỗi từ được viết dưới phần gốc của từ đó, hay còn gọi là ngữ căn. Ví dụ như từ 門 nghĩa là “môn” (cánh cổng), nhưng nó cũng là một ngữ căn, có nghĩa nó là một khối cơ sở xây nên các từ và khái niệm khác. Nếu ánh sáng, hay “nhật” 日, soi sáng qua “môn”, chúng ta có từ “không gian” 間. Nếu có chữ “mã” 馬 trong “môn”, nó có nghĩa là sự mai phục 闖, và nếu có chữ “khẩu” 口 trong “môn”, chúng ta có từ “câu hỏi” 問. Nếu có chữ “thị” (mắt) 目 và “cẩu” 犬 bên trong, chúng ta có từ “yên lặng” 闃.

Lá thư từ Thượng Hải dài ba mươi trang được viết bởi một bàn tay viết rối; sau vài phút tôi thấy mệt khi nhìn mẹ khó khăn đọc nó. Tôi đi ra phòng trước và chằm chằm nhìn sang hàng xóm. Ngang qua sân, tôi thấy một cây thông Noel khốn khổ. Trông như thể ai đó đã cố gắng làm cái cây ngộp thở bằng vòng kim tuyến.

Mưa trút xuống và gió thổi qua. Tôi mang cho mẹ một cốc kem trứng.

 “Thư mang tin tốt không ạ?”

Mẹ đặt những trang thư xuống. Hai mí mắt bà trông sưng lên. “Đây không phải là điều mẹ chờ đợi.”

Tôi đưa ngón tay chạy ngang qua phong bì và bắt đầu giải nghĩa tên người gửi. Cái tên đó khiến tôi ngạc nhiên. “Một phụ nữ ạ?” Tôi hỏi, đột nhiên thấy sợ.

Mẹ gật đầu.

“Bà ấy có một yêu cầu,” mẹ nói khi lấy phong bì từ tay tôi rồi đẩy nó xuống dưới mấy trang giấy. Tôi dịch lại gần mẹ hơn, như thể bà là một lọ hoa sắp rơi khỏi bàn, nhưng cặp mắt sưng tấy của mẹ mang một thứ cảm xúc không ngờ. Phải chăng là sự an ủi? Hay là, trước sự kinh ngạc của tôi, có lẽ nào đó là niềm hân hoan? Mẹ tiếp lời: “Bà ấy muốn xin một ân huệ.”

“Mẹ sẽ đọc lá thư cho con nghe chứ?”

Mẹ nhéo đầu sống mũi giữa hai mắt mình và nói. “Cả lá thư dài lắm. Bà ấy nói rằng đã nhiều năm rồi bà ấy không gặp cha con. Nhưng đã có lúc họ thân thiết như gia đình.” Mẹ ngập ngừng ở từ gia đình. “Bà ấy nói rằng chồng bà là giáo viên soạn nhạc của cha con ở Học viện Âm nhạc Thượng Hải. Nhưng rồi họ mất liên lạc với nhau trong những năm tháng khó khăn đó.”

“Những năm tháng khó khăn nào ạ?” Tôi bắt đầu nghi ngờ là cái ân huệ kia có liên quan đến đô-la Mỹ hoặc một cái tủ lạnh mới, và tôi sợ rằng bà sẽ bị lợi dụng.

“Trước khi con ra đời cơ, hồi những năm 1960. Khi cha con còn là một sinh viên nhạc.” Mẹ nhìn xuống với một biểu cảm không thể đọc được. “Bà ấy nói rằng năm ngoái cha con liên lạc với họ. Cha gửi thư cho bà ấy từ Hồng Kông vài ngày trước khi ông mất.”

Một chuỗi câu hỏi nảy ra trong tôi. Tôi biết mình không nên làm phiền bà nhưng cuối cùng chỉ vì muốn hiểu được câu chuyện, tôi hỏi, “Bà ta là ai ạ? Tên bà ta là gì?”

“Họ của bà ấy là Đặng.”

“Tên bà ta cơ ạ.”

Mẹ mở miệng nhưng không thốt ra lời nào. Cuối cùng, bà nhìn thẳng vào mắt tôi và nói, “Tên bà ấy là Li-ling.”

Bà ta có cùng tên với tôi, chỉ có điều viết bằng tiếng Trung giản thể. Tôi với tay về phía lá thư. Mẹ kiên quyết đặt tay lên tay tôi. Chặn trước câu hỏi tiếp theo của tôi, bà nói tiếp, “Ba mươi trang thư này nói về hiện tại chứ không phải quá khứ. Con gái của Đặng Li-ling đã đến Toronto nhưng hộ chiếu của con bé không thể sử dụng được. Con gái bà ấy không có nơi nào để đi và bà ấy cần sự giúp đỡ của chúng ta. Con gái bà ấy…” Mau lẹ, bà đẩy lá thư vào trong bì thư. “Con gái bà ấy sẽ tới sống với chúng ta một thời gian. Con có hiểu không? Lá thư này là về hiện tại.”

Tôi cảm thấy ruột gan vặn xoắn và thế giới đảo lộn tùng phèo. Vì sao một người lạ lại sống cùng chúng tôi chứ?

“Con gái bà ấy tên là Ai-ming,” mẹ nói, ráng đưa tôi về thực tại. “Giờ mẹ sẽ đi gọi điện để sắp xếp cho con bé đến đây.”

“Con và cô ta có cùng tuổi không?”

Trông mẹ bối rối. “Không đâu con, cô ấy hẳn phải mười chín tuổi rồi và đang là sinh viên. Đặng Li-ling nói rằng con gái bà ấy… bà ấy nói rằng Ai-ming dính vào rắc rối ở Bắc Kinh trong thời gian biểu tình Thiên An Môn diễn ra. Con bé đã chạy trốn.”

“Rắc rối thế nào ạ?”

“Đủ rồi,” mẹ tôi nói. “Đó là tất cả những gì con cần biết.” “Không! Con cần biết nữa.”

Bực bội, mẹ đóng mạnh cuốn từ điển lại. “Ai nuôi con lớn thế hả? Con còn quá bé để tọc mạch thế này!”

“Nhưng mà…“

“Đủ rồi.”

Mẹ chờ cho tới khi tôi vào giường mới gọi điện. Bà nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình, tiếng Quảng Đông, với một ít tiếng Quan Thoại chen vào, thậm chí qua cánh cửa đóng, tôi có thể nghe thấy giọng bà ngấp ngứ với những thanh dấu vốn chưa bao giờ trở thành một phần ngôn ngữ tự nhiên đối với bà.

“Nơi cháu đang ở có lạnh lắm không?” Tôi nghe mẹ nói.

Rồi tiếp: “Cháu sẽ nhận vé xe buýt của hãng Greyhound ở…”

Tôi bỏ kính xuống rồi trông ra ngoài cửa sổ mờ mịt. Mưa nhìn như tuyết. Giọng mẹ nghe như tiếng nước ngoài.

Sau một hồi lâu im lặng, tôi đeo lại kính qua tai, trèo ra khỏi giường và đi ra ngoài. Mẹ đang cầm cây bút trong tay, một đống hóa đơn nằm trước mặt bà như thể chờ để sai khiến. Bà thấy tôi và hỏi, “Dép của con đâu?” Tôi nói là tôi không biết.

Mẹ bùng nổ. “Vào giường đi Nữ! Sao con không hiểu hả? Mẹ chỉ muốn một chút yên bình thôi! Con không bao giờ để mẹ một mình cả, con cứ nhìn mẹ và cứ như là con nghĩ mẹ sẽ…” Bà đập cây bút xuống. Một số mảnh vỡ ra và lăn qua sàn nhà. “Con nghĩ mẹ sẽ rời bỏ à? Con nghĩ mẹ ích kỷ như cha con à? Con nghĩ sẽ có lúc mẹ bỏ rơi con và làm con tổn thương như ông ấy đã làm à?” Một từ tiếng Quảng Đông dài dữ dội bùng ra, rồi bà tiếp: “Đi về giường đi!”

Trông bà có tuổi và mong manh quá, ngồi đó với cuốn từ điển cũ nặng nề.

Tôi lao vào phòng tắm, đóng sầm cửa, mở ra, rồi đóng sầm lớn tiếng hơn, và đổ ra khóc. Tôi mở nước vào bồn, nhận ra rằng quả thực điều tôi thật sự muốn là đi về giường. Những tiếng nức nở của tôi trở thành tiếng nấc, và khi tiếng nấc cuối cùng cũng ngưng, tất cả những gì tôi nghe được là tiếng nước rơi xuống. Ngồi lên cạnh bồn, tôi ngắm chân mình méo đi dưới làn nước. Cặp chân xanh xao của tôi gập lại khi tôi nhúng mình xuống nước.

Người cha trong ký ức trở lại với tôi. Ông đẩy băng cát-xét vào máy chạy cát-xét, bảo tôi cuộn cửa sổ xuống, rồi chúng tôi chạy xe tới Main Street, dọc theo Great Northern Way, kèn vang theo bản Công-xéc-tô Hoàng Đế của Beethoven do Glenn Gould trình diễn dưới sự chỉ huy của Leopold Stokowski. Những nốt nhạc lộn xộn chảy xuống như thác và lên vô tận, cha tôi chỉ huy bằng tay phải trong khi lái xe bằng tay trái. Tôi nghe tiếng ông ngân nho nhỏ, đầy giai điệu và gõ nhịp: DA! DA-de-de-de DA!

Da, da, da! Tôi có cảm giác rằng khi chúng tôi diễu hành trong khúc khải hoàn ngang qua Vancouver, khúc nhạc đầu tiên được tạo ra bởi cha tôi chứ không phải Beethoven. Tay ông chuyển động theo nhịp 4/4, điểm nhấn treo ngang giữa nhịp bốn và nhịp một, và tôi tự hỏi việc một người đã từng nổi tiếng, từng trình diễn tại Bắc Kinh trước mặt chính Mao Trạch Đông mà thậm chí không có một chiếc dương cầm trong nhà mình, việc đó có thể hiểu như thế nào? Phải chăng ông kiếm tiền bằng công việc trong một cửa tiệm? Thực ra, mặc dù tôi đã nài nỉ được học chơi vĩ cầm, câu trả lời của cha tôi luôn là “không”. Vậy mà giờ chúng tôi đang ở đây, băng ngang thành phố, được bao trùm trong giai điệu chiến thắng này, để cho quá khứ của cả Beethoven và của cha tôi, chưa bao giờ chết mà chỉ phản chiếu lại bên dưới kính chắn gió, rồi trỗi dậy và bao phủ chúng tôi như vầng mặt trời.

Chiếc xe hiệu Buick đó không còn nữa vì mẹ đã bán nó rồi. Mẹ đã luôn là người mạnh mẽ hơn cha, giống như cây xương rồng trong phòng khách – cái cây trong nhà duy nhất còn sống sót sau sự ra đi của cha. Để sống thì cha tôi cần nhiều hơn nữa. Nước trong bồn phủ qua người tôi. Xấu hổ vì để phí nước, tôi vặn mạnh khóa nước vào. Cha tôi từng nói rằng âm nhạc tràn đầy những khoảng lặng. Ông không để lại gì cho tôi hết, không thư từ, không nhắn gửi. Không một lời.

Mẹ gõ cửa.

“Marie ơi,” bà nói. Mẹ vặn tay nắm nhưng cửa bị khóa.

“Li-ling ơi, con có ổn không?”

Một khoảng lặng dài trôi qua.

Sự thật là tôi đã yêu cha nhiều hơn thế. Nhận thức đó đến với tôi cùng lúc khi tôi biết mà không chút hồ nghi rằng cha hẳn đã phải đau đớn lắm, rằng mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi. Mẹ cũng đã yêu cha. Nước mắt rơi, tôi đặt hai bàn tay lên mặt nước. “Con chỉ muốn tắm thôi.”

“Ồ,” bà nói. Giọng bà dường như vang vọng lại trong chính chiếc bồn. “Đừng để bị lạnh trong đó nhé.”

Bà cố mở cửa lần nữa nhưng cửa vẫn khóa.

“Chúng ta sẽ ổn thôi,” cuối cùng bà nói.

Hơn tất thảy, tôi muốn đánh thức cả hai chúng tôi dậy khỏi giấc mơ này. Thay vì thế, tôi té nước một cách vô vọng lên dòng nước mắt của mình và gật đầu, “Con biết.”

Tôi lắng nghe tiếng dép của bà xa dần khi chúng rời đi.

Vào ngày 16 tháng 12 năm 1990, mẹ về nhà trong xe tắc-xi cùng với đứa con gái mới nhận, người đó không mặc áo khoác, chỉ quấn một chiếc khăn dày, mặc áo len, quần bò xanh và đi giày bằng vải bố. Trước đây tôi chưa từng gặp một cô gái người Trung Quốc – người cũng đến từ Trung Hoa đại lục giống cha tôi. Một đôi găng tay màu xám treo tòn ten từ một sợi dây quanh cổ cô ta, chúng lắc lư theo nhịp một cách căng thẳng trên đôi chân cô. Hai đầu chiếc khăn xanh viền tua, một ngã ra trước, một nằm phía sau, khiến cô trông giống như một học giả. Mưa đang rơi nặng hạt, cô ta bước đi, đầu cúi xuống, tay cầm chiếc va-li cỡ trung trông như trống rỗng. Cô ta xanh xao, tóc cô ta nhấp nhánh màu biển.

Tôi mở cửa ra như bình thường, mắt mở to như thể tôi không nghĩ có khách đến.

“Nữ ơi,” mẹ nói. “Cầm va-li đi con. Mau nào.”

Ai-ming bước vào nhà, dừng lại bên rìa thảm chùi chân. Khi tôi với tay cầm chiếc va-li, tay tôi tình cờ chạm tay cô ta, nhưng cô ta không rụt lại. Thay vì thế cô ta đưa bàn tay kia ra và nhẹ phủ lên tay tôi. Cô ta nhìn thẳng vào tôi với một sự cởi mở và hiếu kỳ đến mức khiến tôi xấu hổ mà nhắm mắt lại.

“Ai-ming à,” tiếng mẹ đang nói. “Để chị giới thiệu với em, đây là con gái của chị.”

Tôi rút tay ra và mở mắt.

Mẹ tôi vừa cởi áo khoác vừa liếc nhìn trước tiên là tôi, rồi đến căn phòng. Ghế xô-pha màu nâu với ba sọc màu lạc đà trông đã khá cũ, nhưng tôi đã trang hoàng nó với gối hoa và thú nhồi bông lấy từ giường tôi. Tôi cũng đã bật ti-vi lên để khiến căn phòng có diện mạo sống động hơn. Mẹ gật mạnh đầu với tôi. “Nữ à, chào cô con đi.”

“Ô kìa, cứ gọi em là Ai-ming là được rồi. Làm ơn ạ. Ừm, thật ra, em thích như vậy hơn.”

Để cả hai đều vừa lòng, tôi nói, “Xin chào.”

Đúng như tôi nghi ngờ, chiếc va-li rất nhẹ. Tay kia tôi đưa ra để cầm áo khoác cho Ai-ming, nhưng nhớ ra quá muộn là cô không mặc áo khoác. Tay tôi ve vẩy trong không khí như một dấu hỏi. Cô đưa tay ra nắm lấy tay tôi rồi bắt tay tôi thật chặt.

Đôi mắt cô dò hỏi. Tóc cô được ghim lại một bên và buông xõa phía bên kia, khiến cô tựa như luôn mãi ở góc nghiêng và đang chực quay sang tôi. Cô bỏ giày ra khỏi chân không một tiếng động trong khi vẫn nắm tay tôi, xong chiếc này đến chiếc kia. Những vệt mưa mờ đọng trên khăn của cô. Cuộc sống của chúng tôi đã thu nhỏ lại đến mức mà tôi không thể nhớ nổi lần cuối cùng một người lạ bước vào nhà chúng tôi là bao giờ nữa; sự hiện diện của Ai-ming khiến mọi thứ trở nên lạ lẫm, như thể những bức tường tụ lại gần hơn để ngó cô ấy. Đêm hôm trước, cuối cùng thì chúng tôi cũng đã xếp gọn giấy tờ, sổ sách của cha, đặt chúng vào các thùng rồi chất dưới bàn bếp. Giờ đây tôi thấy mặt bàn trống không đầy giả dối. Tôi lấy tay mình ra, bảo rằng tôi sẽ đặt va-li trong phòng cô ấy.

Mẹ chỉ cô đi xem quanh nhà. Tôi quay lại ghế xô-pha, giả vờ đang xem kênh Thời tiết, dự báo là mưa đến hết tuần, mưa đến hết năm 1990, mưa đến hết thế kỷ, thậm chí là đến hết phần còn lại của vô tận thời gian. Hai giọng nói vang lên tiếp nối nhau như những toa xe cáp treo, thi thoảng ngắt quãng bởi im lặng. Sự căng thẳng trong căn hộ trườn vào bên trong tôi và tôi có cảm giác rằng sàn nhà làm bằng giấy, rằng mọi chốn đều có chữ viết lên mà tôi không thể đọc được, và chỉ cần một cử chỉ không suy nghĩ cũng có thể nghiền nát toàn bộ nơi này.

Chúng tôi ngồi quanh bàn ăn tối cùng nhau. Mẹ đã bỏ đi một bên lá bàn, biến đổi chiếc bàn từ hình trứng sang hình tròn. Bà tự ngắt lời nói dông dài của mình để ném cho tôi một cái nhìn nói rằng, Thôi nhìn chằm chằm đi.

Thỉnh thoảng chân tôi lại tình cờ đá vào một trong những chiếc thùng dưới gầm bàn, khiến Ai-ming giật mình.

“Ai-ming, em có thấy trời lạnh không?” Mẹ nói một cách vui vẻ, lờ tôi đi. “Chính chị cũng chưa từng trải nghiệm mùa đông cho tới khi chị tới Canada.”

“Ở Bắc Kinh cũng có mùa đông nhưng em không thấy phiền. Thực ra nơi em lớn lên cách xa Bắc Kinh, nơi đó ở miền Nam nên nóng ẩm, vì vậy khi chuyển lên Bắc Kinh em mới biết cái lạnh là thế nào.”

“Chị chưa bao giờ đến thủ đô, nhưng chị nghe nói bụi bay đến từ các sa mạc phía tây.”

“Đúng ạ.” Ai-ming gật đầu, tươi cười. “Bụi dính vào quần áo với tóc, rồi cả vào đồ ăn thức uống nữa.”

Ngồi đối diện cô trên bàn, tôi có thể thấy cô đúng thực mười chín tuổi. Đôi mắt cô sưng tấy mệt mỏi, và không ngờ điều đó lại nhắc tôi nhớ tới khuôn mặt đau buồn của mẹ. Tôi nghĩ rằng, đôi khi bạn có thể nhìn một người và biết rằng họ chứa đầy từ ngữ. Có thể lời lẽ bị giữ lại vì nỗi đau hay sự riêng tư, hoặc là một sự lừa gạt. Có thể là những lời lẽ sắc như dao đang chờ rút máu. Tôi cảm giác như mình vừa là trẻ con vừa là người lớn. Tôi muốn mẹ con tôi được ở một mình, nhưng vì lý do nào đó không thể giải thích được, tôi cũng muốn được gần cô.

“Chữ ‘ming’ trong từ Ai-ming nghĩa là gì?” tôi hỏi bằng tiếng Anh, vừa đá một thùng để nhấn mạnh. “Chữ ‘ming’ có nghĩa là hiểu, hay nghĩa là số phận?” Cả hai người họ nhìn tôi.

“Ăn phần gà của con đi,” mẹ nói.

Người con gái quan sát tôi, vẻ mặt hài lòng. Cô vẽ một hình trong không trung giữa chúng tôi, 明 – “nhật” và “nguyệt” kết hợp lại nghĩa là hiểu biết hoặc sáng suốt. Đó là một từ thông dụng.

“Cha mẹ cô đặt tên theo nghĩa của từ aì-míng,” cô nói. “Nghĩa là ‘tôn vinh sự thông thái’. Nhưng cháu nói đúng, tiếng đó cũng chứa đựng hồ nghi. Nghĩa là… ừm, không phải là tôn vinh số phận đâu, mà là chấp nhận số phận.” Cô lại nhấc bát lên rồi thọc đầu đũa vào phần cơm mềm.

Mẹ hỏi xem cô có cần gì hoặc cô có muốn làm gì không.

Ai-ming đặt bát xuống. “Nói thật với chị, em có cảm tưởng như đã lâu lắm rồi không có lấy một giấc ngủ ngon. Em không thể nào nghỉ ngơi ở Toronto. Cứ mỗi vài tuần em lại di chuyển.” “Chuyển nhà à?” Mẹ hỏi.

Ai-ming run rẩy. “Em đã nghĩ là… em sợ cảnh sát. Em sợ họ sẽ gửi em về nước. Em không biết liệu mẹ em đã kể với chị hết mọi chuyện chưa. Em hi vọng vậy. Ở Bắc Kinh, em không làm gì sai cả, không phạm tội gì cả, nhưng kể cả thế… Dì và chú em giúp em rời khỏi Trung Quốc, em đi xuyên qua biên giới sang Kyrgyzstan và sau đó… chị mua vé cho em tới đây.

Bất chấp tất cả mọi điều, chị đã giúp em… Em rất biết ơn, em e là mình sẽ không bao giờ cảm ơn chị cho đủ. Em xin lỗi về mọi thứ…”

Trông mẹ ngượng ngùng. “Đây,” bà nói. “Ăn gì đi.”

Nhưng một thay đổi xuất hiện nơi Ai-ming. Hai tay cô run rẩy dữ dội đến nỗi không thể cầm đũa. “Mỗi ngày em nghĩ đi nghĩ lại về mọi chuyện nhưng em không thể hiểu nổi làm thế nào mình lại đến đây. Giống như em là một kẻ trốn chạy vậy. Ở nhà, mẹ em đang vật lộn. Em sợ giấc ngủ… đôi khi em mơ rằng tất cả những chuyện này không thật sự diễn ra, nhưng rồi việc thức dậy trở thành cơn ác mộng. Nếu mà em ở bên mẹ, giá mà cha em còn sống, giá mà ông đã không… nhưng điều quan trọng nhất là em phải khiến mình trở thành một điều gì đó, bởi vì ngay lúc này đây, em không có gì hết. Em còn không có cả hộ chiếu nữa. Em sợ dùng cuốn hộ chiếu em có lúc trước, bởi vì cuốn hộ chiếu đó là… bất hợp pháp. Cuốn hộ chiếu đó không phải của em, nhưng em không có lựa chọn nào khác. Em nghe nói là nếu có thể xuyên biên giới sang Mỹ thì ở đó có lệnh ân xá cho sinh viên Trung Quốc và em có thể đủ tiêu chuẩn. Kể cả nếu không có gì chăng nữa thì em cũng sẽ trả lại chị mọi thứ, em thề đấy. Em hứa mà.”

Zhí nǔ,” mẹ nghiêng người về phía cô và nói. Từ ấy khiến tôi lúng túng. Từ ấy có nghĩa “con gái của anh tôi”, nhưng mẹ không có anh em trai nào cả.

“Em muốn chăm sóc họ nhưng mọi thứ thay đổi nhanh quá. Mọi thứ đi sai hết cả.”

“Em không cần biện giải cho mình ở đây,” mẹ nói. “Chúng ta là gia đình, và đó không chỉ là lời nói đâu, em hiểu không? Nó có nghĩa hơn lời nói nhiều.”

“Và nữa,” Ai-ming nói, trở nên xanh xao, “em thật lòng chia buồn với sự mất mát của chị.”

Mẹ tôi và Ai-ming nhìn nhau. “Cảm ơn em,” mẹ nói. Những giọt nước mắt bất thần nơi mắt bà khiến mọi thứ trong tôi bất động. Bất chấp tất cả những gì chúng tôi đã trải qua, mẹ hiếm khi khóc. “Chị cũng chia buồn với sự mất mát của em. Chồng chị rất yêu thương cha em.”

Vào ngày thứ Bảy đầu tiên mẹ không phải đi làm, bà xuống phố rồi về nhà với tất, áo len, một đôi giày đi mùa đông cùng một áo khoác. Hồi đầu, Ai-ming ngủ rất nhiều. Cô thường xuất hiện từ phòng ngủ của mẹ với mái tóc rối, khi đang mặc đôi quần tất của tôi cùng chiếc áo phông cũ của mẹ. Ai-ming sợ đi ra ngoài, vì thế đã mấy tuần trôi qua trước khi cô đi đôi giày mới. Tuy nhiên cô mặc chiếc áo khoác hàng ngày. Vào các buổi chiều, cô đọc sách nhiều lắm, cô ngồi bên bàn ăn với một đống sách của cha tôi. Cô để hai tay trong túi áo khoác khi đọc và dùng một con dao phay để giữ sách thẳng ra. Đôi khi tóc cô trượt về phía trước che mất ánh sáng, khi ấy cô sẽ cuộn tóc lên rồi nhét búi tóc vào trong cổ áo len.

Một đêm, sau khi ở với chúng tôi chừng một tuần, cô bảo mẹ cắt tóc cho. Tôi nhớ là lúc ấy vừa sau Giáng sinh. Vì không phải đến trường nên tôi dành phần lớn thời gian ăn sô-cô-la Turtles trước truyền hình. Mẹ yêu cầu tôi qua giúp xịt nước từ bình nhựa vào tóc của Ai-ming nhưng tôi từ chối, nói là không nên cắt tóc vị khách của chúng tôi.

Hai người phụ nữ cười lớn. Ai-ming nói rằng cô muốn có vẻ ngoài hiện đại. Họ đi vào bếp rồi đặt các tấm giấy báo xuống, Ai-ming cởi áo khoác ra, trèo lên ngồi trên chiếc ghế đẩu kê chân để mái tóc dài của cô buông xõa tự do tiện đường cho mấy cây kéo của mẹ. Tôi đang xem một tập phim “The A-Team” nhưng tiếng kéo lách cách và tiếng họ cười khúc khích khiến tôi không thể tập trung được. Đến đoạn quảng cáo đầu tiên, tôi vào bếp xem họ làm đến đâu rồi.

Hai tay Ai-ming chắp lại như thể đang cầu nguyện, cô đảo mắt về phía tôi. Mẹ đã cắt một phần ba mái tóc của cô, phần đuôi tóc ướt nằm dài trên sàn như những sinh vật biển bị tàn sát. “Ôi,” tôi nói, “sao mẹ cắt thế này?”

Mẹ giơ vũ khí của mình lên. “Con là người tiếp theo đấy, Nữ.”

“Ma-li à, gần năm mới rồi. Đây là lúc cắt tóc.” Ai-ming khó phát âm cái tên Marie, vì vậy cô đã chọn một biến thể tiếng Trung, từ này trong từ điển có nghĩa là “khoáng chất hấp dẫn”.

Ngay lúc đó, mẹ cắt một đám tóc khá lớn nữa. Đám tóc lượn bay xuống sàn, như thể vẫn còn đang thở.

“Đây là năm mới ở Canada. Người Canada không cắt tóc vào năm mới. Họ uống rượu sâm-banh.”

Mỗi lần mẹ kéo cò chai nước nhựa, một làn hơi nước bao phủ Ai-ming, cô nhắm chặt mắt chống lại cái lạnh. Tôi quan sát Ai-ming biến đổi ngay trước mắt tôi. Ngay đến làn da tái của cô cũng bắt đầu có vẻ bớt tệ. Khi đã cắt tóc đến ngang vai, mẹ bắt đầu tạo dáng cho những lọn tóc nằm ngang qua trán Ai-ming theo phong cách sang chảnh rõ ràng. Cô rất, rất xinh đẹp. Đôi mắt sẫm màu trong veo, khuôn miệng như nụ hồng trên làn da của cô – giống như các nhà thơ vẫn tả. Gò má Ai-ming ửng hồng, sắc độ này chưa từng thấy chỉ một giờ trước, màu hồng càng ngày càng đậm mỗi lần mẹ nhìn cô chăm chú một lúc lâu nhằm đánh giá tác phẩm thủ công của mình. Họ quên hết về tôi.

Tôi quay lại căn phòng kia, danh sách những người làm phim “The A-Team” đang chạy. Tôi ngồi sụp xuống đi-văng, kéo gối lên đến ngực. Gần như ở cửa sổ nào đèn trang trí cũng đang tỏa sáng, chỉ mỗi cửa sổ nhà chúng tôi là không, và tôi có cảm giác rằng căn hộ của chúng tôi nằm dưới sự giám sát của một đám người ngoài hành tinh trong vật thể bay của họ, họ không chắc là liệu nên đỗ xuống Vancouver hay là bay đi nơi khác. Những người ngoài hành tinh đó đang hỏi lẫn nhau: Họ có sô-đa không nhỉ? Họ ăn đồ gì vậy? Có lẽ chúng ta nên chờ rồi quay lại vào mùa xuân nhỉ? Đỗ xuống đi, tôi bảo họ. Người ta không có cấu tạo để trôi nổi được trong không gian. Trừ khi chúng ta biết trọng lượng cơ thể mình và cảm nhận được trọng lực, nếu không chúng ta sẽ quên mất mình là gì, và sẽ để mất mình mà thậm chí còn không để ý.

Ai-ming đang đọc một trong những cuốn thơ song ngữ của cha tôi. Giờ tôi cầm cuốn sách lên, cuốn sách thân thuộc với tôi vì tôi đã dùng sách cho các bài học thư pháp. Tôi giở sách cho tới khi thấy một bài thơ mà tôi biết, bài thơ có các từ mà cha tôi gạch chân,

Ngắm từng chút một màn đêm quay đầu.

Tiếng dội trong nhà; muốn đi lên mà không dám.

Ánh sáng rực rỡ sau tấm mành; mong đi qua mà không thể.

Đau đớn lắm khi thấy chú chim nhạn trên trâm cài tóc của em.

Tôi thật xấu hổ khi thấy phượng hoàng trong gương của em.

Tôi trở về Hoành Đường lúc bình minh

Mờ dần đi như ánh sáng trên yên ngựa nạm ngọc.

Tôi đọc bài thơ hai lần rồi đóng sách lại. Tôi hi vọng rằng ở kiếp sau nơi cha tôi chuyển sinh, ông cũng đang đón Giáng sinh và năm mới, nhưng tôi sợ rằng ông đang cô đơn, và giống như Ai-ming, ông chưa tìm được một gia đình để bảo bọc ông. Bất chấp sự giận dữ của tôi đối với ông và nỗi đau không rời xa mình, tôi không thể hất bỏ lòng khao khát cho ông được hạnh phúc.

Đương nhiên không thể tránh khỏi việc Ai-ming khám phá ra những chiếc thùng dưới bàn. Vào tháng Một, tôi về nhà sau buổi học và thấy giấy tờ của cha bị mở ra hết, Ai-ming không di chuyển đám thùng mà đẩy bàn ăn về phía sau. Một thùng hoàn toàn trống rỗng. Các cuốn nhật ký của cha trải khắp bàn, khiến tôi nghĩ đến một phiên chợ trời nghèo nàn ở Vancouver. Tệ hơn nữa là Ai-ming có thể đọc được tất cả những ký tự mà tôi, đứa con gái duy nhất của ông, không thể đọc nổi một dòng.

Cô đang làm xà-lách cải bắp, cô đã mài quá nhiều cải ngựa đến nỗi tôi tự hỏi liệu từ xà-lách cải bắp có thực là cái tên phù hợp.

Tôi bảo rằng tôi không biết liệu bụng mình có thể tiêu hóa từng đó cải ngựa hay không.

Cô gật đầu bâng quơ và quăng đám cải bắp vào, đảo mạnh tay. Các nguyên liệu bay lên không trung rồi rơi xuống một chiếc bát. Ai-ming đang đeo chiếc tạp dề đề chữ “Canada: Thế Giới Hàng Xóm” của mẹ, chiếc áo khoác đông của cô nằm bên dưới.

Cô đi về bàn. “Có lần, hồi cô còn rất nhỏ, cô đã gặp cha cháu.”

Tôi đứng nguyên tại chỗ. Ai-ming và tôi chưa từng nói về cha. Việc cô biết cha tôi và chưa từng nhắc chuyện đó với tôi khiến tôi tràn ngập một nỗi thất vọng quá mãnh liệt đến khó thở.

“Chiều nay,” cô nói, “cô bắt đầu xem những thứ trong thùng. Đó là những món đồ của cha cháu đúng không?

Dĩ nhiên là cô biết mình nên xin phép trước, nhưng có bao nhiêu là sổ sách.”

Tôi đáp mà không nhìn cô. “Cha cháu chuyển đến Canada vào năm 1979. Đó là mười hai năm ghi chép. Cả cuộc đời ông. Ông hầu như không để lại gì cho mẹ con cháu cả.”

“Cô gọi những thứ này là phòng zá jì,” cô nói. “Nơi chứa những thứ không phù hợp. Những mẩu nhỏ thứ này thứ kia…”

Để nguôi cơn run rẩy bắt đầu từ ngực và giờ đang tỏa xuống tứ chi, tôi lặp đi lặp lại trong đầu từ mà Ai-ming đã dùng, từ đó tôi chưa từng nghe trước đây: zá jì.

“Cháu hiểu đúng không?” Cô nói. “Những thứ chúng ta chưa bao giờ nói ra sẽ kết thúc ở đây, nằm trong nhật ký và sổ sách, nằm tại những nơi riêng tư. Đến lúc chúng ta khám phá ra chúng thì đã quá trễ rồi.” Ai-ming đang giữ chặt một cuốn sổ. Tôi nhận ra nó tức thì: cuốn sổ dài nhưng mỏng có hình dạng như một cánh cửa nhỏ với dây buộc hờ bằng sợi cô-tông.

Đó là cuốn Những Bản Ghi.

“Thế cháu đã thấy cuốn sổ này chưa?” Khi thấy tôi vẫn không trả lời, cô mỉm cười buồn bã với tôi. “Đây là chữ viết tay của cha cô. Cháu thấy không? Chữ của ông ấy trông quá nghệ thuật và được viết ra quá dễ dàng. Ông luôn viết rất cẩn thận, kể cả nếu đó là một chữ dễ viết. Bản tính của ông là để ý đến từng chi tiết.”

Cô mở cuốn sổ. Những từ ngữ dường như nổi trên mặt giấy và chuyển động theo ý chúng. Tôi lui lại. Cô không cần chỉ cho tôi xem, tôi biết cuốn sổ trông thế nào.

“Cô có zá ji của chính mình,” cô nói tiếp. “Nhưng giờ nó ở khắp nơi và cô không biết làm sao để chứa nó. Cháu có biết vì sao chúng ta giữ ghi chép không Ma-li? Hẳn phải có lý do, nhưng giữ những thứ không đáng kể này thì ích gì chứ? Cha cô từng là một nhà soạn nhạc tài ba, một nhạc công tuyệt vời, nhưng ông đã từ bỏ tài năng ấy để có thể bảo vệ cô. Ông là con người ngay thẳng và trung thực, thậm chí cha cháu cũng muốn giữ một phần của ông ấy. Thậm chí cha cháu cũng yêu thương ông ấy. Nhưng họ đã để ông chết. Họ đã giết ông như thể ông là một con vật. Làm thế nào có ai đó có thể giải thích những điều này cho cô chứ? Nếu cha cô vẫn còn sống, cô đã không ở đây. Cô đã không phải ở một mình. Còn cha cháu, cha cháu sẽ không cần… Ôi Ma-li, cô xin lỗi. Cô rất xin lỗi.”

Ai-ming làm một điều mà tôi chưa từng thấy cô làm kể từ khi đến đây hơn một tháng trước. Cô không chỉ khóc, cô mất tự chủ đến nỗi không quay đi hay che mặt lại. Âm thanh đó khiến tôi rối loạn quá đỗi, tiếng khóc ai oán nho nhỏ ấy phá vỡ mọi thứ. Tôi nghĩ cô đang nói, “Hãy giúp tôi, hãy giúp tôi.” Tôi sợ rằng nếu tôi động vào cô, nỗi đau đớn nơi cô sẽ phình lên trong tôi và vĩnh viễn trở thành nỗi đau của chính tôi. Tôi không thể chịu đựng được. Tôi quay người khỏi cô. Tôi vào phòng mình và đóng cửa lại.

Căn phòng cảm giác rất nhỏ. Tôi thì thầm với chính mình, gia đình là chiếc hộp quý giá không thể mở ra đóng lại tùy ý chỉ bởi vì mẹ nói vậy. Bức ảnh cha trên tủ áo khiến tôi đau đớn quá đỗi. Không, không phải do bức ảnh của cha, mà là cảm giác nó gây ra, thứ cảm xúc tức tối này đã biến tất cả mọi thứ, kể cả tình yêu tôi dành cho mẹ và Ai-ming, trở nên cay đắng. Tôi muốn ném bức ảnh xuống sàn nhưng lại sợ rằng hình ảnh là thực, bức ảnh thực sự chứa đựng cha tôi, và nếu tôi làm hỏng nó thì ông sẽ không bao giờ có thể về nhà. Mưa bên ngoài nện vào dòng suy nghĩ của tôi. Dưới lớp kính cửa sổ, nước mưa thay đổi và trượt xuống, và tất cả những lạch nước nhỏ ấy trở thành những dòng lớn nhỏ, tụ lại và run rẩy, chúng bắt đầu khiến tôi khó nghĩ và thôi miên tôi. Phải chăng tôi cũng nhỏ nhoi như vậy? Liệu tôi có bao giờ thay đổi được gì không? Bỗng nhiên tôi nhớ mùi của cha, mùi đó ngọt ngào như lá non hoặc như cỏ mới cắt, đó là mùi hương xà phòng cha dùng. Giọng ông vang lên với cú pháp nghiêm trang kỳ cục, “Con gái muốn nói gì với cha nào? Vì sao con khóc?” Giọng ông không giống bất cứ giọng người sống nào.

Dù không mong muốn, tôi nhớ lại mình nghe lỏm mẹ nói rằng khi cha được tìm thấy, ông ấy hầu như không có đồ đạc gì cả. Mẹ lúc ấy đang nói chuyện trên điện thoại trong một cú gọi đường dài với một người bạn ở Hồng Kông. Bà nói rằng chiếc va-li đầy ắp khi ông rời đi giờ trống rỗng. Cha đã từ bỏ mọi thứ, bao gồm cả chiếc nhẫn cưới, máy chơi đĩa CD cầm tay hiệu Sony và nhạc của mình. Thậm chí ông còn không mang một tấm ảnh nào của chúng tôi. Mẩu giấy nhắn duy nhất ông để lại không phải là lời từ biệt. Mẩu giấy chỉ nói rằng ông có những khoản nợ không thể trả được, những thất bại ông không thể sống cùng, và rằng ông mong được chôn ở Hồng Kông nơi biên giới Trung Quốc. Ông nói rằng ông yêu chúng tôi.

Mỗi năm một lần, cha thường đưa chúng tôi đi nghe nhạc giao hưởng. Chẳng bao giờ chúng tôi có ghế tốt cả nhưng cha nói điều đó không thành vấn đề, quan trọng là được ở đó, là có mặt trong phòng khi bản nhạc, cho dù già cỗi đến mấy, được hồi sinh. Cha thường bảo rằng cuộc sống tràn đầy những trở ngại, và không ai có thể chắc chắn rằng ngày mai hay năm tới, mọi thứ sẽ vẫn y nguyên như vậy. Ông kể rằng khi ông còn là một cậu bé, người cha nuôi của cha, vị Giáo sư, đã đi cùng ông tới một buổi hòa nhạc ở Thượng Hải, và trải nghiệm đó đã mãi mãi thay đổi ông. Bên trong ông, những bức tường mà ông chưa từng biết đến sự tồn tại của chúng đột nhiên để lộ chính mình. “Cha biết là mình được số mệnh sắp đặt cho một cuộc đời kiểu khác,” ông nói. Một khi nhận thức được những bức tường này, tất cả những gì ông nghĩ được là làm sao để kéo ngã chúng.

“Những bức tường nào ạ?” Tôi hỏi.

Mìng,” ông nói. “Nghĩa là số phận.” Chỉ sau này khi tôi tra từ này một lần nữa, tôi mới biết rằng mìng có nghĩa là số phận, nhưng cũng có nghĩa là cuộc sống.

Tiếng gõ cửa đưa tôi về hiện tại với mưa, với căn phòng và với bản thân tôi.


[1] Thủ phủ tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc – ND.

[2] Nghĩa là ngày 4 tháng Năm – ND.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Trích đăng

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Published

on

By

Trích từ: Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo
Tác giả: Lee Ji-sung
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2020

-  Vì sao Khoa Y Đại học Harvard bãi bỏ việc giảng dạy truyền thống?
-  Vì sao tập đoàn tài chính Goldman Sachs sa thải 598 nhân viên tài giỏi nhất?
-  Lý do Google và NASA thành lập Đại học Singularity?
-  Lý do IBM tuyển chọn nhân viên có trải nghiệm văn hóa nhân loại học?

Từ năm 2030 đến cuối thế kỷ 21, hàng tỷ người trên thế giới sẽ bị Trí thông minh nhân tạo (AI) “cướp” công ăn việc làm. Những ngành nghề lâu nay được xã hội kính trọng và đánh giá cao như nghề bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, nhân viên văn phòng... sẽ là những nạn nhân đầu tiên.

Lúc đó, thế giới lao dộng sẽ gồm một nhóm nhỏ những người điều khiển AI và số còn lại sẽ bị AI điều khiển với tên gọi “vô sản bấp bênh”. Vũ khí nào giúp bạn làm chủ Trí thông minh nhân tạo? Bí mật nằm ở những năng lực chỉ riêng con người mới có.

Chúng là gì? Làm sao đánh thức và phát triển vượt bậc những năng lực đó thông qua giáo dục và tự đào tạo? Cuốn sách này là cẩm nang không thể thiếu nếu bạn muốn LÀM-CHỦ-TRÍ-THÔNG-MINH-NHÂN-TẠO.

Eight - Lee Ji-sung

*

Xin hỏi quý vị

Hiện nay các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Google, IBM đang ra sức đào tạo nhân tài làm chủ AI theo phương pháp “EIGHT”. Còn quý vị? Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng trên boong một con tàu đang bốc cháy dữ dội. Độ cao từ boong tàu tới mực nước biển là 50 mét, tương ứng với độ cao tầng 17 chung cư, nước biển phía dưới thì tối đen, lạnh lẽo, chuyển động dữ dội.

Quý vị sẽ làm gì?

Chạy lòng vòng trên boong tàu bốc cháy, bị lửa táp vào người rồi tử nạn? Hay can đảm nhảy từ boong tàu xuống biển?

Có lẽ quý vị sẽ trả lời thế này.

“Nếu là tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển. Tôi sẽ không mắc sai lầm ngu ngốc vì sợ biển mà ở lại boong tàu đâu.”

Tháng 7 năm 1988, Andy Mochan có mặt trên boong tàu khoan dầu xảy ra tai nạn cháy nổ. Từ nơi ban đầu xảy ra vụ nổ, lửa nhanh chóng lan ra toàn bộ con tàu. Trên boong, lửa và khói đen cũng bắt đầu bốc lên. Không chần chừ, Andy Mochan lao xuống biển Bắc, nơi có những ngọn sóng lạnh lẽo. Việc nhảy từ độ cao tương ứng với tầng 17 của chung cư xuống biển chẳng khác gì đánh cược tính mạng, nhưng Mochan cho rằng so với việc tiếp tục ở lại trên boong tàu đang bốc cháy thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. May thay anh ấy đã sống, được cứu hộ không lâu sau khi nhảy xuống biển.

Chuyện vẫn chưa hết. Trên boong con tàu khoan dầu không ngừng bốc cháy còn có hơn 168 người khác. Tuy nhiên, họ cứ chạy tứ tán trên boong đến giây phút cuối cùng của cuộc đời một cách đầy tiếc nuối.

Tôi xin hỏi lại.

Nếu có mặt trên boong tàu đang bốc cháy đó, quý vị sẽ hành động như thế nào? Đánh cược mạng sống, một mình nhảy xuống biển? Hay ở lại cùng với 168 con người kia?

Ngay lúc này đây, con tàu khổng lồ mang tên Đại Hàn Dân Quốc đang cháy và chìm dần xuống biển. Người dân chạy tứ tán trên boong tàu, thậm chí trên tàu đang xảy ra chuyện gì họ cũng không biết và cũng không buồn tìm hiểu.

Quý vị sẽ làm gì? Quý vị sẽ giống như những người làm ngơ không biết thế giới đã thay đổi như thế nào, để cuối cùng đón nhận cái kết đáng tiếc? Hay sẽ lao xuống biển là cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đại diện cho Trí thông minh nhân tạo?

Vì sao đến chết Steve Jobs vẫn không rời Trí thông minh nhân tạo?

Tôi cũng không nhớ rõ hôm ấy là khi nào. Hôm ấy, khi bước ra ngoài, tôi cảm thấy dường như xung quanh đã thay đổi. Tất cả mọi người đều cầm thứ gì đó bóng bẩy trên tay, nhưng lúc đó tôi không để tâm quan sát kỹ. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với Iphone. Và tôi bắt đầu tò mò về Steve Jobs.

Dĩ nhiên, tôi đã biết rõ về Jobs từ lâu. Tôi từng bị thu hút bởi câu nói của Jobs “Nếu được dùng bữa trưa cùng với Socrates, tôi sẽ kể cho ông ấy nghe hết mọi công nghệ mà Apple có được”. Tôi không ngừng đọc, suy ngẫm và hiểu ra câu nói trên chỉ là lối diễn đạt theo phong cách riêng của Jobs cho cái gọi là “Phương pháp kinh doanh kiểu Socrates” mà các đại diện tiêu biểu là Peter Drucker của Mỹ và Charles Handy của châu Âu. Ngoài ra, tôi cũng biết thêm rằng bảng phả hệ trong ngành Kinh doanh hiện đại được nối tiếp theo thứ tự “các triết gia trước Socrates ®Socrates®Platon®Aristole®Vua Alexander®trường Cao học Luật Harvard®trường Cao học Kinh doanh Harvard®George Marshall®Peter Drucker, Charles Handy”. Ở đây tôi cũng tìm ra lời đáp cho câu hỏi “Làm sao ứng dụng phương pháp đối thoại của Socrates vào kinh doanh?”. Tôi đã mang tất cả sự thật cùng với câu trả lời tìm được vào bản thảo đang viết dở. Về sau, bản thảo đó được xuất bản thành sách với tựa đề Hãy lãnh đạo bằng cách đọc.

Trở lại câu chuyện về Iphone. Sau khi nhìn thấy Iphone, đúng hơn là nhìn thấy những người tôn thờ Jobs như giáo chủ và nâng niu chiếc Iphone như một quyển kinh thánh, tôi thật sự tò mò về Jobs. Tò mò mọi thứ về ông ấy, như suy nghĩ, triết lý, cảm xúc... Tôi đến hiệu sách mua tất cả các sách liên quan đến Jobs và Apple. Tôi còn đến ba thư viện mượn tất cả sách về Jobs và Apple. Nhưng tôi không mua Iphone. Lee Kun Hee – nhà sáng lập và đưa Samsung từ một doanh nghiệp hạng 3 trở thành tập đoàn Samsung hùng mạnh của hiện tại – từng nói thế này:

“Nếu quý vị đi xe buýt mà không biết nó được chế tạo như thế nào thì đó không phải là quý vị đi xe buýt mà là bị chất lên xe.”

Tôi muốn biết suy nghĩ, triết lý và cảm giác của người đã tạo ra chiếc Iphone, rồi sau đó sở hữu nó cũng không muộn.

Tôi của thời điểm đó là người như vậy. Một người vô cùng kiểu cách trong tất cả mọi việc, một người luôn luôn đập vỡ một phần chiếc cầu, và sau khi xác nhận được nó là cầu đá thì mới đi qua. Dĩ nhiên tôi của hiện tại đã khác sau khi sinh được hai đứa con. Tôi cố gắng sống như một dòng nước chảy.

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Hãy lãnh đạo bằng cách đọc được xuất bản vào tháng 11 năm 2010 và tái bản năm 2016, dài 432 trang. Vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân văn học” ở Hàn Quốc đã được giới học thuật sử dụng. Nhưng tất cả mọi người đều thốt lên: “Một quyển sách dài 368 trang với chủ đề ‘phải nhân văn’ ư? Thật là điên rồ”. Họ đều tin rằng sách của tôi sẽ thất bại. Thế nhưng thật bất ngờ, ngay lần xuất bản đầu tiên nó đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất với số lượng bản in cực lớn. Mượn lời diễn đạt của truyền thông lúc đó (chính miệng tôi nói thì đâm ra gượng gạo): quyển sách này đã thắp lên ngọn đuốc dẫn đường cho nhân văn học ở Hàn Quốc.

Khoảng bốn tháng sau khi quyển sách được xuất bản, tháng 3 năm 2011, ngọn đuốc ấy được châm thêm dầu. Tại sân khấu công bố Ipad 2, Steve Jobs tuyên bố: “Apple sinh ra từ điểm giao thoa giữa nhân văn học với khoa học và công nghệ.” Ngay lập tức, tuyên bố này gây xôn xao trong giới doanh nghiệp. Họ rỉ tai nhau rằng, “Yếu tố dẫn tới thành công của Jobs là nhân văn học”, “Bây giờ chúng ta phải theo nhân văn học thôi”. Con đường phát triển của doanh nghiệp hướng đến giới học thuật, các học giả nhạy bén bắt đầu sản xuất ra các bài giảng nhân văn học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trường đại học, Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội... đều thay đổi theo sự thay đổi của doanh nghiệp, cuối cùng cả nước bắt đầu nhộn nhịp theo đuổi nhân văn học.

Bản thân tôi cũng rơi vào vòng xoáy của trào lưu đó. Tới lúc định thần lại, tôi phát hiện mình đang đứng lớp giảng về nhân văn học trước các nhà tài phiệt, CEO và chính trị gia. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy bất an. Chẳng phải tôi đã từng gánh món nợ bảo lãnh 2 tỷ won và sống trong căn phòng gác mái vốn là kho chứa đồ nhưng được sửa chữa trái phép sao? Lúc đó, tôi đã cầu nguyện rất nhiều để xin Chúa cứu giúp. Chỉ cần Chúa cho tôi thành công trong mảng viết lách thì tôi sẽ dành cả đời, cho đến chết, để sống vì những người gặp khó khăn như tôi lúc này.

Tôi rất thích được mời đến nơi nào đó sang trọng nhưng cũng rất đắn đo khi nghĩ đến lời cầu xin với Chúa lúc còn là một tác giả vô danh. Cũng may là sự rối rắm đó của tôi kéo dài không lâu. Một ngày nọ, tôi đoạn tuyệt mối quan hệ với xã hội thượng lưu. Dĩ nhiên, hiện tại tôi đã kết nối lại với một số người, nhưng nếu nghĩ lại tôi cũng không hiểu rốt cuộc tại sao mình lại đột ngột đưa ra phán quyết và hành động như thế.

Từ lúc đó, cùng với các thành viên trong hội Polle Polle (Fan Café), tôi bắt đầu công việc phổ cập giáo dục nhân văn học ở trung tâm thiếu nhi địa phương trong nước, giúp đỡ trẻ em nghèo cùng những người thoát ly khỏi Triều Tiên. Bên cạnh đó, tôi cũng bắt tay vào việc xây dựng trường học ở những nơi nghèo khó bên ngoài Hàn Quốc.

Tôi đặc biệt say mê dự án làng tị nạn ở nước ngoài. Từ Đông Nam Á, Ấn Độ qua Pakistan, Nga, Nam Mỹ đến những trại tị nạn ở Trung Đông, châu Phi và Syria đều thiếu trường học nên chúng tôi trực tiếp đến thăm và lưu lại khá lâu ở những nơi đó.

Cùng sinh hoạt với những người dân vốn khác nhau về ngôn ngữ, một ngày nọ tôi bắt đầu đọc sách và suy ngẫm.

Cả ngày ở một làng tị nạn tràn lan người bệnh vô gia cư và người ăn xin như Kolkata (Ấn Độ), tôi vừa đọc Kant vừa suy ngẫm về vấn đề “Làm triết học là gì?”.

Ở ngôi làng của tộc người Maasai châu Phi, nơi có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, không có điện cũng không có nước, tôi đọc Tham luận triết học luân lý của Ludwig Josef Johann Wittgenstein và nghĩ về “điều không thể nói”.

Khi qua đêm trong công-ten-nơ ở trại tị nạn Jordan Syria, nơi có đầy bom của IS, tôi đọc Tân Ước và suy ngẫm về ý nghĩa của hoang mạc mà Thánh Gioan Baotixita và Chúa Jesus từng trú ngụ. Ban ngày, tôi đã quan sát nơi này khi ngồi trên ô tô.

Chuyện xảy ra khi tôi hoạt động tình nguyện ở Tondo, Philippine, một trong ba thành phố nghèo nhất trên thế giới. Sau khi kết thúc lịch trình một ngày làm việc, tôi đi vào thành phố và ghé qua hiệu sách. Khắp nơi trong hiệu sách đều trưng bày quyển Steve Jobs (bản tiếng Anh) của Walter Isaacson, cuốn tiểu sử duy nhất được Steve Jobs công nhận. Tôi lật qua vài trang rồi rời khỏi hiệu sách trở về Tondo. Tuy nhiên, kỳ lạ là gương mặt của Steve Jobs được in lớn trên bìa sách cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đã bối rối trong chốc lát, nhưng ngay lập tức đưa ra quyết định:

“Tốt thôi! Mình sẽ chỉ nghĩ về Jobs cho đến khi ông ấy không còn xuất hiện trong tâm trí bất bình thường này nữa!”

Tôi bắt đầu cuộc chạm trán lạ lùng với Jobs. Khi đó bất chợt trong đầu tôi nảy ra câu hỏi.

“Mọi người đang nói về Jobs và nhân văn học, vậy nhân văn học mà Jobs nhắc đến là gì? Nhân văn học vốn dĩ được chia thành triết học – lịch sử – văn chương, trong đó riêng triết học đã bao gồm Triết học phương Tây, Triết học phương Đông, Triết học Ấn Độ,... Triết học phương Tây lại gồm Triết học cổ đại, Triết học trung đại, Triết học cận đại... Đâu chỉ có thế. Riêng Triết học cổ đại phương Tây thôi đã có nhiều triết gia rồi. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là triết học, lịch sử, văn chương của những ai, ở thời đại nào? Liệu có phải Socrates từng được nhắc tới ở đầu chương sách này? Không. Lúc đó Jobs có nói là ông dựa trên phương pháp kinh doanh của bản thân. Nhân văn học kết hợp với khoa học công nghệ của Apple có lẽ bắt nguồn cội rễ từ Socrates nhưng đó không phải là Socrates. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là gì?”

Vài ngày sau tôi trở về Hàn Quốc. Để có được lời đáp cho câu hỏi này, tôi đã tìm kiếm gần như tất cả các sách và bài giảng ở Hàn Quốc có nhắc tới Jobs, Apple và nhân văn học. Tôi còn gặp gỡ các học giả và chuyên gia ngành nhân văn có tiếng để thăm hỏi. Nhưng dù ở đâu, với ai, tôi cũng không tìm được câu trả lời. Tất cả đều hỏi tại sao tôi lại thắc mắc điều đó. Do vậy, tôi nghiên cứu về Jobs lại từ đầu. Tôi đọc và nghiền ngẫm lại toàn bộ các sách liên quan đến Jobs và Apple, chụp màn hình lưu lại các bài báo trong nước nói về Jobs. Những video nói về Jobs hay có Jobs xuất hiện tôi cũng tua đi tua lại để xem. Ví dụ như chương trình “Steve Jobs: Cuộc phỏng vấn bị đánh mất”, tôi tự tay bê toàn bộ phụ đề lưu vào laptop, đọc đi đọc lại hơn mười lần, hay mẩu quảng cáo “Think Different” huyền thoại của Apple phản ánh triết lý của Jobs tôi cũng xem đi xem lại hơn ba mươi lần.

Và cuối cùng tôi biết được sự thật: Nhân văn học của Jobs là triết học công cụ xuất hiện trong cuốn Tồn tại và Thời gian của triết gia Martin Heidegger; sự kết hợp giữa nhân văn học và khoa học công nghệ có nghĩa là tác nghiệp của Mark Weiser, người đứng đầu PARC (Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto); “Simple” (mẫu) là triết lý thiết kế của Trường dạy nghệ thuật Bauhaus ở Đức và triết lý thiết kế kiến trúc Mỹ được phát triển và kế thừa từ Louis Henry Sullivan ® Frank Lloyd Wright ® Joseph Eichler. Sau này, tôi nói rõ hơn về những điều này trong quyển Nhân văn học trong tôi.

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời. Nhiều người trên thế giới tiếc thương cho sự ra đi của Jobs. Làn sóng này cũng xảy ra ở Hàn Quốc. Bất chợt, tôi tò mò về sự ra đi của ông.

“Jobs đã làm gì trước khi chết? Lẽ nào ông lại không đóng góp một khoản tiền khổng lồ cho nơi nào đó, như bệnh viện ung bướu chẳng hạn? Và hẳn là ông đã dành trọn khoảng thời gian quý báu cuối cùng bên những người thân yêu?”

Khác với phỏng đoán của tôi, Jobs vẫn miệt mài nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo.

Năm 2003, Cơ quan Chỉ đạo Dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng Mỹ, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford (SRI International), xúc tiến dự án Trí thông minh nhân tạo CALO (Trợ lí nhận thức học và tổ chức) với mục đích nghiên cứu và phát triển Trí thông minh nhân tạo có khả năng học tập và suy luận đến có thể đối thoại với con người. Dự án huy động khoảng 300 chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo và được tiến hành trong 5 năm. Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford đã tách riêng một phần của dự án này và cho khởi nghiệp. Tháng 4 năm 2010, Jobs chi khoảng 2.260 tỷ won mua lại doanh nghiệp này. Jobs trực tiếp chỉ đạo dự án Trí thông minh nhân tạo Iphone, phát triển phần mềm Siri. Jobs qua đời sau hôm công bố Iphone 4S có tích hợp trợ lí nhận dạng giọng nói Siri.

Chính vì vậy, trong một năm rưỡi trước khi qua đời, Jobs bỏ ra một số tiền khổng lồ mua lại doanh nghiệp start-up về Trí thông minh nhân tạo, trực tiếp chỉ huy dự án Trí thông minh nhân tạo và ngừng thở vào hôm sau ngày dự án đó được hoàn thành. Nói đơn giản, Jobs đã dồn hết sức sống còn lại của mình cho Trí thông minh nhân tạo. Sẽ thế nào nếu Jobs không dồn hết tâm huyết vào Trí thông minh nhân tạo cho đến lúc cuối đời? Biết đâu ông ấy sẽ sống thêm được một thời gian. Không chừng bây giờ ông ấy vẫn còn sống.

Thông qua nhiều cách, tôi biết việc quan trọng nhất mà Jobs đã làm được trước khi chết, tôi bị sốc nặng, mặt nghệch ra. Tôi không hiểu “Jobs bị gì vậy?”, “rốt cuộc Trí thông minh nhân tạo là cái quái gì?”. Đương nhiên, từ năm 2004, tôi đã biết các doanh nghiệp IT lẫy lừng của Mỹ đều tập trung vào Trí thông minh nhân tạo, dựa vào câu nói của Bill Gates “Tôi sẽ dẹp hết mọi việc sang một bên và chạy ngay tới nếu nơi đó có thông tin liên quan đến Trí thông minh nhân tạo” trong quyển Buffett & Gates on Success (tạm dịch Buffett và Bill Gates nói về thành công) được dịch và xuất bản bằng tiếng Hàn. Thế nhưng, khi đó với tôi, Trí thông minh nhân tạo là thứ nằm giữa ranh giới của khoa học viễn tưởng và khoa học. Không, nó gần với khoa học viễn tưởng hơn. Tuy nhiên khi lần theo hành tung của Jobs trước khi mất, tôi nhận ra Trí thông minh nhân tạo hoàn toàn không phải là khoa học viễn tưởng. Từ lúc này tôi nghiêm túc đón nhận Trí thông minh nhân tạo, chính thức bắt đầu nghiên cứu về nó. Tháng 3 năm 2015, tôi mang một phần nội dung nghiên cứu được vào Nhân văn học trong tôi.

Không ai quan tâm

Nhân văn học trong tôi leo lên vị trí số 1 của thể loại sách tổng hợp bán chạy nhất sau khoảng 2 tháng xuất bản. Quỹ tin tức về Nhân văn học trong tôi mà tôi thực hiện cùng với Daum (trang thông tin điện tử) đạt hơn 100 triệu won và tạo ra một đề tài lớn. Trong thâm tâm, tôi đã kỳ vọng rằng “mối quan tâm về Trí thông minh nhân tạo sẽ bùng nổ ở Hàn Quốc ngay thôi”. Nhưng rốt cục, chỉ mình tôi đơn thương độc mã nghĩ như thế trên đất nước Kim Chi này. Thật đó, không ai quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo cả. Chán nản, tôi chọn cách quên nó đi.

Rồi một ngày nọ, theo tôi nhớ có thể là do AlphaGo, cả nước đã náo loạn. Tôi nhận được liên lạc từ nhà xuất bản. Họ bảo rằng một doanh nghiệp đề nghị tôi đến giảng cho họ về chủ đề “Trí thông minh nhân tạo và nhân văn học”. Thật thú vị. Và tôi đã đồng ý ngay.

Doanh nghiệp đó có khá nhiều nhân viên nên buổi thuyết giảng được chia thành hai lượt, sáng và chiều. Trong giờ ăn trưa hôm đó đã xảy ra một sự việc khiến tôi thay đổi ý nghĩ về Trí thông minh nhân tạo. Ngồi dùng cơm cùng Tổng giám đốc và ban lãnh đạo nhưng thật tình tôi không thể nuốt nổi cơm.

Lý do là vì sau lời mào đầu lê thê, ẩn ý sâu xa của ông Tổng: “Chắc nhà văn cũng quan sát thấy, công ty chúng tôi được nhiều người từ Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông và dĩ nhiên cả Mỹ và châu Âu thường xuyên lui tới. Thế nhưng, không biết từ bao giờ mọi người bắt đầu nói với nhau về Trí thông minh nhân tạo. Tôi tìm hiểu và biết rằng thế giới đang được tái cấu trúc, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm. Vì vậy, công ty chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo để nghe họ thuyết giảng. Nhưng tất cả đều chỉ trình bày đại loại như công nghệ Trí thông minh nhân tạo phát triển như thế này; trong tương lai do Trí thông minh nhân tạo mà thế giới sẽ thay đổi như thế này; Trí thông minh nhân tạo giống như SkyNet trong phim Kẻ hủy diệt, nó xuất hiện và biến nhân loại thành nô lệ của nó. Anh thử nghĩ xem, những chuyện đó liên quan gì đến chúng tôi? Việc quan trọng không phải là đưa ra đáp án cho câu hỏi “Chúng tôi cần chuẩn bị gì cho tương lai?” hay sao? Giờ đây chắc chắn sẽ sớm đến thời đại mà Trí thông minh nhân tạo vượt qua được con người. Vậy tóm lại lúc đó là khi nào, chúng tôi phải đào tạo, biến hóa bản thân như thế nào, nhân viên và con cái của nhân viên chúng tôi cũng phải học và chuẩn bị ra sao, họ phải cho chúng tôi biết những thứ đó chứ. May mắn là trong quyển Nhân văn học trong tôi của anh có thể hiện đôi chút nội dung như thế nên lần này chúng tôi đã mời anh. Cảm ơn nhà văn, dù bận rộn nhưng đã nhận lời đến đây”.

Từng thành viên ban lãnh đạo luân phiên đưa ra lời thắc mắc, người thì hỏi đứng trước thời đại Trí thông minh nhân tạo thì bản thân tôi phải chuẩn bị gì, người thì kể chi tiết con cái họ đang được cha mẹ chuẩn bị cho như thế nào và hỏi vậy định hướng và phương pháp của họ có đúng không, người khác lại hỏi tôi có thể cho họ lời khuyên không.

Tôi nhớ đó là bữa trưa khá mệt mỏi như cả ngày hôm đó, nhưng tôi nhận ra điều này:

“Ừ nhỉ, việc quan trọng là trả lời câu hỏi “Trong thời đại Trí thông minh nhân tạo thì tôi cần phải chuẩn bị gì?”. Đúng thế, việc cần thiết với tất cả mọi người chính là điều đó. Sau này mình phải nghiên cứu sâu hơn về nó.”

40.000 người đối đầu với 49.960.000 người

Buổi thuyết giảng ở doanh nghiệp đó có phải là bước ngoặt với tôi? Đột nhiên các lời đề nghị thuyết giảng về Trí thông minh nhân tạo bắt đầu ập tới xối xả. Ban đầu tôi từ chối “Ôi trời, tôi không phải là người nghiên cứu hay phát triển Trí thông minh nhân tạo gì cả, tôi chỉ là nhà văn thôi”. Trí thông minh nhân tạo không phải là chuyên môn của tôi nên tôi đã bối rối khi nhận được đề nghị thuyết giảng từ khắp cả nước chứ không phải một hai nơi.

Sự thực ở thời điểm đó tôi không hề có ý định sẽ viết quyển sách này. Bỗng một hôm khi đang đọc sách liên quan đến Trí thông minh nhân tạo ở thư viện, tôi vô tình biết được xã hội nhân loại tương lai sẽ chia thành “giai cấp ra chỉ thị cho Trí thông minh nhân tạo” và “giai cấp nhận chỉ thị của Trí thông minh nhân tạo”. Và cũng được biết chuyện các nước tiên tiến đã nỗ lực từ lâu để sản xuất ra nhiều nhất có thể các công dân phụ thuộc vào điện tử. Tôi đã sốc. Càng sốc hơn khi biết được sự thật tiếp theo. Hàn Quốc gần như không có người hiểu biết về lĩnh vực này. Truyền thông cũng không đả động đến.

Hỏng rồi. Tôi cảm thấy bất an, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ lặp lại lịch sử của thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc. Tôi bắt đầu tích lũy tài liệu để viết sách. Tôi gần như đã đọc hết các sách về Trí thông minh nhân tạo được xuất bản cũng như tất cả các tin tức liên quan mà truyền thông đã đăng. Bằng cách đó tôi đã thu thập tài liệu trong hơn một năm, và mất khoảng ba tháng để phân tích tài liệu.

Thế nhưng, thật khó để đặt bút viết. Trong suốt hai năm, tôi bận bịu với các bài giảng ở khắp nơi trên cả nước, đồng thời phải giải quyết nhiều công việc khác nên trong một tháng nhiều lắm chỉ viết được khoảng năm hay sáu lần. Tính bình quân mỗi lần giảng có khoảng 300 người nghe thì tất cả tôi đã giảng cho khoảng 40.000 người. Ngược lại, số người không được nghe giảng về Trí thông minh nhân tạo, số người được cho là không hề quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo chiếm khoảng 49.960.000 người.

Hơn nữa, môi trường chung của Hàn Quốc thì sao? Hãy nhìn vào nhóm 8 trường hàng đầu Gangnam gần như giữ vai trò dẫn đường cho giáo dục Hàn Quốc. Ngay lúc này, mọi người không thấp thỏm lo lắng là do giáo dục đã bớt chạy theo hướng nhồi nhét chăng? Tất cả các nước tiên tiến đều tuyên bố rằng trong tương lai chỉ số thông minh (IQ) của Trí thông minh nhân tạo sẽ vượt qua mức 10.000 nên kiểu giáo dục học thuộc lòng hoàn toàn không có ý nghĩa, họ đang nỗ lực để giúp trẻ em phát triển năng lực mà Trí thông minh nhân tạo tuyệt đối không thể có. Minh họa cho điều này, không khác gì việc súng đã được phát minh và tất cả mọi người đều trang bị súng, chỉ riêng chúng ta vẫn còn dạy cho trẻ con cách chế tạo mũi tên tốt hơn một chút. Hay chuyện con người đã phát minh ra điện và mọi người đang tạo ra nền văn minh từ điện nhưng chỉ mỗi chúng ta lại đang dạy cho trẻ con cách làm nến có thể cháy lâu hơn một chút.

Còn Chính phủ và Quốc hội thì sao? Trong khi các cơ quan nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước đang tranh nhau công bố các báo cáo về việc trong tương lai khoảng 10 năm tới thế giới sẽ thay đổi, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm, các nghề nghiệp mang tính chuyên môn và dĩ nhiên bao gồm cả nghề lao động đơn giản, thậm chí các công việc kỹ thuật sẽ bị thay thế bởi Trí thông minh nhân tạo thì ở Hàn Quốc, Chính phủ và Quốc hội lại không đưa ra được đối sách nào cả. Khoan nói tới chuyện ra đối sách thiết thực, ngay cả việc hướng dẫn người dân như Chính phủ và Quốc hội Nhật đã làm: “Khi xin việc hãy lựa chọn công việc mà về sau không bị Trí thông minh nhân tạo thay thế”, họ còn không thể làm được.

Thế còn vấn đề Triều Tiên? Không riêng Yuval Noah Harari, các nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng khuyến cáo Hàn Quốc có thể trở thành quốc gia phải đương đầu với mối nguy hiểm lớn nhất trong thời đại của Trí thông minh nhân tạo. Một người như Kim Jong-un sau này có thể xây dựng đội quân robot bằng Trí thông minh nhân tạo. Thực tế, hiện nay điều khiến binh lính khiếp sợ nhất trong lúc giao chiến không phải là lính con người mà là lính robot được chế tạo từ Trí thông minh nhân tạo. Tóm lại, chúng ta phải nhìn vấn đề Triều Tiên trên quan điểm của thời đại Trí thông minh nhân tạo. Sự uy hiếp từ đội quân robot Trí thông minh nhân tạo sẽ không biến mất cho dù chế độ Kim Jong-un sẽ chấm dứt ở Triều Tiên, 200.000 tù nhân chính trị bị bắt giam được trả tự do và nhân quyền được khôi phục, từ Bắc chí Nam được thống nhất theo chủ nghĩa tự do dân chủ với vai trò chủ đạo của Đại Hàn Dân Quốc.

Ngoài ra, xung quanh Hàn Quốc còn có Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, những quốc gia có tiềm năng quân sự hùng mạnh, có thể xây dựng quân đội robot Trí thông minh nhân tạo mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn cả Triều Tiên. Ba quốc gia này có bốn điểm chung như sau.

Thứ nhất, đã từng giao tranh với Hàn Quốc.

Thứ hai, giữa họ cũng từng xảy ra giao tranh.

Thứ ba, các nước láng giềng đều có kế hoạch triển khai quân đội đến bán đảo Triều Tiên trong tình huống khẩn cấp. Trung Quốc đã bố trí khoảng từ 500 đến 1.200 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hướng về bán đảo Triều Tiên; chưa hết, họ còn có đội quân chuyên biệt phụ trách bán đảo Triều Tiên từ trước; Nga cũng cho quân đội tập trận cùng với đội quân này của Trung Quốc; Nhật thì tuyên bố nếu nguy cấp họ bắt buộc phải triển khai quân tự vệ lên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, ngay thời điểm hiện tại họ đang đầu tư chi phí quân sự rất lớn để xây dựng quân đội vững mạnh.

Tóm lại Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều là những nước mạnh về kinh tế và quân sự. Ba quốc gia này liệu có ngồi yên trong thời đại Trí thông minh nhân tạo? Tuyệt đối là không rồi. Họ sẽ sản xuất ra đội quân robot Trí thông minh nhân tạo theo tiêu chuẩn hiện đại nhất của thế giới và đưa vào thực tiễn. Chúng ta phải nhìn thấy tương lai này và chuẩn bị đối phó với nó. Nếu không, chúng ta sẽ không bảo vệ được mình trong thời đại Trí thông minh nhân tạo.

Quốc gia đứng đầu thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người”

Toàn bộ tai ương về Trí thông minh nhân tạo do sự vô tri, vô năng của Chính phủ và Quốc hội gây ra sẽ trở thành gánh nặng cho người dân. Quý vị có biết quốc gia số 1 thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người” nằm ở đâu không? Chính là Hàn Quốc. Theo báo cáo do tổ chức Liên minh Robot thế giới (IFR) công bố, ở Hàn Quốc, cứ 10.000 người lao động thì có khoảng 462 đến 531 người bị robot thay thế, nhiều hơn mức trung bình 69 người của thế giới (số liệu năm 2016).

Sau này, nếu thời kỳ Trí thông minh nhân tạo chính thức bắt đầu thì Hàn Quốc có khả năng rất cao sẽ trở thành quốc gia số 1 trên thế giới tính theo tỷ lệ người bị Trí thông minh nhân tạo thay thế. Điều này có ý nghĩa gì? Có nghĩa là quý vị, người hiện đang đọc bài viết này có nhiều khả năng sẽ bị mất việc do Trí thông minh nhân tạo gây ra. Lỡ như tình huống đó xảy ra, quý vị và gia đình quý vị sẽ thế nào? Mới nghĩ thôi đã thấy kinh khủng. Có một việc còn kinh khủng hơn nữa. Quý vị hoàn toàn không biết về việc này, cũng như không hề có sự chuẩn bị nào để đối phó với nó.

Nhóm đặc quyền ở Hàn Quốc, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều kém năng lực, nhưng dù sao ở Hàn Quốc họ vẫn là tập thể chuẩn bị tốt nhất cho tương lai. Từ sau sự kiện AlphaGo, họ đều đặn tham dự các diễn đàn hay các buổi diễn thuyết, buổi thảo luận về vấn đề Trí thông minh nhân tạo, chăm chỉ cóp nhặt kiến thức liên quan. Nếu không tin, quý vị hãy thử gõ từ khóa đại loại như “diễn đàn Trí thông minh nhân tạo” hay “diễn thuyết Trí thông minh nhân tạo”, “thảo luận Trí thông minh nhân tạo” vào mục tìm kiếm tin tức trên mạng mà xem.

Dĩ nhiên việc học tập, nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo của nhóm đặc quyền chỉ dừng lại ở kiểu nhồi nhét. Thế nhưng thực tế họ là những người có nhiều hiểu biết nhất về Trí thông minh nhân tạo, có sự chuẩn bị tốt nhất cho thời đại Trí thông minh nhân tạo ở Hàn Quốc. Hơn nữa, ngoài tài sản và quyền lực, họ còn có cả mối quan hệ. Vì thế, dù thời đại Trí thông minh nhân tạo có xảy ra thì khả năng cao họ vẫn có thể sống tốt.

Nhưng đại đa số những người không có đặc quyền nào cả sẽ ra sao? Ở đây tôi sẽ nói cụ thể, đó là chuyện chúng ta sẽ mất việc làm, gia cảnh rơi vào khốn khó chỉ trong một buổi sáng và phải sống cuộc sống của kẻ nghèo khổ trong suốt phần đời còn lại.

Quý vị sẽ làm gì?

Cứ sống như hiện tại rồi một ngày nọ bị loại bỏ bởi Trí thông minh nhân tạo có tài năng vượt trội hơn quý vị?

Hay là ngay từ bây giờ quý vị sẽ biến mình thành người “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, tức là trở thành chủ nhân của Trí thông minh nhân tạo?

Tôi hy vọng quý vị sẽ lựa chọn ý thứ hai. Tôi hy vọng quý vị sẽ là một cá thể mạnh mẽ có thể bảo vệ cho những người thật sự quan trọng với quý vị và cả bản thân quý vị trong tương lai.

Nếu quý vị bắt đầu bước đi trên con đường trở thành “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, những người xung quanh quý vị cũng sẽ quan tâm đến con đường này. Và họ sẽ bắt đầu sánh bước cùng quý vị.

Chỉ khi người dân Hàn Quốc chuẩn bị cho tương lai theo cách như thế thì mới mở rộng được cánh cửa cường quốc Trí thông minh nhân tạo phía trước.

Tôi tin chắc là vậy.

Đây là lý do khiến tôi cầm bút sau hồi lâu lưỡng lự.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Con đường từ bi” – Jack Kornfield

Tôi đã yêu thương đủ chưa?

Published

on

Trích từ: Con đường từ bi
Tác giả: Jack Kornfield
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 6.2020

Chi tiết tác phẩm

Được viết bởi nhà tâm lý học và thiền sư nổi tiếng thế giới, cuốn sách ấm áp này đã chạm đến các vấn đề thiết yếu hiếm khi được đề cập trong sách thiền. Từ lòng trắc ẩn, sự nghiện ngập, chữa lành tâm lý và cảm xúc đến xử lý các vấn đề liên quan đến mối quan hệ và tình dục, cuốn sách giải đáp phần lớn nỗi băn khoăn của những người tìm kiếm tâm linh hiện đại, cả người vừa bắt đầu lẫn người đã có nhiều năm kinh nghiệm.

Con đường từ bi chứa đầy các câu chuyện, công án và cả những hướng dẫn thiền định khôn ngoan. Chính trải nghiệm sâu sắc và đôi khi hài hước của tác giả sẽ dẫn dắt bạn vượt qua các trở ngại và thử thách của đời sống tinh thần, cũng như tìm thấy cảm giác thiêng liêng trong trải nghiệm hàng ngày.


1
TÔI ĐÃ YÊU THƯƠNG ĐỦ CHƯA?

Ngay cả những trạng thái thăng hoa nhất và những thành quả tâm linh phi thường nhất cũng không quan trọng nếu chúng ta không thể hạnh phúc trong những cách cơ bản và bình dị nhất, nếu chúng ta không thể chạm đến người khác và cuộc đời mà chúng ta được ban tặng bằng tâm mình.

Khi thực hành đời sống tâm linh, vấn đề thật đơn giản: Chúng ta phải chắc chắn rằng đạo trình của mình được kết nối với trái tim. Có nhiều thị kiến khác được trình ra trước chúng ta trong trường tâm linh hiện đại. Những truyền thống tâm linh lớn đưa ra nhiều câu chuyện về giác ngộ, cực lạc, kiến văn, sự xuất thần, và những khả tính tối cao của tinh thần con người. Do phạm vi rộng của các giáo huấn sẵn có ở phương Tây, ban đầu chúng ta thường bị thu hút trước những phương diện quyến hoặc và phi thường này. Dù triển vọng đạt tới những trạng thái như vậy có thể thành tựu, và dù những trạng thái này quả là tiêu biểu cho các giáo huấn ấy, trong nghĩa nào đó, chúng cũng chỉ là một trong những kỹ thuật quảng cáo của nền thương mại tâm linh. Chúng không phải là mục tiêu của đời sống tâm linh. Nói cho cùng, đời sống tâm linh không phải là một tiến trình truy cầu hay thủ đắc sự phi thường hay các quyền năng đặc biệt nào đó. Thực ra, việc truy cầu như thế có thể dẫn ta xa rời bản thể của mình. Nếu không cẩn thận, ta có thể dễ dàng gặp những lỗi lớn trong đời sống hiện đại – tham vọng, chủ nghĩa vật chất và sự cô lập cá nhân – tái hiện trong đời sống tâm linh của mình.

Ở khởi đầu một hành trình tâm linh chân chính, chúng ta phải gần gũi nhiều hơn với gia đình, để trực tiếp tập trung vào những điều ngay trước mắt mình, để bảo đảm rằng đạo trình của chúng ta được kết nối với tình yêu sâu sắc nhất của mình. Don Juan, trong lời dạy dành cho Carlos Castaneda, diễn tả điều đó thế này:

Hãy chú mục vào mọi đạo trình một cách kĩ lưỡng và thận trọng. Hãy thử nhiều lần nếu cần. Rồi hãy hỏi bản thân và chỉ riêng bản thân cậu một câu thôi. Câu hỏi này là điều mà chỉ có một ông lão mới hỏi. Ân nhân của ta có lần đã chỉ bảo cho ta điều đó khi ta còn trẻ và lúc ấy khí huyết ta còn quá phương cương để hiểu được nó. Giờ thì ta đã hiểu. Ta sẽ nói cho cậu biết đó là gì: Đạo trình này có trái tim không? Nếu có, đạo trình ấy là tốt. Nếu không, vô ích thôi1.

Những giáo huấn trong cuốn sách này nói về việc tìm thấy một đạo trình bằng tâm như vậy, về việc thực hành một đạo trình chuyển hóa và chạm đến ta ở trung tâm của hiện hữu. Làm vậy là để tìm thấy một con đường thực tập cho phép ta sống toàn vẹn trong thế gian này từ đáy lòng mình.

Khi ta hỏi, “Tôi có đang theo đuổi một đạo trình bằng tâm không?” ta sẽ phát hiện ra rằng không ai có thể giúp ta xác định chính xác đạo trình ấy của ta là thế nào cả. Thay vào đó, ta phải để cho sự huyền nhiệm và vẻ đẹp của chất vấn này âm vang bên trong ta. Rồi từ nơi nào đó bên trong câu trả lời sẽ đến và hiểu biết sẽ khởi lên. Nếu ta tĩnh tại và lắng nghe sâu sắc, thậm chí chỉ trong một khoảnh khắc, ta sẽ biết mình có đang theo đuổi một đạo trình bằng tâm hay không.

Đúng là có thể nói chuyện trực tiếp với tâm mình. Đa số các nền văn hóa cổ đại biết điều này. Chúng ta quả thực có thể trò chuyện với tâm mình như thể nó là một người bạn tốt. Trong đời sống hiện đại, ta bận rộn với những sự vụ và ý nghĩ thường nhật đến mức quên mất nghệ thuật tinh túy trong việc dành thời gian trò chuyện với tâm mình. Khi ta hỏi nó về đạo trình hiện hành của mình, ta phải xem xét những giá trị mà ta đã chọn để sống cùng. Ta đặt thời gian, sức mạnh, sự sáng tạo, tình yêu của ta nơi đâu? Chúng ta phải xem xét đời sống của mình mà không đa cảm, phóng đại, hay lý tưởng hóa. Liệu những gì ta đang chọn có phản ánh những gì ta đánh giá là sâu sắc nhất không?

Truyền thống Phật giáo khuyên dạy những đạo hữu của mình coi toàn bộ đời sống là quý giá. Các phi hành gia rời Trái đất cũng đã tái khám phá chân lý này. Một phi hành đoàn Nga đã diễn tả điều đó thế này: “Chúng tôi mang những con cá nhỏ lên trạm không gian vì những nghiên cứu nhất định. Chúng tôi đã ở đó ba tháng. Sau chừng ba tuần thì lũ cá bắt đầu chết. Chúng tôi thấy nuối tiếc chúng biết mấy! Chúng tôi đã chẳng thể làm gì để cứu chúng cả! Trên Trái đất, chúng ta rất hể hả khi câu cá, nhưng khi bạn cô đơn và cách xa với bất cứ thứ gì trên mặt đất, bất cứ sự hiện diện nào của đời sống cũng được hoan nghênh đặc biệt. Bạn sẽ thấy đúng là đời sống quý giá xiết bao!” Cũng trong tinh thần này, một phi hành gia, khi phi thuyền của anh tiếp đất, đã mở nắp ra để hít hà khí ẩm của Trái đất: “Thực sự tôi đã nằm xuống và áp má mình vào đất. Tôi nằm xuống và hôn lên Trái đất.”

Thấy được sự quý giá của vạn hữu, chúng ta phải đặt toàn bộ chú tâm đến đời sống. Việc thực tập tâm linh có thể mang lại cho ta nhận thức này mà không cần đến một chuyến đi vào không gian.

Khi những phẩm chất của sự hiện diện và sự giản dị bắt đầu ngày càng thấm sâu vào đời ta, tình yêu bên trong chúng ta dành cho trái đất cùng vạn hữu cũng bắt đầu tự hiển lộ và làm đạo trình của chúng ta trở nên sống động.

Để hiểu một cách sâu sắc hơn cảm thức quý giá này gợi lên điều gì và đem lại ý nghĩa ra sao với một đạo trình bằng tâm, chúng ta hãy bắt đầu với thiền định sau đây. Trong tu tập Phật giáo, người ta được khuyến khích xem xét cách để sống tốt bằng việc quán chiếu về cái chết của mình. Hình thức thiền định truyền thống dành cho mục đích này là ngồi yên lặng và ý thức về tính tạm thời của đời sống. Sau khi đọc đoạn này, hãy khép mắt bạn và cảm nhận sự tử vong của cái thân người mà bạn đã được ban tặng này. Cái chết là nhất định với chúng ta – chỉ có thời điểm chết thì vẫn chưa rõ thôi. Hãy hình dung bản thân bạn vào lúc cuối đời – tuần tới hoặc năm tới hay thập kỉ tới, một thời điểm nào đó trong tương lai. Bấy giờ hãy hồi tưởng lại toàn bộ đời mình và nhớ đến hai việc tốt mình đã làm trong tâm trí, hai điều mà bạn cho rằng mình đã làm tốt. Chúng không cần là những việc đại sự, hãy để bất kì thứ gì muốn khởi lên tự hiện ra. Khi hình dung và nhớ lại những việc tốt này, bạn cũng sẽ nhận thức được những kí ức này đã tác động đến ý thức mình ra sao, chúng đã chuyển hóa những cảm giác và trạng thái của tâm và trí như thế nào khi bạn thấy chúng. Khi bạn đã hoàn thành việc quán chiếu hãy xem xét thật cẩn thận phẩm chất của những tình thế này, những gì được bao hàm trong một khoảnh khắc của lòng tốt được chọn ra từ cả một cuộc đời nói và hành động. Hầu như bất cứ ai có thể nhớ lại những việc tốt như vậy trong thiền định đều phát hiện ra rằng chúng giản dị đến đáng ngạc nhiên. Chúng hiếm khi là những việc người ta đưa vào trích yếu. Với một số người, khoảnh khắc của lòng tốt chỉ đơn giản là việc họ bảo với cha mình trước khi ông ấy qua đời rằng họ yêu ông, hoặc khi họ bay xuyên đất nước giữa đời sống bộn bề của mình để chăm sóc đàn con của chị mình khi cô ấy đang chữa trị chấn thương vì tai nạn ô tô. Một giáo viên tiểu học đã có một thị kiến đơn giản về những buổi sáng mà cô phải giữ lũ trẻ đang gào khóc và có một ngày khó nhọc. Khi hưởng ứng thiền định này, có lần một người đã giơ tay mỉm cười và nói, “Khi chúng ta tìm được chỗ đậu xe cùng lúc trên những con phố đông đúc, tôi luôn nhường chỗ đậu ấy cho người khác.” Đó chính là thiện hạnh trong đời cô ấy.

Một phụ nữ khác, một y tá ở tuổi lục tuần đã nuôi dạy đàn con cháu và sống một cuộc đời rất trọn vẹn, nêu ra kí ức này: Lúc bà sáu tuổi có một chiếc ô tô bị hỏng ngay trước nhà bà, hơi phun ra từ dưới nắp mui. Hai người lớn tuổi bước ra và quan sát nó, rồi một người bước tới góc đường trả tiền điện thoại để gọi trạm sửa xe. Họ vào lại trong xe và ngồi đến tận sáng để chờ xe kéo. Hệt như mọi đứa bé sáu tuổi tò mò, cô bé bước ra nói chuyện với họ, và sau khi thấy họ chờ đợi mòn mỏi trong chiếc xe nóng bức, cô bé quay vào nhà. Thậm chí không hỏi họ, cô bé đã chuẩn bị một khay trà đá và bánh mì kẹp rồi mang chiếc khay ấy ra mời họ bên vệ đường.

Những điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta không cần phải dị thường hay to tát. Đó là những khoảnh khắc chúng ta chạm đến người khác, khi chúng ta hiện diện ở đó theo cách ân cần hay chu đáo nhất. Sự thân mật giản dị và thâm thúy này là tình yêu mà mọi chúng ta đều mong mỏi. Những khoảnh khắc chạm đến và được chạm đến có thể trở thành nền tảng cho một đạo trình bằng tâm, và chúng xảy ra theo cách tức thời và trực tiếp nhất. Mẹ Teresa diễn đạt nó như thế này: “Trong đời này, chúng ta quả không thể làm được nhiều chuyện lớn lao. Chúng ta chỉ có thể làm những điều nhỏ bé với tình yêu lớn lao thôi.”

Một số người thấy rằng bài tập này rất khó. Không có việc tốt nào đến với tâm trí họ, hay một vài việc có thể khởi lên nhưng bị khước từ ngay lập tức vì bị cho là quá hời hợt hay nhỏ bé, không thuần khiết hoặc không hoàn hảo. Chẳng lẽ điều này có nghĩa là thậm chí chẳng có nổi hai khoảnh khắc tốt đẹp trong cả một cuộc đời có hàng trăm ngàn sự việc? Khó mà nói như vậy được! Tất cả chúng ta đều có khá nhiều khoảnh khắc tốt đẹp. Điều đó có một ý nghĩa thâm thúy khác nữa. Đó chính là sự phản chiếu về việc chúng ta khó khăn với bản thân như thế nào. Chúng ta phán xét bản thân quá nghiêm khắc, và chỉ có một Idi Amin2 hay một Stalin mới dám thuê chúng ta làm chủ tọa phiên tòa của họ thôi. Nhiều người trong chúng ta phát hiện mình ít có lòng thương xót với bản thân. Ta hầu như không thể công nhận rằng tình yêu và lòng tốt chân chính có thể tỏa chiếu từ trái tim mình. Tuy nhiên có đấy.

Sống một đạo trình bằng tâm nghĩa là sống theo cung cách ta thể hiện bản thân trong thiền định này, để cho hương vị của lòng tốt thâm nhập vào cuộc đời ta. Khi toàn tâm chú ý vào các hành động của mình, khi bộc lộ tình yêu và thấy được sự quý giá của cuộc sống, phẩm chất của lòng tốt trong ta được tăng trưởng. Một sự hiện diện ân cần đơn giản có thể bắt đầu thâm nhập nhiều hơn vào những khoảnh khắc của đời ta. Và nhờ thế, chúng ta sẽ liên tục hỏi chính tâm mình, “Sống như vầy có ý nghĩa gì?” Đạo trình ấy, con đường mà chúng ta đã chọn để sống đời mình, có đang dẫn đến điều này không?

Trong sự căng thẳng và phức tạp của đời mình, ta có thể sao lãng những ý hướng sâu sắc nhất. Nhưng khi người ta bước vào đoạn cuối cuộc đời và nhìn lại, những câu hỏi mà họ hay hỏi mình nhất thường không phải là, “Mình có bao nhiêu tiền trong nhà băng?” hay “Mình đã viết bao nhiêu cuốn sách?” hay “Mình đã tạo dựng cái gì?” hoặc điều gì tương tự. Nếu bạn từng có đặc ân hiện diện bên cạnh một người tỉnh ngộ vào thời điểm họ chết, bạn sẽ thấy những câu hỏi của họ sẽ rất giản dị: “Tôi đã yêu thương đủ chưa?”, “Tôi đã sống trọn vẹn chưa?”, “Tôi đã học được cách buông xả chưa?”

Những câu hỏi giản dị này đi thẳng vào trọng tâm của đời sống tâm linh. Khi ta lưu tâm đến việc yêu thương đủ đầy và sống trọn vẹn, ta có thể thấy cách mà những chấp trước và sợ hãi đã hạn chế mình, và ta cũng có thể thấy được nhiều cơ hội cho tim mình mở rộng. Chúng ta đã cho mình yêu thương mọi người quanh mình, gia đình, và cộng đồng, trái đất mà ta sống trên ấy chưa? Và, ta cũng đã học được cách buông xả rồi chứ? Ta có học được cách sống qua những biến cố của cuộc đời với sự thanh tao, trí huệ, và từ bi chưa? Ta đã học được cách tha thứ và sống với tinh thần của trái tim thay vì tinh thần của phán xét chưa?

Buông xả là một chủ đề trung tâm trong việc thực hành tâm linh, khi ta thấy được sự quý giá và ngắn ngủi của cuộc đời. Khi sự buông xả được kêu đòi, nếu ta không biết làm thế, ta sẽ phải chịu đựng rất nhiều, và khi bước đến cuối đời, ta có thể đối diện với cái được gọi là tiến trình sụp đổ. Sớm muộn gì chúng ta cũng phải học cách buông xả và để cho sự huyền nhiệm vô thường của đời sống xuyên thấu mình mà không sợ hãi, không níu kéo và nắm giữ.

Tôi từng biết một phụ nữ trẻ đã ngồi cạnh mẹ mình suốt giai đoạn bệnh ung thư của bà đã di căn. Trong thời gian này, mẹ cô phải nằm viện với hàng tá ống dẫn và máy móc cắm vào người. Mẹ và con gái đều đồng ý rằng người mẹ không hề muốn chết kiểu ấy, và khi bệnh tình tiến triển, cuối cùng bà đã được gỡ bỏ mọi thiết bị y tế và được phép về nhà. Bệnh ung thư của bà ngày càng nặng thêm. Tuy nhiên người mẹ đã có một thời gian khó khăn để chấp nhận bệnh tình của mình. Bà cố điều hành gia đình từ giường bệnh, thanh toán các hóa đơn và giám sát mọi công việc thường ngày. Bà đã vật lộn với nỗi đau thể xác, nhưng còn vật lộn nhiều hơn với việc không thể buông bỏ. Một ngày nọ giữa cuộc phấn đấu này, khi đã an ổn hơn nhiều và cũng có chút hoang mang, bà gọi con gái đến bên và nói, “Con gái yêu ơi, làm ơn rút ống cắm đi con”, và con gái bà nhẹ nhàng nói rõ, “Mẹ ơi, mẹ đâu có bị cắm ống gì.” Một số người có nhiều thứ để học về việc buông xả.

Việc buông xả và bước qua đời sống từ thay đổi này đến thay đổi khác sẽ giúp hiện hữu tâm linh của ta trưởng thành hơn. Cuối cùng, ta phát hiện ra rằng yêu thương và buông xả có thể là cùng một thứ. Cả hai cách đều không tìm kiếm sự sở hữu. Cả hai đều cho phép ta chạm đến từng khoảnh khắc của cuộc đời vô thường này và cho phép ta hiện diện ở đó trọn vẹn cho dù bất cứ gì sẽ xảy đến tiếp theo. Có một câu chuyện cũ về một giáo sĩ Do Thái sống ở châu Âu, ngày nọ ông được một người đáp tàu từ New York đến tìm gặp. Người nọ đến cơ ngơi của giáo sĩ, một căn nhà rộng lớn trên một con phố ở một đô thị châu Âu, và được chỉ dẫn đến phòng của vị giáo sĩ trên gác mái. Anh ta bước vào và thấy vị đại sư đang sống trong một căn phòng chỉ có một chiếc giường, một cái ghế, và vài cuốn sách. Anh ta đã trông chờ nhiều hơn thế. Sau khi chào hỏi, người ấy hỏi, “Thưa Giáo sĩ, đồ đạc của ngài đâu?” Vị giáo sĩ hỏi ngược, “Chà, vậy của anh đâu?” Người khách đáp, “Nhưng, thưa Giáo sĩ, tôi chỉ là một người đi ngang qua” và vị đại sư trả lời, “Tôi cũng vậy, tôi cũng vậy thôi.”

Để yêu thương trọn vẹn và sống tốt, ta phải công nhận rằng mình không thể sở hữu hay làm chủ bất cứ thứ gì – nhà cửa, xe cộ, những người yêu thương, ngay cả chính thân thể ta nữa. Hỉ lạc và trí huệ không đến thông qua sở hữu mà thông qua khả năng rộng mở để yêu thương trọn vẹn hơn, để dịch chuyển và tự do trong đời sống.

Đây không phải là một bài học khất lần khất lữa được. Một vị thầy vĩ đại đã giải thích nó như vầy: “Rắc rối của bạn là khi bạn nghĩ rằng mình có thời gian.” Chúng ta chẳng hề biết mình có bao nhiêu thời gian cả. Sẽ như thế nào khi sống với hiểu biết rằng đây có thể là năm cuối, tuần cuối, ngày cuối của đời ta? Trong ánh sáng của câu hỏi này, chúng ta có thể chọn một đạo trình bằng tâm.

Đôi khi phải có một cú sốc để thức tỉnh chúng ta, để kết nối ta với đạo trình của mình. Vài năm trước tôi được chị gái của một bệnh nhân mời đến thăm bệnh nhân đó ở bệnh viện San Francisco. Anh ấy vào khoảng cuối độ tuổi ba mươi và giàu có. Anh có một công ty xây dựng, một thuyền buồm, một trang trại, một ngôi nhà phố, nhiều công trình. Ngày nọ khi đang ngồi lái xe trong chiếc BMW của mình, anh bỗng thấy tối sầm. Các xét nghiệm cho thấy anh có một khối u não ác tính, một loại ung thư đang phát triển nhanh chóng. Bác sĩ nói, “Chúng tôi muốn giải phẫu cho anh, nhưng tôi phải cảnh báo anh rằng khối u nằm trong trung tâm nói năng và lĩnh hội của não. Nếu chúng tôi cắt bỏ khối u ấy, anh có thể mất hết mọi khả năng đọc, viết, nói, hiểu bất cứ ngôn ngữ nào. Nếu chúng tôi không giải phẫu, chắc là anh có sáu tuần để sống. Xin hãy cân nhắc điều này. Chúng tôi muốn mổ vào buổi sáng. Hãy cho chúng tôi biết trước lúc đó nhé.”

Tôi đã đến thăm người bệnh trong tối đó. Anh ấy trở nên rất im lặng và trầm tư. Như bạn có thể hình dung, anh đang ở trong một trạng thái ý thức khác thường. Một sự thức tỉnh lớn đôi khi sẽ đến từ việc thực tập tâm linh, nhưng đối với anh thì nó đã đến thông qua những tình huống ngoại lệ. Khi chúng tôi trò chuyện, người đàn ông ấy chẳng nói gì đến trang trại, thuyền buồm hay tiền bạc của mình. Nơi anh hướng đến, người ta chẳng thể lấy đồng nào trong các sổ tiết kiệm và xe BMW. Mọi thứ có giá trị trong những thời điểm biến cố lớn là tiền tệ của tâm ta – khả năng và những hiểu biết về tâm đã được trưởng dưỡng trong ta.

Hai mươi năm trước, vào cuối những năm 1960, người đàn ông này đã hành thiền đôi chút, đã đọc một ít của Alan Watts, và khi đối diện khoảnh khắc này, đây là những gì anh đã dựa vào và muốn nói: đời sống tâm linh của anh và sự hiểu biết về sinh tử. Sau một cuộc trò chuyện thành tâm nhất, anh ngừng lời để im lặng một chốc và trầm tư. Rồi anh quay sang tôi và bảo, “Tôi đã chuyện trò đủ rồi. Có lẽ tôi đã nói quá nhiều nữa là khác. Tối nay đúng là cực kỳ quý giá để nhấp một ngụm nước hoặc để nhìn những con bồ câu trên bậu cửa ở trung tâm y tế này bay vù vào không trung. Dường như chúng quá đẹp đẽ với tôi. Nhìn một con chim bay qua không trung thật là một phép thuật. Tôi không thờ ơ với đời này. Có lẽ tôi sẽ chỉ sống tĩnh lặng hơn thôi.” Thế nên anh đã yêu cầu được giải phẫu. Sau mười bốn giờ được một bác sĩ phẫu thuật rất có tài mổ cho mình, chị anh đã đến phòng hồi sức thăm anh. Anh ngước lên nhìn chị và nói, “Chào buổi sáng.” Người ta đã có thể cắt bỏ khối u mà không làm mất khả năng nói của anh ấy.

Khi anh rời bệnh viện và đã bình phục sau ca mổ, toàn bộ cuộc đời anh thay đổi. Anh vẫn hoàn thành các bổn phận kinh doanh của mình một cách đầy trách nhiệm, nhưng đã không còn là kẻ tham công tiếc việc nữa. Anh dành nhiều thời gian hơn với gia đình và trở thành một cố vấn cho những người bị chẩn đoán là ung thư và bệnh hiểm nghèo khác. Anh dành nhiều thời gian với thiên nhiên và đầy yêu thương khi tiếp xúc với mọi người xung quanh.

Nếu đã gặp anh trước tối đó, có thể tôi đã xem anh là một thất bại tâm linh vì anh đã ít thực tập tâm linh và rồi hoàn toàn bỏ bê để trở thành một doanh nhân. Có vẻ anh đã quên tất thảy mọi giá trị tâm linh đó. Nhưng khi nó sa sút đến mức ấy, anh đã dừng lại để quán chiếu trong những khoảnh khắc giữa sự sống và cái chết của mình, và dù chỉ một ít thực hành tâm linh đã trải qua cũng trở nên rất quan trọng với anh. Chúng ta không bao giờ biết những người khác đang học cái gì, và chúng ta không thể phán xét việc thực tập tâm linh của ai đó quá nhanh chóng và dễ dàng được. Tất cả những gì ta có thể làm là nhìn sâu vào tim mình và tự hỏi về các vấn đề theo cách mà chúng ta đang sống. Cái gì có thể dẫn tôi đến sự rộng mở, lòng chính trực lớn hơn, và một khả năng yêu thương sâu sắc hơn?

Một đạo trình bằng tâm cũng sẽ bao gồm những tài năng và sự sáng tạo vô song. Biểu hiện bên ngoài của tâm ta có thể là viết những cuốn sách, xây những tòa cao ốc, tạo ra những cách thức để người ta phục vụ lẫn nhau. Đó có thể là giảng dạy hay làm vườn, phục vụ thức ăn hay chơi nhạc. Bất kể ta chọn gì, những sáng tạo của đời ta phải dựa trên nền tảng của tâm ta. Tình yêu của ta là nguồn mạch của mọi năng lượng sáng tạo và liên kết. Nếu chúng ta hành động mà không có một kết nối nào với tâm, ngay cả những điều vĩ đại nhất trong đời ta cũng có thể trở nên cạn kiệt, vô nghĩa, hoặc vô dụng.

Có lẽ bạn cũng nhớ rằng mấy năm trước có một loạt bài phát hành trên các báo về những kế hoạch để gầy dựng một ngân hàng tinh trùng của những người thắng giải Nobel. Tại thời điểm đó, một nhà nữ quyền có liên quan đã viết gửi tờ Boston Globe chỉ ra rằng nếu đã có các ngân hàng tinh trùng thì cũng nên có những ngân hàng trứng. Tờ Boston Globe đã in một lá thư phản hồi cho cô ấy của George Wald, chính là nhà sinh học từ Đại học Harvard vừa thắng giải Nobel, một quý ông và là một người có trí tuệ. George Wald đã viết cho cô rằng:

Bạn hoàn toàn đúng. Cần có một trứng cũng như một tinh trùng để bắt đầu hình thành một người trúng giải Nobel. Ai trong họ cũng có một người mẹ cũng như một người cha cả. Bạn có thể nói mọi điều bạn muốn về những người cha, nhưng sự đóng góp của họ với sự thụ thai thực sự là nhỏ hơn nhiều.

Nhưng tôi hy vọng bạn đã không nghiêm túc đề xuất một ngân hàng trứng. Gác chuyện Nobel sang một bên, thì cũng không có nhiều cách để bắt đầu một kỹ thuật như vậy. Có một số vấn đề, nhưng không gì khó như là việc liên quan đến những loại phản ứng sinh sản khác…

Nhưng hãy nghĩ đến một người đàn ông vô vọng đến mức kiên quyết kiếm được một quả trứng ưu việt từ một ngân hàng trứng đi. Sau đó anh ta phải thụ tinh nó. Khi nó đã được thụ tinh thì anh ta sẽ đem nó đi đâu? Cho vợ anh ta ư? “Đây, cưng ơi”, bạn có thể nghe anh ấy nói vậy, “anh vừa kiếm được cái trứng ưu việt này từ một ngân hàng trứng và vừa đích thân thụ tinh cho nó. Em sẽ chăm sóc nó chứ?” “Em đã có buồng trứng của riêng em để lo lắng rồi”, cô ấy đáp. “Anh biết anh có thể làm gì với cái trứng ưu việt của anh rồi đó. Đi thuê một cái dạ con đi. Trong khi ở đó, anh tốt hơn cũng nên thuê phòng mới luôn đi.”

Bạn thấy đó, chuyện ấy đúng là không thực thi được. Chân lý người ta thực sự cần không phải những người trúng giải Nobel mà là tình yêu kia. Bạn nghĩ sao người ta lại trở thành người trúng giải Nobel chứ? Muốn có tình yêu, chính thế. Muốn điều đó ghê gớm đến mức người ta sẽ làm việc mọi lúc và cuối cùng thành người trúng giải Nobel. Đó chỉ là một giải thưởng an ủi thôi.

Vấn đề chính là tình yêu. Quên chuyện ngân hàng tinh trùng và ngân hàng trứng đi. Các ngân hàng và tình yêu là không tương thích nhau. Nếu bạn không biết thế, bạn đã không tới ngân hàng của mình gần đây rồi.

Thế nên chỉ cần tập yêu thôi. Hãy yêu một người Nga đi. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nó dễ dàng xiết bao và nó sẽ thắp sáng buổi sáng của bạn biết mấy. Hãy yêu một người Iran, một người Việt Nam, những người không chỉ ở đây mà còn ở khắp nơi. Rồi khi bạn đã thực sự chán chê với nó, hãy thử điều gì đó khó hơn như là yêu những chính trị gia ở thủ đô của chúng ta xem.

Nỗi khao khát tình yêu và xúc cảm của tình yêu nằm bên dưới mọi hoạt động của chúng ta. Hạnh phúc chúng ta biết trong đời không xoay quanh việc sở hữu hoặc chiếm hữu hay thậm chí là hiểu biết. Thay vì thế, đó là sự phát hiện ra khả năng yêu, có được tình yêu, tự do, và mối quan hệ thông tuệ với toàn bộ đời sống. Tình yêu như vậy không sở hữu mà khởi sinh từ một ý thức về việc sống tốt đẹp của chính bản thân và kết nối với vạn hữu. Do đó, nó hào phóng và tỉnh thức, và nó yêu sự tự do của tất cả. Từ tình yêu, đạo trình của chúng ta có thể hướng dẫn ta học cách dùng những tài năng của mình để chữa lành và phục vụ, tạo ra bình an quanh ta, tôn vinh những điều thiêng liêng trong cuộc sống, tạo phước cho bất kì điều gì ta gặp phải, và mong ước tốt đẹp cho tất cả chúng sinh.

Đời sống tâm linh bên ngoài có vẻ phức tạp, nhưng trong cốt tủy thì không phải thế. Ta có thể tìm thấy một sự trong sáng và giản dị ngay giữa thế giới đa phức này khi phát giác được rằng phẩm chất của tâm thức ta trao cho cuộc đời mới chính là vấn đề quan trọng nhất. Thiền sư thi sĩ Ryokan (Lương Khoan) đã tổng kết điều này khi ông nói:

Mưa tạnh, mây quang, và trời trong trở lại.

Nếu tim bạn thuần tịnh, thì mọi thứ trong thế giới của bạn đều thuần tịnh…. Rồi trăng và hoa sẽ dẫn Đạo cho bạn.

Mọi giáo huấn tâm linh khác đều vô hiệu nếu chúng ta không thể yêu thương. Ngay cả những trạng thái thăng hoa nhất và những thành quả tâm linh phi thường nhất cũng không quan trọng nếu chúng ta không thể hạnh phúc trong những cách cơ bản và bình dị nhất, nếu, bằng tâm mình, chúng ta không thể chạm đến người khác và cuộc đời mà chúng ta được ban tặng. Vấn đề chính là chúng ta sống thế nào. Đây là lý do tại sao thật quá khó và quá quan trọng để đặt ra câu hỏi này với bản thân: “Tôi có đang sống trọn vẹn với đạo trình của mình không, tôi có sống mà không phải hối tiếc không?” ngõ hầu chúng ta có thể nói vào bất cứ ngày cuối cùng nào của đời mình rằng, “Có, tôi đã sống với đạo trình của mình bằng tâm.”

THIỀN ĐỊNH VỀ TỪ ÁI Phẩm chất của từ ái là vùng đất màu mỡ trên đó một đời sống tâm linh tích hợp có thể tăng trưởng. Với một tâm thương yêu là nền tảng, mọi thứ chúng ta nỗ lực, mọi điều chúng ta gặp phải sẽ dễ dàng rộng mở và trôi chảy hơn. Dù lòng từ ái có thể khởi lên một cách tự nhiên trong ta ở nhiều hoàn cảnh, nó cũng có thể được vun trồng. Thiền định sau đây là một bài tập đã 2500 năm tuổi, dùng những điệp ngữ, hình ảnh, và cảm giác để khơi gợi lòng từ ái và sự thân thiện hướng tới bản thân và người khác. Bạn có thể thử nghiệm bài tập này để xem nó có hữu ích với mình không. Tốt nhất là hãy bắt đầu bằng cách lặp đi lặp lại nó trong mười lăm hoặc hai mươi phút một hay hai lần mỗi ngày ở một nơi tĩnh lặng suốt vài tháng. Thoạt đầu, bạn có thể cảm thấy thiền định này là máy móc hoặc ngượng ngập hay thậm chí làm nảy sinh sự chống đối, những cảm giác bứt rứt và cáu giận, nếu điều này xảy đến, bạn phải đặc biệt kiên nhẫn và ân cần hướng tới bản thân mình, để cho bất kể thứ gì khởi lên đều được tiếp nhận trong một tinh thần thân thiện và tình cảm ân cần. Theo thời gian, ngay cả khi đối diện với những khó khăn nội tại, từ ái cũng sẽ phát triển. Hãy ngồi thoải mái, để thân thể bạn thư giãn và nghỉ ngơi. Hết mức có thể, bạn hãy để tâm trí mình tĩnh lặng, buông bỏ mọi kế hoạch và những mối bận tâm. Sau đó bắt đầu nhẩm những câu hướng đến bản thân sau đây. Bắt đầu với bản thân vì nếu không yêu thương mình thì bạn không thể yêu thương người khác được. Nguyện tôi được chan đầy từ ái. Nguyện tôi được tốt lành. Nguyện tôi được bình an và thong dong. Nguyện tôi được hạnh phúc. Khi nói những câu ấy, bạn cũng có thể muốn dùng hình ảnh từ những chỉ dẫn của Đức Phật: hình dung bản thân bạn như một đứa trẻ và được yêu mến, hoặc ý thức bản thân như chính bạn trong hiện tại, được chứa đựng trong một trái tim từ ái. Hãy để các cảm giác khởi lên với những lời này. Điều chỉnh lời lẽ và hình ảnh cho đến khi bạn tìm được những câu chính xác nhất để khai mở lòng từ của mình. Hãy lặp đi lặp lại những câu ấy, để những cảm giác thẩm thấu vào thân thể và tâm trí bạn. Thực tập thiền định này đều đặn trong vài tuần cho đến khi ý thức về từ ái trong bản thân bạn phát triển. Khi cảm giác đã sẵn sàng, cũng trong giai đoạn thiền định ấy, bạn có thể dần dần mở rộng tâm điểm từ ái của mình để bao hàm những người khác. Sau bản thân, hãy chọn một ân nhân, ai đó thực sự quan tâm đến bạn trong đời. Hình dung họ và ân cần thầm nguyện những câu tương tự, Nguyện anh ấy/cô ấy được chan đầy từ ái, và v.v... Khi lòng từ ái với ân nhân của bạn đã phát triển, hãy bắt đầu gồm cả những người bạn yêu mến khác vào cuộc thiền định, hình dung về họ và thầm nguyện những câu tương tự, khơi gợi một ý thức về lòng từ dành cho họ. Sau này bạn có thể dần dần bắt đầu bao hàm nhiều người khác nữa: bạn bè, các thành viên của cộng đồng, hàng xóm, con người ở khắp chốn, các động vật, toàn trái đất, và hết thảy chúng sinh. Rồi bạn thậm chí có thể thử nghiệm với việc gồm cả những người khó nhất trong đời mình, ước rằng họ cũng được chan đầy từ ái và bình an. Thực tập đến một mức nào đó, một ý thức từ ái vững chắc có thể phát triển và trong quá trình mười lăm hay hai mươi phút, bạn sẽ có thể bao hàm nhiều chúng sinh trong cuộc thiền định của mình, chuyển xuất từ bản thân, đến một ân nhân và những người thương yêu, và hết thảy chúng sinh ở khắp mọi nơi. Sau đó bạn có thể học cách thực tập điều đó ở bất cứ đâu. Bạn có thể dùng sự thiền định trong khi ùn tắc giao thông, trong xe buýt và máy bay, trong phòng chờ của bác sĩ, và trong hàng ngàn tình huống khác. Khi bạn yên lặng thực hành thiền định từ ái này giữa mọi người, ngay lập tức bạn sẽ cảm thấy một sự kết nối tuyệt diệu với họ – quyền năng của từ ái. Điều đó sẽ làm dịu đời bạn và giữ bạn kết nối với trái tim mình.


-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Trích “Những lời dạy của Don Juan” của tác giả Carlos Castaneda, nhà nhân học người Mỹ, cũng là nhân vật trong sách.
  2. Idi Amin Dada (1925 – 2003) là một nhà chính trị chuyên chế từng giữ chức Tổng thống Uganda (BT).

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Giao tiếp là con phố hai chiều

Không ai được sinh ra với tài giao tiếp bẩm sinh. Tất cả diễn giả thành công trên thế giới đều trải qua quá trình rèn luyện và nỗ lực không ngừng để làm chủ kỹ năng này.

Published

on

By

cai thien giao tiep vuon toi thanh cong - dale carnegie

Trích từ: Cải thiện giao tiếp vươn tới thành công
(Tủ sách thành công của Dale Carnegie)
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Xuất bản: Tháng 6.2019

*

Có bốn khía cạnh, và chỉ có duy nhất bốn khía cạnh này để chúng ta tiếp xúc với thế giới, để người khác đánh giá và phân định chúng ta: hành động ta làm, diện mạo của ta, lời ta nói và cách ta diễn đạt. - Dale Carnegie

Ngày nay, giao tiếp – qua lời nói và cách nói – là một trong những yếu tố chính quyết định liệu ta sẽ thành công hay thất bại. Các nhà lãnh đạo tài ba trong chính phủ, trong lĩnh vực công nghiệp và giáo dục đều thuần thục kỹ năng giao tiếp hiệu quả với mọi người.

Kỹ năng giao tiếp không nhất thiết là năng khiếu bẩm sinh. Bất kỳ ai cũng có thể rèn luyện được, chỉ cần có ý chí và lòng quyết tâm. Khi trau dồi được kỹ năng giao tiếp, ta có thể trình bày ý tưởng hiệu quả hơn với cấp trên, cộng sự, khách hàng, thậm chí với cả bạn bè và người thân.

Hãy tưởng tượng khi trở thành người giao tiếp hùng hồn và hào hứng, ta có thể khiến một cuộc họp tẻ nhạt trở nên sôi động và hiệu quả. Ta có thể truyền cảm hứng và khích lệ đồng nghiệp hoàn thành công việc kịp thời hạn với kết quả vượt mức mong đợi.

Đa phần nội dung giao tiếp hàng ngày của chúng ta đều ẩn chứa nguy cơ gây ngộ nhận và hiểu lầm. Một số ngôn từ thuộc dạng dễ hiểu trong môi trường nội bộ có thể gây nhầm lẫn cho người bên ngoài công ty hoặc ngoài ngành.

Tất cả những người làm việc chuyên nghiệp đều phải có khả năng trình bày ý kiến một cách rõ ràng, chính xác và thuyết phục, nhất là trong các tình huống ứng biến hoặc bất ngờ. Các tình huống này đòi hỏi sự mạnh dạn, tự tin, khả năng tư duy nhanh chóng và diễn đạt trôi chảy.

Giao tiếp không phải là con phố một chiều, nơi chỉ có một bên truyền đạt thông điệp cho phía bên kia. Để đạt hiệu quả, nó phải là con đường hai chiều mà bên này liên tục phản hồi với bên kia. Người truyền đạt phải tìm kiếm và thu thập phản hồi từ người tiếp nhận. Người nói phải đảm bảo những gì mình nói ra được người nghe hiểu và chấp nhận. Để đạt được điều này, người nói phải đặt câu hỏi, quan sát những gì có thể quan sát được và, nếu có hiểu lầm, điều chỉnh ngay nhằm đảm bảo đối phương đã hiểu thấu vấn đề. Người nghe phải chấp nhận thông tin từ người nói thì hai bên mới chân thành hướng đến kết quả được kỳ vọng.

Khi áp dụng các nguyên tắc cơ bản để giao tiếp hữu hiệu, chúng ta không chỉ truyền đạt thông điệp một cách dễ dàng hơn mà còn hoàn thành mục tiêu một cách trơn tru và nhanh chóng hơn; nhân viên sẽ đạt năng suất cao hơn và vui vẻ hơn, các nhà quản lý sẽ ít gặp rắc rối hơn và hài lòng hơn trong công việc.

Trong cuốn sách này, ta sẽ tìm hiểu một số chiến lược để cải thiện việc giao tiếp bằng lời nói và văn bản – những kỹ năng hệ trọng để thành công hơn nữa trong sự nghiệp và trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

Ta sẽ học cách hoàn thiện kỹ năng giao tiếp bằng lời trong các trải nghiệm hàng ngày, từ cách nói chuyện trực diện với người khác – tức nghệ thuật đối thoại – cho đến cách diễn thuyết trước đám đông hoặc trình bày bản báo cáo cho một nhóm hoặc một ủy ban.

Ta sẽ học cách thực sự lắng nghe điều người khác nói để hiểu thấu đáo thông điệp. Ta sẽ tìm hiểu xem ngôn ngữ cơ thể giúp tăng cường hay làm thui chột thông điệp như thế nào và biết cách diễn giải ngôn ngữ cơ thể của người đang lắng nghe ta.

Ta cũng sẽ học cách làm cho văn bản giao tiếp – dù ở dạng thư tín, biên bản, e-mail hoặc tin nhắn – trở nên rõ ràng, cô đọng, hoàn chỉnh và hấp dẫn hơn đối với người đọc.

Để khai thác trọn vẹn cuốn sách này, trước tiên bạn đọc hãy đọc toàn bộ để hấp thu khái niệm tổng thể về cách trao và nhận ý tưởng lẫn thông tin.

Sau đó đọc lại từng chương và bắt đầu áp dụng các bước hướng dẫn để hoàn thiện từng khía cạnh được đề cập. Cách đọc này sẽ giúp bạn đi đúng hướng để trở thành một người giao tiếp nhuần nhuyễn hơn – một bước tiến lớn trên hành trình đến đỉnh thành công.

Tiến sĩ Arthur R. Pell

*
Chương 1
TRUYỀN ĐẠT Ý TƯỞNG CHO NGƯỜI KHÁC

Don M. thốt lên đầy tức giận. “Tôi đã giải thích cặn kẽ cách làm. Anh ta bảo với tôi rằng mình đã hiểu và bây giờ anh ta làm hỏng bét mọi chuyện. Phải làm lại hết từ đầu.”
Tình huống này có thường xuyên xảy đến với bạn không? Bạn hướng dẫn tỉ mỉ cho cấp dưới, giải thích một khái niệm nào đó cho đồng nghiệp, mô tả quy trình cho khách hàng – và yên tâm người nọ đã hiểu rõ để rồi sau đó phát hiện ra họ chẳng hiểu gì cả. Ta có thể tránh được biết bao rắc rối và tiết kiệm được biết bao thời gian nếu đoan chắc rằng những gì ta nói đã được người nghe đón nhận đúng như ta mong đợi.

Người nghe có thật sự hiểu ý không? Khi Don hướng dẫn chi tiết cho thuộc cấp, bạn nghĩ anh ta đã hỏi thế nào sau khi trình bày? Bạn đã đoán đúng. Anh ta hỏi, “Hiểu không?” Và bạn nghĩ thuộc cấp của anh ta trả lời thế nào? Một lần nữa bạn đoán đúng. Chắc chắn người đó đáp, “Vâng, tôi hiểu.” Khi ai đó bảo rằng họ hiểu, điều này không có nghĩa rằng họ thật sự hiểu. Một số người khác cho rằng họ hiểu những gì người khác nói với họ và, tất nhiên, họ trả lời rằng họ hiểu. Tuy nhiên, do cách diễn giải vấn đề của người nghe có thể khác với cách của người nói, có nguy cơ họ thật sự không hiểu gì cả. Có người hiểu một phần nội dung đã được truyền đạt và cho rằng mình hiểu tất cả. Lại có những người không hiểu gì hết nhưng quá ngượng ngùng không thể thú nhận với sếp rằng họ không hiểu nên đành thốt ra rằng họ hiểu và cố gắng tự hình dung. Trong những tình huống như thế này, việc truyền đạt thông tin rõ ràng không đạt hiệu quả và có nguy cơ xảy ra hiểu lầm, phát sinh ngộ nhận, lãng phí thời gian, tổn hại hòa khí và không hoàn thành công việc.

Những người giao tiếp thành thạo sẽ truyền đạt ra sao? Ta hãy xem qua một số câu trả lời từ cuộc khảo sát dành cho các nhà quản lý, quản đốc nhà máy, giám đốc kinh doanh và các chuyên gia quản trị khác.

Betty M., quản lý của một công ty du lịch ở New York, cho biết rằng cô không bao giờ hỏi nhân viên xem họ có hiểu nội dung hướng dẫn hay không. Thay vào đó, cô yêu cầu cấp dưới cho biết họ sẽ làm gì. “Tôi trắc nghiệm họ,” Betty chia sẻ. “Nếu giao việc cho thư ký thực hiện, sau khi giải thích, tôi sẽ hỏi cô ấy định làm gì. Trong trường hợp cô ta hiểu khác với những gì tôi nghĩ, tôi có thể điều chỉnh ngay tại chỗ trước khi công việc gặp rắc rối. Nếu công việc thuộc dạng phức tạp, tôi sẽ hỏi một loạt câu hỏi như: ‘Cô sẽ làm gì nếu xảy ra X?’ và ‘Giả sử nếu phát sinh Y thì sao?’”

Một phần trách nhiệm của Betty là hướng dẫn nhân viên cách dùng máy tính để nhận đặt chỗ từ khách, cũng như nhận yêu cầu đặt mua và phát hành vé máy bay. Cô cho biết: “Để đảm bảo có thể tin tưởng nhân viên sẽ sử dụng máy tính một cách chính xác, ngoài việc đặt câu hỏi, tôi yêu cầu họ thực hành trên máy tính cho tôi xem cách họ xử lý vấn đề. Khi quan sát họ thực hành trên máy tính, tôi có thể đích thân đánh giá họ đã tiếp thu và nắm vững vấn đề đến mức nào.”

Thông điệp có được chấp nhận không?

Hiểu rõ thông điệp là một tiêu chí cơ bản để đánh giá hiệu quả cuộc giao tiếp, nhưng còn một yếu tố khác quan trọng không kém. Đó là thông điệp không những phải được hiểu mà còn phải được đối phương chấp nhận. Khi nhà quản lý bảo rằng việc ấy phải làm xong trước 3 giờ chiều trong ngày, chắc chắn nhân viên biết rõ điều đó có nghĩa là gì, nhưng cô ta tự nhủ, “không thể.” Bạn nghĩ liệu việc ấy có xong trước 3 giờ không? Hầu như không. Nếu không cảm thấy mục tiêu ấy là hợp lý và khả thi, người thực hiện sẽ không nỗ lực để hoàn thành kịp thời hạn.

Louise R., chủ doanh nghiệp kiêm nhà điều hành dịch vụ bảo trì cao ốc ở Rock Hill, bang Nam Carolina, xử lý tình huống dạng này bằng cách kêu gọi sự hợp tác của công nhân. Thông thường, khi có một nhóm nhân công tham gia vào dự án, trước tiên Louise tập hợp họ lại và trình bày với họ về yêu cầu của dự án và lý do cần có áp lực thời gian. Sau đó, cô hỏi họ nghĩ gì về thời gian hoàn thành và có đề xuất nào khác hay không. Thường, họ sẽ đưa ra các giải pháp thậm chí còn tốt hơn điều mà cấp quản lý dự trù. Nhưng đôi khi, qua các cuộc họp, Louise biết rằng công việc cần thêm thời gian hoặc nhân viên cần thêm sự trợ giúp và ước tính ban đầu của cô về thời gian là quá lạc quan. Bởi vì nhân viên biết người chủ sẵn sàng lắng nghe và khuyến khích họ tham gia hoạch định công việc, họ hợp tác tích cực hơn mỗi khi công việc gặp khó khăn và nếu cần, họ sẵn lòng nỗ lực hơn, bỏ nhiều công sức hơn hay gắn bó chặt chẽ hơn.

Tính trước điều sẽ nói

Dù sắp trình bày trước một nhóm hay nói chuyện với một người, ta nên suy nghĩ trước về thông điệp và dự tính cách trình bày. Đôi khi ta sẽ phải nghĩ cách ứng biến trước một tình huống hoặc thậm chí không có thời gian để chuẩn bị. Nhưng thường thì khi cần thảo luận điều gì đó, ta vẫn có thể chuẩn bị ngay cả khi mới được thông báo cách đấy ít phút.

Nắm chủ đề

Trong công việc, ta thường giao tiếp với người khác về các chủ đề mà ta hoàn toàn quen thuộc: công việc ta đang phụ trách, các vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn hoặc các vấn đề liên quan đến công ty. Tuy nhiên, ta vẫn nên xem lại cứ liệu để đảm bảo nắm được đầy đủ thông tin và sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi.

Thỉnh thoảng, ta cũng sẽ được yêu cầu trình bày những vấn đề không thuộc sở trường. Chẳng hạn, công ty có thể muốn mua một phần mềm máy tính mới và yêu cầu ta tìm hiểu.

  • Tìm hiểu càng nhiều càng tốt về chủ đề ấy. Nắm bắt nhiều gấp mười lần so với những gì cần trình bày.
  • Ghi chép về ưu khuyết điểm của từng hạng mục hoặc giải pháp được đề xuất, v.v…
  • Cho dù sẽ trình bày trước một người (như cấp trên) hay trước một nhóm các quản lý hoặc chuyên gia kỹ thuật, hãy sẵn sàng trả lời các câu hỏi phát sinh về mọi chủ đề có thể được nêu ra.

Hiểu người nghe

Ngay cả những người giao tiếp giỏi nhất cũng sẽ thất bại trong việc truyền đạt thông tin nếu người nghe không hiểu họ. Một nửa sự thành công trong giao tiếp nằm ở việc hiểu người nghe. Hãy chọn từ ngữ dễ hiểu với họ. Nếu người nghe xuất thân với nền tảng chuyên môn, ta có thể dùng thuật ngữ chuyên môn để giao tiếp vì người nghe sẽ hiểu một cách rõ ràng và dễ dàng. Nhưng nếu nói về vấn đề kỹ thuật với người không thuộc lĩnh vực ấy, chớ dùng thuật ngữ chuyên môn. Nếu người nghe không hiểu những từ ngữ ta truyền đạt, thông điệp ấy sẽ mai một.

Ví dụ, Charles là một kỹ sư, công việc hàng ngày của anh là trao đổi và làm việc với các kỹ sư khác vốn lúc nào cũng dùng thuật ngữ chuyên môn. Giờ đây, giả sử Charles phải thuyết trình với bộ phận tài chính của công ty để thu xếp nguồn vốn cho một dự án công nghệ mới. Chính Charles, chứ không phải những người nghe, có trách nhiệm đảm bảo thông tin được truyền đạt trọn vẹn. Nếu được, anh nên giải thích vấn đề kỹ thuật bằng ngôn ngữ đời thường. Tuy nhiên, nếu cần sử dụng thuật ngữ, Charles phải giải thích thật rõ thuật ngữ ấy khi sử dụng lần đầu và ít nhất một lần nữa nếu anh cảm thấy cần phải củng cố để người nghe nắm rõ.

Những người bị thuyết phục nghĩ khác với ý của mình thực chất vẫn không thay đổi quan điểm. - Dale Carnegie

Phát âm dõng dạc

Tất cả chúng ta đều từng gặp những người nói lí nhí, nói quá nhanh hoặc quá chậm hoặc có cách nhấn âm khó hiểu. Nếu người nói không phát âm rõ ràng, phần lớn thông điệp mà họ cố gắng truyền đạt sẽ không đến được với người nghe. Cải thiện kỹ năng phát âm là việc khá dễ dàng. Một số cách có thể áp dụng sẽ được bàn trong Chương 4.

Ngôn ngữ cơ thể

Một số hành vi mà ta vô tình biểu lộ có thể gây tác động mạnh mẽ đến việc tạo ấn tượng cho người khác. Quá trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học xã hội về giao tiếp trực diện đã xác định rằng chỉ có 7% thông điệp được truyền từ người này sang người khác thông qua lời nói. Khoảng 38% ngữ nghĩa được truyền qua các nét đặc trưng về âm thanh – giọng nói, điểm dừng, điểm nhấn, v.v…và 55% ngữ nghĩa của thông điệp được truyền đạt qua các tín hiệu trực quan mà chúng ta gọi là “ngôn ngữ cơ thể”. Thông thường, chúng ta không biết điều này ảnh hưởng thế nào đến cách người khác cảm nhận về ta.

Tư thế

Tư thế chỉn chu (hoặc tệ hại) thậm chí đã được nhìn thấy từ xa và ghi dấu ấn ngay lập tức vào phần não bộ cảm xúc của người đối diện. Điều này bộc lộ rõ hơn các tín hiệu phi ngôn ngữ khác vì nó thể hiện qua toàn bộ cơ thể.

Nghiên cứu cho thấy người ta quan niệm rằng những ai có tư thế chỉn chu thì được mến mộ, giàu tham vọng, đáng tin tưởng, thân thiện và thông minh hơn những người có dáng vẻ xuề xòa. Nên nhớ việc sửa dáng ban đầu sẽ khó tránh cảm giác gượng gạo và cường điệu. Hãy tập dáng đứng thẳng, vai ngang và giữ thân dưới cân bằng đều.

Trong tất cả các nét biểu cảm trên khuôn mặt, nụ cười gây ảnh hưởng mạnh nhất. Nụ cười thực chất có thể khiến người khác dễ tiếp thu quan điểm của ta hơn. Khi ta mỉm cười, người khác gần như luôn cười đáp lại. Hơn cả sự hồi đáp, nụ cười phản ánh sự niềm nở và trạng thái an lạc của chính chúng ta.

Một nụ cười không chân thành gây hại hơn cả khi ta không cười. Đừng cố gắng cười tươi bằng duy nhất mỗi cơ hàm. Một nụ cười đáng tin cậy phải huy động toàn bộ gương mặt và xảy ra một cách tự phát khi ta trải nghiệm một suy nghĩ tích cực về mối liên hệ mà ta đang có.

Khi mỉm cười với người khác, bạn đang nói với họ một cách tinh tế rằng bạn thích họ, ít nhất ở một mức độ nào đó. Họ sẽ hiểu ý và sẽ thích bạn hơn. Hãy tập thói quen mỉm cười. Chẳng có gì để mất cả. - Dale Carnegie

Giao tiếp bằng mắt

Khi ta nhìn người nghe, điều đó hàm chứa sự tin tưởng, trung thực và sự quan tâm của ta đối với họ. Tình trạng thiếu tiếp xúc bằng mắt thường được cho là biểu hiện của nỗi sợ, sự thiếu trung thực, lòng thù địch hoặc cảm giác nhàm chán.

Nghiên cứu cho thấy, trong các cuộc phỏng vấn tuyển dụng, các ứng viên trả lời đầy đủ và tường tận hơn khi người phỏng vấn duy trì sự tiếp xúc bằng ánh mắt. Trong lớp học, sự tiếp thu và ghi nhớ của học viên liên quan trực tiếp đến sự tiếp xúc bằng mắt của người dạy. Tuy nhiên, tránh nhìn chằm chặp vào mắt người khác. Hãy nhìn vào toàn bộ gương
mặt họ.

Cách hiểu ngôn ngữ cơ thể của người nghe sẽ được thảo luận trong Chương 3.

Truyền hình ảnh thông điệp

Chúng ta nhận thông tin bằng cả năm giác quan. Ý tưởng và cảm giác hình thành từ khứu giác, vị giác và xúc giác, nhưng hầu hết dữ liệu mà trí não của ta xử lý lại xuất phát từ thính giác và thị giác – âm thanh và hình ảnh. Điều này đã thay đổi nhiều trong thời đại truyền hình. Giới truyền thông đã hợp nhất âm thanh và hình ảnh với nhau khi truyền phát trong suốt một thời kỳ đến mức khiến ta ngày nay lớn lên đã quen với việc nhận thông tin đồng thời qua thính giác và thị giác. Bằng cách áp dụng phương pháp “phát sóng đồng bộ” này để giao tiếp với người khác, thông điệp của chúng ta cũng sẽ được truyền đạt hiệu quả hơn.

Đừng nói suông – hãy minh họa!

Trong khi đào tạo nhân viên xử lý các yêu cầu bồi thường bảo hiểm, Joan nhận thấy khi cô vừa mô tả quy trình vừa vẽ lưu đồ thì họ dễ hiểu hơn. Mỗi giai đoạn, cô lại minh họa bằng cách vẽ khung cho từng bước và vẽ mũi tên để diễn tả sự luân chuyển từ bước nọ sang bước kia.

Steve rút ra kinh nghiệm đáng buồn rằng chỉ giảng suông cho nhân viên về cách làm thôi thì không đủ. Trừ phi các thực tập sinh được dẫn đi tham quan từng ngóc ngách trong nhà kho, họ vẫn cảm thấy mờ mịt về những điều anh hướng dẫn. Nhưng đây là một việc rất tốn thời gian nên Steve đã đơn giản hóa công tác đào tạo bằng cách thiết kế các mô hình nhà kho để định hướng cho nhân viên trong khi giảng giải về công việc họ sẽ làm.

Nhiều nhà quản lý trang bị bảng lật hoặc bảng phấn trong văn phòng để có thể sử dụng phương tiện trực quan hỗ trợ cho nội dung truyền đạt bằng lời. Bằng cách minh họa các chủ đề thảo luận bằng biểu đồ, đồ thị, sơ đồ hoặc bản phác thảo, nội dung đang được trình bày trở nên hiệu quả hơn nhiều. Khi chủ đề được trình bày cùng với hình ảnh trực quan, người nghe thường hiểu nhanh hơn và nhớ lâu hơn.

Một trong những giáo sư nổi tiếng nhất tại Đại học Báo chí Syracuse là một họa sĩ biếm họa. Ông vẽ minh họa bằng tranh biếm và chân dung hí họa trong lúc giảng bài. Các đồng nghiệp của ông đã chế giễu và cho rằng cách này rất không chuyên nghiệp. “Ông ấy chỉ làm hề cho sinh viên – chứ chẳng giảng gì được,” họ tuyên bố. Vâng, các sinh viên của ông thấy tức cười, nhưng họ tiếp thu kiến thức nhiều gấp bội so với việc chỉ nghe giảng suông và nhiều năm sau vẫn nhớ như in những gì ông giảng.

Phương pháp sử dụng công cụ hỗ trợ trực quan hiệu quả sẽ được thảo luận trong Chương 5.

Mục đích của ta là làm cho khán giả thấy điều ta thấy, nghe điều ta nghe, cảm nhận điều ta cảm nhận. Các chi tiết liên quan, được mô tả bằng ngôn ngữ cụ thể, đầy màu sắc, là cách tốt nhất để tái hiện tình tiết như nó đang xảy ra và giúp người nghe dễ hình dung. Dale Carnegie

Tạo hình ảnh trực quan qua điện thoại

Một phương tiện mà ta không thể bổ trợ bằng hình ảnh chính là điện thoại. Tuy nhiên, ta có thể giúp người nghe “nhìn thấy” những gì ta nói bằng cách vẽ hình cho từ ngữ – “ngôn hình”. Ngôn hình cho phép người nghe hình dung trong đầu những gì ta đang nói.

Nếu cần chỉ đường đến trụ sở của mình, ta nói: “Hãy đi dọc xa lộ I-95 đến lối ra xa lộ số 23 (Exit 23), là đường Mulberry. Rẽ phải và đi đến chốt đèn thứ tư, đó là Đại lộ 17. Rẽ trái vào Đại lộ 17 và chạy qua mười hai khối phố đến đường Smith. Rẽ phải vào đường Smith và chạy tiếp năm khối phố nữa. Văn phòng của chúng tôi nằm ở số 2345 đường Smith.”

Rõ rồi. Nhưng bây giờ ta hãy chỉ dẫn bằng cách sử dụng ngôn hình: “Hãy đi dọc xa lộ I-95 đến lối ra xa lộ số 23, đó là đường Mulberry. Rẽ phải ngay đó và đi đến chốt đèn giao thông thứ tư. Có một trạm Texaco bên trái và một tiệm McDonald’s bên phải. Đại lộ 17 nằm ngay đó. Rẽ trái vào Đại lộ 17. Chạy đến trạm cứu hỏa, đó là đường Smith. Rẽ phải và lái đến tòa nhà bằng gạch màu vàng bên trái. Đó là văn phòng của chúng tôi, số 2345 đường Smith.”

Cách này không dễ hơn sao? Khách không cần phải đếm số chốt đèn, số giao lộ hay bận tâm tìm tên đường. Họ chỉ cần để mắt tìm các mốc đã được miêu tả trực quan.

Dựng ảnh tương lai

Những người bán hàng thành công đều sử dụng ngôn hình. Audrey bán máy tính. Trong khi thảo luận với khách hàng tiềm năng, cô biết được rằng anh này chủ yếu bận tâm về tình trạng lộn xộn của văn phòng mà anh đang quản lý. “Giấy tờ và hồ sơ nằm vương vãi khắp nơi,” anh than phiền. “Và tôi không bao giờ tìm thấy hồ sơ khi cần – lúc nào chúng cũng nằm đâu đó.”

Sau khi mô tả các khía cạnh kỹ thuật về sản phẩm của công ty, cô nói: “Hãy hình dung sáu tháng nữa. Anh bước vào văn phòng. Không có chồng giấy nào trên bàn hay trên ghế. Tất cả nhân viên của anh đều đang làm việc trên máy tính; anh cần tìm một hồ sơ. Anh ngồi vào máy tính và gõ tên tập tin. Ngay lập tức thông tin anh muốn hiện ra trên màn hình. Không cần chờ đợi. Không còn cảm giác ức chế.”

Audrey đã dùng ngôn hình để vẽ bức tranh về tương lai. Nhà quản lý không cần nhiều trí tưởng tượng để hình dung điều này và nhận ra giá trị để mua hàng.

Những rào cản đối với việc truyền đạt

Bất kể việc chuẩn bị và trình bày thông điệp chu đáo đến đâu, kết quả thường không được như những gì ta mong đợi. Các rào cản luôn nảy sinh và cản trở quá trình truyền đạt.

Một vài rào cản trong đó mang tính tâm lý, không phải thể lý. Ta có thể phát âm hoàn hảo và chọn từ ngữ khôn ngoan, nhưng thông tin nhiễu lại hình thành từ các khía cạnh vô hình: từ những giả định, thái độ và hành trang cảm xúc của mỗi chúng ta.

Kiểm tra các giả định

Ta có một ý tưởng khá hay về nguyên nhân và cách giải quyết một vấn đề cụ thể. Khi thảo luận với người khác, ta giả định rằng họ cũng biết nhiều về vấn đề đó như chúng ta, nên những gì ta nói đều dựa trên giả định rằng họ nắm được những thông tin mà thực chất họ không có. Kết quả là, chúng ta không trao cho họ đủ thông tin.

Nhận biết thái độ của chúng ta

Một rào cản khác đối với việc giao tiếp chính là thái độ của người truyền đạt và người tiếp nhận. Một nhà quản lý kiêu ngạo sẽ truyền đạt thái độ này theo cách chỉ thị và thông tin. Họ sẽ tỏ ra như đang nói chuyện với nhân viên. Điều này gây phật ý và cản trở sự giao tiếp. Để thông điệp được tiếp nhận, nó không những phải được hiểu mà còn phải được người nghe chấp nhận. Khi cảm thấy phật ý, người nghe sẽ khó lòng chấp nhận điều này.

Một nhân viên cảm thấy phật ý với thái độ của lãnh đạo sẽ không thực sự “nghe” những gì được nói. Các nhà lãnh đạo giỏi đều tránh những biểu hiện của sự kiêu ngạo như mỉa mai và phán xét khi giao tiếp với nhân viên.

Dè chừng các định kiến

Con người có xu hướng chỉ nghe những gì họ muốn nghe. Thông điệp mà họ nhận được thường bị bóp méo bởi bất kỳ thông tin nào họ đã nghe về cùng chủ đề. Vì vậy, nếu thông tin mới khác với thông tin được mong đợi, họ có thể chối bỏ vì cho rằng thông tin không chính xác. Thay vì thực sự nghe thông tin mới, họ chỉ nghe những gì tâm trí mách bảo.

Điều đó có nghĩa là gì? Mọi người phải được rèn luyện để giữ tâm trí cởi mở. Khi ai đó nói với họ điều gì đó, họ phải nỗ lực hơn để lắng nghe và đánh giá thông tin mới một cách khách quan, thay vì bỏ ngoài tai chỉ vì nó khác với các định kiến của họ.

Trong giao tiếp, hãy cố gắng tìm hiểu định kiến của người đối diện. Nếu họ là những người mà ta thường xuyên làm việc cùng, ta có thể biết cách họ nhìn nhận nhiều vấn đề. Khi trình bày quan điểm với họ, hãy xét đến những niềm tin họ đã có. Nếu niềm tin của họ khác với ta, hãy chuẩn bị tinh thần để vượt qua những rào cản đó.

Định kiến và thành kiến – của ta và của họ

Thành kiến đối với một người sẽ ảnh hưởng đến cách ta nhận thông điệp của họ. Ta lắng nghe chăm chú hơn và dễ chấp nhận ý tưởng từ người nào ta thích và tôn trọng. Ngược lại, ta có khuynh hướng bỏ ngoài tai và phản bác ý tưởng của những người ta không thích.

Sự nhận thức là thực tại trong tâm trí của người nhận thức. Nếu nhận thức của ta về một tình huống và về những người mà ta giao tiếp không đồng điệu, ta sẽ rơi vào trạng thái hướng đến các mục đích khác nhau.

Thành kiến cũng ảnh hưởng đến cách tiếp nhận thông tin. Mọi người thường bỏ ngoài tai những quan điểm đối lập về các vấn đề mà họ có thiện cảm. Carol là ví dụ điển hình đối với trường hợp này. Là kiểm soát viên của công ty, cô chịu trách nhiệm cắt giảm chi phí. Vậy nhưng cô không muốn nghe bất kỳ ý kiến bàn luận nào có thể làm tăng chi phí, bất kể lợi ích lâu dài là gì. Để thuyết phục Carol về một ý tưởng độc đáo, ta phải nhấn mạnh rằng dù phí tổn có thể gia tăng trước mắt, nhưng lâu dài sẽ mang lại lợi ích về chi phí.

Nhiều người thậm chí không ý thức được thành kiến của chính họ. Hãy thử phân tích các quyết định của bản thân trong quá khứ. Chúng có bị ảnh hưởng thái quá bởi các thành kiến của ta không? Hãy làm theo sáu bước sau:

  1. Nhận biết những thành kiến của bản thân.
  2. Xác định lý do ta duy trì những thành kiến này.
  3. Nhìn nhận các đặc điểm chung.
  4. Gạt thành kiến sang một bên, giữ đầu óc cởi mở.
  5. Cố gắng xem xét ý tưởng của người khác một cách
    khách quan.
  6. Không cho phép một trải nghiệm tiêu cực khơi dậy
    thành kiến của bản thân.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng