Book trailer

The Booker Prize 2020: The Shadow King – Chiến tranh và chiến tranh

Every sun create a shadow and not all are blest to stand in the light.

Published

on

Chưa khi nào tính nữ được đề cao như thế. Nếu năm ngoái chứng kiến những trào lưu nữ quyền, những hashtag #Metoo, những Margaret Atwood, những Bernardine Evaristo; thì năm nay với danh sách rút gọn giải Booker, ta chứng kiến 4/6 nhà văn nữ, 4/6 tiểu thuyết đề cao tính nữ và đặc biệt hơn hết, tính nữ ở đây lần đầu được khai thác triệt để và mới lạ. Cũng như Ngozi Adichie với Nửa mặt trời vàngThe Shadow King cũng đồng thời là một tiểu thuyết đậm tính nữ. Đặt trong bối cảnh chiến tranh Ethiopia chống quân xâm lược Ý những năm 1935 – 1936 thời đoạn Đệ nhị thế chiến, Maaza Mengiste đã cho thấy một lịch sử Ethiopia chịu nhiều mất mát mà cũng đồng thời qua đó, hình tượng những nữ chiến binh lần đầu hiện lên sáng rõ và đầy vận động trong văn chương tái hiện lịch sử.

*

Cuốn sách là câu chuyện kể về Hirut, Aster và đội quân chống Ý của mình. Sinh ra trong một gia đình với nề nếp quân sự, Kidane từ nhỏ chịu sự huấn luyện nghiêm khắc từ cha. Sau khi quân Ý tràn vào, vua Haile Selassie lại tị nạn ở Anh, anh đứng lên lãnh đạo đội quân của mình, cùng với Aster và Hirut. Aster là con gái một gia đình giàu có, cô bị ép kết hôn sớm không có tình yêu với Kidane và vừa chịu nỗi đau mất đi đứa con đầu lòng; trong khi Hirut là người giúp việc – nơi mẹ cô có mối gắn bó chặt chẽ với Kidane. Khi quân Ý tràn vào, Kidane dẫn đầu đội quân gồm dân làng trốn vào hang chờ thời cơ giao chiến với quân của Fucelli. Giữa tương quan một bên được trang bị tiên tiến và một bên chỉ với vũ khí thô sơ, họ trong thế giằng co. Quân Ý đến mang theo những tội ác tày trời; hơn thế, là người thích phô trương, Fucelli cho gọi Ettore như thợ chụp ảnh ghi lại những tấm hình tra tấn, giết chết tù binh nhằm một mặt răn đe dân làng theo quân kháng chiến, một mặt cho Thế giới kia thấy được sức mạnh của đế quốc này.

Quân đội của Kidane lui về cố thủ và đợi chờ thời cơ tấn công. Trong lúc này, Aster cũng thành lập đội quân của riêng mình. Tuy luôn bị Kidane gièm pha cho là vô dụng và chỉ được giao cho việc bếp núc cũng như chăm sóc thương binh, nhưng khi số người không đủ, cuối cùng những người phụ nữ cũng trở thành chiến binh kiên cường, tập luyện mỗi tối chuẩn bị cho trận chiến lớn. Trong một cuộc giao tranh, Aster và Hirut bị bắt làm tù binh, chịu sự giễu cợt của quân Ý. Từ sự đồng cảm nơi nhân tình của Fucelli – một người đàn bà Ethiopia chính gốc – hai người trốn thoát và kết cục cuối cùng là cuộc giải phóng của quân đội Kidane. Với The Shadow King, Maaza Mengiste lấy cuộc chiến này làm trung tâm, từ đó tỏa ra vòng ngoài gồm những nhân vật như người ngồi trong một hội nghị bàn tròn, mà điểm đặc biệt duy nhất, là họ ngồi tách rời nhau ra, không hẳn trong trạng thái cách ly của thời kì dịch bệnh, mà mỗi người họ là một mặt trời, mà khi đã là mặt trời sẽ tồn tại bóng. Giữa họ và những cái bóng ấy.

*

Như đã nói trên, điểm thành công nhất của The Shadow King là những khắc họa lịch sử mà nếu không nhờ Maaza, chắc hẳn sẽ không ai biết tới một Ethiopia đã từng đứng lên chống quân đội Ý như thế. Nhưng hơn thế nữa, cái hay đồng thời là việc khắc họa những nhân vật bên lề, rõ ràng, chi tiết mà đầy ấn tượng. Có đôi lúc những tưởng Maaza chỉ như đang mượn trận chiến làm nên nhân vật, bởi lẽ, các nhân vật của cô hùng vĩ và đầy ngời sáng. Cũng như tựa đề cuốn sách, Maaza gợi mở trong từng nhân vật, từng bản thể cá nhân, giữa người thật và cái bóng, giữa những nhập nhoạng chếnh choáng đứng chờ người đọc đến để mà nhận ra.

Ảnh: The New York Times

Với Aster, ban đầu đó là người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác. Một người đàn bà biết ghen khi chồng mình dành nhiều tình cảm cho Hirut, một người đàn bà sầu bi vào ngày giỗ đầu của con, một người đàn bà hoảng loạn nhận ra chồng mình không chút thương xót cho đứa con chết yểu. Với bộ đồ màu đen và trạng thái bi kịch sầu thảm của ngày giỗ đầu, đương lúc quân Ý tràn về từ biển, Aster – người đàn bà điên loạn, mất con, có chồng bội phản ấy – cưỡi ngựa đến các nhà thờ hét vọng đến tận thiên thanh, đòi lũ Thiên thần hạ thế. Nhưng cũng Aster, người đàn bà ấy, người gây dựng đội quân phụ nữ, người luôn mặc bộ quần áo của cha chồng mình, đứng trước toàn quân, chỉ huy trận đấu. Song song trong đó là hai nhân vật, hai con người, chuyển dời hòa nhập vào nhau.

Với Hirut, dường như là nhân vật chính của toàn câu chuyện, người chịu đầy đủ mọi thứ bi kịch. Cha mẹ mất sớm, bị Kidane cưỡng ép, mất đi gia bảo là cây súng mà cha để lại vì bị ép sung nạp cho thời chiến tranh. Chính những bi kịch trong đời sống này đã đẩy cô đến mức độ tăng tiến của cái vỡ òa, của lòng căm thù, của cái căm phẫn vẫn đang sục sôi. Cô tập luyện hàng ngày hàng giờ, những lời chỉ dẫn bắn súng của cha văng vẳng bên tai; và dù cho khi bị bắt làm tù binh ở trại quân Ý, cô vẫn kiên quyết giữ cái lạnh lùng của một chiến binh, cái vẻ ngoài không ai có thể bộc phá. Aster và Hirut, cả hai người họ như những đàn bà bộ tộc Amazon, những người trong trận đánh chiến với Achilles ở thành Troy đã làm cho chàng chìm đắm say mê. Mạnh mẽ, hoang dại mà đầy sức sống.

Nếu hai người phụ nữ được Maaza khắc họa như những điểm nhấn của tiểu thuyết này, thì Kidane và Fucelli lại như những gã tầm thường vô cùng muốn quên. Nếu Kidane sợ sệt trước những trận đấu của đội quân mình, là người u mê đứng trước Hirut; thì Fucelli luôn chứa trong mình cái bất an của những tướng lĩnh, của kẻ bị ám ảnh bởi cái chết. Y luôn nhắc nhớ mình là Achilles không thể bị đánh bại bởi các nữ chiến binh Amazon. Y luôn đeo hai đai vũ khí và một con dao cắm ngay ở chân trong khi xung quanh là bảy cận vệ. Cũng như Kidane, y say mê Fifi – người phụ nữ bản địa – nhưng may thay, đó là một người đàn bà tỉnh trí, sáng rực và ở đúng nơi khi cần thiết. Với Fucelli, ta luôn thấy ở y cái thâm độc của người ra lệnh, mà hiển hình nhất là chi tiết nắm chui Ettore – người phó nháy chụp hình – người ghi lại những khoảnh khắc đáng quên.

Ngoài hai nữ chiến binh của bộ tộc Amazon – Hirut và Aster, Ettore góp mặt trong cuốn sách này như nút giao của những bản thể nhìn nhận chiến tranh. Giữa thế bị giằng co bởi lợi lộc của quân xâm lược Ý, nhưng cũng đồng thời ờ thế bị trị khi Phát xít Đức bài trừ Do thái, trong Ettore luôn là những dằn vặt tự thân của cuộc chiến này. Giữa những tự vấn tội ác của riêng bản thân, rằng, Bởi vì, thưa cha, rằng, đây là chiến tranh. Phải thế không? khi tiếp tay cho Fucelli chụp những xác chết bị tra tấn; nay một nhận thức nào đó trỗi dậy trong anh, về những bức thư qua lại của người cha vốn kiệm lời, về những tình cảm sau cuối rốt cuộc anh cũng nhận ra, về chiến tranh, tình người về hàng vạn những điều khác. Đến cuối khi dân làng nổi dậy giết chết Fucelli, anh mới nhận ra, đây là đất nước của những bóng ma và mỗi một tấm ảnh được chụp là một tổ hợp của những hình dáng bóng ma, một sự gặt hái cái chết.

Và điểm cuối cùng, ngoài bối cảnh lịch sử cuốn hút và việc mô tả nhân vật sắc nét, The Shadow King cũng chứa trong mình kết cấu của bản hùng ca về cuộc chiến tranh, mà những đoạn chuyển được Maaza ngắt quãng bằng dòng suy nghĩ của vua Haile Selassie người Abyssinians thời bấy giờ. Ở nước Anh xa xôi, ông nghĩ về động cơ trốn chạy của mình, về nỗi luyến nhớ quê nhà, về máu thịt núi non Ethiopia. Ở đó, câu chuyện về công chúa thứ hai của xứ Abyssinian, Zenebework, bị gả ép cưới cho Gugsa vì các khế ước chính trị, bị đối xử không tình yêu, nhớ nhà nhưng vua cha không cho phép, cuối cùng chết khi sinh con đầu lòng dường như hiện diện thông qua Aster. Đến cuối tiểu thuyết, khi những ảo ảnh mộng du đưa vua Haile Selassie về lại sân ga, Hirut – nữ chiến binh của Ethiopia, con gái của Getey và Fasil, người sinh ra trong một vụ mùa bội thu – vẫn là người cuối cùng dẫn ông về lại ngai vàng của người đứng đầu, thực hiện vai trò của nữ chiến binh bộ tộc Amazon xứ Ethiopia.

Với The Shadow King và kết cấu đặc biệt của nó, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người trong bối cảnh lấy chiến tranh làm trung tâm. Đầy năng lượng như Alice Hoffman trong Những người nuôi giữ bồ câu nhưng cũng tinh tế từ những mạch ngầm như Nửa mặt trời vàng của Ngozi Adichie, The Shadow King là cái bóng của mỗi con người, là vết nhơ rất khó gột rửa và là chứng nhân cho một thời kỳ đã qua. Dẫu không chứa đựng bất cứ một tính cá nhân cụ thể nổi trội nào, dẫu chỉ bối cảnh là thứ đặc sắc nhất; nhưng bằng lối viết dung dị, bình thản và tuần tự, The Shadow King tổng hòa, hòa hợp và vừa đủ.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

‘Đũa – Chuyện linh dị’ khám phá những truyền thuyết rùng rợn về đôi đũa

Published

on

By

Nỗi ám ảnh từ đôi đũa

Đũa là một vật dụng rất đỗi thường mọn trong đời sống hằng ngày nhưng với văn hóa Á Đông, đũa lại mang một sức mạnh tâm linh bí ẩn, hàm chứa vô số những điều cấm kỵ truyền miệng suốt ngàn đời nay.

Lấy cảm hứng từ điều đó, năm tác giả đến từ Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan đã cùng nhau phỏng tác những tục lệ dân gian huyền bí cũng như những truyền thuyết về bùa ngải, ma thuật xoay quanh vật phẩm bé nhỏ này qua một loạt vụ án liên tiếp trải dài từ quá khứ đến hiện đại trong tác phẩm.

Những vụ án này có thể bắt đầu từ hàng loạt cái chết bi thảm khó lý giải, hình ảnh oan hồn cô dâu ma bên đầm Tân Nương, hay sự xuất hiện bí ẩn của những kẻ mang ấn ký hình cá đỏ…

Tất cả mọi manh mối đều dẫn đến một vật hết sức mơ hồ – đũa. Và cũng từ đó những lời đồn thổi về nghi lễ cổ quái xa xưa lại một lần nữa trỗi dậy, rằng chỉ cần qua tám mươi tư ngày tham gia nghi lễ ấy, mọi ước vọng của nhân gian dẫu ngông cuồng đến đâu cũng đều có thể xoay chuyển càn khôn trở thành hiện thực. Nhưng trong cơn cuồng say dục vọng, không ai có thể ngờ rằng một khi dấn bước vào nghi lễ kỳ bí ấy tức là họ đã tự trói buộc mình vào lời nguyền truyền kiếp và cái giá phải trả sẽ tột cùng kinh hoàng.

Một “nghi lễ” vượt biên giới của các nhà văn

Đũa – Chuyện linh dị là dự án đánh dấu sự hợp tác của 5 cây bút đến từ Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản, nhưng đây hoàn toàn không phải một tập truyện ngắn theo cách hiểu thông thường.

Với đề tài chính là “đũa”, các nhà văn có thể tự do sáng tạo mạch truyện theo cách riêng, nhưng để giữ cho tập sách có sự thống nhất, ba tác giả đầu tiên sẽ xây dựng những tình tiết nền móng, hai tác giả cuối cùng dựa trên manh mối từ ba truyện trước để khép lại câu chuyện theo cách diễn giải của mình.

Đũa – Chuyện linh dị thuộc thể loại tiểu thuyết hợp tác (collaborative fiction), thường gồm hai hoặc một số nhà văn thay phiên nhau viết từng phần câu chuyện và chuyển cho người tiếp theo, nhưng vẫn chú ý đến nhân vật, tình tiết của đối tác để triển khai mạch truyện sao cho logic, chặt chẽ.  

Thể loại này đặc biệt phù hợp với đề tài tác phẩm, vốn xoay quanh các nghi lễ ma quái nhằm triệu hồi một thế lực thần bí, tương tự như quá trình sáng tác Đũa – Chuyện Linh Dị đã kết nối năm cây bút độc lập đến từ những vùng đất khác nhau, đưa họ đến một mục đích chung.

Chính vì thế, tác giả Tiêu Tương Thần cho rằng những yếu tố bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các tác giả chính là điểm hấp dẫn của dòng tiểu thuyết hợp tác. Người này nhận xét:

“Như thể có một bàn tay lớn hơn ẩn đằng sau các tác giả, âm thầm thêu dệt truyện. Câu chuyện rời khỏi tay tác giả, lần lượt phản bội tác giả, khiến tác giả trở thành một phần của câu chuyện, phải chăng có một thế lực nào lớn hơn đang ở phía sau chúng tôi?”.

Sức hấp dẫn không thể chối từ của dòng truyện “linh dị”

Dòng truyện linh dị là những tác phẩm xoay quanh tập tục dân gian cổ xưa, tà đạo, thuật phong thủy, hoặc những thế lực siêu nhiên như vong hồn, oán chú,… đặc trưng trong văn hóa Á Đông.

Truyện linh dị thường khiến người đọc rợn tóc gáy vì khả năng truyền tải nỗi sợ qua những vật dụng gần gũi trong đời sống thường ngày; hay như những câu chuyện truyền miệng qua lời kể của ông bà, cha mẹ; những lời đồn đại của bạn bè trong lớp học; hoặc đôi khi chỉ đơn giản là những phỏng đoán xung quanh một địa điểm hay một vụ án bí ẩn không lời giải.

Khác với dòng truyện nặng tính kinh dị (horror) đến từ phương Tây, tiểu thuyết linh dị Á Đông dễ dàng hớp hồn độc giả Việt Nam nhờ sự tương cận, gần gũi về văn hóa. Nhiều độc giả có lẽ đã dần biết đến dòng tiểu thuyết linh dị thông qua văn học mạng hay các tác phẩm của Quỷ Cổ Nữ.

Đến với Đũa – Chuyện linh dị, người đọc không những được trải nghiệm một câu chuyện hấp dẫn, rùng rợn xoay quanh đũa và những tập tục cổ xưa, mà còn có dịp làm quen với dạng thức tiểu thuyết hợp tác – một thể loại vẫn còn mới mẻ với nhiều độc giả Việt Nam.

Bìa sách Đũa bản nước ngoài

Trích đoạn

Dưới ánh trăng, tôi cắm một chiếc đũa vào hũ gạo, chiếc kia xếp ngang phía trên thành hình chữ T. Tôi quỳ xuống thắp một nén nhang, đầu nhang đỏ rực như đom đóm, hương thơm quyện vào trong gió.

Sau đó tôi lầm rầm câu chú.

Lần cuối cùng tôi đọc câu chú này là hơn bốn mươi năm trước, nhưng lòng tôi bây giờ so với khi đó đã hoàn toàn khác.

Trong những mảnh vỡ của cuộc đời tôi, luôn lấp lóa tia sáng đỏ rực của cái đêm kinh hoàng bên bờ suối, khiến tôi thấy mình vẫn như đang đắm mình trong làn nước lạnh giá để khâu lại những tấm da mỏng manh, những đứa trẻ bị đẩy vào bóng tối với cặp mắt mở trừng trừng…

(trích đoạn Đũa – Chuyện linh dị)

Về tác giả

Mitsuda Shinzo: tiểu thuyết gia dòng kinh dị kỳ ảo người Nhật Bản, nổi tiếng với series truyện Tojio GenyaLike a Sinking Water Demon (giải thưởng Honkaku Mystery Award)…

Tiết Tây Ti (Xerxes): tiểu thuyết gia dòng võ thuật, kỳ ảo người Đài Loan, nổi tiếng với các tác phẩm tiêu biểu: H.A, Phoenix, Lotus Reborn (giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013)…

Tiêu Tương Thần: tiểu thuyết gia kiêm nhà sản xuất game nổi tiếng người Đài Loan, tác phẩm đầu tay của anh - Taipei Scrolls - đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2012 và King Car Fantasy Fiction Prize năm 2014.

Je Tau Zi: tiểu thuyết gia trinh thám kiêm nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng người Hồng Kông, tác phẩm tiêu biểu The Spirit of the Word của cô từng đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013.

Chan Ho Kei: tiểu thuyết gia kiêm kỹ sư phần mềm, nhà thiết kế trò chơi và biên tập viên tạp chí truyện tranh người Hồng Kông. Các tác phẩm tiêu biểu của anh gồm có: The Case of Jack and the Beanstalk, The Locked Room of Bluebeard, The Man Who Sold the World (Soji Shimada Mystery Award 2011)... Tại Việt Nam, tác phẩm trinh thám Người trong lưới13.67 của anh cũng được độc giả nhiệt liệt đón nhận.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Bức thư tình gửi đến Việt Nam từ một nhà thơ người Mỹ

Published

on

By

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tuyển tập bút ký điền dã của một nhà thơ, nhà báo người Mỹ viết về Sài Gòn, được xuất bản dưới dạng sách song ngữ. Tuyển tập gồm 8 đoản khúc, xoay quanh những điều bình dị như cây chò nâu, tiệm tạp hóa, lục bình, sở thú… cho đến những chủ đề “khó nhằn” như tục thờ cá Ông, đồn điền cao su, nghề nấu rượu… Tất cả được viết bằng giọng văn vừa dí dỏm, khoa học nhưng không kém phần thơ mộng.

Việt Nam qua góc nhìn của thi sĩ Mỹ

Nhà thơ Paul Christiansen sinh năm 1986, quốc tịch Mỹ, tốt nghiệp cử nhân Đại học St Olaf và có bằng thạc sĩ nghệ thuật Đại học Quốc tế Florida (Mỹ).

Nhận học bổng chương trình Fulbright, anh sang Quy Nhơn năm 2015 rồi sau đó chuyển hẳn đến Việt Nam làm việc. Anh hiện là Giám đốc Nội dung của tạp chí Saigoneer và đang miệt mài chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Thơ của Paul Christiansen đã xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật uy tín như Atlanta Review, Pleiades, Quarter After Eight, Threepenny Review, Zone Three và đã đoạt hai giải thưởng thi ca của Viện Hàn Lâm Thi Ca Mỹ.

Tài năng của Trần Thị NgH trong vai trò dịch giả

Chịu trách nhiệm chuyển ngữ tập bút ký của Christiansen là Trần Thị NgH - nữ văn sĩ từng gây tiếng vang với những truyện ngắn được viết trước 1975. Năm 2012, nhiều truyện ngắn của Trần Thị NgH được tập hợp lại thành sách và giới thiệu với độc giả trong nước, như Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn, Nhăn Rúm và các truyện ngắn khác. Vào năm 2018, tác phẩm gần đây nhất của bà là Ác tính được xuất bản, gây xôn xao văn đàn. 

Vắng bóng một thời gian trong tư cách người cầm bút, Trần Thị NgH bất ngờ trở lại với cuốn sách Dưới Tán Chò Nâu, nhưng trong một vai trò mới: dịch giả.

Đọc qua phần mục lục, ta có thể thấy tài năng của Trần Thị NgH qua việc chuyển ngữ những tiêu đề tiếng Anh sang tiếng Việt rất mượt mà:

  • SỞ THÚ SÀI GÒN – Vẫn yêu dù có thế nào (On Loving the Saigon Zoo Despite Its Flaws)
  • LỤC BÌNH: Người đẹp thủy sinh, kẻ phá hoại đáng ghét, quân xâm lược xấu xa (An Invasive, Destructive, Beautiful Aquatic Villain)

Bà cũng là người biên dịch nhiều tác phẩm của John Steinbeck, Anton Chekhov, Paolo Giordano, Franck Thilliez, Guillaume Musso,...

Về việc dịch tác phẩm này, bà cho biết: “Thách thức trong khi dịch Paul Christiansen không chỉ đòi hỏi nỗ lực Việt hóa tác phẩm sao cho không còn là văn dịch đồng thời đảm bảo trung thực ý nghĩa từng câu chữ so với bản gốc, mà còn phải làm thế nào để giữ cho được cái giọng châm biếm ở nhiều ngữ cảnh của tác phẩm, đặc biệt giọng văn rất thơ của tác giả”.

Tập bút ký điền dã với nhiều suy tư sâu sắc

Vốn là người yêu thiên nhiên và thơ ca, dễ thấy rằng Paul Christiansen đặc biệt quan tâm đến những điều tạo nên nét đẹp mộc mạc, bình dị của mảnh đất hình chữ S. Tác giả tìm thấy cảm hứng từ việc đi dạo dưới bóng cây râm mát của sở thú, trăn trở về cá voi ngoài đại dương lẫn những con thú bị nhốt trong chuồng, thích thú ngắm nhìn lục bình trôi và những quả chò nâu xoay vòng trong gió…

Những bài viết của Paul Christiansen độc đáo ở chỗ có sự đan xen giữa óc quan sát tinh tế của một nhà thơ và góc nhìn chuyên sâu của một nhà nghiên cứu về những cảnh quan, nghi lễ, sự thật lịch sử vẫn còn bị dân bản địa thờ ơ.

Hai bài viết đầu tiên, Sở thú Sài Gòn, Tạp hóa và cửa hàng tiện lợi, đưa người đọc tái khám phá những địa điểm quen thuộc dưới một lăng kính mới. Trong mắt nhà thơ người Mỹ, ngay cả những dây dầu gội, sữa tắm treo trước các tiệm tạp hóa trông thật lạ lẫm, được anh ví như “rêu bằng nhôm mọc trên cây hay những tấm màn bằng xâu chuỗi để che hậu cảnh”.

Nhưng Paul Christiansen không chỉ khám phá Việt Nam qua những điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nghề nấu rượu, Tục thờ cá Ông, Đồn điền cao su Việt Nam… khai thác những chủ đề tưởng chừng khô khan, khó nhằn thậm chí đối với người bản địa.

Nghề nấu rượu xoay quanh món rượu gạo truyền thống của Việt Nam và những thăng trầm mà người làm rượu theo cách thủ công phải trải qua trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ.

Tục thờ cá Ông viết về tín ngưỡng thờ cúng cá voi ở các làng chài Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời cũng là nỗi băn khoăn của tác giả trước thực tế cá voi đang dần tuyệt chủng.

Đồn điền cao su điểm lại một trang sử bi thương của người Việt Nam, nhìn thẳng vào hệ quả hậu thuộc địa mà các nước thực dân gây ra.

Bảo tàng Địa chất, Lục bình, Chò nâu Sài Gòn viết về những vật, những người vẫn luôn ở đó nhưng dễ bị lãng quên giữa guồng quay cuộc sống: một bảo tàng khiêm tốn nằm ở góc quận 1, thảm xanh lục bình trôi trên sông, hay vẻ đẹp của cây chò nâu mọc ven đường…

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tập bút ký dành cho người yêu Sài Gòn, yêu Việt Nam, và cả những người muốn yêu lại từ đầu với thành phố, với mảnh đất này…

Trích đoạn

“Trong khi tản bộ xuống đường Nguyễn Đình Chiểu, tôi chợt thấy một thác chò đổ tuôn sau cơn gió hè. Những quả khô bay vòng vèo xuống rồi đáp bất lực trên nền bê tông. Vô phương bám rễ, những đôi cánh xụi lơ, giống như vây cá voi sát thủ yếu quặt vì bị giam cầm. Có một thứ gì đó trong tôi cũng tả tơi như thế.”

(trích Chò nâu Sài Gòn)

“… tôi đến viếng bàn thờ cá Ông và thắp một nén nhang cầu xin cho cá voi được trường tồn, cho làng chài được sung túc và cho những ao ước riêng tư của mình thành hiện thực – những khát vọng này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau. Khói nhang bay tỏa lên không trung, giống như tiếng hát cá voi vang vọng vào cõi tĩnh lặng lúc nó ngoi lên từ vực nước thẳm sâu”.

(trích Tục thờ cá Ông)

Nhận xét

Paul Christiansen thích đi bộ để thấy và nghe. Anh lắng nghe tâm tình của động vật và cây cỏ trong Thảo Cầm Viên, ngồi ngắm lục bình trôi trên sông Sài Gòn, mua nhu yếu phẩm từ tiệm tạp hóa góc phố, uống rượu gạo với dân làng chài, thắp nhang vái lạy trước bàn thờ cá Ông làng Phước Hải, băn khoăn về những dòng máu trắng chảy trong rừng cao su thời thuộc địa, ray rứt với từng viên thạch anh trưng bày ở Bảo tàng Địa chất, ngắm nhìn cánh chò xoay xoay trong gió…

– Dịch giả Trần Thị NgH

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác – tác phẩm về một thí nghiệm tâm lý gây chấn động

Published

on

By

Tác phẩm được viết bởi hai nhà tâm lý học đoạt giải Ig Nobel 2004

Hai nhà tâm lý học Christopher Chabris và Daniel Simons gặp nhau tại Viện Đại học Harvard vào năm 1997 và bắt đầu trở thành cộng sự trong lĩnh vực nghiên cứu.

Christopher Chabris là một giáo sư tâm lí học và cũng là giám đốc điều hành của một chương trình về khoa học thần kinh tại Đại học Union ở Schenectady, New York (Mỹ). Daniel Simons là nhà tâm lý học thực nghiệm, nhà khoa học nhận thức, và là giáo sư Khoa Tâm lý học ở Viện Beckman về Phát triển khoa học và công nghệ tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2004, họ cùng thắng giải Ig Nobel tâm lý học – một giải thưởng nhại lại giải Nobel được trao cho “những thành tựu ban đầu làm người ta phì cười, nhưng sau đó lại khiến họ suy nghĩ”. Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác được lấy cảm hứng từ đây.

Hiện tượng “nhìn mà không thấy” trong thí nghiệm “khỉ đột vô hình”

Mọi chuyện bắt đầu từ một thí nghiệm kinh điển của Chabris và Simons. Hai nhà tâm lý học nhờ các tình nguyện viên trường Harvard xem đoạn phim ngắn về trận bóng giữa hai đội mặc áo đen và trắng, yêu cầu họ đếm số lần chuyền bóng của hai đội. Sau khi hết video, các đối tượng tham gia thí nghiệm nêu ra con số mà mình đếm được.

Nhưng nhiệm vụ đếm số lần chuyền bóng chỉ là cái cớ để giữ cho những tình nguyện viên phân tâm khỏi sự kiện chính trong đoạn video. Giữa lúc trận bóng diễn ra, một người mặc bộ đồ hóa trang khỉ đột lặng lẽ đi vào hiện trường, nhìn về phía camera, lấy tay đấm lên ngực rồi bước ra. Cảnh này diễn ra trong vòng 9 giây.

https://youtu.be/vJG698U2Mvo

Kết quả thật đáng ngạc nhiên: khoảng phân nửa đối tượng tham gia thí nghiệm, vì quá chú tâm đến nhiệm vụ của mình, đã không chú ý tới chú khỉ đột!

Thí nghiệm này là xuất phát điểm để Christopher Chabrisvà Daniel Simons phát triển công trình nghiên cứu gây tiếng vang của mình. Khoa học gọi đây là hiện tượng “mù vô ý” (inattentional blindness) có thể xảy ra hằng ngày trong mọi khía cạnh của đời sống, nhưng những điều trên mới chỉ là bề nổi của tảng băng trôi.

Chúng ta không biết nhiều về thế giới như ta vẫn nghĩ

Từ một thí nghiệm về tình trạng mù vô ý, Christopher Chabrisvà Daniel Simons đã dẫn chứng hàng loạt câu chuyện có thật nhằm chứng minh rằng nhận thức con người đầy rẫy những lỗ hổng.

Khi tham gia giao thông, bạn hoàn toàn có thể rơi vào tình trạng mù vô ý và không thể tránh kịp chiếc xe đang ở phía trước, dù nó nằm ngay trong tầm nhìn của bạn.

Cuốn sách đưa ra những trường hợp chứng tỏ con người thường vô ý bỏ qua những gì ở ngay trước mắt khi quá tập trung vào một việc cụ thể, dẫn tới hậu quả khôn lường: như một cảnh sát chạy ngang qua hiện trường một vụ hành hung nhưng không nhận ra, một vị hạm trưởng tàu ngầm không thấy chiếc ngư thuyền trong tầm mắt, một tài xế không chú ý tới người chạy xe máy, một phi công không thấy chướng ngại vật trên đường băng…

Không dừng lại ở những gì tai nghe mắt thấy, Chabris và Simons đi sâu vào phân tích nhiều cái bẫy ảo tưởng tinh vi hơn, chẳng hạn ảo tưởng về ký ức, ảo tưởng về kiến thức hay ảo tưởng về sự tự tin. Bộ đôi nhà tâm lý học chỉ ra rằng, bộ nhớ của chúng ta thường cố tình bóp méo những ký ức về sự kiện trong quá khứ, rằng một chuyên gia vẫn có thể mắc sai lầm… Tất cả đều xuất phát từ niềm tin mù quáng vào kinh nghiệm và nhận thức của bản thân.

Những ảo tưởng sai lầm có thể khiến chúng ta bị “dắt mũi”

Có nhiều doanh nghiệp đã tạo ra hàng triệu USD nhờ tận dụng những ảo tưởng phổ biến của con người.

Một trong số đó là việc quảng cáo loại headset đeo tai để nghe điện thoại trong lúc lái xe.  Luật giao thông cấm tài xế sử dụng điện thoại di động cầm tay khi đang chạy xe trên đường, nhưng không cấm tài xế đeo headset. Tờ quảng cáo của công ty AT&T Wireless đã tuyên bố: “Nếu sử dụng điện thoại không dây trong khi lái xe, bạn có thể giữ cả hai bàn tay trên tay lái”.

Chabris và Simons cho rằng không có nhiều khác biệt giữa khả năng gây phân tâm của điện thoại cầm tay và điện thoại rảnh tay, vì bản chất việc nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe đòi hỏi khả năng đa nhiệm của người sử dụng. Càng chú tâm vào cuộc nói chuyện, tài xế sẽ càng xao lãng những gì diễn ra trước mắt, dễ dẫn đến tình trạng mù vô ý, thế nên quảng cáo headset đeo tai an toàn hơn điện thoại cầm tay là hoàn toàn sai lầm và lợi dụng niềm tin của người dùng.

Bằng cách nhận ra khi nào và tại sao các ảo tưởng này lại ảnh hưởng tới mình, hậu quả mà chúng gây ra cho những vấn đề của con người, Chabris và Simons tin rằng Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác sẽ giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về cách tâm trí hoạt động, vượt qua hoặc giảm thiểu tác động của những ảo tưởng ở mức tối đa, từ đó sống và đưa ra quyết định một cách sáng suốt hơn.

Trích đoạn

“Mỗi khi nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe, và tin rằng mình vẫn đang chú ý đủ trên đường, chúng ta bị ảnh hưởng bởi một trong những ảo tưởng này. Mỗi khi giả định rằng người nhớ sai quá khứ của họ thì chắc là đang dối trá, chúng ta đầu hàng một ảo tưởng. Mỗi lúc chọn vị lãnh đạo cho một đội ngũ, do người đó thể hiện sự tự tin nhiều nhất, chúng ta bị ảo tưởng tác động. Mỗi lúc bắt đầu một dự án mới và tin rằng mình biết nó sẽ hoàn thành trong bao lâu, chúng ta lại bị một ảo tưởng. Thực vậy, hầu như không có lĩnh vực nào của hành vi con người là không chạm tới ảo tưởng hàng ngày”.

Nhận xét của độc giả

“Một cuốn sách khai nhãn. Sau khi đọc, bạn sẽ nhìn vào chính mình và thế giới xung quanh một cách khác biệt.” - Joseph T. Hallinan

“Khỉ đột vô hình và cú lừa của trực giác khiến chúng ta khôn ngoan hơn bằng cách tự nhắc nhở rằng mình hiểu biết ít như thế nào.” - Amanda Ripley

“Một hành trình hấp dẫn và sâu sắc đi qua những ảo tưởng có sức ảnh hưởng tới mỗi khoảnh khắc của cuộc sống.” - Richard Wiseman

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng