Nối kết với chúng tôi

Book trailer

The Booker Prize 2020: The Shadow King – Chiến tranh và chiến tranh

Every sun create a shadow and not all are blest to stand in the light.

Published

on

Chưa khi nào tính nữ được đề cao như thế. Nếu năm ngoái chứng kiến những trào lưu nữ quyền, những hashtag #Metoo, những Margaret Atwood, những Bernardine Evaristo; thì năm nay với danh sách rút gọn giải Booker, ta chứng kiến 4/6 nhà văn nữ, 4/6 tiểu thuyết đề cao tính nữ và đặc biệt hơn hết, tính nữ ở đây lần đầu được khai thác triệt để và mới lạ. Cũng như Ngozi Adichie với Nửa mặt trời vàngThe Shadow King cũng đồng thời là một tiểu thuyết đậm tính nữ. Đặt trong bối cảnh chiến tranh Ethiopia chống quân xâm lược Ý những năm 1935 – 1936 thời đoạn Đệ nhị thế chiến, Maaza Mengiste đã cho thấy một lịch sử Ethiopia chịu nhiều mất mát mà cũng đồng thời qua đó, hình tượng những nữ chiến binh lần đầu hiện lên sáng rõ và đầy vận động trong văn chương tái hiện lịch sử.

*

Cuốn sách là câu chuyện kể về Hirut, Aster và đội quân chống Ý của mình. Sinh ra trong một gia đình với nề nếp quân sự, Kidane từ nhỏ chịu sự huấn luyện nghiêm khắc từ cha. Sau khi quân Ý tràn vào, vua Haile Selassie lại tị nạn ở Anh, anh đứng lên lãnh đạo đội quân của mình, cùng với Aster và Hirut. Aster là con gái một gia đình giàu có, cô bị ép kết hôn sớm không có tình yêu với Kidane và vừa chịu nỗi đau mất đi đứa con đầu lòng; trong khi Hirut là người giúp việc – nơi mẹ cô có mối gắn bó chặt chẽ với Kidane. Khi quân Ý tràn vào, Kidane dẫn đầu đội quân gồm dân làng trốn vào hang chờ thời cơ giao chiến với quân của Fucelli. Giữa tương quan một bên được trang bị tiên tiến và một bên chỉ với vũ khí thô sơ, họ trong thế giằng co. Quân Ý đến mang theo những tội ác tày trời; hơn thế, là người thích phô trương, Fucelli cho gọi Ettore như thợ chụp ảnh ghi lại những tấm hình tra tấn, giết chết tù binh nhằm một mặt răn đe dân làng theo quân kháng chiến, một mặt cho Thế giới kia thấy được sức mạnh của đế quốc này.

Quân đội của Kidane lui về cố thủ và đợi chờ thời cơ tấn công. Trong lúc này, Aster cũng thành lập đội quân của riêng mình. Tuy luôn bị Kidane gièm pha cho là vô dụng và chỉ được giao cho việc bếp núc cũng như chăm sóc thương binh, nhưng khi số người không đủ, cuối cùng những người phụ nữ cũng trở thành chiến binh kiên cường, tập luyện mỗi tối chuẩn bị cho trận chiến lớn. Trong một cuộc giao tranh, Aster và Hirut bị bắt làm tù binh, chịu sự giễu cợt của quân Ý. Từ sự đồng cảm nơi nhân tình của Fucelli – một người đàn bà Ethiopia chính gốc – hai người trốn thoát và kết cục cuối cùng là cuộc giải phóng của quân đội Kidane. Với The Shadow King, Maaza Mengiste lấy cuộc chiến này làm trung tâm, từ đó tỏa ra vòng ngoài gồm những nhân vật như người ngồi trong một hội nghị bàn tròn, mà điểm đặc biệt duy nhất, là họ ngồi tách rời nhau ra, không hẳn trong trạng thái cách ly của thời kì dịch bệnh, mà mỗi người họ là một mặt trời, mà khi đã là mặt trời sẽ tồn tại bóng. Giữa họ và những cái bóng ấy.

*

Như đã nói trên, điểm thành công nhất của The Shadow King là những khắc họa lịch sử mà nếu không nhờ Maaza, chắc hẳn sẽ không ai biết tới một Ethiopia đã từng đứng lên chống quân đội Ý như thế. Nhưng hơn thế nữa, cái hay đồng thời là việc khắc họa những nhân vật bên lề, rõ ràng, chi tiết mà đầy ấn tượng. Có đôi lúc những tưởng Maaza chỉ như đang mượn trận chiến làm nên nhân vật, bởi lẽ, các nhân vật của cô hùng vĩ và đầy ngời sáng. Cũng như tựa đề cuốn sách, Maaza gợi mở trong từng nhân vật, từng bản thể cá nhân, giữa người thật và cái bóng, giữa những nhập nhoạng chếnh choáng đứng chờ người đọc đến để mà nhận ra.

Ảnh: The New York Times

Với Aster, ban đầu đó là người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác. Một người đàn bà biết ghen khi chồng mình dành nhiều tình cảm cho Hirut, một người đàn bà sầu bi vào ngày giỗ đầu của con, một người đàn bà hoảng loạn nhận ra chồng mình không chút thương xót cho đứa con chết yểu. Với bộ đồ màu đen và trạng thái bi kịch sầu thảm của ngày giỗ đầu, đương lúc quân Ý tràn về từ biển, Aster – người đàn bà điên loạn, mất con, có chồng bội phản ấy – cưỡi ngựa đến các nhà thờ hét vọng đến tận thiên thanh, đòi lũ Thiên thần hạ thế. Nhưng cũng Aster, người đàn bà ấy, người gây dựng đội quân phụ nữ, người luôn mặc bộ quần áo của cha chồng mình, đứng trước toàn quân, chỉ huy trận đấu. Song song trong đó là hai nhân vật, hai con người, chuyển dời hòa nhập vào nhau.

Với Hirut, dường như là nhân vật chính của toàn câu chuyện, người chịu đầy đủ mọi thứ bi kịch. Cha mẹ mất sớm, bị Kidane cưỡng ép, mất đi gia bảo là cây súng mà cha để lại vì bị ép sung nạp cho thời chiến tranh. Chính những bi kịch trong đời sống này đã đẩy cô đến mức độ tăng tiến của cái vỡ òa, của lòng căm thù, của cái căm phẫn vẫn đang sục sôi. Cô tập luyện hàng ngày hàng giờ, những lời chỉ dẫn bắn súng của cha văng vẳng bên tai; và dù cho khi bị bắt làm tù binh ở trại quân Ý, cô vẫn kiên quyết giữ cái lạnh lùng của một chiến binh, cái vẻ ngoài không ai có thể bộc phá. Aster và Hirut, cả hai người họ như những đàn bà bộ tộc Amazon, những người trong trận đánh chiến với Achilles ở thành Troy đã làm cho chàng chìm đắm say mê. Mạnh mẽ, hoang dại mà đầy sức sống.

Nếu hai người phụ nữ được Maaza khắc họa như những điểm nhấn của tiểu thuyết này, thì Kidane và Fucelli lại như những gã tầm thường vô cùng muốn quên. Nếu Kidane sợ sệt trước những trận đấu của đội quân mình, là người u mê đứng trước Hirut; thì Fucelli luôn chứa trong mình cái bất an của những tướng lĩnh, của kẻ bị ám ảnh bởi cái chết. Y luôn nhắc nhớ mình là Achilles không thể bị đánh bại bởi các nữ chiến binh Amazon. Y luôn đeo hai đai vũ khí và một con dao cắm ngay ở chân trong khi xung quanh là bảy cận vệ. Cũng như Kidane, y say mê Fifi – người phụ nữ bản địa – nhưng may thay, đó là một người đàn bà tỉnh trí, sáng rực và ở đúng nơi khi cần thiết. Với Fucelli, ta luôn thấy ở y cái thâm độc của người ra lệnh, mà hiển hình nhất là chi tiết nắm chui Ettore – người phó nháy chụp hình – người ghi lại những khoảnh khắc đáng quên.

Ngoài hai nữ chiến binh của bộ tộc Amazon – Hirut và Aster, Ettore góp mặt trong cuốn sách này như nút giao của những bản thể nhìn nhận chiến tranh. Giữa thế bị giằng co bởi lợi lộc của quân xâm lược Ý, nhưng cũng đồng thời ờ thế bị trị khi Phát xít Đức bài trừ Do thái, trong Ettore luôn là những dằn vặt tự thân của cuộc chiến này. Giữa những tự vấn tội ác của riêng bản thân, rằng, Bởi vì, thưa cha, rằng, đây là chiến tranh. Phải thế không? khi tiếp tay cho Fucelli chụp những xác chết bị tra tấn; nay một nhận thức nào đó trỗi dậy trong anh, về những bức thư qua lại của người cha vốn kiệm lời, về những tình cảm sau cuối rốt cuộc anh cũng nhận ra, về chiến tranh, tình người về hàng vạn những điều khác. Đến cuối khi dân làng nổi dậy giết chết Fucelli, anh mới nhận ra, đây là đất nước của những bóng ma và mỗi một tấm ảnh được chụp là một tổ hợp của những hình dáng bóng ma, một sự gặt hái cái chết.

Và điểm cuối cùng, ngoài bối cảnh lịch sử cuốn hút và việc mô tả nhân vật sắc nét, The Shadow King cũng chứa trong mình kết cấu của bản hùng ca về cuộc chiến tranh, mà những đoạn chuyển được Maaza ngắt quãng bằng dòng suy nghĩ của vua Haile Selassie người Abyssinians thời bấy giờ. Ở nước Anh xa xôi, ông nghĩ về động cơ trốn chạy của mình, về nỗi luyến nhớ quê nhà, về máu thịt núi non Ethiopia. Ở đó, câu chuyện về công chúa thứ hai của xứ Abyssinian, Zenebework, bị gả ép cưới cho Gugsa vì các khế ước chính trị, bị đối xử không tình yêu, nhớ nhà nhưng vua cha không cho phép, cuối cùng chết khi sinh con đầu lòng dường như hiện diện thông qua Aster. Đến cuối tiểu thuyết, khi những ảo ảnh mộng du đưa vua Haile Selassie về lại sân ga, Hirut – nữ chiến binh của Ethiopia, con gái của Getey và Fasil, người sinh ra trong một vụ mùa bội thu – vẫn là người cuối cùng dẫn ông về lại ngai vàng của người đứng đầu, thực hiện vai trò của nữ chiến binh bộ tộc Amazon xứ Ethiopia.

Với The Shadow King và kết cấu đặc biệt của nó, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người trong bối cảnh lấy chiến tranh làm trung tâm. Đầy năng lượng như Alice Hoffman trong Những người nuôi giữ bồ câu nhưng cũng tinh tế từ những mạch ngầm như Nửa mặt trời vàng của Ngozi Adichie, The Shadow King là cái bóng của mỗi con người, là vết nhơ rất khó gột rửa và là chứng nhân cho một thời kỳ đã qua. Dẫu không chứa đựng bất cứ một tính cá nhân cụ thể nổi trội nào, dẫu chỉ bối cảnh là thứ đặc sắc nhất; nhưng bằng lối viết dung dị, bình thản và tuần tự, The Shadow King tổng hòa, hòa hợp và vừa đủ.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

Chú bé Thất Sơn: Tấm postcard gửi cho những ước mơ bị chôn vùi

Chú bé Thất Sơn được tác giả, nhà báo Phạm Công Luận viết năm 1991, lần tái bản này đánh dấu 30 năm kể từ khi quyển sách ra đời.

Published

on

By

chu be that son featured

Quyển sách 30 tuổi trong sự sống mới

Chú bé Thất Sơn xuất bản lần đầu năm 1993, đoạt giải C cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ nhất. Phương Nam Book tái bản sách với bìa mới, 88 trang in màu và hình minh họa sinh động, dễ thương.

Sách kể về chuyến nghỉ "hè sớm" về thăm quê ngoại đã cho hai chị em Nam gặp Siêng - "thổ địa" nhỏ của vùng Thất Sơn.

Theo bước chân Siêng, Nam được khám phá một thế giới mới thú vị. Nơi ấy có đồng ruộng bao la, có dòng kinh Vĩnh Tế mát lành, có vị cá nướng trui thơm lừng, có món khoai mì rẫy ngọt bùi,... Và còn biết bao nhiêu chuyện ly kỳ của vùng Bảy Núi.

Chú bé Siêng ấy, gia cảnh mồ côi, tối ngủ nhờ chòi vịt, ngày chăn trâu kiếm từng bữa cơm. Nhưng Siêng vẫn cố bám trường bám lớp, theo đuổi lớp học bổ túc hàng đêm. Ngay cả khi số phận tiếp tục thử thách, Siêng làm mất trâu, bị đánh đập, bị chèn ép và cả bị bắt, chú bé vẫn cố gắng từng chút nhích về tương lai.

"Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tân ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày, loại nào ngon cơm. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo,... Không còn ai phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới sình mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng."

Chú bé Thất Sơn - Phạm Công Luận

Thông điệp vượt thời gian

Tròn 30 tuổi, quyển sách Chú bé Thất Sơn truyền đi thông điệp chưa bao giờ cũ: đừng bao giờ ngừng ước mơ chỉ vì hoàn cảnh.“Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ”. Nhưng chẳng thể buộc chặt những giấc mơ.

Siêng có cha mẹ là thầy cô giáo bị giặc Pôn Pốt giết, mồ côi. Nhưng với lòng quyết tâm học tập, đêm đêm Siêng vẫn đi đò qua sông học bổ túc văn hóa. Trong cảnh khốn cùng, Siêng phải tham gia vô đoàn người "đai" thuốc lá lậu qua biên giới và bị bắt. Được tha về, Siêng lấy vé số ra chợ bán nhưng rồi nó cũng không được yên thân....

Cậu bé Siêng ham học, không đầu hàng nghịch cảnh, vượt qua mọi nghịch cảnh để vươn lên, chạm đến ước mơ.

Ngôn ngữ mộc mạc

Những món ăn dân dã hay câu ca dao - dân ca xuất hiện nhiều trong Chú bé Thất Sơn. Những tư liệu làng quê được tác giả Phạm Công Luận sử dụng nhuần nhuyễn, chân thực. Qua ngòi bút tác giả, người đọc theo bước chân 2 chị em Thảo – Nam và cậu bé Siêng, được đến khám phá vùng đồng quê miền Nam bạt ngàn, tươi đẹp.

Nguồn cảm hứng được tác giả Phạm Công Luận lấy từ những chất liệu thực. “Cách đây đúng 30 năm, tôi lần đầu đặt chân đến thị xã Châu Đốc và được nghe kể về một em bé bị đuối nước dưới dòng kinh xanh. Về TP.HCM, hình bóng những em bé lội bộ trên cánh đồng xanh khiến tôi không khỏi ngẫm nghĩ. Trong vòng một tháng sau chuyến đi, tôi ngồi vào bàn và viết cuốn truyện nhỏ Chú bé Thất Sơn”, tác giả Phạm Công Luận chia sẻ.

"Không rành về vùng đất này, tôi phải đọc sách về Châu Đốc, vùng Thất Sơn và vẽ cả bản đồ có thị xã, ngôi trường, cánh đồng Vĩnh Ngươn, con kinh có các nhân vật qua lại trong truyện.

Sách được ra năm 1993, với một giải thưởng. Đây là cuốn sách hư cấu duy nhất tôi viết. Và chắc có những vụng về của cuốn sách đầu tay."

Chú bé Thất Sơn mang đậm vẻ mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, truyện có cô bé Thảo với bài tập nghiên cứu và tìm hiểu về những câu ca dao – dân ca xưa, thể hiện niềm mong mỏi gìn giữ văn hóa của tác giả Phạm Công Luận.

Năm 2021, Chú bé Thất Sơn “tái ngộ” bạn đọc với 88 trang in màu cùng hình minh họa đặc sắc. Sách tặng kèm tấm postcard với ý nghĩa: gửi đi cho chính đứa trẻ trong bạn với những ước mơ đã bị chôn vùi vì hoàn cảnh.

Quyển sách chắc chắn sẽ trở thành món quà tặng ý nghĩa dành cho các bé và cả quý phụ huynh trong dịp hè này.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Cafe sáng