Nối kết với chúng tôi

Book trailer

The Booker Prize 2020: This Mournable Body – Người giao sữa đã thôi loạn trí

Published

on

This Mournable Body là cuốn tiểu thuyết lạ, lạ theo mọi phương cách ta có thể gọi tên. Từ ngôi kể, góc nhìn, tình tiết, nhịp điệu,… Tsitsi Dangarembga – một cách tài tình – huyễn hoặc người đọc bằng tài năng kể chuyện theo một trường phái mà nói dễ hiểu, nếu ai cảm được, sẽ đắm chìm vào nó; còn phía ngược lại, coi đây như một trò đùa. May mắn thay ở phía tích cực, với This Mournable Body, Tsitsi đã làm một cuộc hành trình tổng hòa qua đầy đủ mọi thứ hiện sinh trên đời ở đất nước Zimbabwe xa xôi, dưới ngôi kể của một bản ngã nhân đôi, bằng giọng nói của bản thân ánh xạ trong nhân vật chính Tambudzai. Ở đó, từ chính trị, hành chính công, nghèo đói, sắc tộc, sinh thái, phụ nữ, giáo dục cho đến cộng hưởng và xung đột văn hóa, thành thị và nông thôn… xoay vần như những tiểu hành tinh quanh quỹ tích là trung tâm câu chuyện.

Tsitsi Dangarembga
Ảnh: The New York Times

This Mournable Body là phần tiếp theo và cũng là cuối cùng của bộ ba tiểu thuyết Nervous Conditions, kể về hành trình lớn lên, trưởng thành và những va vấp của nhân vật chính – Tambudzai. Tương tự Những cảnh đời tỉnh lẻ của J. M. Coetzee, bộ ba cuốn sách đồng thời là câu chuyện của chính tác giả – một kiểu hồi ký hư cấu về quãng đời, sự nghiệp và góc nhìn mọi thứ xung quanh. Với hai phần trước đó gồm Nervous Conditions năm 1988 và The Book of Not năm 2006, This Mournable Body tiếp tục là câu chuyện sau khi Tambudzai nghỉ việc ở công ty quảng cáo, rơi vào trạng thái thất nghiệp và lận đận tài chính. Không lâu sau đó, cô đến ở thuê nhà một bà góa lập dị kính Chúa, gặp những con người với lối sống buông bỏ và khiến cô bị ám ảnh bởi tuổi trẻ hoang phí của mình.

Sau đó một cơ hội khác đến – trở thành giáo viên sinh học ở một trường trung học. Thế nhưng vẫn những ám ảnh thất bại, những dục vọng vươn lên khiến Tambudzai không kiềm chế được bản thân khi bị học sinh trêu ngươi, và cái kết là hành hung Elizabeth khiến cô bé bị mất thính lực gần như hoàn toàn. Trở về từ trung tâm thần kinh, cô về nhà người chị em họ hàng và chứng kiến những xung động văn hóa trong căn nhà này. Sau đó theo Tracey – đồng nghiệp cũ từ công ty quảng cáo – về làm cho doanh nghiệp lữ hành sinh thái vừa mới mở cửa – và thế là một ước vọng khác mở ra nhưng lại vẫn tiếp tục thất bại.

*

Với This Mournable Body, hai điều mà Tsitsi đã làm được và nổi bật nhất có thể kể đến: một là không khí co cụm lạnh tanh mà bà tạo ra; và hai, là những phông nền hiện sinh bà muốn truyền đi. Lạ lẫm mà bức thiết, This Mournable Body đôi khi mang đến cảm giác của Người giao sữa từ Anna Burns. Thế nhưng khác biệt ở đây là rất rõ ràng. Nếu Anna Burns mang đến thời kỳ Nhiễu nhương của Ireland chỉ qua lãnh địa tưởng tượng của những câu chuyện lặp đi lặp lại hàng ngày, dễ đoán, của những chi tiết trùng lặp như một mụ già loạn trí; thì This Mournable Body được kiểm soát tốt hơn, rộng mở hơn trong sự tập trung vừa đủ. Với một không gian co cụm cả trong văn chương và mặt địa lý thực tại ngoài đời, những đối ngẫu trong Người giao sữa không quá khó đoán về tình hình địa-chính trị Ireland. Và This Mournable Body khắc phục tốt điều đó, rộng mở trong cảnh tăm tối điêu tàn của thế giới hiện tại, nhưng phản ánh tốt ở một mức độ nào đó hiện trạng của Harare, Zimbabwe.

Tinh thần trơ trơ lãnh cảm đến mức tối đa cũng được Tsitsi khắc họa rõ ràng đến tận cùng của sự chịu đựng. Ngôi kể hầu hết trong cuốn sách này được biến đổi từ góc nhìn của ngôi thứ nhất. Ở đây, Tambudzai không hẳn là nhân vật chính, mà vai trò đó thuộc về một bản thể khác trong con người cô, một giọng nói – mà nói đúng hơn – là của Tsitsi, nếu nhìn nhận đây như một hồi ký hư cấu. Những câu văn dài miêu tả trạng thái của bản ngã này cùng những nút thắt ngập đầy không một điềm báo. Tsitsi như một cây bút tràn đầy năng lượng mới lạ, theo một trường phái mà hẳn nhiên, cũng rất khó chịu đối với người đọc. Nếu nói This Mournable Body không có nút thắt thật sự không đúng. Chúng có và nằm rải rác ở mọi chi tiết trong đây, nhưng với không khí lãnh cảm của một tiểu thuyết “thần kinh”, Tsitsi không mào đầu, câu dẫn, không rào trước đoán sau; chỉ một câu và mọi thứ gọn ơ, để rồi những gì còn lại trong đầu người đọc chỉ là một câu rủa thầm đầy bản năng, cái quái gì vừa xảy ra?

Nếu Llosa mang đến hình tượng cơn đau âm ỉ ở khúc ruột như điềm báo trước, thì ở đây, Tsitsi hay Tambuzai có tiếng linh cẩu cười – hình tượng tượng trưng cho mọi khúc quanh của tiểu thuyết này. Từ người bỏ mặc Gertrude bị hành hung trên chuyến xe bus vì cách ăn mặc đến hành động bạo lực lên Elizabeth khi bị chế nhạo; Tambudzai cho người đọc thấy một sự lạnh lùng được đẩy đến tận cùng. Tsitsi trong toàn tiểu thuyết không đưa ra hướng giải quyết, bà câu dẫn và để nguyên đó, chỉ kể tiếp câu chuyện. Từ những ám ảnh thất bại trong công việc đến tuổi xuân trôi qua nơi căn nhà thuê của bà Góa sùng đạo; Tambudzai nghĩ đến cái chết. Thế nhưng, hành động quyên sinh cuối cùng ấy thật ra là một mặt khác của sự im lặng đẩy đến đỉnh cao, hay cơn ăn năn cuối cùng cũng đã thức tỉnh?

Thế nhưng vượt ra ngoài khuôn khổ của những lãnh cảm trơ trơ, của những lạnh lùng cố hữu; đến cuối tiểu thuyết, Tsitsi cho người đọc một hướng giải quyết dĩ hòa vi quý. Với riêng cá nhân, cái kết rõ ràng là rất đáng tiếc. Cả một tiểu thuyết bà đã cố gắng vẽ nên Zimbabwe trì trệ khốn đốn với lối sống buông thả, với nghèo nàn lạc hậu, với tham nhũng phi pháp để từ đó nhập nhoạng con người nguyên tử của cộng đồng đó, của xã hội đó cũng bị cuốn vào, hòa mình vào đấy. Thế nhưng cuối cùng, tình cảm gia đình lại quay trở lại và là cứu cánh. Hành động vùng lên của bà mẹ khi nghĩ Tambudzai bị giễu cợt bởi người du khách đòi cô chụp cùng khi bà khỏa thân nhảy múa điệu vũ thật sự rất khó đồng cảm. Ở một khía cạnh nào đó, cái kết này có thể hợp lý; nhưng nếu xét thêm về những triển vọng trong một tổng thể đã đi xuyên suốt, nó phá vỡ gần như hoàn toàn cái lạnh tanh của những diễn biến nội hàm trong đầu Tambudzai mà toàn tiểu thuyết đã cố gầy dựng.

*

Tsitsi đã làm nên một trận địa của những diễn biến thần kinh trong đầu Tambudzai để từ đó phóng chiếu ra một xã hội Zimbabwe đầy những nhiễu nhương và loạn lý. Với ba cuốn sách như hồi ký hư cấu trong lối viết lạnh tanh, sắc nét nhưng đầy dự cảm, Tsitsi đưa tên mình vào danh sách của những nhà văn quan trọng bậc nhất văn học Phi châu – lãnh địa vốn bấy lâu nay vẫn còn bỏ ngõ bởi những rào cản ngôn ngữ hay địa hạt xuất bản. Cũng như Chinua Achebe, Alice Walker hay Doris Lessing từng khen ngợi, đây rõ ràng là bộ ba những “cuốn tiểu thuyết tất cả chúng ta vẫn hằng mong đợi”.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

“Thất lạc cõi người” và Dazai Osamu: Là thiên tài chứ chẳng phải thánh

Tiểu thuyết tự truyện Thất lạc cõi người là tác phẩm cuối cùng của Dazai Osamu, trước khi ông tự sát bằng cách trầm mình cùng người tình Tomie tại kênh Tamagawa năm 1948.

Published

on

Những danh nhân có sức ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Nhật Bản thường được khắc họa trên màn ảnh (và trong tâm thức độc giả) là một thiên tài thánh thiện, với số phận bị kịch hoặc hưởng phúc đời đời. Tuy nhiên, Dazai Osamu là biến số không hề nằm vừa vặn trong cái khuôn mẫu thánh nhân. Cuộc đời ông là một chuỗi những vòng lặp của sự tự hủy và níu kéo lấy sự sống, nơi cái bi và hài quấn quýt lẫn nhau, nơi tiếng cười vang lên tự trào trong bóng tối cô độc.

Sinh năm 1909 trong một gia đình đông đúc và giàu có tại tỉnh Aomori, người mẹ bệnh tật liên miên còn cha thì thường vắng nhà, Dazai trưởng thành trong sự bảo bọc cẩn thận của gia nhân và anh chị ruột. Đến tuổi vị thành niên, ông rời nhà đi học xa và sau đó trở thành sinh viên Đại học Tokyo. Chẳng mấy lâu sau, Dazai bỏ bê việc học, cưỡi ngựa xem hoa đường lối chính trị Mác-xít và dùng tiền trợ cấp để uống rượu và tán gái, làm gia đình vốn truyền thống nổi giận lôi đình.

Mắc kẹt trong cảm giác bản thân vô dụng và tuyệt vọng giữa dòng chảy cuộc đời, của nỗi đau tha hương nơi đất khách, ông đã hai lần cố gắng tự tử, lần thứ hai cùng một phụ nữ - nàng chết nhưng ông vẫn sống sót. Sau cú sốc trên, Dazai chôn vùi bản thân vào nghiệp viết. Với sự hỗ trợ của tác gia Masaji Ibuse, ông bắt đầu xuất bản nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, thường với chút gia vị tự thuật. Mặc dù tài năng của ông sớm được công nhận, ông vẫn vật lộn với căn bệnh lao phổi mãn tính, chứng nghiện thuốc phiện, nghiện rượu, trầm cảm và ám ảnh với ý nghĩ tự tử.

Những tác phẩm của Dazai, đặc biệt là tiểu thuyết 斜陽 (Tà dương)人間失格 (Thất lạc cõi người), được đón nhận rộng khắp trong thời gian ông còn sống và thậm chí đến tận ngày nay, đặc biệt bởi những người trẻ tuổi.

*

Tiểu thuyết tự truyện Thất lạc cõi người là tác phẩm cuối cùng của Dazai Osamu, trước khi ông tự sát bằng cách trầm mình cùng người tình Tomie tại kênh Tamagawa năm 1948. Cuộc đời nhân vật chính Oba Yozo (hay Yochan) là tấm gương phản chiếu và mô phỏng chính cuộc đời Dazai. Chương một mở đầu với ba tấm ảnh của Yozo khi còn là một cậu bé, lúc đã thành học sinh và lúc trưởng thành. Ngay từ khởi điểm, người đọc đã tiếp nhận những lời phán xét về gương mặt cậu bé Yozo có cái gì đó không giống người, “một cảm giác khó chịu, hồi hộp bất an cứ khiến ta muốn đưa mắt đi nhìn ra chỗ khác”.

that-lac-coi-nguoi
Thất lạc cõi người

Yozo là người thông minh sáng dạ, nhưng thiếu những hiểu biết cơ bản về cách ứng xử trong xã hội và tâm lý con người, đồng thời cùng bản tính e ngại, nhút nhát mà sinh ra sự sợ hãi với nhân thế. Lớn lên, Yozo càng lúc càng trở nên bất an. Anh bỏ học, tiêu phí khoản tiền gia đình gửi vào rượu bia, thuốc lá, thuốc phiện, rồi sau cùng bám víu vào những người đàn bà cô đơn để ăn mày tiền của và tình thương của họ. Yozo liên tục trốn chạy đau thương bằng cách tự tử nhưng thất bại. Anh ta bạc nhược, u uất, thà tắm mình trong cái vũng lầy ôi thối còn hơn là bước chân lội ra để hít thở khí trời thơm tho. Cuộc đời của anh càng lúc càng trượt dài, biến thành một kẻ tự hủy bên lề xã hội, “làm một phạm nhân, một cuồng nhân và cuối cùng là một phế nhân” (dịch giả Hoàng Long).

Tình cảnh của Yozo không hẳn đến từ xã hội mà đến từ chính bản thân cá tính anh ta. Anh ta căn bản là “mất tư cách làm người”. Cái vớt vát duy nhất của Yozo là sự chân thật chấp nhận những khuyết điểm của bản thân. Nực cười thay, sự chân thật của anh ta cũng bị đẩy đi quá xa. Chân thật ủ ê trong cái bạc nhược của mình. Chân thật phô bày sự bi lụy để cầu xin tình người từ những người phụ nữ còn khốn khó hơn anh ta. Chân thật phô bày sự ích kỷ và tàn nhẫn của anh ta.

Oba Yozo, hay Dazai Osamu, hơn ai hết hiểu được sự tuyệt vọng của loài người, vì chính ông không còn hi vọng trở lại làm người chính đáng. Nhưng ông vẫn cố. Mâu thuẫn thay khi ông từ bỏ hi vọng trong mình nhưng luôn chạy vạy vay mượn, ăn bám vào hi vọng từ người khác. Bi kịch của Yozo và của Dazai là thế. Nếu ông, giống như Akutagawa Ryunosuke, có thể dứt khoát quay lưng với thế gian để đi tìm cái đẹp nơi địa ngục, nơi ác tâm và ti tiện của loài người thống trị thì đã tốt. Yozo, hay Dazai cứ mãi hướng về ánh sáng, bằng chứng là thứ tiếng cười ngẫu hứng và không ràng buộc vang vọng trong từng trang viết, và bằng chứng cũng là sự vị tha kín đáo mà Dazai giấu sau những cay đắng, tự trách hiển hiện. Dazai kinh sợ, rồi lại yêu thương nhân thế không nỡ xa rời. Tôi nghĩ rằng, nếu Akutagawa chết đi với một nụ cười trên môi, hăm hở cắm đầu nhảy xuống xem thử tám tầng địa ngục có quay cuồng rực lửa như văn chương của ông không; thì Dazai chết đi mà vẫn hướng mắt về trần thế, vừa khổ đau, vừa hài lòng, vừa nuối tiếc.

*

Thất lạc cõi người, cũng như đa phần các tác phẩm khác của Dazai, không hề khó đọc. Cấu tứ thẳng đuột, không hề có những sắp đặt gợi mở lớp lang lắt léo, không có những hình ảnh ẩn dụ hoa mỹ sâu chín tầng nước. Nhịp điệu ổn định, tình tiết không lê thê khô cứng, lại có chấm phá kịch tính vừa đủ để níu chân các độc giả khẩu vị mặn mòi nhưng lại ngại phô phang. Mặt khác, văn chương của Dazai, giống hệt con người ông, rất ích kỷ. Ông không buồn đi sâu tìm tòi những thái cực lố lăng bạo liệt của loài người, hay thử mình vẽ nên những khung cảnh thiên nhiên trác tuyệt, đau đầu phân tích những đường hướng vĩ mô của thời đại. Văn chương của Dazai chỉ nói về Dazai: những gì Dazai thấy, Dazai trải qua, Dazai cảm nhận. Trong hình ảnh cô bé nữ sinh u buồn cũng thấp thoáng bóng hình Dazai, những nỗi niềm chông chênh của nhà văn trên tàu điện hẳn là của chính Dazai. Văn Dazai hẹp hòi như vậy, bị Kawabata Yasunari chê “phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn” (nói trắng ra là bần) cũng đáng.

Nhưng chính vì văn Dazai hẹp như thế nên không phải ai cũng cảm nhận và cảm thông được. Điều khác biệt của văn chương Dazai với nhật ký của một đứa học sinh cấp ba than thở về cuộc đời khốn nạn của mình chính là cách ông truyền tải những nỗi niềm ấy. Câu kết của Thất lạc cõi người, rằng “Yochan mà chúng ta từng biết cực kỳ ngoan hiền và nhạy cảm, ngay cả rượu cũng không biết uống nữa. Không mà dù cho có uống rượu đi nữa thì anh ta vẫn là một người tốt, một thiên thần” chính là cảm nhận của tôi về Yozo, về Thất lạc cõi người. Và khiến một con người suy đồi và yếu hèn như Yozo biến thành một thiên thần trong mắt người đọc đâu có dễ!

*

Văn chương Dazai như một liều thuốc - một liều thuốc độc với những người hiện đang trầm cảm như ông bấy giờ, nhưng là một liều thuốc giảm đau cho những người đã qua giai đoạn tồi tệ nhất. Vì gặp Dazai là bắt gặp những suy nghĩ đau thương của bản thân mình, là được ông dịu dàng kể ra những điều bản thân mình không thể nói, là được an ủi rằng thì ra không chỉ có mình từng “mất tư cách làm người”. Dazai là văn hào duy nhất mà tôi hận mình không gặp được quá sớm, mà cũng thật may là mình không gặp quá sớm.

Hết.

Mèo Heo

*

Tác phẩm Thất lạc cõi người đã được Phương Nam Book tái bản lần thứ 6, với phiên bản bìa cứng đặc biệt. Bạn đọc có thể đặt sách với mức giá giảm 10% tại:

Đọc bài viết

Book trailer

“Ellie yêu dấu” và nỗi đau của loài chim chích

Published

on

Trong thế giới tự nhiên, tu hú có lẽ là loài chim có tập tính sinh học kỳ lạ và tàn ác nhất mà ta từng biết tới. Vì chim non không thể chuyển hóa độc tính có trong thức ăn (thường là sâu bọ), nên những bà mẹ phải gửi con mình ở tổ khác - mà một trong số những loài chim được các bà mẹ tu hú yêu thích là loài chim chích. Để đảm bảo số trứng vẫn còn toàn vẹn (để bầy chim chích không phát hiện ra), thì trước khi giao phó nghĩa vụ thiêng liêng, bà mẹ tu hú nhà ta cũng kịp đánh chén một quả trứng non từ giống khác loài. Chim chích nuôi lớn tu hú non mà không hề biết rằng, sau khi nở ra từ lớp vỏ trứng, việc đầu tiên chim ta làm là đẩy những anh chị em không hề ruột rà lọt ra khỏi ổ để mà độc chiếm sự săn sóc. Khi chích oằn mình nuôi lớn con non có khi đã lớn gấp hai lần mình, thì vào một ngày chim ta sẽ vỗ cánh bay đi, không lời từ biệt hay báo đáp.

Trong tình huống này, khi người ta vẫn hay chú ý tới chính tội ác và sự kỳ lạ ở loài tu hú thì nỗi đau của chim chích mẹ khi phát hiện ra con mình đã bị đánh tráo, đã bị ăn thịt còn bản thân mình lại đi cung phụng một tên vong ân bạc nghĩa lại thường trôi qua tưởng như dĩ vãng. Tự nhiên luôn chứa những điều kỳ lạ tưởng chừng vô song, và để hoàn thiện bức tranh đau đớn đầy màu nước mắt; chí ít mẹ thiên nhiên cũng biến chim chích tỏ ra ngu ngơ trước sự nhận biết đứa con của mình - không như loài chim yến đâm đầu vào vách núi khi tổ đã bị dời đi. Thế nhưng, liệu có tồn tại trường hợp nào đó khi loài tu hú đóng vai điểu nhân, còn loài chim chích là một bà mẹ tưởng như bình thường nhưng bỗng sinh ra lại thêm đầu óc, thì nỗi đau ấy sẽ thành ra sao?

Đó chính là những gì Ellie yêu dấu cố gắng phác họa – về nỗi đau, mất mát, hy vọng và cả niềm tin khi bi kịch ập đến vào trong cuộc đời. Tác phẩm là câu chuyện kể về ba phụ nữ đứng trước bi kịch trong cuộc đời mình. Đó là Laurel, người mẹ trải qua bi kịch quá lớn khi cô con gái mình yêu thương nhất bỗng nhiên mất tích. Đó là Hana khi phải oằn mình gánh chịu cú sốc sau bi kịch ấy, khi bố mẹ ly thân còn chính mẹ mình chỉ ôm mãi bóng hình em gái. Còn là Noelle – một người phụ nữ thất bại ở mặt ngoại vi, người khao khát yêu đương từ trong bản chất và những đau đớn mà bất cứ một phụ nữ nào cũng không cần phải trải qua. Ba con người này đứng đó như ba nữ thần số mệnh đối với Ellie, những người sẽ một lần nữa quyết định chính số mệnh cô, chính vận mệnh cô mà không hề biết chính sự ích kỷ và nỗi tha hóa có thể biến con người ta tàn ác đến mức độ nào.

*

Lisa Jewell xây dựng cuốn tiểu thuyết này theo motif trinh thám – dẫn đến tàn ngày để lại ở trong Ellie là những kỷ niệm, mà người nắm rõ nhất lại không ai khác ngoài mẹ của cô, bà Laurel, người nắm vai trò dẫn dắt toàn bộ cốt truyện. Với Laurel, Lisa Jewell đã xây dựng nên hình dáng bà mẹ điển hình hệt như Elizabeth Gilbert từng xây dựng trong Người đàn ông Mỹ cuối cùng. Đó là bà mẹ tất bật lo toan mọi chuyện trong một gia đình đông đúc bầy con và một ông chồng hờ hững không quan tâm mấy. Sau khi rơi vào bi kịch của sự mất tích, bà ngày càng trở nên bi quan và mỏi mệt với mớ mùi mẽ khó chịu và bầu không khí của căn nhà – trong một trạng thái kinh khủng, tuyệt vọng, khiếp hãi, hoảng loạn…  Từ một bà mẹ có vẻ chán chường nhưng vẫn còn đâu đó động lực thúc đẩy trong cuộc sống; nay mọi lý tưởng tắt ngấm, bà sống cho hết thời giờ, làm những công việc không quan trọng mấy và vẫn đi gặp những người bà từng không hề đoái hoài ở trong quá khứ.

Sự mất tích của cô con gái, mối quan hệ đi đến đường cùng của cuộc hôn nhân… tất cả khiến bà chìm dần vào sự vô hồn. Nhưng rồi bi kịch không dừng ở đó. Chúng trở đi trở lại và được mở ra những hướng khác nhau, tưởng chừng ta không thể ngờ.

Review sách: Ellie yêu dấu (Lisa Jewell)
Ảnh: AZ Việt Nam

Khi Laurel lâm vào buồn đau bởi đứa con bà yêu thương nhất không thể trở về thì Hana là đứa trẻ bỗng chốc đánh mất tuổi thơ bởi sự mất tích của cô em gái. Hình tượng Hana thật ra không hề hiếm thấy trong mọi gia đình. Khi một ngôi nhà có nhiều đứa con, sự sẻ chia tình cảm theo nhiều nấc thang gắn bó là điều hiển nhiên và là rõ ràng. Như A. S. Byatt từng viết trong Truyện trẻ con: "Tình cảm đó phụ thuộc vào khoảng cách tuổi giữa các đứa con, vào sức khỏe của cha mẹ, vào cái chết, vào việc đứa con nào có thể sống qua dịch bệnh hay tai nạn và đứa nào không."

Hana là một đứa trẻ thiếu thốn tình thương, làm thành vách ngăn không thể lấp đầy giữa cô và mẹ. Việc có bạn trai, những rắc rối trong công việc, áp lực hay trách nhiệm tuổi trẻ; tất cả đều khó nắm bắt đối với bà mẹ kiểu như Laurel. Thay vì một sự gắn kết từ trong máu thịt, nay hai người họ dè chừng với nhau, không dám đặt trọn bàn chân vào trong lãnh địa ở nơi người kia - cộng thêm kết cấu gia đình ngày càng phức tạp - đã khiến mối quan hệ ấy lâm vào đường cùng.

Và không ai khác, người quan trọng nhất và chủ chốt nhất là Noelle - chị cả Atropos, người dùng cây kéo cắt đứt sợi tơ sinh mệnh của mọi sinh linh và vạn vật. Những dòng Lisa Jewell miêu tả về người phụ nữ đầy vẻ bí ẩn này vô cùng khó chịu, mang vẻ ngột ngạt. Phải thừa nhận rằng, đối với Ellie yêu dấu, tuy rằng được xây dựng với kết cấu của một tiểu thuyết trinh thám; nhưng điều hay nhất và thành công nhất mà Lisa Jewell làm được lại là khắc họa tâm lý, đặc biệt nhất ở những người phụ nữ. Một sự thấu cảm, một nỗi đồng điệu, dường như có lẽ?

Noelle chất chứa trong mình nỗi dồn nén mà - như đã nói - không người đàn bà nào xứng đáng phải chịu. Với vẻ ngoài không hề cuốn hút, việc lớn lên trong một gia đình Ireland đầy vẻ ngoan đạo với phần nào đó có chút mục ruỗng, việc mất đi người em từ nhỏ và đau hơn hết là hai cái thai chết lưu với người đàn ông mà mình khao khát; Noelle và bà Laurel là hai hình tượng trái ngược hoàn toàn. Một bên cuốn hút với những đường cong, một bên khô khan như chính môn toán mà cô theo đuổi. Một bên hạnh phúc với ba người con, một bên không hạt giống nào có thể nảy mầm. Một bên tràn ngập tươi sáng được sống cuộc đời giản dị, một bên ngay từ ban đầu đã phải oằn mình với tới được hai chữ “bình thường”. Hai người họ là hình bóng của một chiếc gương, họ soi chiếu lẫn nhau, thể hiện vị thế của hai phụ nữ ở hai địa hạt – một người với những giá trị truyền thống và người kia vật lộn từ chủng tộc khác, từ miền đất khác; mong muốn hòa nhập, được sống hết mình.

*

Để hỏi trong ba người họ ai đau đớn nhất, ai đáng thương nhất, thì không một ai nhiều hơn ai cả. Cả ba người họ như đang đứng trên ba đỉnh một tam giác đều – soi chiếu lẫn nhau, lặn vào trong nhau. Có cái tổn thương từ trong tuổi thơ của Hana, có cái mất mát trong bà Laurel và cái đáng thương trở thành động cơ rất khó chấp nhận ở trong Noelle. Cả ba người họ đều tuôn trào ra một sự đáng thương nhưng cũng đáng trách. Lisa Jewell thành công khi lột tả được bước đi sóng đôi của trạng thái này, để từ trong đó ta dễ thấy được nạn nhân hay là kẻ thù cũng đau như nhau, có chăng là khác ở mặt động cơ hay là mức độ.

Lisa Jewell, bằng những nút thắt đầy tính gợi mở trong một kết cấu tiểu thuyết trinh thám cùng sự thấu hiểu tâm lý vô cùng nổi trội, đã tạo nên được cuốn sách của những bi kịch đầy cảm động mà xót xa. Điểm nổi bật nhất của cuốn sách này, như đã nói trên, là những nhân vật tưởng như bình thường bỗng chốc bị lôi ra khỏi dòng sống thường ngày một cách kịch tích mà đầy khó hiểu. Để sau những bi kịch ấy; hy vọng, tình thương, tha thứ là cuộc phục hưng từ trong đời sống của mỗi người họ, để vượt qua mất mát, buông bỏ, kinh hoàng, khiếp hãi. Một cuốn trinh thám tâm lý vô cùng đáng đọc, và nhất là cho những người phụ nữ của đời sống này.

Hết.


Đọc tất cả bài viết của bí


Đọc bài viết

Book trailer

Giành lại không khí sạch, vì khí thở chính là sự sống

Hôm nay, bầu trời của bạn có màu gì?

Published

on

By

Bạn có biết, 18 000 người chết mỗi ngày vì ô nhiễm không khí, và con số đó ở đơn vị năm là 6,5 triệu người? Khi kiểm tra các học sinh lớp sáu ở Mexico City, câu trả lời của bọn trẻ khiến ai cũng giật mình: 80% trẻ nói rằng bầu trời màu xám, 10% cho biết bầu trời có màu nâu. Chỉ có 10% nói rằng bầu trời có màu xanh…

Một kẻ giết người vô hình sinh ra từ xe cộ và các quy trình công nghiệp mà chúng ta đang không mảy may biết đến. Vào tháng 3 năm 2014, nhà báo Tim Smedley đã đưa vợ cùng đứa con mới sinh của anh ra khỏi Bệnh viện St Mary ở Paddington, mà không biết rằng họ đang đi dọc theo một trong những con đường ô nhiễm nhất, ở một trong những thành phố ô nhiễm nhất châu Âu.

Lấy câu chuyện năm ấy làm mở đầu, Tim Smedley, thông qua quyển sách Giành lại không khí sạch, đã kể một câu chuyện đầy đủ về những gì đã xảy ra với không khí mà chúng ta đang hít thở, bao gồm nó là gì, hóa chất nào có hại, chúng đến từ đâu và quan trọng nhất, ta có thể làm gì với chúng.

Khi chúng ta còn đang mù mờ với lớp sương ô nhiễm không khí, Tim Smedley giúp ta gọi tên, điểm mặt chúng. Những “kẻ giết người vô hình” trở nên rõ ràng, trực diện hơn, và khi xác định được chúng là gì, chúng ta đang tiến một bước xa hơn trong hành trình giành lại bầu khí quyển. Giành lại không khí sạch đầy ắp những thông tin khoa học, số liệu được kiểm chứng về bầu khí quyển mà tác giả thu thập được. Ông đi khắp 4 châu, phỏng vấn các nhà khoa học, chính trị gia cũng như những người có cuộc sống bị ảnh hưởng bởi khói bụi để hoàn thành tác phẩm đồ sộ này.

Vấn đề ô nhiễm không khí, dù ngày càng trở nên nghiêm trọng, có thể được giải quyết, và thông điệp của quyển sách là tích cực.

Trên thực tế, phần lớn các chất gây ô nhiễm không khí là cục bộ, tồn tại trong thời gian ngắn và có thể dừng lại tại nguồn; cuộc chiến chống lại nó, vì thế, cũng đang mang lại hiệu quả tức thì và tích cực. Tất cả chúng ta đều có thể đóng góp phần việc của mình để giành lại bầu không khí sạch về sau.

Tác giả kể những câu chuyện đầy cảm hứng về cách các thành phố như Bắc Kinh đã giảm đáng kể ô nhiễm không khí từ khi chính quyền và người dân quyết tâm hành động. Ông gặp gỡ những người đang ngày ngày cố gắng tạo ra sự thay đổi lâu dài cho cộng đồng. Từ lâu trước khi ta bắt đầu nhận thức được tác hại của ô nhiễm, họ đã ở đó và hành động. Dù thứ họ chống lại không đơn thuần là tự nhiên, mà còn là sự thờ ơ, bảo thủ của chính quyền, hay lòng tham không đáy của những ngành công nghiệp phát thải.

Giành lại không khí sạch lọt vào danh sách rút ngắn của giải thưởng Royal Society Science Book Prize 2019 - giải thưởng tôn vinh các quyển sách hay về khoa học và những tác giả không chỉ là người viết, mà còn là những nhà tiên phong. Qua ngòi bút của Tim Smedley, quyển sách dày cộm các tư liệu khoa học trở nên dễ đọc, dễ tiếp cận, ông đã kể một câu chuyện truyền cảm hứng thông qua những con số.

Tham gia chuyển ngữ cho Giành lại không khí sạch có chị Ngụy Thị Khanh, người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng Môi trường Goldman - giải thưởng lớn nhất thế giới dành cho các nhà hoạt động môi trường. Chị được biết đến với nhiều cống hiến giúp thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam, bao gồm làm sạch bầu khí quyển và giảm sự lệ thuộc vào nguồn than trong nước. Những nỗ lực của chị đã giúp loại bỏ được 115 triệu tấn khí thải carbon dioxide từ Việt Nam mỗi năm. Dịch giả của quyển Giành lại không khí sạch được vinh danh như một người tiên phong, một “anh hùng môi trường” của nước ta.

Nhận xét về quyển sách:

“Một quyển sách tuyệt vời đưa bạn qua những câu chuyện hấp dẫn lẫn đáng sợ về ô nhiễm không khí, đồng thời lý giải hàng tỷ người đã vô tình hít thở không khí độc hại như thế nào. Đây là vấn đề do con người tạo ra. Hãy đọc và hành động!” - James Thornton, CEO của ClientEarth

"Hãy đọc quyển sách này khi tham gia nỗ lực chấm dứt ô nhiễm không khí.” - Arnold Schwarzenegger

Thông tin tác giả:

Tim Smedley là nhà báo và tác giả tâm huyết về vấn đề môi trường, từng viết cho Financial Times, Guardian, The Sunday Times, New Scientist, BBC. Năm 2014, ông chuyển đến Oxfordshire sau 10 năm sống ở London vì các vấn đề về ô nhiễm khí quyển. Giành Lại Không Khí Sạch (Clearing the Air) là quyển sách đầu tay.

Sách hiện giảm giá 10% khi mua tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam và website nhasachphuongnam:

*

Những cuốn sách hay về môi trường & thiên nhiên



Đọc bài viết

Cafe sáng