Nối kết với chúng tôi

Book trailer

The Booker Prize 2020: The Shadow King – Chiến tranh và chiến tranh

Every sun create a shadow and not all are blest to stand in the light.

Published

on

Chưa khi nào tính nữ được đề cao như thế. Nếu năm ngoái chứng kiến những trào lưu nữ quyền, những hashtag #Metoo, những Margaret Atwood, những Bernardine Evaristo; thì năm nay với danh sách rút gọn giải Booker, ta chứng kiến 4/6 nhà văn nữ, 4/6 tiểu thuyết đề cao tính nữ và đặc biệt hơn hết, tính nữ ở đây lần đầu được khai thác triệt để và mới lạ. Cũng như Ngozi Adichie với Nửa mặt trời vàngThe Shadow King cũng đồng thời là một tiểu thuyết đậm tính nữ. Đặt trong bối cảnh chiến tranh Ethiopia chống quân xâm lược Ý những năm 1935 – 1936 thời đoạn Đệ nhị thế chiến, Maaza Mengiste đã cho thấy một lịch sử Ethiopia chịu nhiều mất mát mà cũng đồng thời qua đó, hình tượng những nữ chiến binh lần đầu hiện lên sáng rõ và đầy vận động trong văn chương tái hiện lịch sử.

*

Cuốn sách là câu chuyện kể về Hirut, Aster và đội quân chống Ý của mình. Sinh ra trong một gia đình với nề nếp quân sự, Kidane từ nhỏ chịu sự huấn luyện nghiêm khắc từ cha. Sau khi quân Ý tràn vào, vua Haile Selassie lại tị nạn ở Anh, anh đứng lên lãnh đạo đội quân của mình, cùng với Aster và Hirut. Aster là con gái một gia đình giàu có, cô bị ép kết hôn sớm không có tình yêu với Kidane và vừa chịu nỗi đau mất đi đứa con đầu lòng; trong khi Hirut là người giúp việc – nơi mẹ cô có mối gắn bó chặt chẽ với Kidane. Khi quân Ý tràn vào, Kidane dẫn đầu đội quân gồm dân làng trốn vào hang chờ thời cơ giao chiến với quân của Fucelli. Giữa tương quan một bên được trang bị tiên tiến và một bên chỉ với vũ khí thô sơ, họ trong thế giằng co. Quân Ý đến mang theo những tội ác tày trời; hơn thế, là người thích phô trương, Fucelli cho gọi Ettore như thợ chụp ảnh ghi lại những tấm hình tra tấn, giết chết tù binh nhằm một mặt răn đe dân làng theo quân kháng chiến, một mặt cho Thế giới kia thấy được sức mạnh của đế quốc này.

Quân đội của Kidane lui về cố thủ và đợi chờ thời cơ tấn công. Trong lúc này, Aster cũng thành lập đội quân của riêng mình. Tuy luôn bị Kidane gièm pha cho là vô dụng và chỉ được giao cho việc bếp núc cũng như chăm sóc thương binh, nhưng khi số người không đủ, cuối cùng những người phụ nữ cũng trở thành chiến binh kiên cường, tập luyện mỗi tối chuẩn bị cho trận chiến lớn. Trong một cuộc giao tranh, Aster và Hirut bị bắt làm tù binh, chịu sự giễu cợt của quân Ý. Từ sự đồng cảm nơi nhân tình của Fucelli – một người đàn bà Ethiopia chính gốc – hai người trốn thoát và kết cục cuối cùng là cuộc giải phóng của quân đội Kidane. Với The Shadow King, Maaza Mengiste lấy cuộc chiến này làm trung tâm, từ đó tỏa ra vòng ngoài gồm những nhân vật như người ngồi trong một hội nghị bàn tròn, mà điểm đặc biệt duy nhất, là họ ngồi tách rời nhau ra, không hẳn trong trạng thái cách ly của thời kì dịch bệnh, mà mỗi người họ là một mặt trời, mà khi đã là mặt trời sẽ tồn tại bóng. Giữa họ và những cái bóng ấy.

*

Như đã nói trên, điểm thành công nhất của The Shadow King là những khắc họa lịch sử mà nếu không nhờ Maaza, chắc hẳn sẽ không ai biết tới một Ethiopia đã từng đứng lên chống quân đội Ý như thế. Nhưng hơn thế nữa, cái hay đồng thời là việc khắc họa những nhân vật bên lề, rõ ràng, chi tiết mà đầy ấn tượng. Có đôi lúc những tưởng Maaza chỉ như đang mượn trận chiến làm nên nhân vật, bởi lẽ, các nhân vật của cô hùng vĩ và đầy ngời sáng. Cũng như tựa đề cuốn sách, Maaza gợi mở trong từng nhân vật, từng bản thể cá nhân, giữa người thật và cái bóng, giữa những nhập nhoạng chếnh choáng đứng chờ người đọc đến để mà nhận ra.

Ảnh: The New York Times

Với Aster, ban đầu đó là người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác. Một người đàn bà biết ghen khi chồng mình dành nhiều tình cảm cho Hirut, một người đàn bà sầu bi vào ngày giỗ đầu của con, một người đàn bà hoảng loạn nhận ra chồng mình không chút thương xót cho đứa con chết yểu. Với bộ đồ màu đen và trạng thái bi kịch sầu thảm của ngày giỗ đầu, đương lúc quân Ý tràn về từ biển, Aster – người đàn bà điên loạn, mất con, có chồng bội phản ấy – cưỡi ngựa đến các nhà thờ hét vọng đến tận thiên thanh, đòi lũ Thiên thần hạ thế. Nhưng cũng Aster, người đàn bà ấy, người gây dựng đội quân phụ nữ, người luôn mặc bộ quần áo của cha chồng mình, đứng trước toàn quân, chỉ huy trận đấu. Song song trong đó là hai nhân vật, hai con người, chuyển dời hòa nhập vào nhau.

Với Hirut, dường như là nhân vật chính của toàn câu chuyện, người chịu đầy đủ mọi thứ bi kịch. Cha mẹ mất sớm, bị Kidane cưỡng ép, mất đi gia bảo là cây súng mà cha để lại vì bị ép sung nạp cho thời chiến tranh. Chính những bi kịch trong đời sống này đã đẩy cô đến mức độ tăng tiến của cái vỡ òa, của lòng căm thù, của cái căm phẫn vẫn đang sục sôi. Cô tập luyện hàng ngày hàng giờ, những lời chỉ dẫn bắn súng của cha văng vẳng bên tai; và dù cho khi bị bắt làm tù binh ở trại quân Ý, cô vẫn kiên quyết giữ cái lạnh lùng của một chiến binh, cái vẻ ngoài không ai có thể bộc phá. Aster và Hirut, cả hai người họ như những đàn bà bộ tộc Amazon, những người trong trận đánh chiến với Achilles ở thành Troy đã làm cho chàng chìm đắm say mê. Mạnh mẽ, hoang dại mà đầy sức sống.

Nếu hai người phụ nữ được Maaza khắc họa như những điểm nhấn của tiểu thuyết này, thì Kidane và Fucelli lại như những gã tầm thường vô cùng muốn quên. Nếu Kidane sợ sệt trước những trận đấu của đội quân mình, là người u mê đứng trước Hirut; thì Fucelli luôn chứa trong mình cái bất an của những tướng lĩnh, của kẻ bị ám ảnh bởi cái chết. Y luôn nhắc nhớ mình là Achilles không thể bị đánh bại bởi các nữ chiến binh Amazon. Y luôn đeo hai đai vũ khí và một con dao cắm ngay ở chân trong khi xung quanh là bảy cận vệ. Cũng như Kidane, y say mê Fifi – người phụ nữ bản địa – nhưng may thay, đó là một người đàn bà tỉnh trí, sáng rực và ở đúng nơi khi cần thiết. Với Fucelli, ta luôn thấy ở y cái thâm độc của người ra lệnh, mà hiển hình nhất là chi tiết nắm chui Ettore – người phó nháy chụp hình – người ghi lại những khoảnh khắc đáng quên.

Ngoài hai nữ chiến binh của bộ tộc Amazon – Hirut và Aster, Ettore góp mặt trong cuốn sách này như nút giao của những bản thể nhìn nhận chiến tranh. Giữa thế bị giằng co bởi lợi lộc của quân xâm lược Ý, nhưng cũng đồng thời ờ thế bị trị khi Phát xít Đức bài trừ Do thái, trong Ettore luôn là những dằn vặt tự thân của cuộc chiến này. Giữa những tự vấn tội ác của riêng bản thân, rằng, Bởi vì, thưa cha, rằng, đây là chiến tranh. Phải thế không? khi tiếp tay cho Fucelli chụp những xác chết bị tra tấn; nay một nhận thức nào đó trỗi dậy trong anh, về những bức thư qua lại của người cha vốn kiệm lời, về những tình cảm sau cuối rốt cuộc anh cũng nhận ra, về chiến tranh, tình người về hàng vạn những điều khác. Đến cuối khi dân làng nổi dậy giết chết Fucelli, anh mới nhận ra, đây là đất nước của những bóng ma và mỗi một tấm ảnh được chụp là một tổ hợp của những hình dáng bóng ma, một sự gặt hái cái chết.

Và điểm cuối cùng, ngoài bối cảnh lịch sử cuốn hút và việc mô tả nhân vật sắc nét, The Shadow King cũng chứa trong mình kết cấu của bản hùng ca về cuộc chiến tranh, mà những đoạn chuyển được Maaza ngắt quãng bằng dòng suy nghĩ của vua Haile Selassie người Abyssinians thời bấy giờ. Ở nước Anh xa xôi, ông nghĩ về động cơ trốn chạy của mình, về nỗi luyến nhớ quê nhà, về máu thịt núi non Ethiopia. Ở đó, câu chuyện về công chúa thứ hai của xứ Abyssinian, Zenebework, bị gả ép cưới cho Gugsa vì các khế ước chính trị, bị đối xử không tình yêu, nhớ nhà nhưng vua cha không cho phép, cuối cùng chết khi sinh con đầu lòng dường như hiện diện thông qua Aster. Đến cuối tiểu thuyết, khi những ảo ảnh mộng du đưa vua Haile Selassie về lại sân ga, Hirut – nữ chiến binh của Ethiopia, con gái của Getey và Fasil, người sinh ra trong một vụ mùa bội thu – vẫn là người cuối cùng dẫn ông về lại ngai vàng của người đứng đầu, thực hiện vai trò của nữ chiến binh bộ tộc Amazon xứ Ethiopia.

Với The Shadow King và kết cấu đặc biệt của nó, Maaza Mengiste đã viết nên bản hùng ca về chiến tranh Ethiopia, về phụ nữ – những nữ chiến binh, về những mảng sáng tối trong tâm hồn mỗi một con người trong bối cảnh lấy chiến tranh làm trung tâm. Đầy năng lượng như Alice Hoffman trong Những người nuôi giữ bồ câu nhưng cũng tinh tế từ những mạch ngầm như Nửa mặt trời vàng của Ngozi Adichie, The Shadow King là cái bóng của mỗi con người, là vết nhơ rất khó gột rửa và là chứng nhân cho một thời kỳ đã qua. Dẫu không chứa đựng bất cứ một tính cá nhân cụ thể nổi trội nào, dẫu chỉ bối cảnh là thứ đặc sắc nhất; nhưng bằng lối viết dung dị, bình thản và tuần tự, The Shadow King tổng hòa, hòa hợp và vừa đủ.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

Những chiếc cầu ở quận Madison: Khi trái tim dẫn lối

Published

on

Trở thành một bà nông dân, sống một cuộc sống nhàm chán và lặng lẽ ở vùng Iowa ngoại ô nước Mỹ hẳn không phải cuộc sống mà Francesa mong muốn khi còn trẻ và cả những năm tháng sau này. Thế nhưng, đó lại chính xác là cuộc sống mà cô đang có, bên cạnh người chồng Richard.

Richard tử tế, an toàn và ổn định. Anh yêu vợ con một cách vụng về, bản năng và vô cùng thực tế. Nhưng đó lại không phải những thứ mà Francesa kiếm tìm. Francesa quen Richard sau khi mối tình của cô với một giáo sư đại học môn nghệ thuật kết thúc. Bố mẹ cô, với lối tư duy truyền thống, không ngừng phản đối mối tình đó. Bám lấy những giấc mơ cho đến khi sự thúc ép gay gắt của thực tế làm Francesa nhận ra rằng những lựa chọn trong bối cảnh chiến tranh của mình bị kiềm chế. Cô nhận lời theo Richard về miền quê Iowa trong khi vẫn không ngừng băn khoăn về cuộc đời mình.

Francesa sinh cho Richard hai đứa con, một trai, một gái và luôn làm tròn vai trò của người vợ trong suốt hai mươi năm sinh sống. Cho đến khi, cô gặp Robert Kincaid vào một ngày tháng Hai khô nóng của tháng Tám 1965, khi Robert đang trên đường đi tìm chiếc cầu Roseman – một trong những cây cầu có mái che thứ sáu của quận Madison, còn Richard cùng các con đi hội chợ bang Illinois.

Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để Francesa và Robert nhận ra rằng, họ sinh ra để dành cho nhau. Francesa lúc ấy 42 tuổi, còn Robert 50, là một nhà văn, nhà nhiếp ảnh tài năng của tờ National Geographic, đã từng trải qua một cuộc hôn nhân tan vỡ. Không vợ con, Robert lang thang từ miền quê này đến miền quê khác để chụp những bức ảnh sống động nhất.

Họ nhanh chóng lao vào nhau theo cách mãnh liệt nhất. Chỉ có bốn ngày sống hết mình bên nhau, nhưng lại là những ngày tháng đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi người, để rồi sau đó, họ dành cả phần đời còn lại của mình để tưởng nhớ về nhau một cách âm thầm nhưng không kém phần dai dẳng.

Câu chuyện tình này sẽ không giống bất kỳ các câu chuyện tình yêu nào trước đó. Nó không khiến người đọc có cảm giác đó là một thiên tình sử đẹp đẽ, đáng tôn vinh, càng không phải thứ khiến người ta khao khát. Nếu có, ắt hẳn là khao khát trong tội lỗi. Nhưng…

Nếu như, bạn đã từng trải qua hoặc đang khao khát thứ tình yêu đích thực, thứ tình yêu mà vì lẽ gì đó không được toại nguyện, bạn sẽ đồng cảm hoặc sẽ thấu hiểu vì sao Francesa và Robert, biết rõ đã bước qua ranh giới của đạo đức và trách nhiệm mà vẫn điên cuồng lao vào nhau. Ranh giới giữa tình yêu và tội lỗi, đôi khi chỉ cách nhau một cách nhìn. Có nhiều chuyện, mãi mãi không có câu trả lời, không có nhận biết đúng sai. Thước đo công minh nhất, chính là trái tim và lý trí.

Tôi tin rằng, cho đến cuối cuộc đời mình, Francesa vẫn không hề hối tiếc về những gì cô ấy đã làm trong bốn ngày đó. Điều vĩ đại hơn cả là, dù đã gặp được thứ tình yêu đích thực của cuộc đời, thì cô ấy vẫn đặt trách nhiệm với gia đình lên trên hết. Lý trí vẫn chiến thắng. Và với Richard, sự hiện diện về thể xác của Francesa bên cạnh quan trọng và ý nghĩa hơn bất kỳ thứ gì khác. Trước khi lìa trần, anh có nói với Francesa rằng: “Anh biết, em có những giấc mơ khác, và anh rất tiếc vì không thể mang lại giấc mơ đó cho em.”

Không lâu sau khi Richard mất, Francesa nhận được bưu phẩm từ một công ty luật do Robert ủy quyền trao cho bà. Bên trong có ba cái hộp, gói chắc chắn bằng giấy không thấm nước. Trên hộp có phong bì thư đề địa chỉ của hãng luật: “Bà Johnson thân mến! Chúng tôi đại diện cho di sản của ông Robert L. Kincaid vừa qua đời…”

Từ đó về sau, việc xem lại các thứ Robert để lại: mẩu giấy Francesa hẹn Robert đến ăn tối vào ngày họ gặp nhau, sợi dây chuyền có tên Francesa mà Robert luôn mang bên mình khi họ chia tay, lá thư chứa đựng nỗi nhớ, sự cô độc, niềm khát khao được ở bên nhau Robert viết cho Francesa, đã trở thành một nghi thức không thể thiếu trong mỗi dịp sinh nhật hằng năm của mình. Francesa sẽ mang tất cả kỷ vật từ phòng khách vào bếp, châm điếu thuốc duy nhất trong năm, nhấm một ngụm Brandy và từ từ đọc.

Francesa mất ở tuổi sáu mươi chín. Nguyên nhân cái chết được ghi là “tự nhiên”. Nguyện vọng sau khi mất của bà là được hỏa táng và đem tro rắc ở cầu Roseman – thay vì được chôn bên cạnh Richard. Trong di chúc của mình, Robert cũng có nguyện vọng như vậy. Cuối cùng thì, họ cũng được ở bên cạnh nhau, và ở một thế giới rất khác với thế giới của chúng ta. Tôi như mường tượng đến cảnh, Robert sẽ dang rộng cánh tay, chào đón Francesa, môi nở nụ cười rạng rỡ và nói: “Francesa, anh đã đợi em lâu lắm rồi.

Tác giả đã có cái nhìn nhân văn về diễn biến nội tâm của Francesa. Hãy đừng phán xét cô ấy, đừng áp lên cô ấy những trách nhiệm, bổn phận kèm theo nghĩa vụ, đạo đức bắt buộc phải thực hiện và cho rằng, những diễn biến trong đời sống tinh thần của cô ấy không quan trọng và có phần vớ vẩn. Bởi vì, chẳng gì khiến một cô gái vui vẻ, mãn nguyện và tràn đầy năng lượng hơn chính sự thoải mái trong đời sống tinh thần.

Kết truyện, mượn tạm câu nói của Trịnh Công Sơn về thứ tình cảm kiểu như thế này: “Khi người ta trẻ, người ta nghĩ có thể dễ dàng từ bỏ một mối tình, vì người ta nghĩ rằng, những hạnh phúc, những điều mới mẻ nhất sẽ đến trong tương lai… Cũng có thể, nhưng người ta đâu biết rằng, những gì ta mong muốn và cần nhất chỉ đến một lần trong đời”. Thế nên, khi trái tim chưa ngập tràn tình yêu, thì đừng vì lí do này, hay lý do khác mà cúi đầu. Hạnh phúc thì mong manh, còn bất hạnh thì luôn hiện hữu.

Hết.

Thiệu Thu Huyền

Đọc bài viết

Book trailer

The Booker Prize 2020: Burnt Sugar – Như cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng

I would be lying if I said my mother’s misery has never giving me pleasure.

Published

on

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi. Thành thực mà nói, với cuốn sách này, Avni tự đặt mình vào thế khó khi xây dựng một chủ đề quá ư táo bạo, khác xa lẽ thường. Trên trang chấm điểm Goodreads, bình luận nhận được nhiều đồng ý và đáp trả nhất lại là đánh giá 1 sao – với những nhận định phi thực, kinh tởm, lộn xộn… Nhưng liệu có công bằng cho một tác phẩm văn chương, khi nó đụng đến một thứ gì đó về sự ích kỷ, về bản tính người – dẫu chăng khi được nhìn nhận trong mối quan hệ mẹ con ruột thịt vốn được xem như những gắn kết thiêng liêng mà đặc biệt hơn, còn xuất phát từ những phông nền phương Đông, nơi tình cảm gia đình vốn vẫn được đặt trên hàng cao nhất? Rõ ràng là không. Nhìn nhận một mặt nào đó, Burnt Sugar là tiểu thuyết đầy bi kịch, sự trả thù, cái đáp trả giữa mẹ và con gái khi những giá trị cá nhân va chạm vào nhau, những động cơ trộn lẫn vào nhau và những xung đột như đang nén dần đến mức tối đa.

*

Cuốn sách mở đầu bằng một câu văn như thể hàm chứa trọn vẹn nội dung của mình: Sẽ là dối trá nếu nói những bí mật của mẹ không khiến tôi thích thú. Lấy bối cảnh ở Pune - thủ phủ miền Tây trung tâm Ấn Độ,  Burnt Sugar là những xung đột mạch ngầm giữa Antara – một nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật, và mẹ cô – Tara, người phụ nữ kỳ lạ, loạn trí, mà ở ngay thời điểm hiện tại, được xác định như đang mắc chứng Alzheimer. Ngay cả cái tên của hai người họ, cũng đã chứng kiến một sự đối đầu (Antara = An + Tara = Không – Tara). Với Burnt Sugar, hơn ai hết, Avni Doshi đã đi vào những trải nghiệm vô cùng cá nhân, núp trong bóng tối của mối quan hệ tưởng như thiêng liêng và đầy ánh sáng. Là phiên bản đảo ngược và logic hơn của Mình cần nói chuyện về Kevin của Lionel Shriver và cũng Ấn Độ hơn Nhật ký mang thai của Yoko Ogawa, Burnt Sugar là một khúc ca đầy những note cao của một giọng hát đã quá mỏi mệt, đầy những lỗi strain, flatcrack trong sự kích động của bản hòa ca nhịp nhàng bối cảnh.

Quay về những năm 60 khi Tara trốn khỏi nhà chồng đi đến tịnh thất như cách tránh xa phong tục cổ hủ trong cuộc hôn nhân chính bản thân mình. Ở đó, trải nghiệm trong mối quan hệ vô cùng độc hại với người chồng chính thức đầu tiên cùng những căng thẳng khi sống cùng nhà với người mẹ chồng khiến bà rời nơi chốn ấy không một báo trước, dẫn theo con gái đến ashram – nơi sinh hoạt tôn giáo của một giáo phái, và trở thành phu nhân của người đứng đầu. Tại đó, giữa những hành động kỳ quặc của việc thờ cúng, Tara hoàn toàn lu mờ con gái, để cô sinh sống như một đứa trẻ không có gia đình, giao phó hoàn toàn cho người phụ nữ tên là Kali Mata (Nữ thần hủy diệt), còn mình chìm đắm trong những ca tụng và phương thức hành lễ lạ lùng. Antara trải qua những quãng thời gian vô cùng khó khăn, khi thiếu đi sự quan tâm, gắn bó; cũng như một môi trường sống không hề phù hợp với lứa tuổi mình. Những ngột ngạt đè nén, những căng thẳng nội tâm, ép lên cô con gái như những vết hằn rất khó gột rửa.

Sau cái chết của Baba, Tara rời khỏi tịnh thất và sống như người ăn xin, học các mánh lới để tồn tại, vì ông bà nội và cả người chồng đều chối bỏ bà. Cũng trong khoảng thời gian này, nhờ sự cảm thông của Reza – người chồng không chính thức, hai mẹ con họ tiếp tục sống cuộc đời quá nhiều chông chênh. Khi xã hội Ấn Độ rơi vào Nhiễu loạn những năm sau này, Reza biến mất. Chính trong những năm tháng bị bỏ mặc, xa lánh và chối từ về mặt tình cảm, trong Antara là điều gì đó của sự tự nhận thức chua chát như hẳn sau này ta hay bắt gặp: Thậm chí trong những cơn điên của mình, bà ấy chưa khi nào ngưng làm hại tôi hay Bà ta không hơn gì một nhúm rau thối. Những câu văn này đôi khi làm nóng người đọc và chạm đến những đường biên đạo đức vốn luôn cố hữu trong con người họ.

Thế nhưng bi kịch chỉ đến khi Tara giả chứng mất trí khi phát hiện con gái vốn đang qua lại với Reza – người tình năm xưa nay đã mất dấu – khi vô tình đến buổi triển lãm của Antara. Nếu Lionel Shriver viết về sự trả thù đầy những mê hoặc thể xác được thể hiện qua cơn bùng phát giết người của Kevin hay Yoko Ogawa đầu độc chị gái của nhân vật chính bằng bưởi đột biến; thì Avni Doshi cho cuộc đối đầu giữa hai mẹ con bằng Alzheimer. Những nghi ngờ bước đầu, những trả đũa leo thang giữa hai con người được khắc họa trong cái lạnh lùng vô cảm, trong nỗi xót xa cay đắng hiển hình trước mắt người đọc. Ở đó bằng căn bệnh này, Tara hành hạ chính con gái mình bằng những giả vờ buồn thương, những ảnh hưởng sâu sắc, những tai biến giả tạm; còn Antara – là sự trả đũa đầy những leo thang. Và đến cuối cùng trong cuộc gặp gỡ ở nhà chồng Antara là khi Tara đạt được chính mục đích mình. Vở kịch kết thúc và chiếc mặt nạ đã được gỡ xuống.

Giữa những bến bờ đạo đức và suy nghĩ chung chung, hẳn không ai có thể quy kết công lý thuộc về người nào. Thuộc về người mẹ nhẫn tâm bỏ rơi con mình đi vào đạo phái; hay về cô gái đã lấy đi người đàn ông của chính mẹ mình? Avni Doshi đặt ra những thế chông chênh và đẩy bi kịch chạm đến cưỡng bức. Một khung truyện rất khó giải quyết và nằm chông chênh, và đó cũng là lý do vì sao với Burnt Sugar, những phân cực đánh giá, những nhận xét về sự thiếu logic hay mặt tình cảm xuất phát từ chính cái nhìn chung chung vốn luôn cố hữu của mỗi một người. Với bản thân người viết bài này, bằng những rời rạc và sự thiếu gắn kết, tình cảm hai mẹ con họ đã chết từ lâu, và chẳng có gì quá không logic hay thiếu hợp lý ở tiểu thuyết này.

*

Giữa những mâu thuẫn nội tâm của hai nhân vật, với Burnt Sugar, Avni Doshi phần nào cũng khắc họa được bối cảnh Ấn Độ rất nhiều màu sắc trong những phông nền tôn giáo, luật lệ, lễ nghi, giữa những đối lập hiện đại phương Tây và cái cổ hủ vốn luôn tồn tại ở đất nước phương Đông. Những chuyển giao thế hệ, những thế đối đầu và vai trò của người phụ nữ sau bao thế hệ vẫn không chuyển dời. Nếu Tara chịu sự áp bức của gia đình chồng đầy đủ bao nhiêu, thì Antara ở thế hệ sau cũng không khác mấy: khi phải đợi cửa chờ chồng mình về hay vấn đề phải sinh con trai trong mối quan hệ vô cùng căng thẳng với người mẹ chồng mê tín dị đoan. Nhưng nếu Tara đầy đủ dũng cảm thoát ra chiếc lồng ngột ngạt đầy những mực thước, thì Antara lại không được thế. Cô đầy mệt mỏi và những buồn thương, vì thiếu cảm hứng nghệ thuật, thiếu cái định hướng dẫn đến việc sinh Anikka như cách níu giữ người chồng của mình.

Về phong cách viết, Avni Doshi chứng tỏ tài năng của bản thân mình khi dám đặt chân vào khe hở hẹp của những vấn đề tưởng như nhạy cảm. Điềm tĩnh, lạnh lùng mà đầy cân bằng; Avni tái tạo nên cuốn tiểu thuyết đầy những chà nhám của mối quan hệ thô ráp mà đầy vết xước. Điểm yếu của Burnt Sugar có thể kể đến là sự ôm đồm. Giữa một tiểu thuyết sắc sảo, hiện đại và nặng về mặt tâm lý, việc lồng ghép lịch sử Ấn Độ trong một nỗ lực cố gắng tạo ra một tiểu thuyết mở, hướng nhiều xúc tu thì vô hình trung trở nên thừa thãi. Mô tả kỳ ảo được đánh giá khá cao trong một nỗ lực thoát khỏi lối viết hiện thực, nhưng thời lượng này vẫn còn rất ít.

*

Với Burnt Sugar, Avni Doshi đã làm một cú hattrick vô cùng ngoạn mục lừa đón người đọc. Bằng cách viết điềm tĩnh, thấu hiểu mà đầy sắc sảo, Avni đã dựng nên một bi kịch không thể đoán trước, giữa những căng thẳng, xung đột, đối đầu vô cùng lạ lẫm. Nếu là người đọc chờ đón văn chương như cái đẹp đẽ miêu tả cuộc đời, thì Burnt Sugar không dành cho bạn. Nhưng để chờ đợi một sự chuyển hóa từ ngọt thành đắng, từ trắng sang đen, từ rắn thành lỏng, từ chặt thành ra phân rã ra như đường thành caramel; thì đây là tiểu thuyết vô cùng phù hợp. Dữ dội, tàn khốc và đầy những bi kịch ngầm; cuốn tiểu thuyết mạnh mẽ nhất mùa giải năm nay.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Đọc bài viết

Book trailer

Biên sử nước: Không gian huyền ảo của một thực tại tan rã

Published

on

By

Sau 8 năm, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư mới lại ra mắt tiểu thuyết. Biên sử nước là một tiểu thuyết mỏng (125 trang), nhưng đầy dụng công về cấu trúc và điêu luyện trong ngôn ngữ; có thể ví như một vùng xoáy, cuốn người đọc đi vào không gian huyền ảo của một thực tại tan rã thâm căn.

11 chương sách trình bày theo một kết cấu vòng tròn, không diễn tiến không kết thúc.

Một trận đại hồng thủy mở ra và không thể khép lại. Đức Ngài với trái tim cứu rỗi trở thành trung tâm, biểu tượng của tính thiêng, nơi phát xuất lời nguyền và cũng là nơi cứu rỗi khổ lụy, nơi đánh mất cũng là nơi khuyến dụ mọi nỗ lực tìm đoạt. Nhưng trái tim cứu rỗi của Đức Ngài đang thuộc về ai?

Liên tục những cuộc ra đi. Sự cuồng tín trương nở giữa một hiện thực trên bờ vực suy thoái không thể vãn hồi. Và Đức Ngài là ai?

Biên sử nước là một tiểu thuyết mỏng (125 trang), nhưng đầy dụng công về cấu trúc và điêu luyện trong ngôn ngữ.

Sau Sông, Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục khảo sát cõi mênh mông và thẳm sâu, những “biến tính” của NƯỚC trong tiểu thuyết mới lần này. Lối viết uyển chuyển, tiết chế với một nhạc tính tự nhiên, quyến rũ đã tạo cho Biên sử nước một sức hấp dẫn đặc biệt.

Người đọc có thể tiếp cận cuốn sách tự do, khi mỗi chương tách rời, có thể xem là một truyện ngắn độc lập, với lối văn tinh tế, nhuần nhị. Được biết, trước ngày phát hành chính thức, đã có trên 3.000 đơn đặt hàng từ các nhà phát hành. Đây là con số phát hành đáng mừng đối với tiểu thuyết của tác giả Việt Nam đương đại trong bối cảnh thị trường sách hiện nay.

Về tác giả

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, sống tại Cà Mau. Trong một khoảng thời gian dài, Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn Việt Nam được độc giả đón đọc nhiều nhất. Tác giả của nhiều tập truyện ngắn, tản văn nổi tiếng: Đảo, Khói trời lộng lẫy, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ, Không ai qua sông, Hành lý hư vô...

Tác giả Nguyễn Ngọc Tư giao lưu với độc giả trong buổi giao lưu - ra mắt sách Biên sử nước tại Phương Nam Book City Saigon Center (TP. HCM).
Chị là tác giả của nhiều tập truyện ngắn, tản văn nổi tiếng: Đảo, Khói trời lộng lẫy, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ, Không ai qua sông, Hành lý hư vô...

Chị từng nhận nhiều giải thưởng văn chương uy tín trong nước và quốc tế như: Giải thưởng Văn học ASEAN 2008, LiBeraturpreis 2018... Một số tác phẩm của chị được dịch sang tiếng Hàn, Anh, Đức và Thụy Điển.

Đọc bài viết

Cafe sáng