Book trailer

The Booker Prize 2020: Real Life – Một đại diện nằm giữa Sally Rooney và James Baldwin

Published

on

Nước Mỹ vừa có thêm một James Baldwin mới – đó có lẽ là câu nói được thốt ra nhiều nhất sau khi Real Life được ra mắt. Với Real Life, Brandon Taylor viết nên một Moonlight phiên bản văn chương của 10 năm sau, khi Chiron (nếu có khả năng) lớn lên và sống trong xã hội này, sau đêm ở bãi cát cuối phim ấy. Bằng cách viết tuần tự xuôi theo thời khắc giao mùa từ hè sang thu, Brandon đã đưa người đọc từ tình trạng yếm thế của màu da đến nỗi cô đơn thường trực, từ những sang chấn tâm lý tuổi thơ đến một thế hệ Millennials đầy lo âu phẫn uất.

Cuốn sách là câu chuyện về Wallace – một nghiên cứu sinh ngành hóa, đến từ bang Alabama, da màu, trong môi trường đại học nhỏ bé và cực đoạn da trắng. Mở đầu bằng chi tiết cái chết của người cha, cậu suy tư, rồi lia đến khung hình những hội hè miên man với nhóm bạn da trắng phong phú. Đa phần là những cậu chàng thích nhau, và Wallace cũng thế, mắc kẹt trong cuộc tình với Miller, dù Miller cũng chẳng biết con người anh thật sự thế nào. Giữa không khí tinh hoa ấy, những phân biệt đối xử, những thương hại thô vụng, những quảng dừng cuộc sống… dần dần lộ ra để hiển hình những vết thương mưng mủ đã từ rất lâu đằng sau.

Với Real Life, điều quan trọng là sự kiên nhẫn để đi hết diễn biến câu chuyện. Vì một cách nào đó (không rõ vô ý hay cố tình), Brandon Taylor như thể trễ chuyến tàu cuối cùng và chỉ bắt kịp câu chuyện, tạo được chiều sâu, đầy đủ độ mở chỉ khi 1/3 đã trôi qua trong nhợt nhạt nhàm chán, nông cạn điền viên. Ở đó, việc co cụm không gian nơi khuôn viên trường đại học là thứ đầu tiên phơi bày điểm yếu của tác phẩm này. Một khoảng không nhỏ, không quá nhiều đối tượng; hơn thế, những diễn biến đã được khai thác gần hết trước đó. Brandon Taylor dường như không tìm ra được lối đi cho mình. Cũ kỹ, thiếu vận động và không rõ nét. Thứ hai, cuộc tình giữa hai nhân vật chính cũng nhợt nhạt không kém. Cuộc tình ấy nói thẳng ra không chứa bất cứ một dư vị nào, một đặc trưng nào để người đọc nhớ đến. Nếu André Aciman có những thì thầm gọi em bằng tên anh, Christopher Isherwood có cái cô độc cùng cực thì Real Life chẳng có gì đáng kể.

Nhưng may thay, 1/3 chán nản dừng lại ở đây. Câu chuyện bắt đầu vào nhịp khi Wallace nghĩ về xuất thân của bản thân mình. Việc anh nhớ lại tuổi thơ bị lạm dụng, sự thiếu vắng tình thương của bố mẹ, chứng nghiện rượu hay bao cố gắng vẫn mãi đưa anh về gốc tọa độ… Tất cả điều này sâu hơn tầng nổi của câu chuyện. Ở đó trong một khoảnh khắc, những nhập nhoạng mà Người trong gương của Will Eaves từng mang đến lại hiện lên, về những tối bị cưỡng bức trong căn phòng bởi người quen của bố mẹ anh, việc hướng đôi mắt nhìn ra cửa sổ trong sấm chớp và mưa bão, đây đó oằn mình những cây ngả nghiêng… Những chi tiết này thật sự đậm đặc. Brandon thả mình đến mức tối đa hòa vào câu chữ, khiến đây là đoạn sáng nhất của toàn tiểu thuyết, đau đớn và thực thể.

Điểm thứ hai, về nỗi thương hại. Ở đây Brandon không dừng lại ở việc nêu ra tình thế phân biệt chủng tộc của người da trắng. Anh đi sâu hơn chút nữa, bằng những suy nghĩ rất riêng của chính Wallace, về sự tự thương hại, về động cơ phía sau đó, về tính thực dụng, cái không khí và hơn hết là từ ngữ được thốt ra. Những trăn trở này khiến anh luôn ở chênh vênh bên mép vực thẳm, khiến những hội thoại với đối phương khi kể về chuyện gia đình hay là đám tang, đều như bọn người da trắng đang quăng cho anh một mẩu xương sườn. Những đoạn này tốt, đi vào đủ sâu và ít nhiều cho thấy một Wallace bất ổn giữa thời thế bất ổn trong chính nội hàm.

Và hình tượng cuối, con chim chết bị ăn bởi chính đàn kiến, là thứ gợi mở ra một vũ trụ mới, một tuyến thời gian khác, gom toàn bộ tiểu thuyết này bằng chính một hình tượng ấy. Việc bị giam lỏng, nằm chết và bị tha đi nhung nhúc bởi bầy kiến lạc, khiến Wallace nghĩ về bản thân mình. Anh từng ước muốn nhảy khỏi tầng ba của phòng thí nghiệm. Nhưng nhìn lại, anh lại nghĩ về chính con chim ấy, nằm chết trên đôi cánh mình, bị ăn bởi kiến, ăn bởi cái chết, ăn sống bởi việc nằm chết. Và đó cũng là khi anh thức tỉnh và một nhận thức nào đó hiển hiện thành hình.

Cùng đó, như Sally Rooney, một thế hệ Millennials cũng dần thành hình trong tiểu thuyết này. Đó là những người sống vì một mục tiêu lý tưởng, giam mình vào một thế giới ủ ê thiếu thốn tình thương với mạng xã hội, đầy rẫy mối quan hệ độc hại, một giới tư bản mới chớm, một thể tinh hoa… Brandon Taylor nhìn nhóm này đôi phần khinh khi qua những câu văn, ít nhiều thể hiện quan điểm chính bản thân anh về thế hệ này.

Đến cuối cùng, với Real Life, Brandon Taylor ít nhiều thể hiện được thế giới quan cá nhân về người da màu yếm thế trong đời sống đầy tính tự do và tư bản giả tạm của dân tư bản da trắng. Điều đáng tiếc nhất ở cuốn sách này là Brandon chưa đạt được đủ độ sâu. Đôi lúc đã rất gần rồi, thế nhưng hẫng tay và cuốn sách đi theo hướng khác, nhan nhản và nhạt nhòa. Như một đại diện nằm giữa Sally Rooney và James Baldwin, Brandon Taylor ít nhiều mang đến câu chuyện hiện đại, ổn và vừa đủ. Còn với Booker, vẫn là một sự đánh giá quá sức!

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020







*

Đọc tất cả bài viết của minh.

Book trailer

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng tái xuất với diện mạo hoàn toàn mới

Published

on

Đoạt huân chương Newbery từ năm 1972, tác phẩm của Robert C. O’Brien vẫn chinh phục trái tim độc giả nhỏ tuổi qua bao thế hệ dù đã hơn 30 năm trôi qua kể từ lần đầu phát hành. Tác phẩm lần đầu xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên Mẹ Frisby và gia đình chuột vào thời điểm 2012. Trong lần tái bản này, cuốn sách đoạt giải Newbery sẽ mang tên mới là Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, nội dung được biên tập lại kèm theo nhiều hình ảnh minh họa sinh động.

Khắc họa loài vật trong bối cảnh sinh tồn

Câu chuyện trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng xoay quanh cuộc phiêu lưu của chị chuột Frisby góa bụa cùng đàn con, khi cả gia đình phải chuyển nhà để ông chủ trang trại Fritzgibbon chuẩn bị cày cấy vườn rau cho vụ mùa mới. Nhưng Timothy, bé trai út trong nhà lại đang mắc viêm phổi nặng và không thể di chuyển giữa tiết trời lạnh giá. Quyết cứu con mình, chị Frisby đã bất ngờ rơi vào cuộc phiêu lưu có mèo và quạ, có thành phố bí ẩn dưới góc vườn. Để rồi cuộc gặp gỡ với những chú chuột NIMH phi thường và hào hiệp đã giúp mẹ con chị thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Tuy gắn mác truyện thiếu nhi, điểm đặc sắc của cuốn sách đoạt giải Newbery là lối hành văn và những tình tiết đậm chất hiện thực, mô tả sống động khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ với những chu trình tự nhiên khắc nghiệt.

Mối quan hệ đa chiều giữa chuột và con người

Loài chuột trong truyện được khắc họa rất thú vị khi chúng có thể tự ý thức về bản chất “thích trộm cắp” của giống loài. Trăn trở vì luôn phải sống phụ thuộc vào con người, chúng muốn bứt khỏi tình cảnh đó. Nhưng cũng như con người, loài chuột trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng không đầu hàng trước trở ngại mà biết tự nâng cấp cuộc sống của mình bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thật thú vị khi Robert C. O’Brien đưa những chi tiết mô tả phòng thí nghiệm, điện nước, vật dụng cơ khí… trong một tác phẩm ngỡ như truyện cổ tích về loài vật.

Tác giả đứng vào thế trung lập khi đánh giá mối quan hệ giữa con người với loài vật, xét trên phương diện cả hai phe đều phải vật lộn vì mục đích sinh tồn. Đồng thời, người lớn cũng có thể đọc tác phẩm để khám phá một góc nhìn độc đáo về thế giới loài vật, chiêm nghiệm về vị thế của chúng ta giữa tự nhiên bao la.

Tranh minh họa sống động, đáng yêu

Trở lại với diện mạo mới, tác phẩm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng có thêm phần tranh minh họa in màu của họa sĩ Việt Nam với những màu sắc tươi sáng, tạo hình nhân vật dễ thương, giúp bạn đọc hình dung rõ hơn về thế giới của loài vật được mô tả qua những câu chữ.

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng mang đến câu chuyện đậm chất phiêu lưu giả tưởng, vừa gần gũi, đề cao tình mẫu tử mà không hề giáo điều hay phán xét. Sở hữu nội dung hấp dẫn, thông điệp ý nghĩa và phần hình thức bắt mắt, tác phẩm thiếu nhi đoạt giải Newbery hứa hẹn sẽ là món quà phù hợp với trẻ nhỏ lẫn người lớn vào mùa lễ tết sắp tới.

Về giải thưởng Newbery:

Xuất hiện từ năm 1922 ở Mỹ, Newbery Medal là giải thưởng danh giá dành cho sách thiếu nhi đầu tiên trên thế giới, được Hiệp hội Dịch vụ Thư viện cho Trẻ em (ALSC) trao tặng các tác giả có đóng góp quan trọng cho nền văn học trẻ em Mỹ. Tại Việt Nam đã có những đầu sách đoạt huân chương Newbery được xuất bản, bao gồm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, Charlotte và Wilbur, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Hòn đảo cá heo xanh

Về tác giả:

Robert C. O’Brien tên đầy đủ là Robert Leslie Carroll Conly, sinh ngày 11.1.1918 ở Brooklyn, New York. Ông theo học trường William College và tốt nghiệp Đại học Rochester. Sau đó ông trở thành nhà văn kiêm nhà báo của tờ Newsweek , National Geographic cùng nhiều tờ báo khác. Ông sống tại New York, rồi chuyển đến Washington cùng vợ và bốn đứa con.

Sau khi Robert C. O’Brien qua đời (ngày 5.3.1973), cuốn tiểu thuyết Z for Zachariah đã được vợ và con gái ông tiếp tục chấp bút dựa theo những phác thảo còn lại.

Các tác phẩm của ông bao gồm: The Silver Crown; Mrs. Frisby and the Rats of NIMH; A Report from Group 17Z for Zachariah.

Đọc bài viết

Book trailer

2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai – Hành trang cho xã hội mai sau

Published

on

Thế giới mà chúng ta sống đang thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Nếu như ngày trước, con người mất hàng nghìn năm để hình thành các xã hội sơ khai, thì giờ đây, chỉ trong khoảng thời gian nửa thế kỉ, một người có thể chứng kiến biết bao cuộc chiến bừng lên rồi dập tắt, biết bao thể chế từ lúc hưng thịnh cho đến khi suy tàn.

2030 là mốc thời gian mà tác giả Mauro F. Guillén đặt ra trong cuốn sách viết về tương lai. Năm 2030 thoạt nghe thật gần nhưng với tốc độ phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa ngày nay, 10 năm cũng đủ tạo ra vô vàn biến động nằm ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.

Cộng với những tác động tàn phá từ dịch bệnh Covid-19, tác giả Mauro F. Guillén khẳng định con người của năm 2030 không thể tiếp tục sống theo lối truyền thống. Vậy nên cuốn sách của ông ra đời nhằm giúp độc giả có một cái nhìn khái quát về các xu hướng đang diễn ra trên toàn cầu, đồng thời tự trang bị trước những cơ hội lẫn thách thức của thế giới mới để không bị tụt lại phía sau.

Được viết bằng văn phong hấp dẫn đan xen các dẫn chứng khoa học, 2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai là một bản phân tích sâu rộng, chặt chẽ và đầy thuyết phục về xã hội loài người trong thập niên tới, trải dài trên nhiều lĩnh vực từ nhân khẩu học, kinh tế, đô thị hóa cho đến những cách tân công nghệ mới nhất như tiền điện tử và trí tuệ nhân tạo.

Tác giả Mauro F. Guillén

Qua đó, cuốn sách nêu bật những ý quan trọng:

  • Trong thập niên tới, số trẻ sơ sinh sẽ ít đi do hiện tượng giảm sinh toàn cầu. Thay vào đó, thế hệ “đầu bạc” có thêm cơ hội tiến vào thị trường việc làm, trở thành nhóm khách hàng được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu.
  • Tầng lớp trung lưu mới và cũ sẽ tranh giành vị thế khi trọng tâm tiêu dùng toàn cầu dịch chuyển sang các lục địa nằm ngoài châu Âu và Mỹ.
  • Xuất hiện thêm nhiều phụ nữ giàu có khiến cơ cấu quyền lực của xã hội dần chuyển hóa, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều áp lực hơn và xu hướng này có thể dẫn đến xung đột giữa các nhóm phụ nữ khác nhau trong xã hội.
  • Các thành phố tăng trưởng mạnh mẽ tạo ra hàng loạt vấn đề mới như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhu cầu nước và đất đai.
  • Hàng loạt công nghệ đột phá như AI (trí tuệ nhân tạo), xe điện, in 3D, công nghệ nano… mở ra rất nhiều tiềm năng để giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời cũng đưa đến nhiều tình thế nan giải khi các phương thức truyền thống và lớp người lao động cũ bị thế chỗ. 

Còn rất nhiều dự đoán thú vị về nền kinh tế chia sẻ, thế giới không tư hữu, các dự đoán về blockchain (chuỗi khối) và tiền tê tương lai đang chờ bạn đọc khám phá.

Về tác giả:

Mauro F. Guillén là diễn giả, nhà tư vấn uy tín cho nhiều doanh nghiệp, một chuyên gia hàng đầu về xu hướng toàn cầu. Ông từng tốt nghiệp Xã hội học ở Đại học Yale và Kinh tế học ở Tây Ban Nha. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng, học giả và giáo viên đoạt giải thưởng tại Trường Wharton, nơi ông giữ chức Giáo sư Zandman về Quản lý Quốc tế và giảng dạy trong Chương trình Quản lý Nâng cao hàng đầu cùng nhiều khóa học khác cho giám đốc điều hành, MBAs và sinh viên đại học.

Hiện nay, ông là Giám đốc kiêm Hiệu trưởng của Trường Kinh doanh Cambridge Judge và là thành viên của Queen's College tại Đại học Cambridge.

Những cuốn sách đã xuất bản: The Architecture of Collapse, Global Turning PointsEmerging Markets Rule.

Đọc bài viết

Book trailer

Giải Booker 2021 gọi tên nhà văn người Nam Phi Damon Galgut

Published

on

Sau hai lần lọt vào danh sách rút gọn, cuối cùng tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn kịch Damon Galgut đã nhận giải Booker Prize (cùng khoản tiền mặt 50,000 bảng Anh) cho tiểu thuyết The Promise. Ông là nhà văn người Nam Phi thứ ba nhận được vinh dự này, sau J. M. Coetzee và Nadine Gordimer.

Lần đầu tiên là “một người chiến thắng”

Khi Damon Galgut hay tin The Promise lọt vào danh sách rút gọn Giải Booker 2021, ông đã rất bồn chồn. Từng hai lần lọt vào vòng short-list (năm 2003 và 2010), và cả hai lần gánh nặng của danh hiệu được đề cử “có lẽ đã bào đi vài năm tuổi đời tôi”.

Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Guardian, Galgut chia sẻ: “Trong vài tuần đầu, anh được coi là một trong sáu người thắng cuộc; rồi đột nhiên, rất đột nhiên, tất cả sự chú ý đang đổ dồn vào anh bỗng biến mất, và rồi chỉ có duy nhất một người chiến thắng, còn lại đều là những kẻ bại trận.”

Nhưng năm nay mọi chuyện đã khác. Hội đồng chấm giải Booker đã viết những lời ca ngợi đứa con tinh thần của ông, vì “phong cách kể chuyện khác thường cân bằng giữa sự hoa mỹ kiểu Faulkner với tính chính xác của Nabokov, phá bỏ giới hạn, là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết thế kỷ 21”.

Damon Galgut vào khoảnh khắc công bố kết quả Giải Booker 2021. Ảnh: The Washington Newsday

Giới phê bình văn học đã ví von lối viết thử nghiệm của ông với các bậc thầy chủ nghĩa hiện đại như Virginia Woolf, James Joyce và William Faulkner; đồng thời một số khác ghi nhận tác phẩm của ông nợ một lời cảm ơn đến nhà văn đồng hương J. M. Coetzee.

Lời giễu nhại cay độc giữa thời đại phân biệt chủng tộc

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc.

Những ý tưởng đầu tiên được sinh ra từ cuộc trò chuyện với người bạn vừa đi dự một loạt đám tang của người nhà. Từ đó, Galgut bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết xoay quanh trọng tâm là một gia đình - “chỉ là một đám người Nam Phi da trắng đơn điệu,” - khi người mẹ quyền uy qua đời vì ung thư năm 1986, cũng là lúc Nam Phi đang rung chuyển vì bất ổn chính trị. Tiêu đề The Promise đề cập đến lời hứa (và thất hứa) của gia đình Swart, rằng sẽ trao nhà và đất cho người quản gia da đen tận tụy, đồng thời cũng ám chỉ sự bội tín, về cái viễn cảnh bình đẳng xã hội thời hậu phân biệt chủng tộc mãi mãi chẳng thể thành hình.

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc. Ảnh: CNN

The Promise đạm bạc, đâu đó hiểm ác, đâu đó hóm hỉnh cay độc. Khi cuốn sách khép lại, chỉ có duy nhất một người mang họ Swart sống sót. Galgut ghi chép tỉ mỉ tiến trình tử vong của con người; những công việc vụn vặt của nhà tang lễ được trình bày qua các tình tiết tẻ ngắt, cũng như thứ mùi khó ngửi của kẻ sống và người chết. Galgut liên tục đề cập đến cái thứ gì đó đắng chát hay bị chôn vùi ở “lõi chua” của cả người nhà Swart và đất nước Nam Phi, và có lẽ ngay trong chính bản thân sự sống: “bản chất của mọi thứ đều là sự dối trá.”

Cuốn tiểu thuyết còn ghi lại những thăng trầm của một Nam Phi đang thay da đổi thịt - khởi đầu bằng buổi nhậm chức của Nelson Mandela. Tuy nhiên, các nhân vật da trắng vẫn thản nhiên bác bỏ sự tồn tại của người da màu. Sự tự mãn, thụ động của nhà Swart chỉ có thể cứu chuộc bằng lời hứa bị trì hoãn từ lâu - rằng quản gia Salome có thể thừa hưởng ngôi nhà khiêm tốn trên mảnh đất mà cô đang sống. Galgut mượn sự thất hứa này để khắc họa tình trạng băng hoại đạo đức nghiêm trọng trong cộng đồng người da trắng tại Nam Phi.

Những ảnh hưởng từ J. M. Coetzee

Mặc dù phần lớn The Promise có bối cảnh tại những thập kỷ trước, nhưng chủ thể của cuốn sách - hậu quả của chủ nghĩa thực dân và nạn phân biệt chủng tộc, câu hỏi còn bỏ ngỏ, rằng ai mới thuộc về mảnh đất này - vẫn còn vang vọng tại đất nước Nam Phi. “Câu chuyện đất đai, ai đang sở hữu nó, ai đã từng sở hữu nó, ai sẽ sở hữu nó trong tương lai, đây là trọng tâm trên bàn tròn chính trị Nam Phi hiện nay”.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Cả hai tác giả đều viết về những gì hội tụ tại ngã ba chính trị, tinh thần và thể xác; cơn ác mộng mang tên phân biệt chủng tộc vấn vít với nhu cầu dai dẳng của thân xác phàm trần. Coetzee có thể khơi dậy niềm vui hiện sinh nghiệt ngã từ hoàn cảnh khốn khó của các nhân vật chính. Trong khi đó, Galgut trong The Promise là một nhà văn trào phúng, nghiêng hẳn về cái vô cảm và đạo đức giả trong các nhân vật của ông.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Ảnh: Micheline Pelletier/Corbis

Tuy nhiên, cả hai nhà văn đều viết về những cái xấu xa; và khi anh em nhà Swart trôi theo số phận thê lương, Galgut lại theo đuổi viễn kiến của Coetzee về cái khó của loài người, mà trạng thái mặc định là nỗi đau. Tôi đau, vì vậy tôi tồn tại.

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ New York Time.

Đọc bài viết

Cafe sáng