Trà chiều

Em đã dạy tôi tất cả những điều quan trọng nhất về văn chương

Mỗi khi viết, em đều nghĩ đến thời gian người đọc sẽ dành cho nó, và em trân trọng thời gian của người đọc, đôi khi em còn trân trọng nó hơn cả thời gian mình dành ra để viết.

Published

on

Em đã dạy cho tôi biết về sách, về việc viết, những niềm vui và nỗi buồn xoay quanh văn chương… Vì nghĩ rằng biết đâu những điều em đã dạy tôi cũng sẽ có ích cho một người nào đó, tôi đã quyết định viết ra những điều này để lưu lại và chia sẻ với nhiều người. Và vì, việc đọc và việc viết sẽ luôn là điều quan trọng (có thể là quan trọng nhất) với chúng ta – tôi tin, hay ít nhất là hi vọng vào điều đó.

Đừng đọc em

Có lẽ, người viết nào cũng mong những gì mình viết ra được người khác đọc, đồng cảm và số người đọc như thế càng nhiều sẽ càng tốt. Nhưng buổi trưa ngày hôm ấy, em đem đến cho tôi một ấn tượng ngược lại hoàn toàn. Vì nhớ nhau, chúng ta chat với nhau. Khi đó, Facebook vẫn còn chưa có chế độ chat như bây giờ, chúng ta dùng Yahoo! Messenger để chat. Em hỏi tôi rằng tôi đang làm gì. Tôi bảo tôi đang đọc thơ em. Mà quả thật, lúc đó tôi đang đọc thơ em thì tình cờ em lại online và hỏi tôi điều đó. Tôi đã nói ra việc này rất thật thà, không hề có ý nghĩ nói để làm em vui lòng. Khi nói ra, tôi cứ nghĩ theo phản ứng thông thường, em sẽ hỏi tôi đang đọc bài thơ gì, cảm nhận của tôi như thế nào. Thế nhưng, dòng chữ đầu tiên hiện lên trên khung chat lại là: “Đừng đọc em, thơ em không hay lắm đâu. Đọc thử Wislawa Szymborska đi. Có lẽ anh sẽ thích.” Và em không chỉ nói suông, ngay lập tức, em gửi cho tôi một đường link để đọc Szymborska. Tôi đành bỏ dở việc đọc thơ em mà chuyển sang đọc Szymborska. Quả nhiên, bà viết rất hay. Ấn tượng của tôi lúc đó là sao bà có thể viết về nỗi buồn, nỗi đau khổ của con người, sự mất mát, chiến tranh bằng một giọng điệu giản dị, chân thành nhưng ngôn ngữ thơ lại giàu hình ảnh, cảm xúc, có vài ý tứ mới lạ, sáng tạo như thế. Quả thực, đến thời điểm đó, tôi chưa từng có cảm giác thán phục như vậy khi đọc thơ ai bao giờ. Trong lúc, tôi đọc Szymborska, em còn gửi kèm thêm cho tôi file PDF trọn tập thơ bằng tiếng Anh của một nhà thơ nào đó nữa mà lúc ấy tôi chưa kịp đọc, tôi lưu nó vào một nơi nào đó trong máy tính và sau nhiều lần chuyển đổi dữ liệu trong ổ cứng, bây giờ tôi không còn tìm thấy nữa, tôi cũng không nhớ nổi tiêu đề của tập thơ hay là tên nhà thơ.

Ngày đó và cả bây giờ vẫn vậy, tôi luôn muốn cảm ơn em vì đã giới thiệu Wislawa Szymborska với tôi dù rằng nếu em không giới thiệu, sau một thời gian mò mẫm đọc thơ, biết đâu một lúc nào đó, tôi cũng sẽ đọc đến bà. Nhưng điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phản ứng của em khi ấy thật dễ thương, nghiêm túc đến là dễ thương trong mắt tôi. Bây giờ, tôi nhận ra rằng khi tôi đọc thơ em và cả khi tôi nói với em tôi đang đọc thơ em, có một điều ẩn ý mà tôi muốn nói với em lúc đó: “Anh đang quan tâm em đấy. Vì muốn hiểu em hơn, anh đã làm việc đó đấy.” Nghĩa là, tôi đã đọc thơ em không phải chỉ với tư cách một độc giả đọc thơ của một nhà thơ thông thường, hành động đọc khi ấy còn có nghĩa là hành động tìm hiểu, quan tâm người yêu. Nhưng em nghiêm túc với việc viết, việc đọc, với chính bản thân mình đến mức em nói với tôi – một độc giả tiềm năng của em rằng thực ra còn có một tác giả khác xứng đáng hơn để tôi dành thời gian đọc người đó thay vì đọc em, rằng nếu đọc người đó thì tôi sẽ có được nhiều lợi ích hơn thay vì đọc em. Ở đây, em đã hoàn toàn bỏ qua vai trò người tình của tôi, nếu xét đến văn chương thì chỉ có người viết và người đọc. Em nghiêm túc như thế. Nhưng em rất thích kinh doanh và trong kinh doanh, người ta thường hay nói rằng có một điều cấm kị là: đừng giới thiệu với khách hàng sản phẩm của công ty đối thủ. Vì vậy, điều em đã làm với tôi có lẽ sẽ trở thành ví dụ không hay trong giới kinh doanh. Nhưng, kể cả trong giới viết lách, tôi cũng chưa thấy ai có phản ứng tương tự thế này bao giờ. Có thể, em cho rằng tôi dở hơi nhưng điều đơn giản em đã làm lúc ấy khiến tôi nhớ mãi đến bây giờ, khiến tôi như cảm thấy chính mình cũng được sưởi ấm vì tình yêu thơ của em, vì sự nghiêm túc, vì sự đam mê, nhiệt huyết em dành cho văn chương. Đó cũng là điều đã khiến tôi vô cùng yêu em khi mình còn ở cạnh nhau.

Và hôm ấy, sau khi đọc xong thơ của Wislawa Szymborska, tôi vẫn lén đọc thơ em.

Trân trọng thời gian của người đọc

Trước em, đã có rất nhiều người chê tôi viết dài. Tự bản thân tôi cũng nhận thấy điều đó nhưng không cách nào khắc phục được. Đâu là ranh giới cho cảm nhận dài và ngắn? Rõ ràng mọi thứ chỉ là phép đo đạc cảm tính. Vì thế, tôi không biết nên tiếp tục triển khai ý đang viết hay chuyển sang một ý mới. Mọi người hầu như chỉ nói cảm giác dài một cách chung chung. Nhưng em thì khác. Em đã giúp tôi hiểu được thêm điều trước đó tôi chưa bao giờ chú ý: thời gian của người đọc.

“Anh biết không, khi viết anh đừng chỉ nghĩ đến việc sẽ dành bao nhiêu thời gian để hoàn thành nó. Anh phải nghĩ đến thời gian người đọc sẽ dành ra cho nó. Họ có thể dành thời gian để làm những việc khác hay đọc những thứ khác, thế nhưng, họ lại chọn đọc những gì anh viết. Vì vậy, anh phải viết như thế nào đó để họ đọc xong, họ không có cảm giác bỏ phí thời gian đã đọc. Đời người có bao lâu, đúng không? Thế nên, mỗi giây phút họ đã dành ra để đọc những gì ta viết, dù là khoảng thời gian dài hay ngắn ngủi đều đáng quí trọng như nhau. Viết ngắn không có nghĩa là viết ít chữ lại. Số lượng chữ không phải là vấn đề. Điều quan trọng nằm ở hàm lượng nội dung chứa trong chữ. Anh phải viết như thế nào để người đọc nhận được nhiều nhất trong số lượng chữ ít nhất có thể. Mỗi khi viết, em đều nghĩ đến thời gian người đọc sẽ dành cho nó, và em trân trọng thời gian của người đọc, đôi khi em còn trân trọng nó hơn cả thời gian mình dành ra để viết. Khi nghĩ như thế, em cố gắng làm sao để tiết kiệm thời gian giúp họ, làm sao để khoảng thời gian bỏ ra ấy trở nên có ý nghĩa nhất. Anh muốn viết ngắn ư? Vậy thì, cứ thử như em xem. Mỗi lần viết hãy nghĩ đến thời gian của người đọc và học cách trân trọng nó. Nếu như anh thực sự chân thành nghĩ về họ, từ từ anh sẽ có thể viết ngắn hay viết cô đọng.”

Trân trọng thời gian của người đọc mỗi khi viết – đó là điều thậm chí đến bây giờ chưa một ai nói với tôi ý tương tự như vậy. Hầu hết, mọi người sẽ nói đến việc làm cách nào để viết hay hơn, để trau dồi kĩ năng, để giữ được ước mơ trong cuộc sống hối hả này… nghĩa là mọi thứ chỉ xoay quanh bản thân người viết, người đọc được nhìn nhận như người vô danh và không cần phải chú tâm, miễn sao có thể truyền đạt những gì người viết mong muốn là đủ. Nhưng em nhắc tôi nhớ rằng vai trò giữa người viết và người đọc là hoàn toàn bình đẳng. Vì vậy, thời gian của cả hai là quí giá và đáng trân trọng như nhau. Mọi người thường hay nói một nhà văn đã dành bao nhiêu năm, bao nhiêu thời gian để viết một tác phẩm nào đó nhưng mấy ai lại nói đến một độc giả đã dành bao nhiêu thời gian để đọc một tác phẩm nào đó dù rằng việc đọc đã khiến họ phải đánh đổi những giây phút ở bên người thân yêu hay tận hưởng cuộc sống theo cách khác. Sau khi em gieo vào đầu tôi ý niệm này, mỗi lần đọc các kiệt tác của những nhà văn lớn, tôi lại càng biết ơn họ hơn, không chỉ biết ơn vì họ đã viết ra tác phẩm đó mà còn biết ơn vì họ đã dành ngần ấy thời gian, có thể là cả một phần đời của mình để viết ra tác phẩm chứa nhiều ý nghĩa như thế nhưng lại chỉ lấy đi ít thời gian để người khác đọc, hoặc dù người đọc có mất nhiều thời gian thế nào vẫn không bằng thời gian người viết đã bỏ ra.

Bao năm qua, tôi vẫn luôn cố gắng trân trọng thời gian của người đọc mỗi khi viết để viết ngắn lại. Tôi không rõ liệu bây giờ mình đã tiến bộ trong việc này hơn chưa nếu so với ngày trước.

Nghĩ về những quyển sách ta chưa đọc

Em nói với tôi rằng em rất dễ dàng trong việc tặng sách. Đa phần, sách nào đọc xong là em đều tặng. Em không muốn sở hữu quá nhiều bất cứ điều gì, kể cả sách. Em muốn mình càng tự do càng tốt. Hơn nữa, em cũng nghĩ rằng một cuốn sách hay có nhiều người đọc sẽ càng nhân giá trị của nó lên. Vì vậy, em tặng sách để nó tiếp tục có đời sống mới trong tay một người khác.

Một lần, em nói thêm cho tôi biết về ý nghĩa của việc này: em tặng những quyển sách đã đọc rồi để trước mặt em chỉ còn những quyển sách em chưa đọc, để em sẽ luôn nhìn thấy nó, luôn nghĩ về nó và tìm cách đọc hết nó trong thời gian ngắn nhất có thể.

“Em không thích để những cuốn sách đã đọc trước mắt mình. Có thể, một ngày nào đó, khi em càng đọc nhiều, em sẽ càng thấy nhiều hơn những quyển sách em đã đọc trưng bày trước mắt em. Điều đó có thể khiến em nghĩ rằng mình đã đọc nhiều lắm. Nhưng thực tế, em vẫn chưa đọc được bao nhiêu và vẫn còn rất nhiều quyển sách to lớn chờ đợi em đọc. Vì vậy, em tặng sách cũng là để trong phòng em chỉ còn những quyển sách em chưa đọc. Anh có hiểu cảm giác đó không? Rằng tuy có những quyển sách anh chưa đọc, nhưng nó cứ ở đó, có đời sống riêng của nó, anh nhìn nó một thời gian và dường như trưởng thành cùng nó dù vẫn chưa đọc nó. Và rồi, bỗng nhiên đến một lúc, anh cảm thấy mình đã đủ lớn để đọc nó. Thế là anh đọc.”

Có lẽ phần nào đó, đối với em, những quyển sách chưa đọc còn quan trọng hơn cả những quyển sách đã đọc nữa. Hình như, Umberto Eco đã nói điều này, và hình như, chính em cũng đã từng nói với tôi: những quyển sách chưa đọc có ý nghĩa quan trọng hơn những quyển sách đã đọc vì chúng giúp ta học cách khiêm tốn, chúng nhắc ta biết thế giới rộng lớn thế nào, chúng là minh chứng cho một phần cuộc sống ta vẫn chưa từng thử bước vào…

Từ khi em đi, bốn năm vừa qua, tôi đã tặng sách rất nhiều. Em biết đấy, tôi từng là người rất keo kiệt trong việc này. Đó là việc ít khi nào thoáng qua suy nghĩ của tôi. Tôi chỉ cho mượn sách và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ không biết người ta có trả cho mình không. Nhưng khi không còn gặp em nữa, tôi mới nhận ra rằng việc giữ những quyển sách đã đọc rồi, việc cố gắng để sở hữu chúng quả thực chẳng đem lại mấy lợi ích gì. Nếu như những tinh hoa trong quyển sách đã được bản thân thẩm thấu thì việc xa rời chúng không có nghĩa là mất đi những điều đã ở lại trong lòng. Tương tự như vậy, nếu bản thân đã không thể thu vào lòng những điều hay của quyển sách thì việc khăng khăng giữ lại quyển sách bên mình, không đồng nghĩa với việc giữ những tinh chất đó bên trong mình. Vật chất hay thể xác không bao giờ quan trọng bằng tinh thần hay ý niệm. Điều này không chỉ áp dụng trong mối quan hệ giữa con người với nhau mà còn trong mối quan hệ giữa người với sách. Thực ra, nếu suy xét kĩ thì sách cũng là một con người, nó chính là một phần của người đã tạo ra nó. Vậy nên, việc chia tay một quyển sách không quan trọng bằng việc rốt cuộc đã có bao giờ, ta thực sự sống trong nó chưa.

Khi hiểu ra những điều ấy, tôi trở nên vô cùng thoải mái trong việc tặng sách. Có thời điểm, đi đâu, gặp ai, tôi cũng đều sẽ chọn ra ba quyển sách mà tôi nghĩ rằng phù hợp với người sắp gặp để tặng họ. Tại sao lại là ba? Vì tặng một thì tôi sợ là không đúng quyển người đó thích, tặng hai thì sợ người ta nghĩ hai quyển sách có liên quan với nhau; vậy nên, ba là số an toàn. Theo thời gian, cuối cùng tôi cũng tặng hết những quyển sách tôi đã đọc, chỉ còn những quyển sách tôi chưa đọc. Vì vậy sau này, tôi cũng không thể tặng một lần ba quyển khi gặp ai đó nữa mà chỉ có thể là một quyển tôi mới đọc xong. Tôi không biết liệu em có ngạc nhiên về điều này không nhưng chính tôi thì ngạc nhiên về tôi đấy. Vì tôi của khoảng chừng mười năm trước đó không thể nào hình dung ra được tôi của mười năm sau này lại tặng sách nhiều như vậy. Trước đây, tủ sách của tôi ngập tràn sách văn học Nhật. Bao nhiêu sách của Haruki, Banana, Ryu, Yoko Ogawa, Yamada Amy… phát hành trên thị trường là tôi mua hết. Đến nỗi có thời gian hầu như chẳng còn sách văn học Nhật mới trên thị trường cho tôi đọc. Nhưng bây giờ, nếu chỉ nhìn vào tủ sách của tôi thì có lẽ khó ai đoán được rằng tôi đã từng thích văn học Nhật đến vậy. Bởi vì, bao nhiêu sách văn học Nhật – nằm trong nhóm sách tôi đã đọc rồi đều được tôi đem đi tặng hết và những năm vừa qua, tôi không mua cũng như đọc sách văn học Nhật nhiều nữa. Thay vào đó, sách chiếm phần lớn tủ sách của tôi bây giờ là sách văn học phương Tây. Đây cũng là điều mà tám năm về trước, khi lần đầu bước chân vào trường đại học, tôi đã không thể ngờ sẽ có ngày tủ sách của mình biến thành như vậy.

Bây giờ, trước mắt tôi chỉ còn những quyển sách tôi chưa đọc. Ngày ngày tôi nhìn chúng, ngày ngày tôi đối diện với chúng, với việc chưa đọc chúng, với việc mình ngu dốt như thế nào, với việc còn rất nhiều thế giới tôi chưa biết đến. Và quả thực, việc này đã phần nào kích thích tôi, buộc tôi cố gắng dành nhiều thời gian hơn để đọc những cuốn sách tôi chưa đọc. Nếu là lúc trước, khi những quyển sách đã đọc và chưa đọc được đặt kề nhau, hỗn độn với nhau, có lẽ, sự kích thích này sẽ giảm đi rất nhiều.

Tạm biệt em

Vẫn còn một vài điều quan trọng em đã dạy cho tôi biết, nhưng tôi chỉ có thể chia sẻ ba điều quan trọng ấy với tất cả mọi người khi nghĩ về việc đọc, việc viết: sự nghiêm túc – cạnh tranh một cách công bằng, sự trân trọng, sự khiêm nhường. Cảm ơn em vì đã dạy cho tôi biết những điều quan trọng này. Và cũng xin lỗi em vì khoảng thời gian mình còn quen nhau, có lẽ tôi đã không thể mang đến cho em những điều quan trọng, sâu sắc tương tự hay những điều mới mẻ hơn điều em đã vốn có trong cuộc sống trước đó. Dù đã xảy ra nhiều chuyện, dù không gặp đã lâu, dù tình yêu ngày trước không còn nữa, nhưng thực sự trong lòng tôi lúc nào cũng nghĩ về em với cảm giác trân trọng. Dù nhiều lúc tôi từng nghĩ giá mà ngày ấy không gặp em sẽ tốt hơn, nhưng rồi ngay sau đó, tôi lại nghĩ thật may mắn vì đã gặp được em.

Có thể em đã quên tất cả những điều này, những gì đã xảy ra, những lời em đã nói, bởi lẽ chúng chỉ là những mảnh nhỏ tưởng chừng vụn vặt trong nhiều ngày bình dị và cũng nhiều ngày đầy biến động ta đã ở bên nhau. Tuy vậy, những điều ấy luôn khắc sâu trong tôi bốn năm vừa qua. Ba điều này hay ba vệt kí ức này là thứ tôi thường nghĩ về mỗi khi cảm thấy bản thân dần mất đi ý chí để viết hay những khi tôi dường như bị sao lãng khỏi điều tâm niệm cốt yếu, dường như đi chệch điểm trọng tâm của giấc mơ văn chương tôi muốn hướng đến. Thật may mắn vì ba điều này đã giúp tôi phần nào có thể đứng vững và cố gắng tiếp tục viết đến bây giờ. Tôi mong rằng, trong tương lai sẽ vẫn luôn như thế.

Và em như thế nào? Em vẫn ổn chứ? Vẫn đọc và viết nhiều chứ?

Câu trả lời ấy không dành cho tôi nữa và việc biết nó hay không cũng không còn quan trọng nữa. Nhưng dù thế nào, dù viết hay không viết, vẫn luôn mong em bình yên và hạnh phúc. Bởi vì, cuối cùng em đã khiến tôi thật sự cảm thấy thanh thản, không còn đau khổ khi nghĩ về quá khứ nữa. Bây giờ, chỉ còn sự thanh thản và chút hoài niệm tuổi trẻ khi nhớ về ngày ấy.

Vậy nên, tôi đã quyết định lần này sẽ thực sự là lần cuối cùng tôi viết về em. Từ bây giờ, tôi sẽ để mọi thứ âm thầm trôi qua và mặc cho bản thân quên lãng. Duy chỉ có ba điều này là ba điều tôi không bao giờ muốn quên. Nó không chỉ là những kí ức đẹp; hơn hết, nó là điều quan trọng với một người đã lựa chọn con đường văn chương là tôi. Tôi không muốn quên đi điều sơ tâm của mình, điều sơ tâm mà em đã vô tình khai sáng cho tôi.

Fretto Frek

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng