Trà chiều

Dạo này bạn có viết gì không?

Trong lòng tôi tràn ngập cảm giác xúc động và biết ơn, tôi biết ơn việc viết lại một lần nữa cứu rỗi mình.

Published

on

Cách đây bảy năm, hay sáu năm về trước, tôi không còn nhớ rõ, có lẽ là bảy năm, một người chị đồng nghiệp từng hỏi dạo gần đây tôi có viết gì không, tôi trả lời là tôi không viết gì – tôi không viết gì thật. Hình như vài tháng sau, vẫn là người chị ấy, vẫn là câu hỏi cũ ấy, và vẫn là cùng câu trả lời ấy. Từ nhiều tháng rồi, tôi không viết gì mới, “không tiểu thuyết, cũng chẳng truyện ngắn” – nếu đó là điều chị muốn hỏi. Truyện ngắn lần gần nhất tôi viết ở thời điểm đó là một truyện được viết vào khoảng tháng Ba, năm 2014 – đến lúc câu hỏi ấy được nêu ra lần thứ hai (hoặc có thể chị chỉ hỏi một lần), hình như cũng đã nhiều tháng trôi qua kể từ đó. Có thể tình huống này đã diễn ra vào cuối năm 2014. Tôi không hiểu vì sao chỉ là một câu hỏi và tình huống đơn giản như thế này nhưng cứ khiến tôi thỉnh thoảng nhớ lại những năm về sau.

“Không, ý của chị cũng không phải chỉ là hỏi việc sáng tác thôi không đâu.”

“Dạ, vậy thì cũng không ạ. Ngoài những cái viết cho công ty, em cũng không viết gì khác.”

“Sao vậy? Em không viết cái gì đó vu vơ, tản mạn để giải tỏa cảm xúc sao?”

“Dạ không ạ. Vì em thấy viết cái đó mất thời gian quá. Em muốn dành thời gian thay vì viết như thế để đọc sách sẽ hay hơn. Em còn đọc chậm và ít quá nên muốn đọc nhiều hơn để cải thiện lối viết của mình cho các sáng tác chính.”

“Nhưng vậy cũng không tốt đâu. Chị thấy em căng cứng quá, nghiêm túc quá. Chuyện này không hẳn lúc nào cũng tốt đâu. Đôi khi em cần thả lỏng bản thân một chút. Viết là một công cụ xả stress rất hiệu quả. Nó là một món quà với tất cả người viết chúng mình. Sao lại tự tước đi một công cụ xả stress của mình vậy em? Đôi khi, em đừng đặt đòi hỏi, yêu cầu bản thân mình cao quá. Đừng bắt mình lúc nào cầm bút, gõ máy cũng chỉ là để viết cái gì đó vì công việc hay sáng tác. Em vẫn có thể viết những thứ nhẹ nhàng, đơn giản hơn mà, một bài blog hay một status vu vơ. Nếu cứ như vậy, lâu dần em sẽ stress vì không có cái gì đó viết để xả ra – cũng có thể chính cái này sẽ dẫn đến việc em ngán viết, viết khi đó trở thành một thứ thuần công việc với em. Nhưng, là một người viết, em phải để viết là niềm vui với mình. Nó nên là niềm vui như vốn dĩ mục đích ban đầu khi mình đến với nó, đừng để bị tước mất điều đó sau một thời gian dài làm việc. Một lúc nào đó, em nên viết đơn thuần chỉ để thư giãn thôi.”

Sau lần đó, hình như về sau không còn lần nào chị hỏi tôi câu này nữa.

“Dạo này em có viết gì không?” – là một câu hỏi tôi thường xuyên nghe trong một khoảng thời gian quá dài kể từ lúc bắt đầu viết. Thời còn trẻ, có lẽ vì sức khỏe tốt hơn nhiều hoặc nhận thức về sức khỏe ở thời điểm đó chưa cao như giai đoạn về sau nên tôi vẫn nhớ các anh chị em văn chương khi gặp nhau luôn chào câu cửa miệng là: “Dạo này em có viết gì không?” – câu hỏi ấy thường thay cho lời chào, cho câu hỏi “Dạo này em có khỏe không?”; đôi lúc cả hai câu cùng được hỏi và câu hỏi về sức khỏe lại đi trước nhưng tôi luôn cảm thấy trọng tâm đổ dồn về câu hỏi phía sau, có lẽ người hỏi không có ý đó nhưng tôi lại luôn tự mặc định ngầm như thế. Trên thực tế, không hẳn lúc nào cũng như vậy. Có khi trọng tâm ở câu trước, có khi trọng tâm không ở câu nào cả, chỉ là một sự chào hỏi vu vơ không hơn không kém. Nhưng mỗi khi câu trả lời tôi dành cho câu hỏi về việc viết là “không”, tôi sẽ luôn có cảm giác áy náy: áy náy cho chính mình là lẽ tất nhiên vì tôi vốn từng có nhiều dự định viết mà đến thời điểm được hỏi lại chưa hoàn thành; thế nhưng, tôi lại còn thấy áy náy cho cả người hỏi, áy náy vì tôi nghĩ khi hỏi như thế, họ đã kì vọng vào mình, vậy mà câu trả lời lại là không – trong khi, một lần nữa, rất có thể, đó chỉ là câu hỏi vu vơ, hoặc không phải là họ đã đặt một kì vọng gì vào tôi khi hỏi câu đó. Cũng chính vì thế, trong số lần hiếm hoi tôi có thể nói “có”, tôi cảm thấy nhẹ nhõm và tự hào một chút về mình vì để nói được chữ “có” ấy, đúng là tôi đang viết gì đó thật – tiểu thuyết hoặc truyện ngắn, không phải có nghĩa là viết một cái gì đó để xả stress.

Có lẽ, vì quá xem trọng câu hỏi: “Dạo này em/bạn có viết gì không?”, biết bao năm qua, tôi đã dần tự tích lũy căng thẳng cho chính mình mà không biết. Hầu hết, khi tôi trả lời là “không” thì mọi người đều có những phản ứng giống nhau, đa phần sẽ cười cho qua rồi chuyển sang chủ đề khác vì việc đang không viết một cái gì cả cũng là điều nhẹ nhàng thôi mà, không có gì cần phải xoáy sâu; số còn lại sẽ hỏi lí do tại sao và dù tôi có trả lời lí do như thế nào, họ cũng sẽ quay về như nhóm đầu tiên: chuyển sang chủ đề khác, không có gì cần phải xoáy sâu.

Nhưng ngày hôm ấy, chị khiến tôi ngạc nhiên vì chiều hướng hội thoại lại không đi theo đúng như những gì tôi đã dự định. Tuy cũng chỉ là vài câu nói nhẹ nhàng nhưng tôi có cảm giác chị lo cho vấn đề sức khỏe tinh thần của tôi khi không thể viết một cái gì đó chỉ đơn thuần là để bộc bạch, giãi bày cảm xúc, chị sợ tôi bị stress vì giờ đây viết với tôi chỉ mang mục đích sáng tác và công việc, là cái gì đó cần phải chưng cất sau một thời gian quá lâu bằng việc vây phủ những đầu sách đã đọc chất đống xung quanh thật dày rồi thì mới được xuất chiêu. Có lẽ, với chị viết nên là một việc được nạp vào xả ra tuần tự song song với việc đọc thì sức khỏe tinh thần người viết mới được đảm bảo. Thời điểm 2014 ấy, tôi đã không thấy được tầm quan trọng và chí lí của nhận định này. 2014 là một năm tôi còn quá quá ổn, cả về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, cả năm không bị bệnh vặt, cũng chẳng có bệnh gì nghiêm trọng, tinh thần lại cực kì say sưa học tập, đọc sách, tận hưởng những thú vui. Tôi đã không lo gì về sức khỏe tinh thần của mình khi đó. Và có lẽ, khi chứng kiến một tôi như vậy, mọi người xung quanh lại càng không mảy may nghĩ về vấn đề đó – cả đến tôi còn không nghĩ cơ mà. Ấy thế nhưng, ngay cả từ lúc đó, có lẽ dù chỉ là một chút thắc mắc nho nhỏ và rồi chuyển sang một sự cảnh báo (giờ ngẫm lại tôi nghĩ có khi nó đến từ kinh nghiệm của chính chị cũng nên), chị lại đặt vấn đề về sức khỏe tinh thần của tôi khi tôi không biết cách sử dụng việc viết như một công cụ giúp tôi xả stress.

Vậy là, kể từ khi ngừng viết vào năm 2014 đến nay, tôi đã xả stress bằng cách nào? Câu trả lời đơn giản là đọc sách, xem phim, nghe nhạc, design – và dù tôi rất muốn ghi thêm cả nhiếp ảnh vào danh sách này nhưng đó là một hoạt động được diễn ra quá ít ỏi để có thể liệt vào (vì tôi thích chụp người hơn là chụp cảnh nên ở đây, vấn đề nảy sinh là chuyện này bị phụ thuộc vào cả sự đồng ý của phía bên kia, không do tôi tự quyết được, và cũng không phải lần nào đôi bên đều ăn ý với nhau). Đó cũng là cách hoạt động xả stress thông thường giống mọi người, ở đây tôi không có gì đặc biệt hay khác lạ cả. Nhưng ngoại trừ việc nghe nhạc, hình như ở mỗi một hình thức mà tôi chọn làm giải trí, nó đều tiềm tàng cách thức sai lầm dẫn đến hậu quả ngược hoàn toàn ở mảng đọc sách, và một chút độc hại ở mảng xem phim.

Đầu tiên là đọc sách. Vì suốt một thời gian dài đã xem viết là sự nghiệp theo đuổi, đọc sách nghiễm nhiên cũng trở thành một cái gì đó hết sức nghiêm túc với tôi. Như vậy có nghĩa là, lúc tôi đọc sách, dù ở công ty hay ở nhà, thực chất tôi đâu có được giải trí vì đang xem nó là công việc cơ mà. Nhưng vấn đề là tôi đã nhập nhằng ở đây, vừa xem nó là công việc vừa xem nó là giải trí – cuối cùng tôi đều dở dở ương ương và bị mất cả hai. Nếu đã xem nó là công việc (trên thực tế, nó cũng đã là công việc của tôi trong một tuần năm ngày, một ngày tám tiếng thật), lẽ ra tôi không nên đem việc về nhà vào mỗi tối sau giờ làm, vào mỗi thứ bảy, chủ nhật, các ngày nghỉ lễ, Tết. Nhưng ngẫm lại tôi cũng không trách mình vì đặc thù công việc lại yêu cầu tôi phân biệt sách của công ty và sách dành cho nhu cầu muốn tìm hiểu, rèn luyện kĩ năng viết của riêng bản thân. Tôi chỉ ngồi đọc sách nên hầu như cảm thấy mình chẳng làm gì cả, nhưng có lẽ tâm thức lại đã ngầm xem là mình đang làm việc, mình đang làm việc. Quanh năm suốt tháng, ngoại trừ lúc xem phim và đi học, tôi hầu như chỉ cắm mặt vào bản thảo trên giấy và trên máy tính, có lẽ vì vậy mà việc stress âm thầm gia tăng.

Sau đó là chuyện xem phim. Tôi không còn những hoài bão cao xa trong điện ảnh nữa, chỉ muốn xem phim thuần túy vì sở thích. Lẽ ra sở thích này nên dừng lại ở sự giải trí vừa phải nhưng rốt cuộc, tôi lại bị cuốn theo những top list của người khác, hay top trend mọi người đang theo. Đôi khi, cảm giác ghen tị tại sao người ta xem phim này rồi mà mình chưa xem, cảm giác sợ bị lỡ nhịp một cái gì đó khi hầu như người ta đều đang xem phim thịnh hành này, bàn tán về phim thịnh hành nọ mà mình không xem kịp hóa ra cũng có nhiều lúc khiến tôi khổ sở và dày vò không dứt. Chỉ là xem phim để giải trí thôi mà, tại sao lại ghen tị và hành hạ mình nhiều như thế chỉ để xem. Nhiều lần tôi tự nhủ mình như vậy. Hãy nhẹ nhàng, hãy thả lỏng trong cả vấn đề này nữa. Nhưng rồi tôi cứ quên bài học này và rốt cuộc bây giờ lại đang phải chịu một hậu quả từ nó, đang cố gắng khắc phục.

Lúc đó, hình như tôi cũng nói với chị như thế. Rằng nếu không viết thì tôi vẫn có thể xả stress bằng những hình thức trên, tôi nhất quyết khăng khăng rằng mình nên xem trọng việc viết ở mức không dễ tuôn ra những từ, những chữ chỉ để thành một status, bài note xả stress nữa; với tôi, nó luôn nên là một cái gì đó nghiêm túc, việc viết chỉ có thể xảy ra khi việc đọc đã đủ nhiều. Cũng chính từ đây, có lẽ tôi đã bắt đầu sai lầm của mình trên cương vị một người viết. Tôi tự đặt ra cho mình một nguyên tắc (mà hình như đây cũng không hẳn là nguyên tắc do tôi đặt ra vì quan niệm này, nhiều người trong nghề cũng có): nếu muốn viết một cái gì đó, bất kể là thể loại gì, số sách tôi đọc (bao gồm cả sách xếp vào nhóm bổ trợ kĩ thuật viết và sách tài liệu tìm hiểu về chính chủ đề đó) phải có số lượng ít nhất là gấp ba, bốn lần dung lượng sách tôi định viết. Vì tự đặt cho mình qui tắc này, vào những lúc có thôi thúc viết mãnh liệt một dự án nào đó đã ấp ủ từ lâu, tôi lại gạt phăng ngay cái suy nghĩ đó, tự nhủ mình rằng: “Thôi, chưa viết được. Đợi đọc thêm cuốn A về cái này, B về cái kia, và C để xem văn phong người ta thế nào rồi mới viết sau.” Nhưng kết quả là khi tôi đọc xong A, B, C lại có D, E, F xuất hiện và cứ thế, tiến trình dời việc viết của tôi cứ kéo dài mãi, chớp mắt một cái đã gần tám năm không viết gì (lần cuối cùng viết một tập truyện ngắn là vào tháng Ba, 2014 mà giờ cũng sắp hết năm 2021 rồi nên tôi cứ tính tám năm cho chẵn).

Hệ quả của suy nghĩ “số sách mình đọc phải nhiều gấp trăm lần số sách mình viết” (tôi không phóng đại đâu, nhiều người vẫn hay truyền tụng câu đọc một trăm cuốn sách rồi mới viết một cuốn, vậy chẳng phải là gấp trăm lần còn gì) đã khiến tôi dần lười viết – lười viết một cách thực sự theo nghĩa là giờ đây nghĩ đến chuyện viết nghiêm túc tôi cũng lười chứ đừng nói gì viết xả stress (hình như suy nghĩ hơi bị ngược, lẽ ra phải là viết xả stress cũng lười huống hồ gì là viết nghiêm túc). Lâu dần, tôi lại lấy chuyện đọc sách thành một cái cớ biện minh quá hoàn hảo cho chuyện lười viết, và rồi dẫn đến việc không viết – nó đã mất đi động cơ tươi sáng ban đầu là đọc càng nhiều sách để những gì mình viết càng chất lượng hơn, tốt hơn; khi đi đến mức độ thái quá, nó trở thành thứ tương tự như lí do vắng mặt của người học sinh nhìn trời mưa lâm râm mà xin nghỉ học. Tôi cũng đã suy nghĩ đến chuyện này khoảng ba năm về trước. Vậy thì vấn đề là phải đặt giới hạn cho số lượng mình cần đọc để viết, số lượng này nên cụ thể, không nên chung chung là cả trăm cuốn, và tên sách cũng phải cụ thể, phục vụ cho chính cái dự án mình đang muốn viết (đương nhiên cùng lúc bạn sẽ có nhiều dự án muốn viết và bạn phải hết sức thận trọng ở điểm này). Vì vậy, tôi từng nghĩ mình đã tìm được lối thoát cho cái guồng quay vô tận đọc mãi mà vẫn không thể viết, không dám viết này bằng cách lập danh sách. Cách đây hai năm, tôi quyết tâm không dời nữa mà sẽ chọn một ý tưởng từ nhiều ý tưởng mình đã có sẵn để viết, cẩn thận lập danh sách giới hạn trong khoảng hai mươi cuốn sách hơi nặng đô mà tôi nghĩ rằng mình cần phải đọc trước khi thực hiện dự án đó. Rốt cuộc, cả khi lập danh sách cẩn thận như vậy, còn đặt cả chồng hai mươi cuốn sách đã soạn ra giới hạn đó để trong tầm mắt ngay trước giường ngủ của mình để nhìn thấy nó mỗi đêm, tôi lại vẫn không đọc được cuốn nào trong cả một năm đó. Khi hình dạng hai mươi quyển sách đó lù lù hiện ra trước mắt vào mỗi đêm nằm ngủ, tôi cứ nghĩ nó sẽ cho tôi động lực để sớm đọc xong nó mà viết cái tiểu thuyết tôi đang muốn viết kia. Nhưng hóa ra cách này có lẽ phản tác dụng, từ động lực nó biến thành áp lực: giờ đây, để viết được tiểu thuyết kia vào nhiều lúc khao khát trong lòng tôi mãnh liệt quá, tôi vẫn không được quyền viết ngay vì sẽ phải đọc hết đống sách dày hai mươi quyển đó trước. Thế là sách từ danh sách tôi soạn ra dường như biến thành bức tường ngăn cản, là vật chắn giữa tôi và điều tôi mong muốn. Nhiều lúc, tôi cứ tự nhủ: “Hay là mình cứ viết đi. Mình có sẵn hồi một và hồi ba rồi mà, mình chỉ không biết hồi hai như thế nào thôi. Nhưng có hồi một, nhân vật rồi thì cứ viết đi rồi tính tiếp. Bí ở đâu, gỡ ở đó. Đến lúc viết giữa chừng kẹt thì dừng lại, xoay ra đọc sách tiếp rồi viết sau cũng được mà. Mình đâu thể chuẩn bị sẵn sàng hoàn hảo hết nguyên liệu, các đường đi nước bước cho mọi thứ trước khi bắt tay vào viết được chứ. Cứ viết đi. Kẹt thì dừng, sai thì sửa. Mà viết đi, viết đi.” Không biết bao nhiêu lần tôi tự nhủ mình như thế nhưng rồi bao năm dài chỉ ở bên lề của việc viết bằng cách đọc tác phẩm của người khác, khiến cho cái con người lười biếng nhưng luôn viện cớ cần đọc nhiều hơn viết nhiều trong tôi luôn chiến thắng. Qua một thời gian dài như thế, tôi thực sự chẳng còn khao khát viết mà cũng mất luôn khao khát đọc. Mọi thứ căng cứng giống như một đường dây thần kinh bị viêm và rồi không truyền được chất dinh dưỡng, hay máu huyết đến nơi nó muốn truyền nữa. Thế là tôi bèn ngưng luôn hoạt động của cái dây thần kinh đó, không đụng tới nó nữa, ngót nghét đến nay đã được hai năm. Tôi không ngần ngại mà thành thật thú nhận ở đây rằng đã hai năm rồi tôi hầu như không viết gì, đọc gì. Những tác phẩm nổi bật nào đã được xuất bản trong hai năm qua, tôi gần như cũng không biết. Và tôi cũng hài lòng với sự buông bỏ, sự vô minh này vì đã luôn miệt mài tìm hiểu một lĩnh vực khác mà mình thường ước mơ được làm hồi nhỏ – tôi đã viết về việc này quá nhiều rồi nên không lặp lại ở đây nữa mà chỉ nhắc lướt qua. Tuy nhiên, nếu như nói rằng trong suốt hai năm qua, những suy nghĩ về văn chương chưa từng một lần chen ngang đời sống miệt mài học nhạc thì là không đúng. Tôi có nghĩ về văn chương, về việc viết nhưng với những suy nghĩ đầy hằn học, bực dọc, và luôn tự nhủ mình bỏ là đúng rồi. Những suy nghĩ này chưa từng thay đổi trong suốt hai năm nay cho đến tận hôm qua.

Tôi đã có một đêm khá kinh hoàng vào ngày hôm qua, sự kinh hoàng này chủ yếu diễn ra trong tâm trí theo kiểu tự hù dọa mình là chính nhưng tôi cứ luẩn quẩn với nó suốt năm ngày nay, không thoát ra được. Phần lớn thời gian, tim tôi đập nhanh, tay chân lạnh ngắt, dù đắp mền vẫn lạnh, khi nằm hẳn xuống giường thì cảm giác đánh trống ngực rõ ràng đến nỗi phần giường bên dưới run run tựa như thể đang ngồi ghế massage – mà thực ra thì nào phải, chỉ có tôi đang run rẩy đấy thôi. Tôi chú ý quá mức đến các tiếng động, những cái bóng đồ vật khúc xạ chồng lên nhau giữa đồ vật này với đồ vật kia, diễn giải các họa tiết trông thấy theo hướng kì dị và sợ hãi. Có đôi lúc, tưởng chừng như tôi còn sắp thấy ảo giác tới nơi, cảm giác không làm chủ được bản thân mình thật kinh khủng. Đỉnh điểm là khi đang nằm, chân trái tôi đột ngột bị chuột rút thắt chặt ở phần dưới đầu gối, cơn đau thắt giống như có ai nhấn và bóp ở đó thật mạnh khiến tôi hãi hùng. Lúc này, không chỉ thân người phía trên nơi ngực và tim run run, cả phần chân phía dưới cũng vừa đau và run theo – tóm lại cả người run rẩy theo đúng nghĩa đen thực sự, không phải là phép tu từ hoa mĩ nữa rồi. Tôi biết những lúc này, nguyên tắc hàng đầu là giữ ấm cơ thể và từ từ bình tĩnh lại. Nhưng dù xoa bóp chân thế nào, tôi vẫn không cách gì cảm thấy ấm lại dưới thời tiết cũng đang khá lạnh lúc đó. Khi ấy đã là hai giờ đêm, mọi người đều đi ngủ, tôi không muốn phiền đến một ai cả. Tôi nghĩ đến việc có thể lấy đàn guitar ra đệm hát một số bài mình thích chắc sẽ đỡ hơn giống như đợt hồi cuối năm 2019 tôi từng làm. Nhưng hôm qua phần vì chân tôi đau, phần vì tâm trí cũng đang hoảng loạn nên không thể lết nỗi đến nơi có đàn, vị trí gần nhất mà tôi có thể nhảy lò cò đến là chỗ cắm sạc điện thoại trước đó cũng gần sắp hết pin. Tôi ào đến bên chiếc điện thoại, vớ lấy nó như vớ lấy một thứ vũ khí, một cái phao cứu sinh.

Bước tiếp theo, cầm cái phao cứu sinh đã được sạc 27% pin, tôi lại có chút hoang mang, lạc lõng, không biết nên làm gì. Trong những tình huống như thế này, tôi thường sẽ có ba lựa chọn: bật Youtube, xem phim, hoặc lướt Facebook, tin tức để thấy đời sống vẫn đang chuyển động. Tôi bật Youtube đầu tiên thì Youtube đề cử cho tôi những video nhạc thư giãn tinh thần kéo dài mấy tiếng – cũng là cách video tôi thường phải bật những lúc ngủ dạo gần đây, tôi kéo một hồi mà vẫn không có hứng thú xem gì. Tôi vào Facebook lướt một hồi thì thấy Facebook hình như chưa hiểu ý tôi bao ngày qua: mỗi lần lỡ lướt đến một post giới thiệu phim kinh dị nào đó, tôi đều bấm “Turn off this notification” để nó hiểu là tôi không muốn xem những post tương tự thế này nữa. Nhưng rốt cuộc, không page này thì cũng page khác, không giới thiệu phim kinh dị này thì cũng là phim kinh dị khác. Chẳng lẽ, người thời nay thích xem phim kinh dị đến thế sao? Hơn phân nửa phim chiếu rạp vào mọi thời điểm trong vòng một thập niên vừa qua đều là phim kinh dị. Như hiện nay, các rạp phim đang chiếu khoảng 14 phim thì hết 7 là kinh dị, và sắp tới tỉ lệ này vẫn sẽ duy trì như thế. Thế là tôi lại tắt Facebook. Tôi thử xem tập 1 của Now, We are breaking up được khoảng mười lăm phút đầu phim mà cũng thấy không thể nào tập trung được, giống như tôi và bộ phim là hai cái gì đó tách rời ở hai đầu thế giới. Thế là dùng hết cả ba cách. Có một khoảnh khắc tôi hoang mang run rẩy và suýt bật khóc. Mới có hai giờ đêm thôi. Mặt trời sẽ mọc vào năm giờ năm mươi bảy phút – dạo gần đây tôi thường xem thông tin mặt trời sẽ mọc lúc mấy giờ như một cách để trấn an mình, để biết cái bình minh ấm áp sẽ cứu rỗi mình đó bao giờ nó mới đến. Vẫn còn bốn tiếng đồng hồ. Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có nên liều mạng lết đến chỗ lấy đàn guitar để đàn không? Nhưng tôi không dám, chân tôi đau và thân người lại lạnh run bần bật – tôi đã vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất lúc này là phải giữ ấm. Tôi liệu còn có thể làm gì với chiếc điện thoại này? Tôi ngồi suy nghĩ một hồi và bỗng đâu nhớ lại lời người chị ngày xưa nói. Tôi nhớ ra trước đây, cũng vào những lần tôi đang buồn, stress (nhưng chưa có cơn căng thẳng nào trong quá khứ bằng giai đoạn này cả), tôi vẫn thường nhớ đến lần trò chuyện đó, nhớ chị nói viết không chỉ là sáng tác, viết còn là để xả stress, thư giãn tinh thần, và cái câu hỏi đau đáu đó trở lại trong tôi: “Viết là một công cụ xả stress rất hiệu quả. Nó là một món quà với tất cả người viết chúng mình. Sao lại tự tước đi một công cụ xả stress của mình vậy em?”

Phải rồi. Sao tôi lại tự tước đi một món quà, một công cụ xả stress của mình chi vậy? Tôi còn muốn tự hành hạ bản thân đến bao giờ nữa. Thế là tôi lại run rẩy mở Samsung Note lên, vừa mở vừa nhớ đến những ngày xưa biết bao đêm tôi viết hăng say thâu đêm suốt sáng có sợ gì đâu, trời sáng lúc nào tôi còn không hay, tôi nhớ lần đỉnh điểm nhất là viết từ chín giờ tối hôm trước cái vèo một phát cho đến chín giờ sáng hôm sau xong được một truyện ngắn dài hơi bằng một truyện vừa, rồi thanh thản ngả lưng xuống giường ngủ đầy đủ tám tiếng mà không trằn trọc gì. Tôi nhớ lại những ngày quá khứ xa vời. Tôi nhớ đến thời mình còn học lớp tám, bị bắt nạt và có những suy nghĩ tồi tệ, đêm tối ngồi một mình trong toilet gần cả nửa đêm rồi quyết định với tay lấy cuốn sổ cây bút, viết ào ào hết gần cả nửa cuốn sổ khổ nhỏ chắc chừng chín mươi trang, vừa viết vừa khóc mà viết xong thấy ổn hơn rất nhiều. Tôi đã sống sót qua những năm cấp hai theo cách đó – lúc ấy, tôi làm gì mà biết đàn, vẫn chưa biết đàn, vẫn chưa biết đàn… Tôi bắt đầu học đàn từ năm lớp tám và bị bắt nạt thì từ năm lớp sáu rồi, thời điểm một đêm kinh khủng tồi tệ trong lớp tám ấy, tôi chắc chỉ mới biết đàn vài câu nhạc cơ bản, chưa ra hẳn một giai điệu, làm sao nó có thể giúp tôi giải tỏa được những ẩn ức đây? Nếu muốn giải tỏa bằng âm nhạc, bằng đàn, ít nhất tôi còn phải học hành chăm chỉ thêm một năm nữa. Nhưng cứu người như cứu hỏa, cứu chính mình cũng như cứu hỏa, chờ đến lúc đó, có khi còn chưa đến được thì chắc là căn nhà tinh thần của tôi đã cháy rụi tan tành rồi. Cũng vì nhớ lại trải nghiệm năm lớp tám, và cả trải nghiệm trong mới hôm qua, tôi nhận ra văn chương – cứ hiểu nó theo nghĩa đơn giản nhất ở đây là bạn diễn đạt được những suy nghĩ của mình qua câu văn, là môn nghệ thuật thực sự dành cho tất cả mọi người, không phân sang hèn đói kém giàu sang, không phân trạng thái sức khỏe tinh thần hay thể chất của bạn đang ở mức nào bởi nó đòi hỏi điều kiện rất tối thiểu: bạn chỉ cần một cái đầu còn chứa suy nghĩ của bạn, một phương tiện để ghi chép lại những suy nghĩ đó thành vật chất cụ thể là mặt chữ – thế là xong rồi đấy, đơn giản, ai cũng có. Nó đâu phải là món quà chỉ dành riêng cho người viết hay yêu thích văn chương, theo đuổi một cách quá nghiêm túc. Nó là món quà dành cho tất cả mọi người, ai ai cũng làm được. Và hơn thế, nó giống như bình xịt cứu hỏa dự phòng mỗi nhà đều có, nó luôn ở đó sẵn sàng, chỉ cần lửa bốc lên là dùng để dập. Với tôi, đêm hôm qua có lẽ đã diễn ra như thế. Tôi quáng quàng cầm điện thoại lên gõ liên hồi như chưa bao giờ gõ những suy nghĩ lóe lên liên tục trong đầu mình. Trong quyển sách How to stop worrying and start living của Dale Carnegie, ông cũng có nói đến một phương pháp rất đơn giản để giành lại sự tập trung, kiểm soát lo lắng chính là viết ra toàn bộ những điều bạn đang lo, đang suy nghĩ, nó ở đó thành chữ lồ lộ rồi, không còn chơi trò ẩn nấp trong suy nghĩ của bạn nữa thì sẽ khiến bạn đỡ hơn phần nào. Quả thực, hiếm có hoạt động nào bạn có thể tập trung cao độ mà lại không dễ bị phân tán suy nghĩ như viết thư giãn (đương nhiên viết sáng tác sẽ khác). Bình thường, làm việc nào đó khác có thể sợ phân tán suy nghĩ chứ viết thư giãn thì hẳn là không. Bạn chỉ đơn thuần nghe những suy nghĩ trong đầu và gõ lại thôi, một công việc hết sức đơn giản mà hữu hiệu để kiểm soát lo lắng. Một hai câu đầu tiên, tôi còn viết dè dặt và đang tìm từ để diễn đạt cái cảm giác, suy nghĩ bên trong mình; nhưng sang đến câu thứ ba rồi câu thứ tư, càng viết tôi cảm giác giống như mình càng được bung lụa. Bao nhiêu tiếng cửa đập, tiếng gió lùa tơi bời, tiếng cót két, tiếng chó sủa ngoài đường mà trước đó chỉ nghe thôi cũng khiến tôi phóng đại lên và sợ hãi đột nhiên khoảnh khắc đó biến mất hoàn toàn, như thể tôi không còn nghe thấy nó nữa, vì giờ tôi đang bận nghe tiếng nói trong suy nghĩ của mình, bận ghi chép lại nó, bàn tay tôi gõ chữ trên điện thoại và dòng suy nghĩ trong đầu ra rả đọc cho nó để cái tay tự chép chính tả như thực hiện một cuộc chạy đua marathon với nhau – bằng ấy ý thức, năng lượng xả vào việc viết như thế, hỏi làm sao tôi còn đủ ý thức để tập trung vào xung quanh đang diễn ra gì nữa.

Như một phép màu kì diệu, khi tôi dừng lại việc viết đêm qua thì cũng là hơn ba giờ sáng một chút. Một tiếng trong đêm tối vào cái khoảng thời gian kinh khủng từ hai giờ đến ba giờ đã qua đi – tôi sợ nhất là khoảng giờ này. Tôi viết xong và tạm dừng lại ý thì ngạc nhiên không ngờ nãy giờ mình đã viết được một tiếng và lạ lùng là trong lúc viết người tôi không hề lạnh, không hề run cầm cập, cảm giác sợ hãi cũng giảm bớt đi rất nhiều mặc dù tôi đang viết về chính nỗi sợ đó. Kì lạ, thực sự kì lạ. Tôi thấy người được ấm lại, mắt bắt đầu buồn ngủ và tôi nghĩ là mình ngủ được rồi, không cần phải sợ hãi xung quanh nữa. Tôi bèn cất điện thoại sạc tiếp, bật nhạc lên và nhanh chóng ngủ thiếp đi. Hình như lúc đó tôi ngủ không hề mộng mị, tôi bật dậy, có cảm giác mình đã ngủ rất lâu mà rồi phát hiện ra khi đó là bốn giờ rưỡi sáng, vậy là tôi cũng chỉ ngủ được hơn một tiếng thôi – không nhiều nhặn gì, nhưng vẫn là hôm những đêm trước. Các đêm trước, cũng có khi tôi ngủ được một tiếng nhưng là trong trạng thái sợ hãi, thức dậy thấy rất mệt. Đêm qua, tôi cũng vẫn ngủ nông, chỉ ngủ được một tiếng nhưng mà kì lạ là lúc thức dậy giữa bốn giờ rưỡi đêm đó, tôi không còn cảm thấy hoảng sợ mà rất bình tĩnh – lần đầu tiên trong rất nhiều đêm vừa qua, tôi mới có lại sự bình tĩnh đó khi thức dậy giữa đêm. Tôi thử nhắm mắt nhưng thấy sao mà mình tỉnh quá, không mệt hay có cảm giác buồn ngủ nữa. Cơ thể tôi lúc đó vẫn ấm. Tôi biết điều này là do đêm qua tôi đã viết. Trong lòng tôi lúc đó tràn ngập cảm giác xúc động và biết ơn, tôi biết ơn việc viết lại một lần nữa cứu rỗi tôi. Bất kể có ai đọc hay không, tôi vẫn sẽ viết và nội việc viết thôi đúng là đã giúp tôi giải tỏa được rất nhiều. Nó thực sự là món quà quí giá của tôi. Tôi nhận ra suốt thời gian vừa qua mình đã quá ngu ngốc, tôi giữ sự phòng vệ với thế giới nên không muốn viết gì nhiều nữa trên mạng xã hội, nhưng tôi cũng đâu biết rằng việc giữ sự phòng vệ một cách thái quá với thế giới để tránh khỏi thương tổn đồng thời cũng đã ngăn tôi ra khỏi niềm vui khi viết – một trong những trụ cột tinh thần của tôi. Tôi đã có chút phân vân khi nghĩ mình nên để bài viết này ở chế độ Friend hay Public. Cuối cùng, tôi quyết định gạt bỏ hết mọi nỗi sợ mà để Public. Giữa việc sợ để người khác phán xét trạng thái tinh thần của mình và việc muốn cho một người xa lạ nào đó tình cờ một ngày dạo qua Facebook của tôi, nếu lúc đó họ cũng đang ở trạng thái căng thẳng tinh thần mà đọc được những lời tôi viết, rồi chính họ cũng tự viết ra những lời của mình và được tạm giải phóng phần nào khỏi nỗi sợ hãi – tuy rằng cái xác suất để việc thứ hai xảy ra thấp hơn so với việc đầu tiên nhưng tôi vẫn quyết định chọn Public mở tất tần tật ra để trải nghiệm của tôi vô tình có giúp được ai thì giúp.

Hiện tại, tôi vẫn chưa biết đêm nay giấc ngủ có đến với mình dễ dàng hơn không, mình liệu có thể ngủ đủ tám tiếng được không nhưng tôi sẽ tử tế với chính mình. Tôi biết mình phải bình tĩnh và cũng phải có lòng kiên nhẫn với chính mình. Nghĩ một cách lạc quan thì ngủ một tiếng vẫn đỡ hơn là không ngủ được gì, và rồi ta tiến đến cái mốc hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng. Chỉ cần đến được cái mốc bốn tiếng thì cái mốc năm, sáu tiếng rổi sẽ dễ dàng đạt được – đợt trước của tôi là như thế. Khi được năm, sáu tiếng rồi, ta sẽ chẳng mấy chốc ngủ lại được bảy, tám tiếng lúc nào không hay. Cứ hi vọng lạc quan như thế.

Tuy chưa biết rằng buổi tối nay của mình như thế nào, mình có vào giấc nhanh không, có ngủ được sâu không nhưng cả ngày hôm nay, sau khi đã được viết, được giải tỏa, tôi trải qua cảm giác thanh thản hơn những ngày trước rất nhiều. Ít nhất tôi đã có cả một ngày yên bình từ sáu giờ sáng đến chín giờ tối. Lúc này, đó đã là điều quý giá. Nếu biết được, viết có thể giúp người tôi ấm lại như vậy, giải tỏa được như vậy chắc là tôi đã viết sớm hơn. Nhưng không sao, giờ vẫn là chưa quá muộn. Chị nói đúng. Sao tôi lại tự tước đi một công cứu rỗi mình như thế. Khi viết, tôi thấy trong đầu mình nhảy số nhanh kinh khủng. Sự nhảy số này có lẽ không có nhiều hoạt động khác khiến tôi làm được tương tự như thế. Tôi cứ liên tục bị bất ngờ bởi những gì mình viết ra, các ý tứ sao mà được sắp xếp hợp lí và so sánh liên tưởng cũng khá ổn (tự khen mình một chút – điều trước đây tôi ít khi làm để nâng cao tinh thần hơn lúc này là cần thiết). Thú nhận luôn cả cái này có vẻ hơi quá, nhưng hôm qua trong lúc viết, lần đầu tiên tôi mới nhận ra một cách hết sức rõ ràng cái sự thật này, cái sự thật lâu nay tôi không tin: tôi cảm thấy khi viết, mình chợt “thông minh” đột xuất, “thông minh” hơn hẳn cái tôi thường ngày sinh hoạt trong đời sống. Việc phải đấu tranh giữa trạng thái tinh thần bất ổn trong suốt thời gian qua khiến nhiều lúc tôi cảm thấy mình cứ ù ù cạc cạc, đờ đẫn và không thông suốt. Nhưng thực sự, hôm qua khi lần đầu tiên viết lại sau nhiều năm dài từ bỏ kiểu viết để thư giãn, viết không cần bận tâm đến điều gì khác ngoài việc cho chính mình, để an ủi mình, tôi cảm giác mình giống như một vận động viên đã nghỉ thi đấu từ lâu phải ra sân thi đấu lại, trước khi hiệu lệnh được cất lên, trong lòng hãy còn nhiều mối lo ngại về bản thân, liệu tôi còn có thể viết được như xưa không, nhưng chỉ cần tiếng chuông reo lên giữa không trung, tôi lập tức phóng như bay, chạy như chưa bao giờ được chạy. Tôi bỗng sản sinh ra cái ý nghĩ “mình thật thông minh quá khi viết”. Cho dù đó có là sự thật hay không cũng không quan trọng, quan trọng là ngay giây phút tuyệt vọng đó, chính cái suy nghĩ “mình thật thông minh quá” – một sự thông minh dù chỉ có được mỗi khi viết cũng đã an ủi tôi rất nhiều. Tôi như tự nói được với chính tôi rằng: “Ngoan nào! Ngoan nào! Đừng khóc nữa! Đừng run rẩy nữa! Mày thấy không, mày đâu có bị phân mảnh, đâu có bị mất kiểm soát suy nghĩ. Mày vẫn là chính mày. Một trăm phần trăm nguyên vẹn là chính mày đấy thôi. Mày vẫn luôn có chính bản thân mình, sự thông minh đó đấy thôi. Mày không bị mất khả năng kiểm soát ngôn ngữ. Mày vẫn là mày.” Và tôi nhận ra tôi yêu con người mình khi viết vì tôi yêu chính cái cảm giác về sự thông minh đó, về việc được thông minh đó, về việc được vẹn toàn đó.

Vậy thì, viết thôi nào. Viết thôi nào.

Bảy năm qua, tôi cứ nạp vào, nạp vào không chịu phát ra gì cả khiến cơ thể tôi, đầu óc tôi đã phải chịu nhiều căng thẳng, không được thư giãn vậy mà tôi lại chẳng hề biết. Đúng thật, có nạp vào thì phải có phát ra. Tôi đã luôn suy nghĩ quá nhiều và muốn cố gắng trau chuốt hết mức cái phát ra. Bây giờ, tôi không muốn bận tâm đến điều đó nữa. Thích thì viết thôi. Tôi mệt rồi. Tôi sẽ không bận tâm liệu mình có đọc đủ sách để viết chưa, cần đọc thêm bao nhiêu cuốn nữa để viết, liệu mọi người đọc những dòng này thì sẽ suy nghĩ gì, nó đem lại trải nghiệm tiêu cực hay tích cực cho họ vì giờ đây điều tôi khao khát khi làm nghệ thuật là mong muốn mọi người có trải nghiệm tích cực từ những gì tôi làm dù có thể tôi đang tiêu cực gần chết đi được. Và tôi trở nên căm ghét tột độ các tác phẩm mang lại cho người ta cảm giác tiêu cực dù tôi ý thức được rằng nghệ thuật cũng như cuộc đời, sự tích cực và cả tiêu cực cần được cân bằng nhưng tôi vẫn là cứ ghét những tác phẩm thuần túy chỉ làm người ta sợ hãi, đánh động vào những điểm hoài nghi yếu nhất của con người dù trước đây tôi vẫn rất thích xem, nhưng bây giờ, trạng thái sức khỏe tinh thần của tôi không còn đủ để đáp ứng nữa.

Vậy thì giờ tôi không bận tâm gì nữa.
Vậy thì giờ tôi xả hết ra đây. Cho thấm công tình bảy năm mệt nhọc đọc sách vừa qua.
Vậy thì giờ tôi viết đây.

Kodaki

Tác phẩm được đề cập trong bài viết:

Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống

97,200đ

Cuộc sống không dễ dàng giải thoát bạn khỏi căng thẳng. Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống khuyên bạn hãy khóa chặt dĩ vãng và tương lai lại để sống trong cái phòng kín mít của ngày hôm nay. Mọi vấn đề đều có thể được giải quyết, chỉ cần bạn bình tĩnh và xác định đúng hành động cần làm vào đúng thời điểm.

How To Stop Worrying And Start Living

169,000đ

In this classic work, How to Stop Worrying and Start Living, Carnegie offers a set of practical formulas that you can put to work today. It is a book packed with lessons that will last a lifetime and make that lifetime happier!

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng