Trà chiều

Dạo này bạn có viết gì không?

Trong lòng tôi tràn ngập cảm giác xúc động và biết ơn, tôi biết ơn việc viết lại một lần nữa cứu rỗi mình.

Published

on

Cách đây bảy năm, hay sáu năm về trước, tôi không còn nhớ rõ, có lẽ là bảy năm, một người chị đồng nghiệp từng hỏi dạo gần đây tôi có viết gì không, tôi trả lời là tôi không viết gì – tôi không viết gì thật. Hình như vài tháng sau, vẫn là người chị ấy, vẫn là câu hỏi cũ ấy, và vẫn là cùng câu trả lời ấy. Từ nhiều tháng rồi, tôi không viết gì mới, “không tiểu thuyết, cũng chẳng truyện ngắn” – nếu đó là điều chị muốn hỏi. Truyện ngắn lần gần nhất tôi viết ở thời điểm đó là một truyện được viết vào khoảng tháng Ba, năm 2014 – đến lúc câu hỏi ấy được nêu ra lần thứ hai (hoặc có thể chị chỉ hỏi một lần), hình như cũng đã nhiều tháng trôi qua kể từ đó. Có thể tình huống này đã diễn ra vào cuối năm 2014. Tôi không hiểu vì sao chỉ là một câu hỏi và tình huống đơn giản như thế này nhưng cứ khiến tôi thỉnh thoảng nhớ lại những năm về sau.

“Không, ý của chị cũng không phải chỉ là hỏi việc sáng tác thôi không đâu.”

“Dạ, vậy thì cũng không ạ. Ngoài những cái viết cho công ty, em cũng không viết gì khác.”

“Sao vậy? Em không viết cái gì đó vu vơ, tản mạn để giải tỏa cảm xúc sao?”

“Dạ không ạ. Vì em thấy viết cái đó mất thời gian quá. Em muốn dành thời gian thay vì viết như thế để đọc sách sẽ hay hơn. Em còn đọc chậm và ít quá nên muốn đọc nhiều hơn để cải thiện lối viết của mình cho các sáng tác chính.”

“Nhưng vậy cũng không tốt đâu. Chị thấy em căng cứng quá, nghiêm túc quá. Chuyện này không hẳn lúc nào cũng tốt đâu. Đôi khi em cần thả lỏng bản thân một chút. Viết là một công cụ xả stress rất hiệu quả. Nó là một món quà với tất cả người viết chúng mình. Sao lại tự tước đi một công cụ xả stress của mình vậy em? Đôi khi, em đừng đặt đòi hỏi, yêu cầu bản thân mình cao quá. Đừng bắt mình lúc nào cầm bút, gõ máy cũng chỉ là để viết cái gì đó vì công việc hay sáng tác. Em vẫn có thể viết những thứ nhẹ nhàng, đơn giản hơn mà, một bài blog hay một status vu vơ. Nếu cứ như vậy, lâu dần em sẽ stress vì không có cái gì đó viết để xả ra – cũng có thể chính cái này sẽ dẫn đến việc em ngán viết, viết khi đó trở thành một thứ thuần công việc với em. Nhưng, là một người viết, em phải để viết là niềm vui với mình. Nó nên là niềm vui như vốn dĩ mục đích ban đầu khi mình đến với nó, đừng để bị tước mất điều đó sau một thời gian dài làm việc. Một lúc nào đó, em nên viết đơn thuần chỉ để thư giãn thôi.”

Sau lần đó, hình như về sau không còn lần nào chị hỏi tôi câu này nữa.

“Dạo này em có viết gì không?” – là một câu hỏi tôi thường xuyên nghe trong một khoảng thời gian quá dài kể từ lúc bắt đầu viết. Thời còn trẻ, có lẽ vì sức khỏe tốt hơn nhiều hoặc nhận thức về sức khỏe ở thời điểm đó chưa cao như giai đoạn về sau nên tôi vẫn nhớ các anh chị em văn chương khi gặp nhau luôn chào câu cửa miệng là: “Dạo này em có viết gì không?” – câu hỏi ấy thường thay cho lời chào, cho câu hỏi “Dạo này em có khỏe không?”; đôi lúc cả hai câu cùng được hỏi và câu hỏi về sức khỏe lại đi trước nhưng tôi luôn cảm thấy trọng tâm đổ dồn về câu hỏi phía sau, có lẽ người hỏi không có ý đó nhưng tôi lại luôn tự mặc định ngầm như thế. Trên thực tế, không hẳn lúc nào cũng như vậy. Có khi trọng tâm ở câu trước, có khi trọng tâm không ở câu nào cả, chỉ là một sự chào hỏi vu vơ không hơn không kém. Nhưng mỗi khi câu trả lời tôi dành cho câu hỏi về việc viết là “không”, tôi sẽ luôn có cảm giác áy náy: áy náy cho chính mình là lẽ tất nhiên vì tôi vốn từng có nhiều dự định viết mà đến thời điểm được hỏi lại chưa hoàn thành; thế nhưng, tôi lại còn thấy áy náy cho cả người hỏi, áy náy vì tôi nghĩ khi hỏi như thế, họ đã kì vọng vào mình, vậy mà câu trả lời lại là không – trong khi, một lần nữa, rất có thể, đó chỉ là câu hỏi vu vơ, hoặc không phải là họ đã đặt một kì vọng gì vào tôi khi hỏi câu đó. Cũng chính vì thế, trong số lần hiếm hoi tôi có thể nói “có”, tôi cảm thấy nhẹ nhõm và tự hào một chút về mình vì để nói được chữ “có” ấy, đúng là tôi đang viết gì đó thật – tiểu thuyết hoặc truyện ngắn, không phải có nghĩa là viết một cái gì đó để xả stress.

Có lẽ, vì quá xem trọng câu hỏi: “Dạo này em/bạn có viết gì không?”, biết bao năm qua, tôi đã dần tự tích lũy căng thẳng cho chính mình mà không biết. Hầu hết, khi tôi trả lời là “không” thì mọi người đều có những phản ứng giống nhau, đa phần sẽ cười cho qua rồi chuyển sang chủ đề khác vì việc đang không viết một cái gì cả cũng là điều nhẹ nhàng thôi mà, không có gì cần phải xoáy sâu; số còn lại sẽ hỏi lí do tại sao và dù tôi có trả lời lí do như thế nào, họ cũng sẽ quay về như nhóm đầu tiên: chuyển sang chủ đề khác, không có gì cần phải xoáy sâu.

Nhưng ngày hôm ấy, chị khiến tôi ngạc nhiên vì chiều hướng hội thoại lại không đi theo đúng như những gì tôi đã dự định. Tuy cũng chỉ là vài câu nói nhẹ nhàng nhưng tôi có cảm giác chị lo cho vấn đề sức khỏe tinh thần của tôi khi không thể viết một cái gì đó chỉ đơn thuần là để bộc bạch, giãi bày cảm xúc, chị sợ tôi bị stress vì giờ đây viết với tôi chỉ mang mục đích sáng tác và công việc, là cái gì đó cần phải chưng cất sau một thời gian quá lâu bằng việc vây phủ những đầu sách đã đọc chất đống xung quanh thật dày rồi thì mới được xuất chiêu. Có lẽ, với chị viết nên là một việc được nạp vào xả ra tuần tự song song với việc đọc thì sức khỏe tinh thần người viết mới được đảm bảo. Thời điểm 2014 ấy, tôi đã không thấy được tầm quan trọng và chí lí của nhận định này. 2014 là một năm tôi còn quá quá ổn, cả về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, cả năm không bị bệnh vặt, cũng chẳng có bệnh gì nghiêm trọng, tinh thần lại cực kì say sưa học tập, đọc sách, tận hưởng những thú vui. Tôi đã không lo gì về sức khỏe tinh thần của mình khi đó. Và có lẽ, khi chứng kiến một tôi như vậy, mọi người xung quanh lại càng không mảy may nghĩ về vấn đề đó – cả đến tôi còn không nghĩ cơ mà. Ấy thế nhưng, ngay cả từ lúc đó, có lẽ dù chỉ là một chút thắc mắc nho nhỏ và rồi chuyển sang một sự cảnh báo (giờ ngẫm lại tôi nghĩ có khi nó đến từ kinh nghiệm của chính chị cũng nên), chị lại đặt vấn đề về sức khỏe tinh thần của tôi khi tôi không biết cách sử dụng việc viết như một công cụ giúp tôi xả stress.

Vậy là, kể từ khi ngừng viết vào năm 2014 đến nay, tôi đã xả stress bằng cách nào? Câu trả lời đơn giản là đọc sách, xem phim, nghe nhạc, design – và dù tôi rất muốn ghi thêm cả nhiếp ảnh vào danh sách này nhưng đó là một hoạt động được diễn ra quá ít ỏi để có thể liệt vào (vì tôi thích chụp người hơn là chụp cảnh nên ở đây, vấn đề nảy sinh là chuyện này bị phụ thuộc vào cả sự đồng ý của phía bên kia, không do tôi tự quyết được, và cũng không phải lần nào đôi bên đều ăn ý với nhau). Đó cũng là cách hoạt động xả stress thông thường giống mọi người, ở đây tôi không có gì đặc biệt hay khác lạ cả. Nhưng ngoại trừ việc nghe nhạc, hình như ở mỗi một hình thức mà tôi chọn làm giải trí, nó đều tiềm tàng cách thức sai lầm dẫn đến hậu quả ngược hoàn toàn ở mảng đọc sách, và một chút độc hại ở mảng xem phim.

Đầu tiên là đọc sách. Vì suốt một thời gian dài đã xem viết là sự nghiệp theo đuổi, đọc sách nghiễm nhiên cũng trở thành một cái gì đó hết sức nghiêm túc với tôi. Như vậy có nghĩa là, lúc tôi đọc sách, dù ở công ty hay ở nhà, thực chất tôi đâu có được giải trí vì đang xem nó là công việc cơ mà. Nhưng vấn đề là tôi đã nhập nhằng ở đây, vừa xem nó là công việc vừa xem nó là giải trí – cuối cùng tôi đều dở dở ương ương và bị mất cả hai. Nếu đã xem nó là công việc (trên thực tế, nó cũng đã là công việc của tôi trong một tuần năm ngày, một ngày tám tiếng thật), lẽ ra tôi không nên đem việc về nhà vào mỗi tối sau giờ làm, vào mỗi thứ bảy, chủ nhật, các ngày nghỉ lễ, Tết. Nhưng ngẫm lại tôi cũng không trách mình vì đặc thù công việc lại yêu cầu tôi phân biệt sách của công ty và sách dành cho nhu cầu muốn tìm hiểu, rèn luyện kĩ năng viết của riêng bản thân. Tôi chỉ ngồi đọc sách nên hầu như cảm thấy mình chẳng làm gì cả, nhưng có lẽ tâm thức lại đã ngầm xem là mình đang làm việc, mình đang làm việc. Quanh năm suốt tháng, ngoại trừ lúc xem phim và đi học, tôi hầu như chỉ cắm mặt vào bản thảo trên giấy và trên máy tính, có lẽ vì vậy mà việc stress âm thầm gia tăng.

Sau đó là chuyện xem phim. Tôi không còn những hoài bão cao xa trong điện ảnh nữa, chỉ muốn xem phim thuần túy vì sở thích. Lẽ ra sở thích này nên dừng lại ở sự giải trí vừa phải nhưng rốt cuộc, tôi lại bị cuốn theo những top list của người khác, hay top trend mọi người đang theo. Đôi khi, cảm giác ghen tị tại sao người ta xem phim này rồi mà mình chưa xem, cảm giác sợ bị lỡ nhịp một cái gì đó khi hầu như người ta đều đang xem phim thịnh hành này, bàn tán về phim thịnh hành nọ mà mình không xem kịp hóa ra cũng có nhiều lúc khiến tôi khổ sở và dày vò không dứt. Chỉ là xem phim để giải trí thôi mà, tại sao lại ghen tị và hành hạ mình nhiều như thế chỉ để xem. Nhiều lần tôi tự nhủ mình như vậy. Hãy nhẹ nhàng, hãy thả lỏng trong cả vấn đề này nữa. Nhưng rồi tôi cứ quên bài học này và rốt cuộc bây giờ lại đang phải chịu một hậu quả từ nó, đang cố gắng khắc phục.

Lúc đó, hình như tôi cũng nói với chị như thế. Rằng nếu không viết thì tôi vẫn có thể xả stress bằng những hình thức trên, tôi nhất quyết khăng khăng rằng mình nên xem trọng việc viết ở mức không dễ tuôn ra những từ, những chữ chỉ để thành một status, bài note xả stress nữa; với tôi, nó luôn nên là một cái gì đó nghiêm túc, việc viết chỉ có thể xảy ra khi việc đọc đã đủ nhiều. Cũng chính từ đây, có lẽ tôi đã bắt đầu sai lầm của mình trên cương vị một người viết. Tôi tự đặt ra cho mình một nguyên tắc (mà hình như đây cũng không hẳn là nguyên tắc do tôi đặt ra vì quan niệm này, nhiều người trong nghề cũng có): nếu muốn viết một cái gì đó, bất kể là thể loại gì, số sách tôi đọc (bao gồm cả sách xếp vào nhóm bổ trợ kĩ thuật viết và sách tài liệu tìm hiểu về chính chủ đề đó) phải có số lượng ít nhất là gấp ba, bốn lần dung lượng sách tôi định viết. Vì tự đặt cho mình qui tắc này, vào những lúc có thôi thúc viết mãnh liệt một dự án nào đó đã ấp ủ từ lâu, tôi lại gạt phăng ngay cái suy nghĩ đó, tự nhủ mình rằng: “Thôi, chưa viết được. Đợi đọc thêm cuốn A về cái này, B về cái kia, và C để xem văn phong người ta thế nào rồi mới viết sau.” Nhưng kết quả là khi tôi đọc xong A, B, C lại có D, E, F xuất hiện và cứ thế, tiến trình dời việc viết của tôi cứ kéo dài mãi, chớp mắt một cái đã gần tám năm không viết gì (lần cuối cùng viết một tập truyện ngắn là vào tháng Ba, 2014 mà giờ cũng sắp hết năm 2021 rồi nên tôi cứ tính tám năm cho chẵn).

Hệ quả của suy nghĩ “số sách mình đọc phải nhiều gấp trăm lần số sách mình viết” (tôi không phóng đại đâu, nhiều người vẫn hay truyền tụng câu đọc một trăm cuốn sách rồi mới viết một cuốn, vậy chẳng phải là gấp trăm lần còn gì) đã khiến tôi dần lười viết – lười viết một cách thực sự theo nghĩa là giờ đây nghĩ đến chuyện viết nghiêm túc tôi cũng lười chứ đừng nói gì viết xả stress (hình như suy nghĩ hơi bị ngược, lẽ ra phải là viết xả stress cũng lười huống hồ gì là viết nghiêm túc). Lâu dần, tôi lại lấy chuyện đọc sách thành một cái cớ biện minh quá hoàn hảo cho chuyện lười viết, và rồi dẫn đến việc không viết – nó đã mất đi động cơ tươi sáng ban đầu là đọc càng nhiều sách để những gì mình viết càng chất lượng hơn, tốt hơn; khi đi đến mức độ thái quá, nó trở thành thứ tương tự như lí do vắng mặt của người học sinh nhìn trời mưa lâm râm mà xin nghỉ học. Tôi cũng đã suy nghĩ đến chuyện này khoảng ba năm về trước. Vậy thì vấn đề là phải đặt giới hạn cho số lượng mình cần đọc để viết, số lượng này nên cụ thể, không nên chung chung là cả trăm cuốn, và tên sách cũng phải cụ thể, phục vụ cho chính cái dự án mình đang muốn viết (đương nhiên cùng lúc bạn sẽ có nhiều dự án muốn viết và bạn phải hết sức thận trọng ở điểm này). Vì vậy, tôi từng nghĩ mình đã tìm được lối thoát cho cái guồng quay vô tận đọc mãi mà vẫn không thể viết, không dám viết này bằng cách lập danh sách. Cách đây hai năm, tôi quyết tâm không dời nữa mà sẽ chọn một ý tưởng từ nhiều ý tưởng mình đã có sẵn để viết, cẩn thận lập danh sách giới hạn trong khoảng hai mươi cuốn sách hơi nặng đô mà tôi nghĩ rằng mình cần phải đọc trước khi thực hiện dự án đó. Rốt cuộc, cả khi lập danh sách cẩn thận như vậy, còn đặt cả chồng hai mươi cuốn sách đã soạn ra giới hạn đó để trong tầm mắt ngay trước giường ngủ của mình để nhìn thấy nó mỗi đêm, tôi lại vẫn không đọc được cuốn nào trong cả một năm đó. Khi hình dạng hai mươi quyển sách đó lù lù hiện ra trước mắt vào mỗi đêm nằm ngủ, tôi cứ nghĩ nó sẽ cho tôi động lực để sớm đọc xong nó mà viết cái tiểu thuyết tôi đang muốn viết kia. Nhưng hóa ra cách này có lẽ phản tác dụng, từ động lực nó biến thành áp lực: giờ đây, để viết được tiểu thuyết kia vào nhiều lúc khao khát trong lòng tôi mãnh liệt quá, tôi vẫn không được quyền viết ngay vì sẽ phải đọc hết đống sách dày hai mươi quyển đó trước. Thế là sách từ danh sách tôi soạn ra dường như biến thành bức tường ngăn cản, là vật chắn giữa tôi và điều tôi mong muốn. Nhiều lúc, tôi cứ tự nhủ: “Hay là mình cứ viết đi. Mình có sẵn hồi một và hồi ba rồi mà, mình chỉ không biết hồi hai như thế nào thôi. Nhưng có hồi một, nhân vật rồi thì cứ viết đi rồi tính tiếp. Bí ở đâu, gỡ ở đó. Đến lúc viết giữa chừng kẹt thì dừng lại, xoay ra đọc sách tiếp rồi viết sau cũng được mà. Mình đâu thể chuẩn bị sẵn sàng hoàn hảo hết nguyên liệu, các đường đi nước bước cho mọi thứ trước khi bắt tay vào viết được chứ. Cứ viết đi. Kẹt thì dừng, sai thì sửa. Mà viết đi, viết đi.” Không biết bao nhiêu lần tôi tự nhủ mình như thế nhưng rồi bao năm dài chỉ ở bên lề của việc viết bằng cách đọc tác phẩm của người khác, khiến cho cái con người lười biếng nhưng luôn viện cớ cần đọc nhiều hơn viết nhiều trong tôi luôn chiến thắng. Qua một thời gian dài như thế, tôi thực sự chẳng còn khao khát viết mà cũng mất luôn khao khát đọc. Mọi thứ căng cứng giống như một đường dây thần kinh bị viêm và rồi không truyền được chất dinh dưỡng, hay máu huyết đến nơi nó muốn truyền nữa. Thế là tôi bèn ngưng luôn hoạt động của cái dây thần kinh đó, không đụng tới nó nữa, ngót nghét đến nay đã được hai năm. Tôi không ngần ngại mà thành thật thú nhận ở đây rằng đã hai năm rồi tôi hầu như không viết gì, đọc gì. Những tác phẩm nổi bật nào đã được xuất bản trong hai năm qua, tôi gần như cũng không biết. Và tôi cũng hài lòng với sự buông bỏ, sự vô minh này vì đã luôn miệt mài tìm hiểu một lĩnh vực khác mà mình thường ước mơ được làm hồi nhỏ – tôi đã viết về việc này quá nhiều rồi nên không lặp lại ở đây nữa mà chỉ nhắc lướt qua. Tuy nhiên, nếu như nói rằng trong suốt hai năm qua, những suy nghĩ về văn chương chưa từng một lần chen ngang đời sống miệt mài học nhạc thì là không đúng. Tôi có nghĩ về văn chương, về việc viết nhưng với những suy nghĩ đầy hằn học, bực dọc, và luôn tự nhủ mình bỏ là đúng rồi. Những suy nghĩ này chưa từng thay đổi trong suốt hai năm nay cho đến tận hôm qua.

Tôi đã có một đêm khá kinh hoàng vào ngày hôm qua, sự kinh hoàng này chủ yếu diễn ra trong tâm trí theo kiểu tự hù dọa mình là chính nhưng tôi cứ luẩn quẩn với nó suốt năm ngày nay, không thoát ra được. Phần lớn thời gian, tim tôi đập nhanh, tay chân lạnh ngắt, dù đắp mền vẫn lạnh, khi nằm hẳn xuống giường thì cảm giác đánh trống ngực rõ ràng đến nỗi phần giường bên dưới run run tựa như thể đang ngồi ghế massage – mà thực ra thì nào phải, chỉ có tôi đang run rẩy đấy thôi. Tôi chú ý quá mức đến các tiếng động, những cái bóng đồ vật khúc xạ chồng lên nhau giữa đồ vật này với đồ vật kia, diễn giải các họa tiết trông thấy theo hướng kì dị và sợ hãi. Có đôi lúc, tưởng chừng như tôi còn sắp thấy ảo giác tới nơi, cảm giác không làm chủ được bản thân mình thật kinh khủng. Đỉnh điểm là khi đang nằm, chân trái tôi đột ngột bị chuột rút thắt chặt ở phần dưới đầu gối, cơn đau thắt giống như có ai nhấn và bóp ở đó thật mạnh khiến tôi hãi hùng. Lúc này, không chỉ thân người phía trên nơi ngực và tim run run, cả phần chân phía dưới cũng vừa đau và run theo – tóm lại cả người run rẩy theo đúng nghĩa đen thực sự, không phải là phép tu từ hoa mĩ nữa rồi. Tôi biết những lúc này, nguyên tắc hàng đầu là giữ ấm cơ thể và từ từ bình tĩnh lại. Nhưng dù xoa bóp chân thế nào, tôi vẫn không cách gì cảm thấy ấm lại dưới thời tiết cũng đang khá lạnh lúc đó. Khi ấy đã là hai giờ đêm, mọi người đều đi ngủ, tôi không muốn phiền đến một ai cả. Tôi nghĩ đến việc có thể lấy đàn guitar ra đệm hát một số bài mình thích chắc sẽ đỡ hơn giống như đợt hồi cuối năm 2019 tôi từng làm. Nhưng hôm qua phần vì chân tôi đau, phần vì tâm trí cũng đang hoảng loạn nên không thể lết nỗi đến nơi có đàn, vị trí gần nhất mà tôi có thể nhảy lò cò đến là chỗ cắm sạc điện thoại trước đó cũng gần sắp hết pin. Tôi ào đến bên chiếc điện thoại, vớ lấy nó như vớ lấy một thứ vũ khí, một cái phao cứu sinh.

Bước tiếp theo, cầm cái phao cứu sinh đã được sạc 27% pin, tôi lại có chút hoang mang, lạc lõng, không biết nên làm gì. Trong những tình huống như thế này, tôi thường sẽ có ba lựa chọn: bật Youtube, xem phim, hoặc lướt Facebook, tin tức để thấy đời sống vẫn đang chuyển động. Tôi bật Youtube đầu tiên thì Youtube đề cử cho tôi những video nhạc thư giãn tinh thần kéo dài mấy tiếng – cũng là cách video tôi thường phải bật những lúc ngủ dạo gần đây, tôi kéo một hồi mà vẫn không có hứng thú xem gì. Tôi vào Facebook lướt một hồi thì thấy Facebook hình như chưa hiểu ý tôi bao ngày qua: mỗi lần lỡ lướt đến một post giới thiệu phim kinh dị nào đó, tôi đều bấm “Turn off this notification” để nó hiểu là tôi không muốn xem những post tương tự thế này nữa. Nhưng rốt cuộc, không page này thì cũng page khác, không giới thiệu phim kinh dị này thì cũng là phim kinh dị khác. Chẳng lẽ, người thời nay thích xem phim kinh dị đến thế sao? Hơn phân nửa phim chiếu rạp vào mọi thời điểm trong vòng một thập niên vừa qua đều là phim kinh dị. Như hiện nay, các rạp phim đang chiếu khoảng 14 phim thì hết 7 là kinh dị, và sắp tới tỉ lệ này vẫn sẽ duy trì như thế. Thế là tôi lại tắt Facebook. Tôi thử xem tập 1 của Now, We are breaking up được khoảng mười lăm phút đầu phim mà cũng thấy không thể nào tập trung được, giống như tôi và bộ phim là hai cái gì đó tách rời ở hai đầu thế giới. Thế là dùng hết cả ba cách. Có một khoảnh khắc tôi hoang mang run rẩy và suýt bật khóc. Mới có hai giờ đêm thôi. Mặt trời sẽ mọc vào năm giờ năm mươi bảy phút – dạo gần đây tôi thường xem thông tin mặt trời sẽ mọc lúc mấy giờ như một cách để trấn an mình, để biết cái bình minh ấm áp sẽ cứu rỗi mình đó bao giờ nó mới đến. Vẫn còn bốn tiếng đồng hồ. Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có nên liều mạng lết đến chỗ lấy đàn guitar để đàn không? Nhưng tôi không dám, chân tôi đau và thân người lại lạnh run bần bật – tôi đã vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất lúc này là phải giữ ấm. Tôi liệu còn có thể làm gì với chiếc điện thoại này? Tôi ngồi suy nghĩ một hồi và bỗng đâu nhớ lại lời người chị ngày xưa nói. Tôi nhớ ra trước đây, cũng vào những lần tôi đang buồn, stress (nhưng chưa có cơn căng thẳng nào trong quá khứ bằng giai đoạn này cả), tôi vẫn thường nhớ đến lần trò chuyện đó, nhớ chị nói viết không chỉ là sáng tác, viết còn là để xả stress, thư giãn tinh thần, và cái câu hỏi đau đáu đó trở lại trong tôi: “Viết là một công cụ xả stress rất hiệu quả. Nó là một món quà với tất cả người viết chúng mình. Sao lại tự tước đi một công cụ xả stress của mình vậy em?”

Phải rồi. Sao tôi lại tự tước đi một món quà, một công cụ xả stress của mình chi vậy? Tôi còn muốn tự hành hạ bản thân đến bao giờ nữa. Thế là tôi lại run rẩy mở Samsung Note lên, vừa mở vừa nhớ đến những ngày xưa biết bao đêm tôi viết hăng say thâu đêm suốt sáng có sợ gì đâu, trời sáng lúc nào tôi còn không hay, tôi nhớ lần đỉnh điểm nhất là viết từ chín giờ tối hôm trước cái vèo một phát cho đến chín giờ sáng hôm sau xong được một truyện ngắn dài hơi bằng một truyện vừa, rồi thanh thản ngả lưng xuống giường ngủ đầy đủ tám tiếng mà không trằn trọc gì. Tôi nhớ lại những ngày quá khứ xa vời. Tôi nhớ đến thời mình còn học lớp tám, bị bắt nạt và có những suy nghĩ tồi tệ, đêm tối ngồi một mình trong toilet gần cả nửa đêm rồi quyết định với tay lấy cuốn sổ cây bút, viết ào ào hết gần cả nửa cuốn sổ khổ nhỏ chắc chừng chín mươi trang, vừa viết vừa khóc mà viết xong thấy ổn hơn rất nhiều. Tôi đã sống sót qua những năm cấp hai theo cách đó – lúc ấy, tôi làm gì mà biết đàn, vẫn chưa biết đàn, vẫn chưa biết đàn… Tôi bắt đầu học đàn từ năm lớp tám và bị bắt nạt thì từ năm lớp sáu rồi, thời điểm một đêm kinh khủng tồi tệ trong lớp tám ấy, tôi chắc chỉ mới biết đàn vài câu nhạc cơ bản, chưa ra hẳn một giai điệu, làm sao nó có thể giúp tôi giải tỏa được những ẩn ức đây? Nếu muốn giải tỏa bằng âm nhạc, bằng đàn, ít nhất tôi còn phải học hành chăm chỉ thêm một năm nữa. Nhưng cứu người như cứu hỏa, cứu chính mình cũng như cứu hỏa, chờ đến lúc đó, có khi còn chưa đến được thì chắc là căn nhà tinh thần của tôi đã cháy rụi tan tành rồi. Cũng vì nhớ lại trải nghiệm năm lớp tám, và cả trải nghiệm trong mới hôm qua, tôi nhận ra văn chương – cứ hiểu nó theo nghĩa đơn giản nhất ở đây là bạn diễn đạt được những suy nghĩ của mình qua câu văn, là môn nghệ thuật thực sự dành cho tất cả mọi người, không phân sang hèn đói kém giàu sang, không phân trạng thái sức khỏe tinh thần hay thể chất của bạn đang ở mức nào bởi nó đòi hỏi điều kiện rất tối thiểu: bạn chỉ cần một cái đầu còn chứa suy nghĩ của bạn, một phương tiện để ghi chép lại những suy nghĩ đó thành vật chất cụ thể là mặt chữ – thế là xong rồi đấy, đơn giản, ai cũng có. Nó đâu phải là món quà chỉ dành riêng cho người viết hay yêu thích văn chương, theo đuổi một cách quá nghiêm túc. Nó là món quà dành cho tất cả mọi người, ai ai cũng làm được. Và hơn thế, nó giống như bình xịt cứu hỏa dự phòng mỗi nhà đều có, nó luôn ở đó sẵn sàng, chỉ cần lửa bốc lên là dùng để dập. Với tôi, đêm hôm qua có lẽ đã diễn ra như thế. Tôi quáng quàng cầm điện thoại lên gõ liên hồi như chưa bao giờ gõ những suy nghĩ lóe lên liên tục trong đầu mình. Trong quyển sách How to stop worrying and start living của Dale Carnegie, ông cũng có nói đến một phương pháp rất đơn giản để giành lại sự tập trung, kiểm soát lo lắng chính là viết ra toàn bộ những điều bạn đang lo, đang suy nghĩ, nó ở đó thành chữ lồ lộ rồi, không còn chơi trò ẩn nấp trong suy nghĩ của bạn nữa thì sẽ khiến bạn đỡ hơn phần nào. Quả thực, hiếm có hoạt động nào bạn có thể tập trung cao độ mà lại không dễ bị phân tán suy nghĩ như viết thư giãn (đương nhiên viết sáng tác sẽ khác). Bình thường, làm việc nào đó khác có thể sợ phân tán suy nghĩ chứ viết thư giãn thì hẳn là không. Bạn chỉ đơn thuần nghe những suy nghĩ trong đầu và gõ lại thôi, một công việc hết sức đơn giản mà hữu hiệu để kiểm soát lo lắng. Một hai câu đầu tiên, tôi còn viết dè dặt và đang tìm từ để diễn đạt cái cảm giác, suy nghĩ bên trong mình; nhưng sang đến câu thứ ba rồi câu thứ tư, càng viết tôi cảm giác giống như mình càng được bung lụa. Bao nhiêu tiếng cửa đập, tiếng gió lùa tơi bời, tiếng cót két, tiếng chó sủa ngoài đường mà trước đó chỉ nghe thôi cũng khiến tôi phóng đại lên và sợ hãi đột nhiên khoảnh khắc đó biến mất hoàn toàn, như thể tôi không còn nghe thấy nó nữa, vì giờ tôi đang bận nghe tiếng nói trong suy nghĩ của mình, bận ghi chép lại nó, bàn tay tôi gõ chữ trên điện thoại và dòng suy nghĩ trong đầu ra rả đọc cho nó để cái tay tự chép chính tả như thực hiện một cuộc chạy đua marathon với nhau – bằng ấy ý thức, năng lượng xả vào việc viết như thế, hỏi làm sao tôi còn đủ ý thức để tập trung vào xung quanh đang diễn ra gì nữa.

Như một phép màu kì diệu, khi tôi dừng lại việc viết đêm qua thì cũng là hơn ba giờ sáng một chút. Một tiếng trong đêm tối vào cái khoảng thời gian kinh khủng từ hai giờ đến ba giờ đã qua đi – tôi sợ nhất là khoảng giờ này. Tôi viết xong và tạm dừng lại ý thì ngạc nhiên không ngờ nãy giờ mình đã viết được một tiếng và lạ lùng là trong lúc viết người tôi không hề lạnh, không hề run cầm cập, cảm giác sợ hãi cũng giảm bớt đi rất nhiều mặc dù tôi đang viết về chính nỗi sợ đó. Kì lạ, thực sự kì lạ. Tôi thấy người được ấm lại, mắt bắt đầu buồn ngủ và tôi nghĩ là mình ngủ được rồi, không cần phải sợ hãi xung quanh nữa. Tôi bèn cất điện thoại sạc tiếp, bật nhạc lên và nhanh chóng ngủ thiếp đi. Hình như lúc đó tôi ngủ không hề mộng mị, tôi bật dậy, có cảm giác mình đã ngủ rất lâu mà rồi phát hiện ra khi đó là bốn giờ rưỡi sáng, vậy là tôi cũng chỉ ngủ được hơn một tiếng thôi – không nhiều nhặn gì, nhưng vẫn là hôm những đêm trước. Các đêm trước, cũng có khi tôi ngủ được một tiếng nhưng là trong trạng thái sợ hãi, thức dậy thấy rất mệt. Đêm qua, tôi cũng vẫn ngủ nông, chỉ ngủ được một tiếng nhưng mà kì lạ là lúc thức dậy giữa bốn giờ rưỡi đêm đó, tôi không còn cảm thấy hoảng sợ mà rất bình tĩnh – lần đầu tiên trong rất nhiều đêm vừa qua, tôi mới có lại sự bình tĩnh đó khi thức dậy giữa đêm. Tôi thử nhắm mắt nhưng thấy sao mà mình tỉnh quá, không mệt hay có cảm giác buồn ngủ nữa. Cơ thể tôi lúc đó vẫn ấm. Tôi biết điều này là do đêm qua tôi đã viết. Trong lòng tôi lúc đó tràn ngập cảm giác xúc động và biết ơn, tôi biết ơn việc viết lại một lần nữa cứu rỗi tôi. Bất kể có ai đọc hay không, tôi vẫn sẽ viết và nội việc viết thôi đúng là đã giúp tôi giải tỏa được rất nhiều. Nó thực sự là món quà quí giá của tôi. Tôi nhận ra suốt thời gian vừa qua mình đã quá ngu ngốc, tôi giữ sự phòng vệ với thế giới nên không muốn viết gì nhiều nữa trên mạng xã hội, nhưng tôi cũng đâu biết rằng việc giữ sự phòng vệ một cách thái quá với thế giới để tránh khỏi thương tổn đồng thời cũng đã ngăn tôi ra khỏi niềm vui khi viết – một trong những trụ cột tinh thần của tôi. Tôi đã có chút phân vân khi nghĩ mình nên để bài viết này ở chế độ Friend hay Public. Cuối cùng, tôi quyết định gạt bỏ hết mọi nỗi sợ mà để Public. Giữa việc sợ để người khác phán xét trạng thái tinh thần của mình và việc muốn cho một người xa lạ nào đó tình cờ một ngày dạo qua Facebook của tôi, nếu lúc đó họ cũng đang ở trạng thái căng thẳng tinh thần mà đọc được những lời tôi viết, rồi chính họ cũng tự viết ra những lời của mình và được tạm giải phóng phần nào khỏi nỗi sợ hãi – tuy rằng cái xác suất để việc thứ hai xảy ra thấp hơn so với việc đầu tiên nhưng tôi vẫn quyết định chọn Public mở tất tần tật ra để trải nghiệm của tôi vô tình có giúp được ai thì giúp.

Hiện tại, tôi vẫn chưa biết đêm nay giấc ngủ có đến với mình dễ dàng hơn không, mình liệu có thể ngủ đủ tám tiếng được không nhưng tôi sẽ tử tế với chính mình. Tôi biết mình phải bình tĩnh và cũng phải có lòng kiên nhẫn với chính mình. Nghĩ một cách lạc quan thì ngủ một tiếng vẫn đỡ hơn là không ngủ được gì, và rồi ta tiến đến cái mốc hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng. Chỉ cần đến được cái mốc bốn tiếng thì cái mốc năm, sáu tiếng rổi sẽ dễ dàng đạt được – đợt trước của tôi là như thế. Khi được năm, sáu tiếng rồi, ta sẽ chẳng mấy chốc ngủ lại được bảy, tám tiếng lúc nào không hay. Cứ hi vọng lạc quan như thế.

Tuy chưa biết rằng buổi tối nay của mình như thế nào, mình có vào giấc nhanh không, có ngủ được sâu không nhưng cả ngày hôm nay, sau khi đã được viết, được giải tỏa, tôi trải qua cảm giác thanh thản hơn những ngày trước rất nhiều. Ít nhất tôi đã có cả một ngày yên bình từ sáu giờ sáng đến chín giờ tối. Lúc này, đó đã là điều quý giá. Nếu biết được, viết có thể giúp người tôi ấm lại như vậy, giải tỏa được như vậy chắc là tôi đã viết sớm hơn. Nhưng không sao, giờ vẫn là chưa quá muộn. Chị nói đúng. Sao tôi lại tự tước đi một công cứu rỗi mình như thế. Khi viết, tôi thấy trong đầu mình nhảy số nhanh kinh khủng. Sự nhảy số này có lẽ không có nhiều hoạt động khác khiến tôi làm được tương tự như thế. Tôi cứ liên tục bị bất ngờ bởi những gì mình viết ra, các ý tứ sao mà được sắp xếp hợp lí và so sánh liên tưởng cũng khá ổn (tự khen mình một chút – điều trước đây tôi ít khi làm để nâng cao tinh thần hơn lúc này là cần thiết). Thú nhận luôn cả cái này có vẻ hơi quá, nhưng hôm qua trong lúc viết, lần đầu tiên tôi mới nhận ra một cách hết sức rõ ràng cái sự thật này, cái sự thật lâu nay tôi không tin: tôi cảm thấy khi viết, mình chợt “thông minh” đột xuất, “thông minh” hơn hẳn cái tôi thường ngày sinh hoạt trong đời sống. Việc phải đấu tranh giữa trạng thái tinh thần bất ổn trong suốt thời gian qua khiến nhiều lúc tôi cảm thấy mình cứ ù ù cạc cạc, đờ đẫn và không thông suốt. Nhưng thực sự, hôm qua khi lần đầu tiên viết lại sau nhiều năm dài từ bỏ kiểu viết để thư giãn, viết không cần bận tâm đến điều gì khác ngoài việc cho chính mình, để an ủi mình, tôi cảm giác mình giống như một vận động viên đã nghỉ thi đấu từ lâu phải ra sân thi đấu lại, trước khi hiệu lệnh được cất lên, trong lòng hãy còn nhiều mối lo ngại về bản thân, liệu tôi còn có thể viết được như xưa không, nhưng chỉ cần tiếng chuông reo lên giữa không trung, tôi lập tức phóng như bay, chạy như chưa bao giờ được chạy. Tôi bỗng sản sinh ra cái ý nghĩ “mình thật thông minh quá khi viết”. Cho dù đó có là sự thật hay không cũng không quan trọng, quan trọng là ngay giây phút tuyệt vọng đó, chính cái suy nghĩ “mình thật thông minh quá” – một sự thông minh dù chỉ có được mỗi khi viết cũng đã an ủi tôi rất nhiều. Tôi như tự nói được với chính tôi rằng: “Ngoan nào! Ngoan nào! Đừng khóc nữa! Đừng run rẩy nữa! Mày thấy không, mày đâu có bị phân mảnh, đâu có bị mất kiểm soát suy nghĩ. Mày vẫn là chính mày. Một trăm phần trăm nguyên vẹn là chính mày đấy thôi. Mày vẫn luôn có chính bản thân mình, sự thông minh đó đấy thôi. Mày không bị mất khả năng kiểm soát ngôn ngữ. Mày vẫn là mày.” Và tôi nhận ra tôi yêu con người mình khi viết vì tôi yêu chính cái cảm giác về sự thông minh đó, về việc được thông minh đó, về việc được vẹn toàn đó.

Vậy thì, viết thôi nào. Viết thôi nào.

Bảy năm qua, tôi cứ nạp vào, nạp vào không chịu phát ra gì cả khiến cơ thể tôi, đầu óc tôi đã phải chịu nhiều căng thẳng, không được thư giãn vậy mà tôi lại chẳng hề biết. Đúng thật, có nạp vào thì phải có phát ra. Tôi đã luôn suy nghĩ quá nhiều và muốn cố gắng trau chuốt hết mức cái phát ra. Bây giờ, tôi không muốn bận tâm đến điều đó nữa. Thích thì viết thôi. Tôi mệt rồi. Tôi sẽ không bận tâm liệu mình có đọc đủ sách để viết chưa, cần đọc thêm bao nhiêu cuốn nữa để viết, liệu mọi người đọc những dòng này thì sẽ suy nghĩ gì, nó đem lại trải nghiệm tiêu cực hay tích cực cho họ vì giờ đây điều tôi khao khát khi làm nghệ thuật là mong muốn mọi người có trải nghiệm tích cực từ những gì tôi làm dù có thể tôi đang tiêu cực gần chết đi được. Và tôi trở nên căm ghét tột độ các tác phẩm mang lại cho người ta cảm giác tiêu cực dù tôi ý thức được rằng nghệ thuật cũng như cuộc đời, sự tích cực và cả tiêu cực cần được cân bằng nhưng tôi vẫn là cứ ghét những tác phẩm thuần túy chỉ làm người ta sợ hãi, đánh động vào những điểm hoài nghi yếu nhất của con người dù trước đây tôi vẫn rất thích xem, nhưng bây giờ, trạng thái sức khỏe tinh thần của tôi không còn đủ để đáp ứng nữa.

Vậy thì giờ tôi không bận tâm gì nữa.
Vậy thì giờ tôi xả hết ra đây. Cho thấm công tình bảy năm mệt nhọc đọc sách vừa qua.
Vậy thì giờ tôi viết đây.

Kodaki

Tác phẩm được đề cập trong bài viết:

Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống

97,200đ

Cuộc sống không dễ dàng giải thoát bạn khỏi căng thẳng. Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống khuyên bạn hãy khóa chặt dĩ vãng và tương lai lại để sống trong cái phòng kín mít của ngày hôm nay. Mọi vấn đề đều có thể được giải quyết, chỉ cần bạn bình tĩnh và xác định đúng hành động cần làm vào đúng thời điểm.

How To Stop Worrying And Start Living

169,000đ

In this classic work, How to Stop Worrying and Start Living, Carnegie offers a set of practical formulas that you can put to work today. It is a book packed with lessons that will last a lifetime and make that lifetime happier!

Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Trà chiều

Thế giới viễn tưởng độc đáo trong bốn bộ phim mang đậm tính thể nghiệm

Published

on

Thế giới của phim khoa học viễn tưởng không phải lúc nào cũng chỉ có AI, robot, hay du hành không gian mà còn vô vàn những điều đặc biệt khác có thể bạn chưa biết.

Năm 2023 vừa qua đã ghi nhận sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của AI. Điều đó khiến cho dòng phim khoa học viễn tưởng nhận được nhiều sự quan tâm trở lại. Nhắc đến dòng phim này, người ta vẫn thường đóng khung nó với vài yếu tố tiêu biểu thường gặp như: AI, robot, du hành vũ trụ, thế giới song song… Tuy nhiên, có rất nhiều tác phẩm sci-fi kinh điển đã chứng minh điều ngược lại.

Hãy cùng Bookish khám phá những bộ phim sci-fi không thuần túy là sci-fi vì ở đó, người xem được tận hưởng bữa tiệc điện ảnh đỉnh cao với những hương vị hòa quyện mĩ mãn từ nhiều thể loại khác nhau.

Back to The Future (1985)

Sci-fi x Road Trip Comedies

Cùng với The Terminator, Back To The Future ra đời năm 1985 đã trở thành biểu tượng kinh điển của dòng phim sci-fi lấy chủ đề du hành thời gian. Đó cũng là một trong những nguyên nhân mà bộ phim này được nhắc đến nhiều lần trong Avengers: Endgame lúc cả nhóm quyết định quay về quá khứ.

Tuy nhiên, không giống như The Terminator, Back To The Future mang màu sắc vui nhộn, hài hước của lứa tuổi học trò. Cậu học sinh tuổi teen Marty McFly ở thập niên 80 vô tình bị kéo về quá khứ trên chiếc xe cỗ máy thời gian của nhà khoa học Emmett Brown. Cậu quay trở về thập niên 50 – lúc này bố mẹ cậu cũng ở lứa tuổi học trò như cậu. Để có thể quay về hiện tại năm 80, cậu phải tìm cách hàn gắn mối quan hệ của bố mẹ, nếu không bản thân cậu cũng sẽ không tồn tại ở năm 80. Từ đó, câu chuyện nảy sinh nhiều tình huống dở khóc dở cuối. Nếu như The Terminator là sự phối trộn hoàn hảo giữa thể loại sci-fi và hành động thì Back To The Future lại là màn kết hợp ăn ý giữa thể loại sci-fi và hài hành trình. Bộ phim tốn kinh phí thực hiện là 19 triệu USD nhưng lại có doanh thu phòng vé lên đến 388 triệu USD. Chính vì thành công này mà đạo diễn Robert Zemeckis đã thực hiện hai phần tiếp theo cũng vui nhộn không kém.

Snowpiercer (2013)

Sci-fi x Dystopia

Bong Joon Ho không chỉ tạo ra những bộ phim sâu sắc về đề tài xã hội mà ông còn có khả năng làm phim khoa học viễn tưởng rất chặt chẽ, thuyết phục. Điều này thể hiện rõ nhất qua Snowpiercer. Phim dựa trên tiểu thuyết Pháp Le Transperceneige lấy đề tài hậu tận thế. Trong tương lai, sau một thí nghiệm thất bại, khí hậu toàn cầu biến đổi dẫn đến gần như toàn bộ sinh vật đều bị diệt vong, ngoại trừ một số người may mắn có mặt trên con tàu Snowpiercer chạy vòng quanh Trái đất với động cơ vĩnh cửu. Tại đây, một xã hội thu nhỏ mới lại được hình thành. Dưới bàn tay tài hoa của Bong Joon Ho, Snowpiercer cũng không đơn giản là tác phẩm sci-fi thuần túy mà ông còn lồng ghép vào nhiều thể loại khác nhau: có những phân đoạn hành động mãn nhãn, đồng thời cũng có những phân đoạn dí dỏm, và cách đặt vấn đề về giai tầng xã hội vẫn mang phong cách rất đặc trưng của Bong. 

Eternal Sunshine Of The Spotless Mind (2004)

Sci-fi x Romance

Sẽ như thế nào nếu kết hợp thể loại sci-fi với phim tình cảm? Khi đó, chúng ta sẽ có kiệt tác Eternal Sunshine Of The Spotless Mind của bộ đôi đạo diễn Michel Gondry và biên kịch Charlie Kaufman. Bộ phim sử dụng đề tài “can thiệp kí ức” để khám phá bản năng con người khi tình yêu tan vỡ. Sẽ ra sao nếu khi chia tay một ai đó, bạn có thể xóa toàn bộ những kí ức vui buồn liên quan đến họ ra khỏi tâm trí? Sau khi Joel biết được Clementine – người yêu cũ của anh đã xóa kí ức tình yêu, anh quyết định bản thân mình cũng sẽ thực hiện việc này. Nhưng khi anh khám phá được điều gì đã khiến họ gắn kết rồi lại chia xa, anh nhận ra mình vẫn còn tình cảm dành cho cô. Nếu như công nghệ trong phim là thứ hư cấu thì cảm xúc giữa hai nhân vật trong Eternal Sunshine hoàn toàn chân thực, lay động trái tim người xem, khiến ai cũng phải thổn thức.

Under The Skin (2013)

Sci-fi x Experimental film

Cuối cùng, không thể không nhắc đến bộ phim sci-fi mang tính thể nghiệm, tiên phong đáng nhớ: Under The Skin. Có rất nhiều phim lấy đề tài sinh vật ngoài hành tinh xâm nhập Trái đất, nhưng có lẽ chưa bộ phim nào kể câu chuyện thật đặc biệt nhưng lại với nhịp điệu từ tốn như Under The Skin. Scarlett Johansson trong vai sinh vật ngoài hành tinh vô danh chỉ làm đúng một công việc là đi lang thang trên một chiếc xe tải, lựa chọn những người đàn ông cô đơn làm con mồi. Bộ phim rất kiệm lời thoại, khiến người xem rợn người không chỉ bởi những hình ảnh thị giác lạ mắt mà còn bởi thứ âm nhạc cũng đầy tính thể nghiệm độc đáo của Mica Levi. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào thể nghiệm mà bỏ qua nội dung, Under The Skin đã không gây được tiếng vang lớn như thế trong cộng đồng điện ảnh. Sau tất cả, bộ phim của đạo diễn Jonathan Glazer lại khiến người xem trăn trở nhiều về thân phận làm người.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Trà chiều

The Terminator & Blade Runner: Hai tượng đài điện ảnh độc đáo của thập niên 80

Published

on

Cùng ra mắt vào thập niên 80, The Terminator (1984) và Blade Runner (1982) đều là hai kiệt tác điện ảnh độc đáo, góp phần rất lớn trong việc tạo ra diện mạo mới cho thể loại sci-fi.

Bài viết này sẽ dẫn dắt bạn khám phá những vấn đề khác nhau được đặt ra trong hai phim: từ những dòng suy tư về mối liên hệ nhân quả giữa hành động và thời gian trong The Terminator đến không gian đô thị đậm chất noir và những truy vấn về bản chất con người trong Blade Runner.

The Terminator (1984)

The Terminator là bước đột phá ngoạn mục trong sự nghiệp điện ảnh của đạo diễn James Cameron. Vào thời điểm ra mắt, bộ phim gây ấn tượng bởi việc pha trộn nhiều đặc tính giữa các thể loại khác nhau, mang đến màu sắc mới cho dòng phim sci-fi.

The Terminator kể câu chuyện về một người máy sát thủ ra đời năm 2029, được trao nhiệm vụ quay về năm 1984 để giết người phụ nữ trẻ tên là Sarah Connor. Sarah hoàn toàn không biết rằng cuộc đời cô có ảnh hưởng đáng kể đến số phận nhân loại và cô có thể chết bất cứ lúc nào dưới sự truy sát của cỗ máy bất khả chiến bại được gọi là Kẻ Hủy Diệt. Kyle Reese cũng đến từ tương lai nhưng nhiệm vụ của anh là bảo vệ Sarah – người mẹ của thủ lĩnh tương lai.

Với cốt truyện như thế, The Terminator vừa có những pha hành động mãn nhãn, vừa có nhiều tầng suy tư phức tạp về dòng chảy của thời gian, về phương thức thay đổi một sự kiện trong quá khứ có thể dẫn đến tương lai khác biệt hoàn toàn – đây vốn là chủ đề hiếm gặp trong phim hành động ở giai đoạn đó. Ngoài ra, những bản nhạc nền tạo không khí căng thẳng của nhạc sĩ Brad Fiedel cũng góp phần lớn vào thành công của phim.

Tất cả những nhân tố đó đã khiến phim trở thành một mảnh ghép quan trọng của văn hóa đại chúng đến tận ngày nay. Câu nói “I'll be back” của nhân vật Kẻ Hủy Diệt trong phim được sử dụng phổ biến, trở thành slogan thương hiện cho chính Arnold Schwarzenegger.

Từ năm 1984 đến nay, The Terminator đã sản xuất 6 phần phim: The Terminator (1984), Terminator 2: Judgment Day (1991), Terminator 3: Rise of the Machines (2003), Terminator Salvation (2009), Terminator Genisys (2015), Terminator: Dark Fate (2019). Tất cả những phần phim này đều đạt được doanh thu khủng, riêng phần đầu tiên The Terminator đã trụ vững ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng phòng vé ở Mỹ trong suốt hai tuần. Năm 2008, The Terminator đã được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đưa vào Viện lưu trữ phim quốc gia để bảo tồn với lí do là bộ phim “nổi bật ở phương diện văn hóa, lịch sử, và mĩ học”.                          

Blade Runner (1982)

Không may mắn như The Terminator, Blade Runner của đạo diễn Ridley Scott là một tuyệt tác có số phận khá hẩm hiu khi vừa ra đời. Tuy nhiên, qua nhiều thập kỉ với những bản dựng khác nhau, tác phẩm này đã trở thành một tượng đài lớn của thể loại sci-fi.

Dựa trên tiểu thuyết gốc Do Androids Dream Of Electric Sheep? của nhà văn Philip K. Dick, Blade Runner vẽ nên viễn cảnh ảm đạm của thế giới vào năm 2019. Khi đó, thế giới tràn ngập những replicant – người máy có hình dạng giống con người, được tạo ra với vòng đời ngắn ngủi để làm những công việc nguy hiểm phục vụ cho con người. Một nhóm replicant bất mãn trước việc này đã làm một cuộc phản loạn, quay trở về Trái Đất và giết con người. Rick Deckard, một cảnh sát đã nghỉ hưu ở Los Angeles nhận nhiệm vụ phải truy lùng và tận diệt toàn bộ nhóm replicant nổi loạn này.

Blade Runner là sự pha trộn giữa sci-fi, trinh thám và phim noir – thể loại phim hình sự tội phạm mang đậm phong cách Hollywood, thường thể hiện thái độ hoài nghi, mỉa mai. Thông qua hành trình của Rick Deckard, bộ phim đặt ra nhiều câu hỏi triết học về tính người, thế nào là một con người.

Nhưng không chỉ sâu sắc về nội dung, Blade Runner còn là bữa tiệc chiêu đãi về thị giác qua cách bộ phim thể hiện không gian đô thị tương lai với những màn hình quảng cáo lớn, đèn neon luôn lấp lánh và đường phố lúc nào cũng nhộn nhịp. Cảm hứng thị giác của phim kết hợp từ những bức tranh cổ điển của danh họa Edward Hopper và các khu phố với những tòa nhà chọc trời ở Hong Kong. Sự kết hợp này đã tạo nên không gian thị giác ấn tượng của phim khi con người bị nhấn chìm trong công nghệ. Mĩ thuật của phim tạo ảnh hưởng lớn đến cách xây dựng không gian cho những phim sci-fi hay hành động của Hollywood ra đời sau đó như: The Matrix (1999), bộ ba Dark Knight (2005 – 2012) của đạo diễn Christopher Nolan, Ghost in the Shell (2017)…

Ngày nay, Blade Runner đã có một chỗ đứng không thể thay thế trong dòng phim sci-fi với nhiều ảnh hưởng mang tính định hình về mĩ thuật, tư duy về cách kể chuyện và nhân vật. Blade Runner 2049 – phần tiếp theo của phim ra đời vào năm 2017, đúng 35 năm kể từ phần đầu tiên đã không làm người hâm mộ thất vọng với điểm số trên Rotten Tomatoes lên đến 88%.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Trà chiều

Hai tác phẩm định hình dấu ấn cá nhân của đạo diễn James Cameron và Christopher Nolan

Published

on

Đạo diễn James Cameron và đạo diễn Christopher Nolan đều là những cá nhân kiệt xuất trong ngành điện ảnh với nhiều bộ phim kinh điển vừa đạt được doanh thu khủng, vừa có giá trị nghệ thuật cao.

Tuy nhiên, khi nhắc đến hai vị đạo diễn tài danh này, có hai tác phẩm đặc biệt mà người hâm mộ điện ảnh không thể nào bỏ lỡ.Hãy cùng Bookish khám phá những dấu ấn đặc trưng cá nhân của đạo diễn James Cameron trong Avatar và của đạo diễn Christopher Nolan trong Inception.  

Avatar (2009)

Năm 2009, bộ phim sci-fi Avatar của đạo diễn James Cameron ra đời đã tạo nên bước ngoặt lớn cho sự phát triển công nghệ điện ảnh. Lần đầu tiên, cả thế giới được xem một bộ phim 3D. Kĩ thuật thị giác đột phá đã khiến trải nghiệm của phim cực kì sống động.

Vào năm 2154, nguồn tài nguyên Trái đất trở nên cạn kiệt dưới sự khai thác của con người dẫn đến khủng hoảng năng lượng. Lúc bấy giờ, tập đoàn RDA đang khai thác unobtanium – một loại khoáng sản có giá trị tại Pandora, một hành tinh tươi tốt mang sự sống giống Trái Đất nhưng lại có bầu khí quyển độc hại cho con người. Pandora là nơi sinh sống của người Na'vi da xanh, có hình dáng và trí óc giống con người. Để tìm hiểu về người Navi và sinh quyển ở Pandora, các nhà khoa học sử dụng cơ thể người lai Na’vi gọi là các Avatar, được hoạt động thông qua liên kết thần kinh với những người có kiểu gen phù hợp. Jake Sully là một cựu lính thủy quân được giao nhiệm vụ trà trộn vào hành tinh Pandora. Quá trình thực hiện nhiệm vụ đã khiến anh bị giằng xé giữa việc tuân theo mệnh lệnh hay bảo vệ xứ sở mà anh đã trót xem là quê nhà.

Đạo diễn James Cameron đã mất đến 15 năm để thực hiện Avatar từ lúc bộ phimcòn là ý tưởng năm 1994 cho đến khi ra đời năm 2009. Sở dĩ bộ phim mất nhiều thời gian như vậy là do Cameron không chỉ trau chuốt về mặt nghệ thuật mà còn cả kĩ thuật: từ công đoạn làm việc với chuyên gia ngôn ngữ để tạo ra tiếng Na’vi với hơn 1000 từ, cho đến việc tạo ra kĩ thuật 3D. Sự kì công này khiến Avatar chiều lòng được cả khán giả đại chúng lẫn giới hàn lâm. Avatar luônđứng đầu danh sách phim ăn khách nhất mọi thời đại với doanh thu lên đến 2,7 tỉ USD, và chỉ bị Avengers: Endgame vượt mặt vào năm 2019 sau suốt 10 năm thống trị bảng vàng.            

Avatar 3 dự kiến sẽ ra mắt vào năm 2025, tiếp tục hứa hẹn mang đến những thành tích khủng trong tương lai. 

James Cameron

Inception (2010)

Hầu như những bộ phim của đạo diễn Christopher Nolan đều có các yếu tố như: du hành thời gian, tìm hiểu bản chất thế giới… khiến người xem vừa rối não lẫn rối lòng. Và Inception chính là một tác phẩm hội tụ đủ các yếu tố làm nên thương hiệu Nolan, trở thành một tượng đài khó quên trong lòng người hâm mộ.

Inception là một trải nghiệm điện ảnh đáng nhớ khi Nolan cố gắng hình tượng hóa kiến trúc tư duy của con người, biến tiềm thức trở thành không gian vật lí cho các hoạt động đánh cắp được diễn ra. Bộ phim kể về một tên trộm có khả năng đi vào giấc mơ của người khác. Dom Cobb không trộm gì cả, anh chỉ trộm ý niệm. Bằng việc thâm nhập vào tiềm thức của đối tượng, anh có thể lấy thông tin mà đến cả những tay hacker sừng sỏ nhất cũng không thể làm được. Trong thế giới điệp viên, Cobb là vũ khí tối thượng. Nhưng kể cả vũ khí cũng có nhược điểm, khi Cobb gần như mất tất cả mọi thứ, anh được giao một nhiệm vụ cuối cùng để chuộc lỗi. Lần này, Cobb không gặt lấy ý niệm, anh gieo nó. Liệu anh và đồng đội có thành công?

Christopher Nolan

Inception có một kịch bản hoàn hảo, từng thế giới giấc mơ xuất hiện trong phim vừa chính xác, tinh tế, đôi khi lại hài hước. Thời gian là chủ đề yêu thích của Nolan và ông luôn tìm được cách thể nghiệm thú vị, có thể thấy rõ điều này qua cả phim InterstellarDunkirk. Nhưng trong Inception, thời gian không chỉ là chủ đề mà còn là công cụ kể chuyện khi tái hiện lại hoàn hảo nỗi ám ảnh của kẻ cắp giấc mơ. Từ đó, bộ phim đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa: liệu rằng ta có đang sống trong thời gian thực, khi nào thì một giấc mơ trở thành thực tế, khi nào thì thực tế hóa ra lại chỉ là một giấc mơ, ta đang thức hay còn mơ?

Thông qua Inception, Nolan lồng ghép rất nhiều khái niệm về sự logic giấc mơ, đảo ngược các nguyên tắc vật lí, cho thấy những thực tại có thể vỡ vụn ra sao… Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo thành một tác phẩm sci-fi tâm lí đỉnh cao mà có lẽ nhiều thập kỉ sau, vẫn còn khiến người ta trầm trồ.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng