Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 2 “Lưỡng Giới” – Jeffrey Eugenides

“Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên?”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Lưỡng giới

Tác giả: Jeffrey Eugenides

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: tháng 7.2019

Đọc Chương 1.

MAI MỐI

Khi câu chuyện này được lan truyền ra cả thế giới, biết đâu tôi sẽ trở thành kẻ lưỡng tính nổi tiếng nhất trong lịch sử.

Trước tôi đã có nhiều người khác. Alexina Barbin học trường nội trú nữ ở Pháp trước khi trở thành Abel. Cô để lại cuốn tự truyện mà triết gia Michel Foucault phát hiện ra trong tài liệu lưu trữ của Ban Vệ sinh Công cộng Pháp. (Các tập hồi ký, kết thúc trước khi cô tự sát ít lâu, không khiến người đọc thấy thỏa mãn, và chính sau khi đọc xong chúng nhiều năm trước mà tôi nảy ra ý tưởng viết hồi ký.)1 Gottlieb Göttlich, sinh năm 1798, sống với tên Marie Rosine cho tới năm ba mươi ba tuổi. Một ngày do bị đau bụng Marie tới khám bác sĩ. Bác sĩ kiểm tra xem cô có bị thoát vị không thì phát hiện cô bị tinh hoàn ẩn2. Kể từ đó, Marie mặc quần áo đàn ông, lấy tên là Gottlieb, rồi kiếm bộn tiền bằng việc đi vòng quanh châu Âu cho các bác sĩ săm soi mình.

Cứ theo mấy ông bác sĩ thì tôi còn hay ho hơn Gottlieb nhiều. Xét dưới khía cạnh hoóc môn của bào thai ảnh hưởng lên hóa học thần kinh và mô học, não tôi là não đàn ông. Nhưng tôi được nuôi nấng theo kiểu con gái. Nếu bạn định làm thí nghiệm kiểm tra mức độ ảnh hưởng của tự nhiên so với môi trường nuôi dưỡng, đời tôi là một thử nghiệm hoàn hảo. Trong khoảng thời gian tôi ở Phòng khám gần ba thập kỷ trước, bác sĩ Luce cho tôi làm không biết bao nhiêu xét nghiệm. Tôi được cho làm Xét nghiệm Khả năng Ghi nhớ Hình ảnh Benton và Xét nghiệm Thị giác-Vận động Cấu trúc Hình thức Bender. Chỉ số IQ về mặt ngôn ngữ của tôi được đo, cùng vô số thứ khác nữa. Luce thậm chí còn phân tích kiểu viết văn của tôi để xem tôi viết thẳng mạch theo kiểu đàn ông, hay vòng vèo theo kiểu đàn bà.

Tất cả những gì tôi biết là thế này: mặc cho bộ não bị tràn ứ hoóc môn nam, vẫn có một sự lòng vòng nữ tính bẩm sinh trong câu chuyện mà tôi buộc phải kể. Trong bất cứ lịch sử nào về di truyền. Tôi là mệnh đề cuối trong một câu ghép có mệnh đề phụ đứng trước, mà cái câu đó bắt đầu từ lâu lắm rồi, trong một ngôn ngữ khác, nên bạn phải đọc từ đầu thì mới hiểu được đoạn cuối, chính là sự ra đời của tôi.

Thành thử giờ đây, khi đã được sinh ra, tôi sẽ tua ngược phim, để cái chăn màu hồng bay mất, cái cũi vút lại qua sàn nhà trong khi dây rốn được nối lại, và tôi gào lên trong khi bị hút ngược lại vào giữa hai chân bà bô. Bà lại béo ú. Rồi quay trở lại nữa khi cái thìa ngừng đong đưa và cặp nhiệt độ vào lại hộp nhung. Vệ tinh Sputnik đuổi theo luồng sáng sau đuôi về lại bệ bắn và bệnh bại liệt rình rập vùng đất này. Vụt qua hình ảnh ông bô tôi hồi hai mươi tuổi chơi kèn clarinet, thổi một bản nhạc của nghệ sĩ Artie Shaw3 vào điện thoại, rồi ông ở nhà thờ, lúc tám tuổi, choáng váng vì giá tiền nến thánh; tiếp theo là ông nội tôi giật tờ hóa đơn đầu tiên thanh toán bằng tiền đôla Mỹ ra khỏi máy tính tiền hồi năm 1931. Rồi ra khỏi nước Mỹ hoàn toàn; chúng ta ở giữa đại dương, nhạc phim nghe ngồ ngộ khi chơi ngược lại. Một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước xuất hiện, và trên boong tàu xuồng cứu hộ đang rung lắc rất kỳ quặc; nhưng rồi tàu về lại bến, đuôi tàu trước, và chúng ta lại lên đất liền, nơi bộ phim bắt đầu chiếu, từ đầu…

Cuối mùa hè năm 1922, bà Desdemona Stephanides của tôi không dự báo chuyện sinh nở mà chết chóc, cụ thể là cái chết của chính mình. Bà đang ở trong trại nuôi tằm, tít trên sườn núi Olympus ở Tiểu Á, thì tim bà, không hề cảnh báo trước, lỡ một nhịp. Cảm giác rất rõ rệt: bà thấy tim mình ngừng đập rồi co siết lại. Rồi khi bà sững cả người ra thì nó bèn hối hả phi, thình thịch trên sườn. Bà khẽ rên lên ngỡ ngàng. Hai mươi nghìn con tằm, nhạy cảm với cảm xúc con người, ngừng kéo kén. Nhíu mắt dưới ánh sáng mờ mờ, bà tôi nhìn xuống thấy vạt áo bay phấp phới; trong khoảnh khắc đó, khi nhận ra cú nổi loạn trong người, từ lúc đấy cho đến cuối đời, Desdemona trở thành người ốm dặt dẹo bị cầm tù trong một cơ thể khỏe mạnh. Tuy nhiên, không chịu tin mình chả bị làm sao, tim đã im ổn trở lại cũng mặc, bà bước ra khỏi trại tằm trông xuống lần cuối cùng cái thế giới mà bà sẽ không rời bỏ trong năm mươi tám năm tiếp theo.

Bên ngoài cảnh đẹp hùng vĩ. Cố đô Bursa của đế chế Ottoman nằm ba trăm mét bên dưới, như một bảng cờ thỏ cáo trải qua thung lũng xanh rờn. Những ô hình thoi đỏ của mái nhà gạch ăn khớp với những hình thoi trắng trên nền nước vôi tường trắng. Đây đó, mộ các sultan nhấp nhô như các quân chip đánh bạc màu rực rỡ. Cái hồi năm 1922, ôtô còn chưa làm tắc phố phường. Thang kéo dân trượt tuyết còn chưa cắt phạm vào rừng thông trên núi. Các thể loại nhà máy luyện kim và dệt không réo ầm cả thành phố, làm không khí mù khói. Trông Bursa – ít nhất từ trên cao ba trăm mét – hệt như xưa, sáu thế kỷ trước, một thành phố thiêng liêng, bãi tha ma của dân Thổ Ottoman và trung tâm giao thương lụa, những con phố yên ắng, thoai thoải ken dày tháp giáo đường với cây bách. Những viên ngói trên Thánh đường Green Mosque4 theo năm tháng càng xanh thẫm hơn, nhưng chỉ có thế thôi. Tuy vậy, đứng từ xa chầu rìa vào, Desdemona Stephanides nhìn xuống bàn cờ và thấy được thứ mà các cờ thủ đã bỏ qua.

Dùng phân tâm học mà đọc vị cái bệnh đánh trống ngực của bà tôi thì nó như thế này: đây là biểu hiện của nỗi đau buồn. Cha mẹ bà đã chết – bị giết trong cuộc chiến gần đây với quân Thổ. Quân đội Hy Lạp, được các nước Đồng minh khuyến khích, xâm chiếm phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1919, giành lại vùng lãnh thổ của Hy Lạp từ thời xa xưa ở Tiểu Á. Sau nhiều năm sống tách biệt mãi trên núi cao, người dân Bithynios, làng bà tôi, đã xuất đầu lộ diện trong vùng an toàn của Megale Idea – Tư tưởng Lớn, giấc mơ về một Đại Hy Lạp5. Quân đội Hy Lạp đóng chiếm Bursa vào thời điểm này. Cờ Hy Lạp bay phấp phới trên cung điện trước đây của Ottoman. Quân Thổ và thủ lĩnh, Mustafa Kemal6, rút về Angora ở phía Đông. Lần đầu tiên trong đời, dân Hy Lạp ở Tiểu Á thoát khỏi ách thống trị của quân Thổ. Những người không theo đạo Hồi (“những con chó ngoại đạo”) không còn bị cấm mặc quần áo sáng màu hay cưỡi ngựa hay dùng yên cương7. Không bao giờ còn chuyện như mấy thế kỷ qua, bọn quan lại Ottoman hằng năm vào làng bắt trai tráng khỏe mạnh nhất đi phục dịch trong quân đội Thổ. Giờ đây, khi đàn ông trong làng mang lụa đi bán ở chợ ở Bursa, họ là người Hy Lạp tự do, ở một thành phố Hy Lạp tự do.

Tuy vậy, Desdemona vì thương nhớ mẹ cha nên vẫn bị cầm tù trong quá khứ. Thế là bà đứng trên núi, nhìn xuống thành phố đã được giải phóng, và thấy như bị lừa bởi chả thấy sung sướng như mọi người. Nhiều năm sau, lúc góa bụa, khi đã trải qua một thập kỷ trên giường cố hết sức bình sinh để chết đi, cuối cùng bà cũng chịu thừa nhận rằng hai năm giữa chiến tranh nửa thế kỷ trước là thời gian đẹp đẽ duy nhất trong đời bà; nhưng đến lúc đó thì những ai bà quen biết đã chết sạch cả rồi và bà chỉ còn nói được điều này với cái tivi.

Gần một tiếng đồng hồ qua Desdemona cố làm việc trong trại tằm để bơ đi linh cảm của mình. Bà đi ra cửa sau nhà, qua giàn nho thơm ngọt, rồi băng qua mảnh sân vườn bậc thang đi vào túp lều thấp lợp rơm. Mùi ấu trùng hăng sè trong lều không làm bà khó chịu. Trại tằm là ốc đảo riêng bốc mùi nồng nặc của bà tôi. Khắp chung quanh bà, dưới một khoảnh trời, những chú tằm trắng mềm mại bám chặt vào những bó cành dâu con con. Desdemona ngó chúng dệt kén, đầu lúc lắc như theo điệu nhạc. Bà ngắm chúng mà quên đi cái thế giới đảo điên với bao biến động ngoài kia, với cái thứ âm nhạc mới kinh khủng (vài phút nữa thôi sẽ được xướng lên). Rồi bà nhớ lại lúc mẹ mình, Euphrosyne Stephanides, cũng đúng ở cái trại tằm này nhiều năm trước, tiết lộ bí mật về tằm – “Muốn được lụa tốt thì con phải tinh khiết,” bà thường bảo con gái. “Tằm nó biết cả đấy. Cứ nhìn chất lượng lụa của một người là biết ngay họ đã làm gì” – rồi cứ thế, Euphrosyne tuôn ra ví dụ – “Maria Poulos, cái con bạ thằng nào cũng giạng chân ấy? Con thấy kén tằm của nó chưa? Vết nhơ cho loài người. Lần tới nhìn thử mà xem” – lúc đó Desdemona mới mười một mười hai gì đó và tin sái cổ từng lời mẹ bảo, thành thử giờ đây, khi đã là một thiếu nữ hai mươi mốt tuổi, bà vẫn không tài nào bác bỏ sạch trơn những câu chuyện răn dạy đạo đức của mẹ, cứ săm soi các kén tằm tìm dấu hiệu ô uế của chính mình (những giấc mơ hằng đêm gần đây!). Bà cũng tìm xem ở chúng có gì khác nữa không, bởi mẹ bà cũng bảo rằng tằm phản ứng với những biến cố hung bạo trong lịch sử. Sau mỗi trận tàn sát, ngay cả một làng ở cách xa năm mươi dặm, tơ tằm đều biến thành màu đỏ máu hết – “Mẹ đã thấy chúng rỉ máu tựa như chính đôi chân Chúa Jesus đấy,” lại là lời Euphrosyne. Thế là nhiều năm sau con gái bà vẫn nhớ mà nhíu mắt dưới ánh đèn mờ để xem có kén tằm nào biến thành màu đỏ không. Bà kéo một khay tằm ra mà lắc lắc; bà lại kéo khay khác ra; đúng lúc đó bà thấy tim mình ngừng đập, siết chặt lại, rồi thoi vào bà từ bên trong. Bà làm rơi cái khay, nhìn vạt áo bay phấp phới do lực từ bên trong và hiểu rằng tim mình hoạt động theo chỉ dẫn của riêng nó, rằng bà không có quyền điều khiển nó, hay quả thực cũng không có quyền điều khiển bất cứ thứ gì khác.

Vậy là yia yia của tôi, bị căn bệnh tưởng đầu tiên, đứng dòm xuống Bursa như thể biết đâu tìm được một điểm hữu hình khẳng định cho nỗi sợ vô hình. Thế rồi điểm ấy đến dưới dạng âm thanh, từ trong nhà: em trai bà, Eleutherios (“Lefty8”) Stephanides, bắt đầu cất tiếng hát. Bằng một thứ tiếng Anh không hiểu nổi, phát âm sai be bét:

“Sáng sáng chiều chiều vui hem em ây,” Lefty hát, cứ chiều chiều đúng vào giờ này, đứng trước gương phòng ngủ, ông cài cổ áo bằng xen-lu-lô vào sơmi trắng mới, bóp chút sáp thơm (hương chanh) vào gan bàn tay rồi bôi lên mái tóc kiểu Valentino9 mới cắt. Đoạn hát tiếp: “Giờ này giờ nọ vui hem em ây.” Ông cũng chẳng hiểu lời bài hát, nhưng chỉ cần nhạc điệu là đủ. Nó kể với Lefty về thời đại nhạc jazz phóng túng, những món cốc tai rượu gin, về những em gái bán thuốc lá trong sòng bạc. Nó khiến ông vuốt ngược tóc rất kiểu cách… trong khi, ngoài sân, Desdemona nghe tiếng hát mà phản ứng khác hoàn toàn. Với bà, bài hát chỉ gợi đến những quán rượu tai tiếng em trai bà tạt vào khi xuống thành phố, những quán rượu nhỏ hút thuốc hasit nơi người ta chơi nhạc rebetiko với nhạc Mỹ và nơi bọn gái đĩ hát… khi Lefty mặc bộ vét kẻ sọc mới và gấp khăn mùi soa để túi màu đỏ tiệp với cà vạt đỏ… bà thấy chộn rộn trong người, nhất là ở bụng, cuộn lên bức bối vì đủ các thể loại xúc cảm phức tạp, buồn đau, giận dữ, và gì đó nữa bà không định rõ được nhưng lại làm lòng bà tan nát nhất. “Tiền nhà chưa trả, xe thì chưa tậu, cưng ây,” Lefty ngâm nga bằng giọng tenor ngọt ngào mà sau này tôi được thừa hưởng; còn dưới tiếng nhạc giờ đây Desdemona lại nghe thấy giọng mẹ mình, lời trăn trối của Euphrosyne Stephanides thốt ra ngay trước khi chết vì bị trúng đạn, “Săn sóc Lefty nhé. Hứa với mẹ đi. Tìm vợ cho nó!”… còn Desdemona, giàn giụa nước mắt trả lời, “Con hứa. Con hứa!”… tất cả những giọng này cùng một lúc cất lên trong đầu Desdemona khi bà băng qua sân vào nhà. Bà đi qua cái bếp tin hin nơi bà nấu bữa tối (cho một người) và tiến thẳng vào phòng ngủ dùng chung với thằng em. Ông vẫn đang hát – “Xèng thì chả mấy, nhưng cưng ây” – và cài măng séc, rẽ tóc; nhưng rồi ông ngước lên thấy chị gái mình – “Em ây có” – giờ thì rất khẽ – “vui” – rồi rơi vào im lặng.Trong một khoảnh khắc cái gương soi khuôn mặt hai người. Hai mươi mốt tuổi, rất lâu trước khi đeo hàm răng giả không khít mồm rồi lâm vào ốm đau bệnh tật do tự chuốc, bà tôi khá đẹp. Tóc đen dài tết bím bó lại dưới khăn trùm đầu. Những bím tóc này không mỏng mảnh như bé gái mà rất nặng và nữ tính, có sức mạnh tự nhiên, như đuôi hải ly. Bao năm tháng, bao mùa màng, bao loại thời tiết đã tích lũy vào những bím tóc này; tối tối khi tháo bím ra, tóc xõa xuống ngang hông bà. Lúc này, bím tóc được buộc bằng nơ lụa đen, nom càng ấn tượng hơn, nếu ta được nhìn thấy, mà trên thực tế thì không nhiều người lắm. Thứ dành cho người lạ thưởng lãm là khuôn mặt Desdemona: cặp mắt to âu sầu, nước da trắng hồng rạng rỡ. Tôi cũng nên nhắc tới, với chút đau nhói còn sót lại của đứa con gái từng có bộ ngực phẳng lỳ trước sau như một, cái thân hình đầy đặn khêu gợi của Desdemona. Cơ thể bà khiến bà xấu hổ không dứt. Nó lúc nào cũng phô bày bản thân theo cái lối mà bà không cho phép. Trong nhà thờ khi quỳ gối, trong sân khi đập thảm, dưới cây đào khi hái quả, những nét đàn bà của Desdemona thoát ra khỏi những câu thúc của những bộ quần áo nâu xám giản dị. Bên trên cái cơ thể cứ luôn nhún nhảy tưng tưng kia, khuôn mặt trùm khăn tách biệt hẳn ra, ngó xuống có phần khiếp đảm ý đồ của bọn hông với ngực.

Eleutherios thì lại cao với gầy hơn. Trong những bức ảnh chụp hồi đó trông ông giống mấy nhân vật giới đầu trộm đuôi cướp mà ông ngưỡng mộ, những tên trộm cướp với đánh bạc để một lớp ria mỏng tụ tập đầy những quán rượu ven biển ở Athens và Constaninople. Mũi khoằm, mắt sắc lẹm, toàn thể mặt ông nom tựa chim ưng. Tuy vậy, khi ông mỉm cười, ta thấy nét dịu dàng trong ánh mắt, khiến ta thấy rõ thực tình thì Lefty chả phải tay găngxtơ anh chị gì mà chỉ là cậu ấm mọt sách con nhà phong lưu được nuông chiều.

Cái buổi chiều mùa hè năm 1922 ấy, Desdemona không nhìn vào mặt em trai. Mắt bà lướt xuống cái áo vét, mái tóc bóng loáng, cái quần kẻ, khi bà cố tìm hiểu thằng em trong vài tháng qua trở chứng gì.

Lefty nhỏ hơn Desdemona một tuổi và bà thường tự hỏi làm thế nào mình sống qua mười hai tháng đầu tiên đó mà không có ông. Theo những gì bà còn nhớ được thì lúc nào ông cũng nằm bên kia cái chăn lông dê ngăn hai giường. Đằng sau tấm kelimi, ông biểu diễn múa rối, biến tay mình thành ông Karaghiozis10 lưng gù khôn ngoan luôn đánh lừa bọn Thổ. Trong bóng tối, ông bịa thơ thiếc rồi hát hò, nên một trong những lý do bà ghét cái thứ nhạc Mỹ mới lạ kia là vì ông chỉ hát cho mỗi mình ông nghe. Desdemona luôn yêu em với thứ tình yêu mà chỉ một cô chị gái từ bé đến lớn sống trên núi mới dành cho cậu em: ông là nguồn khuây khỏa duy nhất, bạn thân và người tâm tình, chiến hữu cùng khám phá ra những lối đi tắt và các am thầy tu. Hồi còn nhỏ, mối đồng cảm mà bà dành cho Lefty tuyệt đối đến nỗi đôi lúc bà quên mất họ là hai con người tách biệt. Lúc còn bé, họ lạch bạch đi bên sườn núi như một sinh vật hai đầu bốn chân. Bà quá quen mui bén mùi với cái bóng song sinh dính liền hắt lên ngôi nhà quét vôi trắng vào buổi tối, nên mỗi khi bắt gặp cái bóng lẻ loi của mình, bà cảm giác như nó đã bị cắt ra làm đôi vậy.

Thời bình dường như thay đổi mọi thứ. Lefty triệt để tận dụng những tự do mới mẻ. Riêng tháng rồi ông đã xuống Bursa tổng cộng mười bảy lần. Ông ngủ lại qua đêm đến ba lần ở quán trọ Kén Tằm đối diện Thánh đường Sultan Ouhan. Một sáng nọ ông ra khỏi nhà đi bốt, tất đến đầu gối, mặc quần ống túm, áo doulamas, với áo vét rồi tận tối hôm sau mới mò về nhà thì lại mặc bộ vét kẻ sọc, nơ lụa thắt ở cổ như ca sĩ opera còn đầu đội mũ quả dưa. Còn có những thay đổi khác nữa. Ông bắt đầu tự học tiếng Pháp từ cuốn sổ tay đàm thoại nhỏ màu mận. Ông nhiễm những điệu bộ giả tạo, đút tay vào túi lắc lắc tiền xu chẳng hạn, hay ngả mũ chào. Khi Desdemona giặt quần áo, bà tìm thấy nhiều mẩu giấy chi chít số má trong túi Lefty. Quần áo ông xộc mùi khói thuốc, xạ hương, thỉnh thoảng cả hương thơm nữa.

Lúc này đây trong gương, khuôn mặt sáp vào nhau của họ không thể che đậy được sự thật là họ đang tách dần nhau ra. Rồi bà tôi, nỗi âu sầu vỡ òa ra thành tiếng sấm rền trong tim, nhìn em trai như từng nhìn cái bóng mình mà thấy thiếu vắng một điều gì đó.

“Đi đâu mà diện thế?”

“Chị nghĩ em đi đâu chứ? Xuống Koza Han. Bán kén tằm.”

“Em vừa mới đi hôm qua còn gì.”

“Đang mùa mà.”

Cầm cái lược đồi mồi, Lefty rẽ tóc sang bên phải, thêm sáp thơm để bắt một lọn tóc cứng đầu phải ẹp xuống.

Desdemona lại gần hơn. Bà cầm sáp thơm lên hít hít. Quần áo ông không phải mùi này. “Ở dưới đó em còn làm những chuyện gì nữa?”

“Làm gì đâu.”

“Mấy lần liền em còn ở lại qua đêm.”

“Đường xa mà. Cuốc bộ xuống tới nơi trời tối mất rồi còn gì.”

“Em hút cái gì ở mấy quán rượu đó?”

“Trong ống shisha có gì thì hút cái đó. Chuyện tế nhị ai lại hỏi.”

“Bố mẹ mà biết em hút thuốc với uống rượu thế này…” lời bà truội dần đi.

“Bố mẹ đâu có biết được đâu?” Lefty nói. “Nên em chả việc gì nhá.” Cái giọng bông lơn cợt nhả của ông không đáng tin. Lefty cư xử như thể đã nguôi ngoai sau khi cha mẹ chết, nhưng Desdemona thì đi guốc trong bụng ông. Bà mỉm cười nghiêm nghị với em trai, rồi chả nói chả rằng mà giơ nắm tay ra. Vẫn ngắm mình trong gương, Lefty cũng tự động chìa nắm tay ra. Họ cùng đếm, “Oẳn tù tì ra cái gì ra cái… này!”

“Đá đập kéo. Chị thắng,” Desdemona nói. “Vậy kể chị nghe đi.”

“Chuyện gì?”

“Kể chị nghe dưới Bursa có gì hay ho thế.”

Lefty lại hất tóc tới trước rồi rẽ sang trái. Ông nhoài tới nhoài lui cái đầu trong gương. “Đằng nào đẹp hơn? Trái hay phải?”

“Để chị xem.” Desdemona cẩn thận giơ tay lên rồi vò nát tóc Lefty.

“Này!”

“Em muốn tìm gì ở dưới Bursa hả?”

“Để em yên.”

“Nói chị nghe đi!”

“Chị muốn biết à?” Lefty nói, bắt đầu cáu tiết với bà chị. “Chị nghĩ em muốn gì?” Bị dồn nén bấy lâu ông phun ra. “Em muốn một đứa con gái.”

Desdemona ôm lấy bụng, vỗ lên ngực mình. Bà lùi lại hai bước rồi đứng đó ngó thằng em bằng một ánh mắt khác. Trong đầu bà chưa bao giờ nảy ra cái ý nghĩ rằng Lefty, cặp mắt với đôi lông mày giống hệt bà kia, ngủ trên giường cạnh giường bà kia, lại bị một thứ dục vọng như thế ám ảnh. Mặc dù trưởng thành về mặt thể xác, Desdemona vẫn còn lạ lẫm với cơ thể mình. Đêm đêm trong phòng ngủ, bà từng thấy thằng em đang ngủ nằm ép sát vào nệm thừng như thể giận dữ với nó. Khi còn nhỏ, bà bắt gặp ông trong trại tằm, đang ngây thơ cọ cọ vào cái trụ gỗ. Nhưng những chuyện đó không để lại ấn tượng gì. “Em đang làm gì thế?” bà hỏi Lefty, hồi đó tám hay chín tuổi, đang siết chặt cái trụ, dịch đầu gối lên xuống. Bằng một giọng đều đều cương quyết, ông trả lời, “Em đang cố có cảm giác đó.”

“Cảm giác gì?”

“Chị biết mà” – càu nhàu, thở hắt ra, đầu gối đưa lên đưa xuống – “cái cảm giác đó.”

Nhưng bà không biết. Mãi nhiều năm sau này Desdemona khi đang cắt dưa chuột vô tình tựa vào góc bàn ăn, tựa mạnh hơn một chút, rồi sau đó vô thức đứng cái tư thế đó mỗi ngày, góc bàn ăn rúc giữa hai chân bà. Giờ đây lúc chuẩn bị bữa ăn cho em, thi thoảng bà lại thực thi thói quen cũ với cái bàn, nhưng không hề ý thức được. Chính cơ thể bà làm chuyện đó, với sự gian giảo và âm thầm của các cơ thể khắp thế gian.

Những chuyến đi xuống thành phố của em trai bà thì lại khác hẳn. Rõ ràng ông biết mình đang tìm kiếm cái gì; ông hiểu rất rõ cơ thể mình. Trí óc với cơ thể ông quyện thành một khối, suy nghĩ cùng một chuyện, chăm chăm một nỗi ám ảnh, và lần đầu tiên Desdemona không hiểu được suy nghĩ đó. Tất cả những gì bà biết là nó chẳng liên quan gì tới bà.

Nó khiến bà phát điên. Mà tôi ngờ cả hơi chút ghen tị nữa. Chẳng phải bà là bạn thân nhất của ông sao? Chẳng phải lúc nào họ cũng kể mọi thứ với nhau sao? Chẳng phải đích thân bà làm mọi thứ cho ông, nấu ăn, khâu vá, săn sóc nhà cửa như mẹ họ ngày xưa sao? Chẳng phải chính bà một tay đảm đương việc nuôi tằm để ông, đứa em nhỏ sáng dạ, được đi học đi hành tiếng Hy Lạp cổ chỗ linh mục đó ư? Chẳng phải chính bà bảo, “Sách vở học hành em lo đi, chị lo trại tằm cho. Em chỉ phải làm mỗi một việc là đem kén tằm đi chợ bán thôi.” Rồi khi ông bắt đầu la cà dưới thành phố, bà có càm ràm gì không? Bà có nhắc gì đến mấy mẩu giấy, hay đôi mắt đỏ ngầu, hay cái mùi xạ thơm ngòn ngọt trên quần áo ông không? Desdemona ngờ rằng thằng em mơ mộng đã trở thành con nghiện hasit. Nơi nào có nhạc rebetiko là y như rằng có hasit. Lefty đang chống chọi với cái chết của cha mẹ theo cách duy nhất ông biết, đó là ngụp lặn trong khói thuốc hasit mà nghe cái thứ nhạc sầu đời nhất hạng. Desdemona hiểu tất cả những chuyện này nên không càm ràm gì cả. Nhưng giờ đây khi bà thấy thằng em cố thoát khỏi nỗi buồn bằng cách mà bà không ngờ tới, thì bà không lặng thinh được nữa.

“Em muốn một đứa con gái á?” Desdemona hỏi giọng bàng hoàng. “Gái gì? Gái Thổ hả?”

Lefty chả nói chả rằng. Sau cơn bộc phát, ông bèn chải tóc tiếp.

“Chắc em muốn một đứa tì nữ. Phải không? Em tưởng chị không biết gì về bọn đĩ, mấy con poutane11 đó hả? Chị biết hết. Chị không ngu đến thế đâu. Em khoái một con phốp pháp lắc bụng vào mặt em chứ gì? Bụng béo núc ních có đeo khuyên chứ gì? Em muốn đứa như thế chứ gì? Để chị nói cho mà biết. Em có biết tại sao bọn gái Thổ lại phải đeo mạng che mặt không? Em tưởng vì tôn giáo hả? Không phải. Vì nếu không thì chả ai chịu nổi bản mặt bọn nó đâu!”

Lúc này bà quát tướng lên, “Nhục cái mặt, Eleutherios! Em bị làm sao thế hả? Sao em không kiếm một đứa ở làng mình?”

Đến lúc này thì Lefty, đang phủi bụi áo khoác, chỉ ra cho bà chị sự thật mà bà bỏ sót. “Chắc chị không nhận ra,” ông đáp, “nhưng ở cái làng này làm gì có đứa con gái nào.”

Quả tình có đúng như vậy thật. Bithynios chưa bao giờ là một làng lớn, nhưng hồi 1922 nó còn tin hin hơn bao giờ hết. Từ năm 1913, khi rệp vừng làm nho tàn lụi sạch, dân bắt đầu bỏ làng đi. Họ tiếp tục bỏ đi vào thời các cuộc chiến tranh Ban-căng12. Chị họ của Lefty và Desdemona, Sourmelina, đã đến Mỹ và giờ đây sống ở một nơi tên là Detroit. Dựng trên sườn núi thoai thoải, làng Bithynios không phải là một nơi chênh vênh trên đỉnh núi. Nó là một cụm những ngôi nhà trát vữa vàng mái đỏ tao nhã, hay ít nhất là hài hòa. Nhà to nhất, tổng cộng hai cái, có çikma – cửa sổ kính lớn xây trồi ra ngoài đường. Nhà nghèo nhất, loại này đầy, là loại chỉ có một phòng kiêm cả bếp. Rồi có những hộ như nhà của Desdemona với Lefty, có phòng khách nhét đầy đồ đạc, hai phòng ngủ, một bếp, và một vệ sinh ở sân sau có toilet kiểu châu Âu. Ở làng Bithynios không có cửa hàng, không bưu điện hay nhà băng, chỉ có một nhà thờ và một nhà hàng nhỏ. Muốn mua sắm thì phải xuống dưới Bursa, đầu tiên đi bộ, sau đó xe ngựa.

Hồi năm 1922 làng chỉ có khoảng một trăm người. Phụ nữ được gần non nửa. Trong bốn mươi bảy phụ nữ, hai mươi mốt là bà già. Hai mươi người nữa là bà nội trợ sồn sồn. Ba bà mẹ trẻ, đều có con gái còn quấn tã. Một là chị gái ông. Vậy là còn lại hai cô đến tuổi cập kê. Mà giờ đây Desdemona cuống quýt đề xuất.

“Không có con gái là sao? Cái Lucille Kafkalis đấy thôi? Nó ngoan phết. Hay cái Victoria Pappas đấy?”

“Con Lucille hôi bỏ xừ,” Lefty đáp nghe có lý. “Con đấy có khi cả năm nó tắm được một lần. Vào ngày tên thánh của nó. Còn con Victoria hả?” Ông đưa một ngón tay lên môi trên. “Ria mép con Victoria còn rậm hơn cả em. Em không muốn dùng chung dao cạo với vợ.” Nói đoạn, ông bỏ cây chổi phủi bụi quần áo xuống rồi choàng áo khoác vào. “Đừng thức đợi nhé,” ông nói rồi ra khỏi phòng ngủ. “Đi đi!” Desdemona gọi với theo sau. “Chị cần quái gì. Nhưng nhớ lấy. Khi con vợ Thổ cởi khăn ra, thì đừng có ba chân bốn cẳng mà dẫn xác về làng đấy!”

Nhưng Lefty đã bỏ đi. Tiếng bước chân của ông xa dần. Desdemona thấy thứ chất độc bí hiểm lại dâng lên trong máu. Bà không quan tâm. “Chị không thích ăn cơm một mình!” bà hét lên, với không một ai cả.

Gió từ thung lũng nổi lên, như mọi chiều. Nó thổi qua cửa sổ nhà mở toang. Nó làm cái then trên rương đựng đồ hồi môn và chuỗi hạt lo lắng13 của cha bà nằm trên đó kêu lạch xạch. Desdemona cầm chuỗi hạt lên. Bà bắt đầu lần từng hạt một qua từng ngón tay, hệt như cha bà, ông bà, và ông cố của bà từng làm, thể hiện tài lo âu chính xác bài bản và cặn kẽ đã ăn vào máu gia đình. Trong lúc các hạt va vào nhau, Desdemona mê mải ngẫm ngợi. Chúa bị làm sao ấy nhỉ? Sao Người lại mang cha mẹ đi mất để bà phải lo cho thằng em? Bà phải làm gì với nó đây? “Hút thuốc, uống rượu, giờ còn tệ hơn! Mà nó lấy tiền đâu ra cho hết thảy những trò ngu xuẩn đấy? Từ kén tằm của mình chứ đâu nữa!” Từng hạt lần qua tay là một nỗi căm giận được ghi lại rồi xả ra. Desdemona, với đôi mắt u sầu, khuôn mặt của đứa con gái buộc phải trưởng thành quá vội, lo lắng lần tràng hạt như cánh đàn ông nhà Stephanides trước và sau bà (tức là tôi cũng thế, nếu tính cả tôi vào).

Bà lại bên cửa sổ thò đầu ra ngoài, nghe gió thổi xào xạc qua hàng thông và bạch dương. Bà tiếp tục lần chuỗi hạt lo lắng rồi, từng chút một, nó làm nhiệm vụ của mình. Bà thấy dễ chịu hơn. Bà quyết định sống tiếp đời mình. Tối nay Lefty không về. Ai thèm quan tâm chứ? Ai mà cần nó chứ? Nó không bao giờ về nữa thì đời bà càng suôn sẻ hơn. Nhưng bà nợ mẹ cái trách nhiệm quản lý để thằng em không mắc thứ bệnh nhục nhã nào đó, hay tệ hơn, bỏ nhà trốn đi với một con Thổ. Các hạt tiếp tục rơi, từng hạt một, qua ngón tay Desdemona. Nhưng bà không còn đếm nỗi đau nữa. Mà giờ đây các hạt gợi đến trong đầu bà những hình ảnh trên một tạp chí được giấu kín trong cái bàn cũ của cha họ. Một hạt là kiểu tóc. Hạt tiếp theo là chiếc váy lót lụa. Hạt tiếp theo là cái coóc xê đen. Bà tôi khởi sự công tác mai mối.

Trong lúc đó, Lefty đeo túi kén tằm đang trên đường xuống núi. Khi tới thành phố, ông xuống Kapali Carsi Caddesi, rẽ ở Borse Sokak, đoạn băng qua cổng vòm vào sân chợ tằm Koza Han. Bên trong, chung quanh đài phun nước bằng đá màu xanh ngọc là hàng trăm những túi đựng kén tằm chật ních cao đến tận hông. Đàn ông tụ tập ở khắp nơi, người bán kẻ mua. Họ gào hét từ mười giờ sáng hôm đó lúc chuông mở chợ vang lên nên giọng đã khản đặc. “Giá hời đây! Hàng chất đây!” Lefty tay cầm túi len qua những lối hẹp giữa các kén tằm. Ông chưa bao giờ quan tâm đến chuyện làm ăn kiếm sống của gia đình. Ông không nhận biết được chất lượng kén tằm bằng cách ngửi hay sờ xem như chị gái. Lý do duy nhất ông mang kén tằm tới chợ là vì phụ nữ không được phép làm vậy. Phải chen lấn rồi xô đẩy bọn khuân hàng với cả bước tránh những túi kén làm ông căng thẳng. Ông nghĩ sẽ thật tuyệt biết bao nếu thiên hạ ngừng cử động một lúc, nếu họ đứng yên đó mà chiêm ngưỡng những kén tằm tỏa sáng trong bóng đêm; nhưng dĩ nhiên chẳng ai làm vậy. Họ tiếp tục gào hét rồi dí kén tằm vào mặt nhau rồi điêu toa rồi mặc cả. Cha Lefty ngày xưa rất mê buổi chợ ở Koza Han, nhưng cái máu buôn bán đó không truyền sang thằng con.

Gần dãy hành lang mái vòm Lefty gặp tay lái buôn quen. Ông giơ túi lên. Tay thương lái thọc tay vào lấy ra một cái kén. Lão nhúng vào bát nước kiểm tra. Đoạn nhúng tiếp vào cốc rượu.

“Tơ này phải xe hai lần. Chưa đủ độ dai.”

Lefty không tin nhận xét này. Tơ của Desdemona luôn là hàng hảo hạng. Ông biết lẽ ra phải quát lác, giả vờ bị xúc phạm, vờ mang hàng đi chỗ khác. Nhưng ông đến muộn; tiếng chuông đóng chợ sắp sửa vang lên rồi. Cha ông đã luôn dặn đừng có mang kén đi bán lúc cuối ngày vì như thế phải hạ giá. Lefty sởn hết cả da gà dưới bộ vét mới. Ông muốn buôn cho nhanh bán cho gọn. Lòng ông ngập tràn tủi hổ: tủi hổ cho loài người, bởi lúc nào cũng chỉ nghĩ tiền tiền, và ham lừa đảo. Không phản đối một lời ông đồng ý luôn giá lão kia ra. Ngay khi buôn bán xong xuôi, ông vội ra khỏi Koza Han lo chuyện riêng trong phố.

Đó không phải là chuyện Desdemona tưởng. Nhìn thật kỹ thì thấy Lefty, đội mũ quả dưa vẻ ngông nghênh, cuốc bộ xuống những con dốc của Bursa. Tuy vậy khi đi qua hàng cà phê, ông lại không tạt vào. Chủ quán gọi ông, nhưng Lefty chỉ vẫy tay. Ở con phố tiếp theo ông ngang qua một cửa sổ có giọng phụ nữ ới gọi, nhưng ông không hề đoái hoài, cứ thế đi tiếp qua những con phố ngoằn ngoèo, qua đám bán hoa quả và nhà hàng cho tới một con phố khác, tại đây ông bước vào nhà thờ. Chính xác hơn: một nhà thờ Hồi giáo cũ, với ngọn tháp bị đập bỏ và những câu kinh Koran khắc trên tường đã bị trát kín để tạo ra nền mới toanh cho người ta vẽ lên, ngay lúc này đây, các vị thánh Kitô giáo. Lefty đưa một đồng xu cho bà già bán nến thánh, thắp một ngọn rồi cắm thẳng xuống cát. Ông ngồi xuống một chỗ ở hàng ghế sau. Cũng giống hệt như bà bô tôi sau này cầu xin lời chỉ dẫn về việc thụ thai tôi, Lefty Stephanides, ông trẻ của tôi (kiêm cả những vai trò khác nữa) trông lên vị Chúa Ban Phước Lành đang vẽ dở trên trần nhà. Bài cầu nguyện bắt đầu bằng những lời ông học hồi bé, Kyrie eleison, Kyrie eleison14, con không xứng được tới trước ngôi Người, nhưng rồi chúng đổi dần, trở nên riêng tư hơn, con không hiểu tại sao lại cảm thấy như thế, nó không tự nhiên… rồi chuyển sang lời buộc tội nho nhỏ, cầu nguyện, Người làm con ra thế này, con đâu có cầu xin những thứ như vậy… nhưng cuối cùng thì trở nên khốn khổ, xin hãy cho con sức mạnh, Chúa ơi, đừng để con như thế này, nhỡ chị ấy mà biết được… mắt nhắm tịt, tay gập vành mũi quả dưa, những lời đó bay lên cùng khói hương trầm tới một đức Jesus-đang-vẽ-dở.

 Ông cầu nguyện năm phút. Đoạn ra ngoài, đội mũ lại lên đầu, lắc xu xủng xoẻng trong túi. Ông leo lên lại những con phố dốc thoai thoải, và lần này (trái tim được cởi bỏ gánh nặng), dừng lại ở tất cả những nơi ông đã cự tuyệt trên đường đi xuống. Ông vào quán uống cà phê rít hơi thuốc. Ông tạt vào nhà hàng làm tợp rượu ouzo. Những tay chơi cờ thỏ cáo hét gọi, “Êu, anh cắt đầu Valentino, làm ván chớ?” Ông để mình bị dụ vào chơi chỉ một ván, rồi thua thế là phải đặt gấp đôi hoặc không gì cả. (Những con tính mà Desdemona tìm thấy trong túi quần Lefty chính là nợ cá cược.) Đêm trôi đi. Rượu ouzo rót tràn trề. Nhạc công đến rồi nhạc rebetiko bắt đầu nổi lên. Họ chơi những bài hát về dục tình, cái chết, tù đày, và cuộc sống đường phố. “Ngày ngày anh ghé quán rượu ven biển hút hasit,” Lefty hát theo, “để xua đi nỗi buồn mù mịt mỗi sớm mai; Anh gặp hai em nô tì ngồi trên bãi cát; Hai nàng bé bỏng phê lòi cả thuốc, mà nom vẫn xinh đẹp lạ thường.” Trong lúc đó, shisha được nhồi đầy. Đến nửa đêm, Lefty bồng bà bồng bềnh quay ra phố.

Một con hẻm chạy xuống, rẽ, ngõ cụt. Cửa mở ra. Một khuôn mặt mỉm cười, cúi đầu chào. Chưa gì Lefty đã tọa luôn xuống xô pha cùng ba tên lính Hy Lạp, ngắm bảy cô em đẫy đà xức nước hoa ngồi trên hai chiếc xô pha đối diện. (Máy hát chạy cái bài nổi tiếng được bật khắp nơi: “Sáng sáng chiều chiều…”) Đến lúc này những lời cầu nguyện vừa rồi đã bốc hơi sạch sẽ bởi như mụ tú bà nói, “Bất kỳ em nào cưng thích, cưng à,” mắt Lefty lướt qua em người Circassia mắt xanh tóc vàng, rồi em người Armenia đang cắn quả đào lả lơi mời gọi, rồi em Mông Cổ để tóc mái; mắt ông đưa tiếp rồi dừng lại ở một em kín tiếng ngồi ở cuối xô pha, cô gái có cặp mắt âu sầu với làn da không tì vết và mái tóc đen tết bím. (“Gươm nào cũng có vỏ hết á,” tú bà nói tiếng Thổ còn bọn gái điếm cười phá lên.) Không ý thức được vì sao mình lại bị em này cuốn hút, Lefty đứng dậy, vuốt thẳng áo khoác, chìa tay ra về phía cô gái mình chọn… và chỉ khi em dẫn ông lên lầu thì một giọng trong đầu ông mới chỉ ra em này giống hệt như… mà chẳng phải nét mặt trông nghiêng rất giống… nhưng lúc này họ vào phòng với nào là ga giường bẩn thỉu, ngọn đèn dầu đỏ như máu, mùi nước hoa hồng và chân thối. Bị những giác quan tuổi trẻ làm cho mê muội, Lefty không để ý đến sự giống nhau tăng dần khi cô gái cởi bỏ quần áo. Mắt ông ngấu nghiến bộ ngực lớn, cái eo thon, mái tóc tuôn dài xuống cái xương cụt yếu đuối; nhưng Lefty không nhận thấy mối liên hệ nào. Cô gái nhồi thuốc vào shisha cho ông. Chẳng bao lâu sau ông mơ mơ màng màng, không còn nghe thấy giọng nói trong đầu nữa. Trong giấc mơ êm đềm do thuốc hasit kéo dài trong suốt nhiều giờ sau đó, ông không còn biết mình là ai, đang ở với ai. Chân tay em gái điếm trở thành chân tay một phụ nữ khác. Một vài lần ông gọi lớn một cái tên, nhưng khi đó ông phê quá không để ý. Chỉ mãi sau đó, khi tiễn ông về, em gái mới đưa ông quay lại hiện thực. “Mà này em tên là Irini nhé. Ở đây bọn em chả có ai tên Desdemona cả.”

Sáng hôm sau ông tỉnh dậy ở Quán trọ Kén tằm, ngập chìm trong những lời tự tố cáo. Ông rời khỏi thành phố, leo núi về lại làng Bithynios. Túi ông (rỗng không) không còn kêu xủng xoẻng. Đầu đau nhừ sau cơn say và ngây ngấy sốt, Lefty tự nhủ rằng chị gái mình nói đúng: đã đến lúc ông phải lập gia đình. Ông sẽ lấy quách con Lucille, hoặc con Victoria. Sinh con đẻ cái rồi thôi không đi xuống Bursa nữa rồi dần dà ông sẽ thay đổi; ông sẽ già đi; mọi thứ ông cảm thấy bây giờ sẽ tan biến thành hồi ức rồi thành hư không. Ông gật đầu; ông bèn chỉnh lại mũ.

Còn ở làng Bithynios, Desdemona đang dạy hai em bé mới vào nghề kia cách trang điểm. Trong khi Lefty vẫn đang ngủ vùi ở quán trọ Kén Tằm, bà mời Lucille Kafkalis với Victoria Pappas sang nhà chơi. Hai em này còn trẻ hơn Desdemona, vẫn ở cùng bố mẹ. Họ kính cẩn Desdemona vì bà làm chủ một gia đình. Ghen tị với sắc đẹp của bà, họ ngưỡng mộ ngắm nghía bà; hãnh diện vì được bà chú ý, họ tâm sự với bà; nên khi bà khuyên nhủ cách cải thiện vẻ ngoài, họ nghe như nuốt từng lời vàng ý ngọc. Bà bảo Lucille nên chăm tắm rửa hơn và gợi ý cô dùng giấm để khử mùi dưới cánh tay. Bà đưa Victoria đến chỗ một thím người Thổ chuyên tẩy vùng lông không mong muốn. Trong tuần tiếp theo, Desdemona dạy hai em mọi điều mà bà học được từ tạp chí sắc đẹp duy nhất mà bà từng đọc, một ca ta lô rách tơi tả tên là Đồ lót phụ nữ Paris15. Tập ca ta lô này vốn của cha bà. Nó gồm ba mươi hai trang ảnh người mẫu mặc coóc xê, xu chiêng, quần tất và dây nịt tất. Đêm đêm, khi cả nhà đã ngủ say, cha bà thường moi nó ra từ ngăn kéo bàn cuối cùng. Giờ đây Desdemona bí mật nghiên cứu tập ca ta lô, ghi nhớ những bức ảnh để sau đó tái tạo.

Bà bảo Lucille với Victoria chiều nào cũng sang chơi. Hai em bước vào nhà, đánh hông như được dạy, rồi lượn qua giàn nho nơi Lefty hay ngồi đọc sách. Mỗi lần đến họ đều mặc váy khác nhau. Hai em cũng đổi cả kiểu tóc, dáng đi, trang sức, lẫn điệu bộ. Dưới chỉ đạo của Desdemona, hai cô gái nhếch nhác tự nhân họ thành một thành phố nhỏ toàn phụ nữ, mỗi người đều có điệu cười riêng, viên đá quý riêng, bài hát yêu thích hay ngân nga. Sau hai tuần, chiều nọ Desdemona ra chỗ giàn nho hỏi em trai, “Sao lại ngồi đây? Sao không đi xuống Bursa? Chị tưởng em tìm được một em Thổ xinh xắn mà cưới rồi chứ. Hay bọn nó đứa nào cũng có ria mép như Victoria cả?”

“Kỳ quặc thật, chị nhắc đúng chuyện em đang nghĩ đấy,” Lefty nói. “Chị có để ý không? Cái Vicky sạch hết ria mép rồi. Mà chị biết gì nữa không?” giờ đứng dậy, mỉm cười – “ngay cả cái Lucille cũng bớt hôi rồi. Mỗi lần nó đến em lại ngửi thấy hương hoa thơm.” (Dĩ nhiên ông điêu. Ngoại hình hay mùi hương của hai em này chẳng hấp dẫn gì ông hơn trước kia. Tỏ ra hăng hái thế này chỉ là cách ông đầu hàng việc không thể tránh khỏi: một cuộc hôn nhân sắp đặt, đời sống gia đình, con cái – thảm họa toàn tập.) Ông lại gần Desdemona. “Chị nói chuẩn quá,” ông bảo. “Những cô gái xinh đẹp nhất trên thế gian ở ngay đây trong làng này rồi.”

Bà e thẹn nhìn lại vào mắt ông. “Thật vậy à?”

“Đôi khi ta không nhận ra thứ sờ sờ ngay trước mắt mình.”

Họ đứng đó chăm chắm ngó nhau, Desdemona bèn thấy lòng chộn rộn. Mà để giải thích cảm giác đó tôi lại phải kể cho bạn một câu chuyện khác. Trong bài diễn văn tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Khoa học Nghiên cứu Tính dục vào năm 1968 (năm đó được tổ chức ở Mazatlán giữa cơ man nào piñata16), bác sĩ Luce với tư cách chủ tịch giới thiệu khái niệm “cảm giác ngoại biên.” Bản thân từ này chả có nghĩa gì cả; Luce phịa ra để tránh mọi liên tưởng về từ nguyên. Tuy vậy, trạng thái cảm giác ngoại biên lại rất phổ biến. Nó chỉ cái lần xúc động đầu tiên trong quá trình bén duyên của đôi lứa. Nó gây ra váng vất, hân hoan, nhồn nhột ở thành ngực, ham muốn trèo lên ban công bằng sợi dây thừng kết từ tóc người yêu. Cảm giác ngoại biên chỉ cái lần đầu lên giường ngất ngây hạnh phúc như phê thuốc khi bạn hít ngửi người tình như bông hoa anh túc thơm ngát trong nhiều giờ liền. (Nó kéo dài, Luce giải thích, lên tới hai năm – là hết đát.) Dân Hy La cổ đại sẽ giải thích cảm giác mà Desdemona đang cảm thấy là do thần tình ái Eros. Hiện nay theo ý kiến chuyên gia đây là do hóa chất thần kinh và tiến hóa. Dẫu vậy, tôi phải khẳng định rằng: với Desdemona thì cảm giác ngoại biên như thể một cái hồ hơi ấm dâng lên từ bụng tràn qua ngực bà. Nó lan như cơn hồng thủy rượu 90 độ cồn, thứ rượu Phần Lan xanh bạc hà cay xè. Với sự bơm đẩy đầy hiệu quả của hai tuyến giáp ở cổ, nó làm mặt bà nóng bừng lên. Đoạn cái hơi ấm này nảy ra loạt ý tưởng khác, bèn tràn xuống những vùng mà một cô gái như Desdemona không cho phép nó đi tới, nên bà cụp mắt quay đi chỗ khác. Bà bước lại cửa sổ, để cảm giác ngoại biên lại phía sau, và gió từ thung lũng thổi lên làm bà mát dịu. “Chị sẽ đi nói chuyện với bố mẹ hai đứa ấy,” bà bảo, cố ra vẻ như mẹ mình. “Còn em thì xúc tiến tán tỉnh đi.”

Đêm hôm sau, mặt trăng hiện hình lưỡi liềm, như lá cờ tương lai của Thổ Nhĩ Kỳ. Dưới Bursa quân Hy Lạp lùng sục tìm thức ăn, nốc rượu, và bắn phá một nhà thờ Hồi giáo nữa. Ở Angora, Mustafa Kemal cho in trên báo tin ông sẽ tổ chức tiệc trà ở Chankaya nhưng trên thực tế di chuyển đến đại bản doanh ngoài chiến trường. Cùng chiến hữu, ông tợp ngụm rượu raki cuối cùng mà thề không đụng đến rượu cho tới khi trận chiến kết thúc. Dưới màn đêm bao phủ, quân Thổ không dịch chuyển về Eskişehir ở phía Bắc, như thiên hạ tưởng, mà về phía thành phố Afyon được phòng vệ cực kỳ cẩn thận ở phía Nam. Tại Eskişehir, quân Thổ đốt lửa trại để khuếch trương sức mạnh. Một lực lượng nghi binh nhỏ vờ tiến về phía Bắc Bursa.

Khi những vụ dàn quân này diễn ra, Lefty Stephanides cầm hai bó hoa con con, ra khỏi nhà tiến về phía nhà Victoria Pappas.

Sự kiện này trọng đại không kém gì việc trẻ con ra đời hay có người chết. Gần như ai trong số gần trăm dân làng Bithynios cũng đã nghe đến chuyến đi thăm sắp diễn ra của Lefty, thế là từ bà góa già, tới gái có chồng, đến các bà mẹ trẻ, cũng như các ông già, đều đang đợi xem ông sẽ chọn cô nào. Vì dân số ít ỏi, những phương thức tán tỉnh cổ xưa cơ hồ đã chấm dứt. Việc thiếu đối tượng yêu đương này làm nảy sinh một chu kỳ ác nghiệt. Không có ai để yêu thì không có tình yêu. Không có tình yêu thì không có trẻ em. Không có trẻ em thì không có ai để yêu.

Victoria Pappas đứng nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, bóng trên người cô giống hệt bức ảnh ở trang số 8 của ca ta lô Đồ lót phụ nữ Paris. Desdemona (chuyên viên phụ trách trang phục, kiêm bố trí sân khấu và kiêm luôn đạo diễn) búi tóc Victoria lên, cho mấy sợi tóc quăn rơi xuống trán và cảnh báo cô phải xoay cái mũi to vào trong bóng tối. Xức nước hoa, tẩy lông, bôi kem làm mềm da, đánh phấn côn quanh mắt, Victoria đứng yên cho Lefty ngắm nghía mình. Cô cảm nhận được ánh mắt nóng bỏng, nghe tiếng thở nặng nhọc của ông, nghe ông cố gắng cất tiếng hai lần – hai tiếng ré khe khẽ từ cổ họng khô khốc – rồi cô nghe tiếng chân ông tiến về phía mình, rồi cô quay lại, làm vẻ mặt mà Desdemona đã dạy; nhưng mải tập trung trề môi ra cho giống chị mẫu đồ lót người Pháp cô không nhận ra tiếng bước chân không phải tiến tới mà là thoái lui; khi cô quay lại thì thấy Lefty Stephanides, anh chàng độc thân duy nhất ở làng, đã bỏ về mất toi…

… Trong lúc đó, ở nhà, Desdemona mở rương quần áo. Bà thọc tay lấy cái coóc xê. Nhiều năm trước mẹ đã tặng nó cho bà để dành cho đêm tân hôn, mà nói, “Mẹ mong có ngày con sẽ mặc vừa.” Giờ đây, trước gương phòng ngủ, Desdemona giơ cái món đồ rắc rối, kỳ lạ lên ướm thử lên người. Bà cởi tất ra, cả đồ lót màu xám. Bà cởi luôn cái váy cạp cao, cùng cái áo cổ cao. Bà cởi khăn trùm đầu thả hết tóc ra cho rơi xuống đôi vai trần. Chiếc coóc xê làm bằng lụa trắng. Mặc vào rồi Desdemona cảm thấy như thể bà đang dệt cái kén của riêng mình, chờ đợi biến hình thành bướm.

Nhưng khi nhìn lại mình trong gương, bà chợt hiểu ra. Cái coóc xê sẽ chả dùng vào việc gì cả. Bà sẽ không bao giờ lấy chồng. Tối nay Lefty sẽ quay về khi chọn được cô dâu, rồi ông sẽ đưa con bé về nhà sống với họ. Desdemona sẽ vẫn như xưa, lần chuỗi hạt mà già đi hơn cả bà cảm thấy lúc này. Một con chó tru lên. Ai đó ở làng vấp phải bó củi chửi tướng lên. Còn bà tôi lặng lẽ khóc bởi bà sẽ sống hết năm tháng đời mình đếm những nỗi lo không bao giờ cạn…

… Trong lúc đó Lucille Kafkalis đang tạo tư thế đúng như được bảo, nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, đội mũ trắng có đính quả anh đào bằng thủy tinh, vai trần choàng khăn, diện váy cổ xẻ sâu màu xanh tươi, đi giày cao gót, mà cô không dám nhúc nhích vì sợ ngã. Bà mẹ béo của cô lạch bạch bước vào, cười toét mỏ hét toáng lên, “Thằng ấy đến kìa! Nó không chịu nổi con Victoria dù chỉ một phút!”…

… Chưa gì ông đã ngửi thấy mùi giấm. Lefty vừa mới đến chỗ khung cửa thấp nhà Kafkalis. Cha Lucille chào ông rồi nói, “Hai bác cho hai đứa được riêng tư. Để làm quen.” Phụ huynh bỏ đi. Phòng sáng lờ mờ. Lefty quay gót… đoạn vứt luôn bó hoa còn lại.

Điều mà Desdemona không hề ngờ tới là thằng em cũng đã nghiền ngẫm Đồ lót phụ nữ Paris. Thực ra, ông xem từ hồi mười hai cho tới khi sang mười bốn tuổi, khi phát hiện ra kho báu đích thực: mười tấm ảnh cỡ bưu thiếp, giấu trong vali cũ, chụp “Sermin, Thiếu nữ trong Thưởng lạc cung17,” một nàng hai lăm tuổi thân hình quả lê mặt ủ mày ê thực hiện đủ các loại tư thế trên mấy cái gối có quả tua rua trong một khuê phòng được dàn dựng. Tìm thấy nàng trong ngăn đựng vật dụng khi tắm rửa cứ như thể chà vào ngọn đèn thần. Nàng bay vút ra trong màn bụi sáng lấp lánh: trên người không có gì ngoài đôi hài thêu mũi cong trong truyện Ngàn lẻ một đêm với khăn thắt ở hông (tách); nằm trễ nải trên tấm da hổ, nghịch thanh mã tấu (tách); và tắm, ánh sáng đổ lên châu thân thành vệt carô, ở một nhà tắm lát đá cẩm thạch kiểu Thổ. Mười bức ảnh tông màu sepia nâu đỏ này chính là thứ đầu tiên khới dậy nỗi mê mẩn thành thị trong lòng Lefty. Nhưng ông nào quên được mối tình đầu ở Đồ lót phụ nữ Paris. Ông dễ dàng hình dung ra chúng rõ mồn một trong đầu. Khi thấy Victoria Pappas nom từa tựa như trang số 8, thứ làm Lefty kinh ngạc nhất chính là khoảng cách xa vời vợi giữa con này với cái hình mẫu thời niên thiếu. Ông thử tưởng tượng mình lấy Victoria, sống với nó, nhưng mỗi hình ảnh xuất hiện trong đầu đều có một khoảng trống toang hoác ngay chính giữa, chính là sự thiếu vắng người ông yêu hơn và hiểu hơn bất kỳ ai khác. Vì vậy ông chạy mất dép khỏi con Victoria Pappas chỉ để xuống phố gặp ngay con Lucille Kafkalis, thất vọng toàn tập, thua xa nàng ở trang số 22…

… Và giờ thì chuyện xảy ra. Desdemona, lệ tuôn lã chã, cởi coóc xê xong gấp lại rồi nhét vào rương. Bà lao lên giường, giường Lefty, rồi khóc vật ra. Chiếc gối thơm ngát hương chanh sáp bôi tóc của ông thế là bà hít lấy hít để, nức na nức nở…

… Cho đến khi, bị thuốc phiện của cơn khóc lóc làm cho đờ đẫn, bà ngủ thiếp đi. Bà mơ thấy chuyện gần đây thường xuất hiện. Trong chiêm bao mọi thứ lại như xưa. Bà với Lefty lại trở thành hai đứa trẻ (chỉ có điều trong cơ thể người lớn). Họ nằm chung giường (chỉ có điều giờ là giường bố mẹ). Họ gác chân tay lên nhau khi ngủ (cảm giác cực kỳ dễ chịu, khi gác lên nhau, còn cái giường thì ướt sũng)… Đúng lúc đó Desdemona tỉnh dậy, như mọi khi. Mặt bà nóng bừng. Bụng chộn rộn, và sâu thẳm trong lòng, bà cơ hồ nhận biết được cảm xúc đó là gì…

… Khi tôi ngồi đây trên ghế xoay, ngẫm ngợi theo chiều hướng mà nhà sinh vật học E. O. Wilson đã vạch ra18. Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên? Có lẽ cái gen cài sẵn một cơ chế đảm bảo cho quá trình biểu hiện gen giải thích được tại sao Desdemona lại khóc vật vã và tại sao Lefty lại chọn những cô điếm như thế; không phải do tình yêu mến, không phải đồng cảm; chỉ là vì để cho cái thứ mới lạ này bước vào thế gian thì cần thiết phải như vậy, để rồi lại đẻ ra những tỉ số đã dàn xếp của trái tim. Nhưng tôi không sao giải thích nổi, Desdemona với Lefty cũng không, cũng như mỗi người chúng ta, khi rơi vào lưới tình, không phân biệt nổi đâu là do hoóc môn đâu là cảm giác thiêng liêng tuyệt trần, mà biết đâu tôi bám vào cái lý lẽ mọi sự do ý trời cả là bởi vì chút lòng vị tha bẩm sinh để bảo vệ giống loài; tôi không chắc nữa. Bằng suy nghĩ, tôi cố quay lại cái thời trước khi có ngành nghiên cứu gen, trước khi động đến chuyện gì mọi người cũng ra rả, “Nằm trong gen hết đấy.” Cái thời trước tự do hiện tại của chúng ta, và tự do hơn chán vạn lần! Desdemona không hề biết chuyện gì đang xảy ra. Bà không hình dung nổi lòng mình lại có thể như một bộ mã máy tính khổng lồ, chỉ gồm 1 với 0, những chuỗi vô tận, bất cứ chuỗi nào cũng có khả năng xuất hiện lỗi lập trình. Giờ đây ta biết mình mang cái bản đồ gen của chính mình đi khắp mọi nơi. Ngay cả khi đứng trên góc phố nó cũng sai khiến số phận ta. Nó đem đến trên mặt cùng những nếp nhăn với vết đồi mồi giống cha mẹ ta. Nó khiến chúng ta có cái kiểu hít hít rất đặc trưng, nhìn là biết ngay giỏ nhà ai quai nhà ấy. Gen ăn sâu đến nỗi chúng điều khiển cả cơ mắt, vì thế chị em gái nháy mắt giống nhau, còn hai bé trai sinh đôi thì nhểu nước dãi cùng lúc. Thi thoảng, lúc bồn chồn tôi sờ sờ cái sụn mũi, hệt ông anh. Cổ họng với thanh quản của bọn tôi, được hình thành từ cùng chỉ dẫn, đẩy không khí ra theo cùng âm thanh và âm lượng. Mà điều này có thể ngoại suy ngược lại theo thời gian, thành thử khi tôi nói thì Desdemona cũng nói. Bà cũng đang viết chính những từ này. Desdemona, không hề biết trong người có cả đội quân, thực thi hàng triệu mệnh lệnh, mà cũng không hề biết có một thằng lính không tuân lệnh, đào ngũ…

… Te tái chạy như Lefty lao khỏi nhà cái Lucille Kafkalis về với chị gái. Bà nghe tiếng chân tất tả của ông khi đang kéo váy lên. Bà lấy khăn trùm đầu chùi mắt rồi mỉm cười khi ông đi qua cửa vào nhà.

“Thế em chọn đứa nào?”

Lefty không đáp gì mà chỉ nhìn dò chị gái. Ngủ cùng phòng với bà cả đời, chẳng lẽ ông không biết được lúc nào bà khóc hay sao. Tóc bà xõa ra, phủ gần hết mặt, nhưng cặp mắt nhìn ông thì ngập tràn cảm xúc. “Chả đứa nào cả,” ông nói.

Desdemona nghe mà hạnh phúc tràn trề. Nhưng bà lại nói, “Em bị làm sao thế? Em phải chọn.”

“Hai con đó trông như hàng ấy.”

“Lefty!”

“Thật mà.”

“Em không muốn lấy bọn nó à?”

“Không.”

“Em phải lấy.” Bà giơ nắm tay lên. “Nếu chị thắng, em lấy cái Lucille.”

Lefty, không bao giờ cưỡng được trò cá độ, cũng giơ nắm tay lên. “Oẳn tù tì, ra cái gì ra cái này!”

“Giấy bọc đá,” Lefty nói. “Em thắng.”

“Lần nữa,” Desdemona nói. “Lần này, nếu chị thắng, em lấy cái Vicky. Oẳn tù tì…”

“Kéo cắt giấy. Em lại thắng! Vĩnh biệt Vicky.”

“Thế em lấy ai?”

“Em không biết” – cầm lấy tay bà rồi nhìn bà. “Lấy chị nhé?”

“Đen ghê chị là chị em đấy.”

“Chị đâu phải chỉ là chị em. Chị còn là chị họ ba đời của em nữa. Anh em họ ba đời được phép lấy nhau mà.”

“Em điên hả Lefty.”

“Mình lấy nhau thì mọi thứ chả dễ dàng hơn nhiều à. Bọn mình sẽ không phải sửa lại nhà cửa.”

Nửa đùa nửa thật, Desdemona với Lefty ôm lấy nhau. Thoạt tiên họ chỉ ôm như bình thường, nhưng mười giây sau cái ôm dần thay đổi; vị trí của tay và những cái vuốt ve không còn là biểu hiện thông thường của tình chị em, và những cử chỉ này tạo ra thứ ngôn ngữ riêng, tuyên bố một thông điệp mới toanh trong căn phòng im ắng. Lefty đưa Desdemona lướt đi trong một điệu valse, kiểu Âu châu; ông dìu bà ra ngoài, qua sân, tới trại tằm, rồi quay lại dưới giàn nho, thế là bà bật cười giơ tay che miệng. “Nhảy giỏi đấy, em họ,” bà nói mà tim lại đập rộn lên, khiến bà nghĩ có khi mình chết ngay lúc đó trong vòng tay Lefty, nhưng dĩ nhiên bà không chết; họ nhảy tiếp. Xin đừng quên nơi họ đang nhảy, làng Bithynios, cái làng trên núi nơi anh em họ thỉnh thoảng lấy anh em họ ba đời và kiểu gì đó ai ai đều có họ với nhau; vậy là khi nhảy, họ ôm lấy nhau chặt hơn, thôi đùa cợt, rồi chỉ đơn thuần nhảy với nhau, như một người đàn ông và một người đàn bà vẫn thi thoảng làm trong những lúc cô đơn và tuyệt vọng.

Đúng lúc này, trước khi có bất cứ điều gì được nói thẳng ra hay bất cứ quyết định nào được đưa ra (trước khi lửa quyết định cho họ), thì ngay lúc đó giữa điệu valse, họ nghe có tiếng nổ xa xa, rồi dòm xuống thấy, trong ánh lửa, quân Hy Lạp đã rút chạy hoàn toàn.


Chú thích:

  1. Chính là cuốn Herculine Barbin: Being the Recently Discovered Memoirs of a Nineteenth-century French Hermaphrodite, bản dịch tiếng Anh của hồi ký viết hồi thế kỷ mười chín bằng tiếng Pháp của Barbin.
  2. Tinh hoàn nằm trong cơ thể chưa hạ xuống bìu.
  3. Nghệ sĩ, người sáng tác nhạc, trưởng nhóm nhạc, diễn viên người Mỹ (1910-2004), nổi tiếng nhất với bản ghi âm bài Begin the Beguine do Cole Porter sáng tác.
  4. Hay còn có tên Yeşil Camii, Thánh đường Hồi giáo Xanh là phức hợp có lăng mộ, nhà thờ, trường dòng… nằm ở phía Đông và là biểu tượng của Bursa, có màu xanh đặc trưng.
  5. Một khái niệm trong chủ nghĩa dân tộc Hy Lạp với mục tiêu thiết lập một quốc gia Hy Lạp lớn với tất cả các vùng đất có người Hy Lạp sinh sống, bao gồm những khu có người Hy Lạp dưới sự cai trị của quân Thổ Ottoman và các vùng thời cổ đại thuộc về Hy Lạp như vùng phía Nam bán đảo Ban-căng, đảo Síp.
  6. Sĩ quan quân đội và cũng là Tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ (1881-1938), nổi tiếng vì tài năng lãnh đạo quân đội kiệt xuất.
  7. Theo luật của quốc gia Hồi giáo, những người không theo đạo Hồi (mà theo đạo Kitô và Do Thái…) không được phép cưỡi ngựa và lạc đà, chỉ được phép cưỡi la hay lừa, không được phép dùng yên cương hay bàn đạp yên cương bằng sắt, mà phải dùng bộ yên thồ và bàn đạp bằng gỗ.
  8. Là biệt danh của người thuận tay trái, dịch giả xin chọn để nguyên tên là Lefty mà không dịch, vì đặc điểm cơ thể này không được triển khai thêm và không có ý nghĩa nhiều lắm trong cả câu chuyện.
  9. Tóc cắt theo diễn viên người Mỹ gốc Ý nổi tiếng Rudolph Valentino: ngắn, hất từ trái sang, phân chia khoảng 3/7, dùng nhiều keo vuốt ẹp xuống.
  10. Nhân vật rối bóng trong văn hóa dân gian Hy Lạp.
  11. Tiếng Hy Lạp: gái điếm, đĩ, gái lẳng lơ.
  12. Chỉ hai cuộc xung đột trên bán đảo Ban-căng ở Nam Âu năm 1912-1913.
  13. Một loại chuỗi hạt của người Hy Lạp, được dùng để giải tỏa căng thẳng và tiêu thời gian.
  14. Tiếng Hy Lạp: “Chúa rủ lòng thương, Chúa rủ lòng thương.” Câu cầu nguyện này có nguồn gốc từ nhiều đoạn khác nhau trong Tân Ước, chẳng hạn Mat-thêu 20:30-31 “[…] Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi! […]: Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi!”. (Bản dịch Kinh thánh của Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.)
  15. Lingerie Parisienne.
  16. Piñata được làm bằng giấy bồi cứng, có nhiều hình thù khác nhau, bên ngoài dán đủ màu sặc sỡ, bên trong rỗng ruột để cho kẹo hoặc đồ chơi vào. Trong các buổi tiệc tùng, sinh nhật người ta treo piñata lên cao, cho trẻ em đập ra lấy quà bánh.
  17. Là tòa lâu đài lớn do Hốt Tất Liệt xây trong bài thơ Kubla Khan (1797) của nhà thơ, nhà phê bình Samuel Taylor Coleridge, lấy ý tưởng từ Thượng Đô, hành cung mùa hè của Hốt Tất Liệt. Bài thơ được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học Lãng mạn Anh.
  18. Edward O. Wilson, nhà sinh vật học nổi tiếng với tác phẩm Về bản tính người, cho rằng hành vi xã hội của con người là do gen chi phối.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

1 Comment

1 Bình luận

  1. VKN

    Tháng Tám 12, 2019 at 2:24 chiều

    Uầy, nhiều chú thích ghê :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

“Mia và Isabelle yêu dấu…”

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó.

Published

on

By

Trích từ: Tháo gỡ phép màu
Tác giả: Julie-Yip Williams
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 3.2021

Julie-Yip Williams (1976 - 2018) là một phụ nữ Việt Nam gốc Hoa, theo gia đình sang Mỹ từ nhỏ. Cô bị khiếm thị bẩm sinh nhưng đã vượt khó, tốt nghiệp luật sư tại Harvard Law School, làm việc ở một văn phòng luật danh tiếng và có một gia đình nhỏ hạnh phúc. Cô sống cùng chồng và hai con gái tại Brooklyn. Ở tuổi ba mươi bảy, cô bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng, khiến cuộc sống của cô hoàn toàn thay đổi. Julie qua đời vào tháng Ba năm 2018 sau một thời gian chống chọi với căn bệnh.

Quyển sách Tháo gỡ phép màu là cách Julie ghi lại hành trình cuộc đời mình.

“Một biên niên ký cảm động, tuyệt đẹp, đáng đọc và đáng được nhiều người say mê.” (Siddhartha Mukherjee, tác giả đoạt giải Pulitzer với The Emperor of All Maladies)

Tháo gỡ phép màu - Julie-Yip Williams

*

Xin chào, hoan nghênh. Tên tôi là Julie Yip-Williams. Tôi biết ơn và rất vinh dự khi các bạn có mặt ở đây. Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả.

Cuộc sống tôi tốt đẹp và cuộc đời tôi trọn vẹn. Biết bao điều xuất hiện nhiều hơn hẳn những gì mà tôi có thể tưởng đến, hoặc nhiều hơn hẳn những gì mà xuất thân vô cùng tầm thường của tôi cho phép tôi mong đợi. Tôi là một người vợ, một người mẹ, một người con, một người em, một người bạn, một người di cư, một bệnh nhân ung thư, một luật sư, và giờ là một nhà văn. Tôi luôn gắng sống một cách có thiện ý và thiện tâm, dù tôi chắc chắn mình cũng từng làm tổn thương người khác trên bước đường đời. Tôi nỗ lực hết mình để sống một cuộc đời mãn nguyện và đáng sống, để đương đầu một cách uyển chuyển với những thử thách tất yếu, và để nổi bật với sự hài hước của mình cùng tình yêu cho cuộc sống vẹn nguyên. Thế thôi. Tuy tôi đang hấp hối ở độ tuổi đầu bốn mươi, và sắp phải bỏ lại các con yêu quý của mình, tôi vẫn thấy hạnh phúc.

Cuộc đời tôi chẳng dễ dàng. Tôi sống sót qua thời thơ dại cứ như một phép màu, và tôi đến được nước Mỹ cứ như một điều kỳ diệu. Sinh ra trong cảnh mù lòa và nghèo đói ở Việt Nam, lại trong 8 | JULIE YIP-WILLIAMS thời chiến tranh, điều này lẽ ra đã định sẵn số phận cuộc đời và đóng kín vận mệnh của tôi. Tuy những điều đó đã lưu lại dấu vết nơi tôi, song chúng đã không ngăn được tôi. Cái chết kề cận dạy tôi rất nhiều về cách sống – về cách chủ động đối mặt với những sự thật phũ phàng, về cách đón nhận cả đau khổ lẫn vui sướng. Vòng tay ôm lấy những phần khắc nghiệt của cuộc đời có lẽ là trải nghiệm tự do lớn lao trong cuộc đời tôi.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều nếm trải những phần khắc nghiệt ấy. Những sự kiện mà chúng ta nghe được trên tin tức hay từ bạn bè, những bi kịch kết thúc với cái chết xảy ra cho những người khác ở các nơi khác, những điều ấy khiến chúng ta thấy buồn nhưng cũng thấy nhẹ nhõm và biết ơn vì chúng ta nghĩ, cảm ơn Chúa đã phù hộ con không bị như thế… – bão tố và động đất tàn khốc, đánh bom và xả súng bạo lực, tai nạn xe cộ, và tất nhiên, bệnh nan y. Những thứ ấy khiến tâm can ta rúng động vì chúng làm ta nhớ rằng ta cũng sẽ chết, rằng ta thật sự bất lực như thế nào trước những sức mạnh vô hình có thể khiến Trái đất phải run rẩy, hoặc khiến tế bào bị đột biến và đẩy cơ thể vào cảnh nổi loạn chống lại chính nó.

Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình về điều đó, cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu – cả hai đều không toàn diện, bạn hiểu mà, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ là ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành – nếu như tôi không quá tự tin – thứ gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống. Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ.

Julie Yip-Williams
Tháng Hai năm 2018

CÁI CHẾT, PHẦN MỘT
Tháng Ba năm 1976, Tam Kỳ, miền Nam Việt Nam

Lúc tôi hai tháng tuổi, ba mẹ tôi, theo lệnh của bà nội, mang tôi đến chỗ ông thầy thuốc ở Đà Nẵng và đề nghị trả ông ấy vàng thỏi để bốc cho tôi thang thuốc đưa tôi vào giấc ngủ vĩnh hằng. Vì tôi mù bẩm sinh, nên đối với người bà gốc Hoa, tôi là thứ “hư hại”. Tôi sẽ là gánh nặng và nỗi xấu hổ của gia đình. Khó mà kiếm được tấm chồng. Ngoài ra, bà nội viện lý do rằng bà làm thế vì thương tôi – tôi sẽ thoát khỏi kiếp sống khốn khổ.

Sáng hôm đó, mẹ mặc cho tôi bộ đồ em bé cũ kỹ bám đầy những vết ố nâu vàng do phân của anh chị tôi để lại mà mẹ không thể giặt sạch được, dù đã vò vô số lần. Sau khi lệnh cho mẹ mặc cho tôi bộ quần áo này, bà nội đứng trước lối vào phòng ngủ của ba mẹ tôi, xem mẹ mặc đồ cho tôi. “Cho nó mặc thứ khác chỉ tổ lãng phí”, bà nói khi mẹ tôi mặc xong, như thể khẳng định sự đúng đắn trong lời chỉ dạy của bà.

Đó là bộ quần áo tôi sẽ mặc khi chết. Trong thời kỳ cùng quẫn như thế, chẳng ích lợi gì khi phí phạm một bộ đồ trẻ em còn tốt cho một đứa bé sắp sửa trở thành một thi hài.

Bi kịch gia đình tôi bắt đầu từ tâm điểm nóng bỏng của cuộc Chiến tranh lạnh. Miền Nam Việt Nam đã được trả tự do từ mười một tháng trước đó, nhưng chuỗi domino địa chính trị vẫn đổ ập vào cuộc đời của những người nhà Yip.

Vào năm 1972, chiến tranh rõ ràng đã chuyển sang hướng bất lợi cho miền Nam, và ba tôi rất sợ mất đi những thứ ít ỏi ông đang có khi liều mạng sống của mình cho một quốc gia mà ông – một người đàn ông dân tộc Hoa – cảm thấy chẳng có chút lòng tự hào dân tộc nào. Trong bốn năm phục vụ quân đội, vào những chuyến thăm nhà ngắn ngủi, ba tôi không bao giờ nói với bất cứ ai trong gia đình về những điều kinh khủng mà ông đã thấy hoặc đã làm. Những nỗ lực của bà nội hòng giúp ông tránh đi sự tồi tệ của chiến tranh bằng cách hối lộ để ông được nhận vào làm tài xế cho một vị đội trưởng quân đội đã không thành công như mẹ con ông hằng hy vọng. Ông thấy mình lái xe vào lãnh thổ của họ, chẳng rõ các tay bắn tỉa cùng mìn giấu ở đâu, ngủ trong rừng vào buổi tối, lo sợ bị cắt cổ khi ông đang ngủ trên nền rừng, và rồi giật mình thon thót bởi những tiếng nổ xé toạc sự im lặng của một khắc yên bình mong manh. Cuối cùng, nỗi sợ hãi thường trực về cái chết – hoặc tệ hơn, về việc mất tay chân, như đã xảy ra với một số người bạn của ông – đã lấn át hết mọi khái niệm về danh dự mà ông có cùng nỗi sợ về việc bị coi là thằng hèn. Một ngày nọ, ông đi khỏi trại lính với lý do lấy tiếp liệu cho chiếc xe jeep của ông và không quay đầu lại. Trong một tuần, ông đi bộ và đi nhờ xe đến Sài Gòn, rồi trốn trong Chợ Lớn (một quận cũ vốn là nơi cư trú của ít nhất một triệu người Hoa). Chợ Lớn là một nơi thật náo nhiệt với số dân cư không mặn mà với nỗ lực tham chiến nhiều đến mức ông có thể ẩn náu trong khi vẫn có thể đi lại tự do trong cộng đồng.

Bà nội tôi (sau khi được ba tôi nhắn cho biết ông đang ở đâu, người chẳng tin vào khả năng chung thủy của bất kỳ người đàn ông nào, kể cả con trai bà) đã đề nghị mẹ tôi vào Sài Gòn với ba. Vậy nên mẹ tôi, tay này xách chị Lyna mới được hai tuổi, tay kia bế anh Mau mới sinh, tiến vào Sài Gòn, và ở đó họ sống trong phấp phổng cùng ba tôi cho đến khi cuộc chiến kết thúc, chờ đến khi ông có thể an toàn quay về Tam Kỳ mà không sợ bị bắt bỏ tù, hoặc thậm chí tệ hơn, bị bắt tiếp tục phục vụ quân đội trong lúc tình hình đang tồi tệ đi nhanh chóng. Đó không phải lúc để có thêm một đứa con nữa.

Khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, ba mẹ tôi cùng với những người khác ở Sài Gòn vỡ òa vui sướng, vì chiến tranh cuối cùng đã kết thúc. Khi Sài Gòn giao thời, họ ăn mừng bằng cách tham gia vào đám đông cuồng nhiệt cướp phá những cửa hàng và nhà kho bị bỏ lại, lấy các thùng chứa gas cùng các bao gạo và bất cứ thứ gì khác mà đôi tay họ có thể khuân đi được. Họ ăn mừng bằng cách chào đón tin tôi sắp tới với thế giới này, và sau khi Sài Gòn thất thủ, họ cuối cùng đã về nhà ở Tam Kỳ, nơi tôi mở mắt chào đời vào một đêm tháng Một bình thường tám tháng sau đó. Tôi nặng hơn ba ký một chút, lớn theo chuẩn Việt Nam, nhưng không lớn đến mức khiến mẹ con tôi gặp nguy hiểm tính mạng trong quá trình sinh nở. Bệnh viện bẩn thỉu, và việc mổ lấy thai không phải là một lựa chọn hay trong những ngày ấy; chẳng ai biết cách thực hiện thủ thuật, có lẽ trừ khi ở Sài Gòn. Ba đặt tên 莉菁 cho tôi, phát âm là “Lijing” theo tiếng Quan Thoại và “Lising” theo tiếng Hải Nam, hiểu theo nghĩa đen là “tinh túy của hoa nhài”. Tên tôi có ý thể hiện sự hoạt bát, sức sống và vẻ đẹp. Mẹ tôi, người đã chờ đợi từ rất lâu, rất hồi hộp. Và bà nội tôi cũng vậy – lúc mới đầu thôi. Hai tháng sau, được quấn trong quần áo cũ của anh chị, tôi nằm trong vòng tay của ba, trên một chuyến xe đò, đi hai tiếng đồng hồ lên phía bắc đến Đà Nẵng theo quốc lộ 1, để nhận án tử.

CUỘC ĐỜI
Ngày 14 tháng Bảy năm 2017, Brooklyn, New York

Mia và Isabelle yêu dấu,

Mẹ đã lo hết tất cả chuyện hậu sự sau khi mẹ chết mà mẹ có thể nghĩ tới: mẹ đang thuê một đầu bếp với mức lương rất hợp lý cho các con và ba; mẹ đã để lại một danh sách hướng dẫn ai là nha sĩ của các con và lúc nào cần đóng học phí và lúc nào cần gia hạn hợp đồng thuê đàn violin và danh tính của người chỉnh âm đàn piano. Trong những ngày sắp tới, mẹ sẽ làm video về tất tần tật các chi tiết trong nhà để mọi người biết bộ lọc không khí nằm ở đâu và loại thức ăn cho chó của Chipper. Song mẹ đã nhận ra rằng mấy chuyện này chỉ là chuyện nhỏ, những vấn đề dễ giải quyết và tương đối không quan trọng trên cõi đời này.

Mẹ đã nhận ra mẹ sẽ làm các con vô cùng thất vọng, nếu chính người mẹ của các con lại không cố gắng giảm bớt nỗi đau mất mẹ, nếu mẹ không cố gắng nỗ lực giải quyết thứ có thể sẽ là câu hỏi lớn nhất trong cuộc đời non trẻ của các con. Các con sẽ mãi mãi là những đứa bé có mẹ chết vì ung thư, bị người khác nhìn với con mắt thông cảm xen lẫn thương hại (điều mà các con hiển nhiên sẽ oán ghét, dù cho mọi người có ý tốt). Việc mẹ các con qua đời sẽ dệt nên một mảnh trong cuộc đời các con như một vết nhơ rành rành trên một khung cảnh nguyên sơ. Các con sẽ thắc mắc khi các con thấy xung quanh tất cả mọi người khác đều còn đủ cha mẹ, Tại sao mẹ tôi lại phải bệnh rồi chết chứ? Thật không công bằng, các con sẽ khóc. Và các con sẽ tha thiết muốn có mẹ ở bên cạnh để ôm con khi bị bạn bè cư xử tệ, để nhìn các con bấm lỗ tai, để ngồi ở hàng ghế đầu vỗ tay thật lớn trong những buổi biểu diễn âm nhạc của các con, để làm vị phụ huynh phiền phức khăng khăng đòi chụp thêm tấm hình nữa với cô sinh viên mới tốt nghiệp, để giúp con mặc đồ trong ngày cưới của con, để bế đứa trẻ mới sinh từ tay con lúc con chợp mắt. Và mỗi lần các con khao khát có mẹ, lòng sẽ lại lần nữa đau đớn và các con sẽ tự hỏi tại sao.

Mẹ không biết liệu lời của mẹ có thể xoa dịu nỗi đau của các con hay không. Nhưng sẽ thật tắc trách nếu mẹ không làm thử.

Giáo viên dạy Sử năm lớp Bảy của mẹ, cô Olson – một người lập dị gàn dở nhưng cũng là một giáo viên tuyệt vời – từng bác bỏ lời phản đối “Thật không công bằng!” của đám thiếu niên (ví dụ, khi cô cho bọn mẹ làm kiểm tra đột xuất, hay khi bọn mẹ chơi trò được gọi là đố vui “Bất công”) với câu “Đời không công bằng đâu. Tập làm quen đi!”. Đâu đó trên đường đời, chúng ta lớn lên với suy nghĩ rằng nên có sự công bằng, rằng mọi người nên được đối đãi bình đẳng, rằng nên có sự ngang bằng trong đối xử cũng như cơ hội. Sự mong đợi đó chắc hẳn xuất phát từ việc được lớn lên ở một quốc gia giàu có, nơi luật pháp được thiết lập một cách chặt chẽ. Thậm chí lúc mới ở cái tuổi lên năm non nớt, cả hai con đều kêu gào đòi công bằng như thể đó là một quyền căn bản (chẳng hạn như, thật không công bằng khi Belle được xem phim còn Mia thì không). Nên có lẽ những mong muốn có được sự công bằng và bình đẳng đó đã hằn sâu vào tâm trí loài người và tinh thần đạo đức của chúng ta. Mẹ không chắc nữa.

Điều mẹ biết chắc là cô Olson đã đúng. Đời không công bằng. Các con sẽ ngốc nghếch mong đợi sự công bằng, ít nhất đối với vấn đề liên quan đến sự sống và cái chết, vấn đề ngoài phạm vi luật pháp, vấn đề không thể được bố trí hay bị nỗ lực của con người thao túng, vấn đề rõ ràng thuộc về Chúa hay may mắn hay số phận hay những thế lực khó hiểu, chưa được biết đến nào đó.

Dù lúc lớn lên không mồ côi mẹ, mẹ vẫn chịu tổn thương theo cách khác và ở cái tuổi non nớt hơn tuổi các con bây giờ mẹ đã hiểu được đời chẳng công bằng. Nhìn tất cả những đứa trẻ khác, những đứa có thể lái xe và chơi quần vợt và những đứa không phải dùng kính lúp để đọc, mẹ thấy đau y như kiểu mà có lẽ giờ các con có thể hiểu. Người ta cũng nhìn mẹ với sự thương hại, điều mà mẹ căm ghét. Mẹ cũng bị tước đi các cơ hội; mẹ luôn là người ghi lại tỷ số và không bao giờ được tham gia các trận đấu trong lớp thể dục. Bà ngoại không nghĩ mẹ đáng được đi học tiếng Hoa sau giờ học tiếng Anh tại trường như anh chị em của mẹ, vì bà cho rằng mẹ sẽ không thể nhìn thấy được các ký tự. (Dĩ nhiên, sau đó, mẹ học tiếng Hoa suốt thời gian học đại học rồi đi du học và tiếng Hoa của mẹ đã vượt qua anh chị em của mẹ). Đối với một đứa trẻ, chẳng có gì tệ hơn là khác biệt, theo kiểu tiêu cực, đáng thương như thế. Mẹ đã rất buồn. Mẹ khóc trong sự giận dữ cô độc. Giống như các con, mẹ có mất mát riêng của mẹ, sự mất mát thị lực, điều khiến mẹ gặp thêm nhiều mất mát khác. Mẹ đau khổ. Mẹ tự hỏi tại sao. Mẹ ghét sự bất công trong tất cả mọi thứ.

Các con bé bỏng của mẹ, mẹ không có câu trả lời cho câu hỏi tại sao này, ít nhất không phải bây giờ và không phải ở kiếp này. Nhưng mẹ biết rằng nỗi đau và sự chịu đựng có một giá trị phi thường. Nếu các con cho phép bản thân được trải nghiệm nó, được khóc, được cảm thấy ưu sầu và đau khổ, được tổn thương. Bước qua lửa đỏ và con sẽ xuất hiện ở phía bên kia, nguyên vẹn và mạnh mẽ hơn. Mẹ hứa đấy. Các con sau cùng sẽ tìm thấy sự thật, vẻ đẹp, trí tuệ và bình yên. Các con sẽ hiểu rằng chẳng có gì tồn tại mãi mãi, dù là nỗi đau hay hạnh phúc. Các con sẽ hiểu rằng niềm vui chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi buồn. Sự khuây khỏa chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi đau. Tình thương chẳng thể tồn tại nếu không có sự tàn nhẫn. Dũng cảm chẳng thể tồn tại nếu không có sự sợ hãi. Hy vọng chẳng thể tồn tại nếu không có thất vọng. Trí tuệ chẳng thể tồn tại nếu không có sự chịu đựng. Lòng biết ơn chẳng thể tồn tại nếu không có sự túng thiếu. Những nghịch lý đầy rẫy trên cõi đời này. Sống là một bài tập lèo lái đi giữa chúng.

Mẹ bị tước mất thị lực. Thế nhưng, tình trạng thể chất không may cá biệt ấy đã thay đổi mẹ theo hướng tốt hơn. Thay vì làm mẹ chìm đắm trong tủi thân, nó đã khiến mẹ thêm nhiều hoài bão. Nó khiến mẹ thêm tháo vát. Nó khiến mẹ thêm khôn khéo. Nó dạy mẹ nhờ người khác giúp đỡ, không xấu hổ với khiếm khuyết thân thể của mình. Nó buộc mẹ thành thật với chính mình và các giới hạn của bản thân, và cuối cùng, thành thật với những người khác. Nó dạy mẹ mạnh mẽ và kiên trì.

Các con bị tước mất người mẹ. Là mẹ các con, mẹ ước mình có thể bảo vệ các con khỏi đau khổ. Nhưng cũng chính vì là mẹ các con, mẹ muốn các con cảm nhận được nỗi đau, sống với nó, ôm ấp nó, và rồi học từ nó. Hãy trở thành những người mạnh mẽ hơn vì nó, bởi các con sẽ biết rằng các con mang trong mình sức mạnh của mẹ. Hãy trở thành người giàu tình thương hơn vì nó; thông cảm với những người đang chịu đựng những niềm đau riêng. Hãy tận hưởng cuộc đời cùng mọi vẻ đẹp cuộc sống vì nó; hãy sống với sự hăng say và lòng nhiệt huyết đặc biệt vì mẹ. Hãy biết ơn theo cách mà chỉ những ai đã mất mẹ từ rất sớm mới có thể biết, theo cách mà các con hiểu về sự vô thường và quý giá của cuộc đời. Đây là thử thách đối với các con bé bỏng của mẹ để tiếp nhận một bi kịch tồi tệ và biến nó thành cội nguồn vẻ đẹp, tình yêu, sức mạnh, lòng dũng cảm và trí tuệ.

Rất nhiều người có thể không đồng tình, nhưng mẹ luôn tin tưởng, luôn luôn, thậm chí khi mẹ còn là một cô nhóc hiểu chuyện sớm thường khóc một mình trên giường, rằng mục đích của chúng ta trên cuộc đời này là trải nghiệm tất cả những thứ mà chúng ta có thể trải nghiệm, để hiểu nhiều nhất có thể về thân phận con người mà chúng ta đúc kết được từ một kiếp sống, dù kiếp sống đó dài hay ngắn bao nhiêu. Chúng ta ở đây để cảm nhận nhiều loại cảm xúc phức tạp nảy sinh khi làm người. Và từ những trải nghiệm đó, linh hồn của chúng ta mở mang, trưởng thành, học hỏi, thay đổi, và chúng ta hiểu thêm một chút về ý nghĩa thật sự khi được làm người. Mẹ gọi đó là sự tiến hóa của linh hồn. Hãy biết rằng mẹ các con đã sống một cuộc đời phi thường, đầy nỗi khổ, niềm đau nhiều hơn mong đợi, đầu tiên là mù lòa và rồi thì ung thư. Và mẹ cho phép những nỗi khổ, niềm đau ấy định nghĩa mẹ, thay đổi mẹ, nhưng theo chiều hướng tích cực.

Trong những năm kể từ khi mẹ nhận được chẩn đoán, mẹ đã biết đến tình yêu và tình thương mà mẹ chưa bao giờ nghĩ là có thể xảy ra; mẹ đã tự mình chứng kiến và trải nghiệm mức độ sâu sắc nhất của sự quan tâm nơi con người, nó khiến mẹ trở nên vô cùng khiêm nhường và thôi thúc mẹ trở thành một người tốt hơn. Mẹ từng có một nỗi sợ khủng khiếp muốn đè bẹp mẹ, nhưng mẹ đã vượt qua nỗi sợ đó và tìm được lòng dũng cảm. Những bài học mà mù lòa và rồi ung thư dạy mẹ nhiều đến nỗi mẹ không kể ra đây hết được, nhưng mẹ hy vọng, khi các con đọc điều kế tiếp, các con sẽ hiểu làm cách nào có thể thay đổi theo cách tích cực từ bi kịch và các con sẽ học được giá trị thật sự của sự chịu đựng. Giá trị cuộc đời của một người không nằm trong số năm sống được, mà nằm trong cách người đó thấm nhuần những bài học từ cuộc đời ấy nhiều ra sao, trong cách mà người đó hiểu được và đúc kết những khía cạnh phức tạp, lộn xộn của trải nghiệm làm người nhiều thế nào. Mặc dù mẹ sẽ chọn ở với các con lâu hơn, giả như mẹ được lựa chọn, nếu các con có thể học hỏi từ cái chết của mẹ, nếu các con chấp nhận thử thách trở thành một người tốt hơn vì sự ra đi của mẹ, thì điều đó sẽ khiến linh hồn mẹ ngập tràn hạnh phúc và bình yên.

Các con sẽ cảm thấy cô đơn và bơ vơ, nhưng hãy hiểu rằng các con không chỉ có một mình. Đúng là chúng ta bước đi đơn độc trên cuộc đời này, vì chúng ta cảm nhận điều mà chúng ta cảm nhận một mình và mỗi chúng ta đều có lựa chọn của riêng bản thân. Nhưng việc tiếp cận và tìm được những người giống các con là hoàn toàn có thể, và khi làm vậy các con sẽ cảm thấy không quá cô đơn nữa. Đây là một điều khác trong số những nghịch lý cuộc sống mà các con sẽ học cách định hướng. Đầu tiên và trước hết, các con có thể nương tựa lẫn nhau. Các con là chị em, điều đó tạo ra gắn kết huyết thống và những trải nghiệm chung không giống bất cứ ai. Hãy tìm kiếm sự an ủi ở nhau. Hãy luôn tha thứ và yêu thương nhau. Tiếp đó, còn có ba mà. Rồi còn có Titi, cậu Mau, dì Nancy, dì Caroline, dì Sue và rất nhiều bạn bè thân thiết, tất cả họ đều biết và yêu mẹ rất nhiều – những người nghĩ đến các con, cầu nguyện cho các con và lo lắng cho các con. Tất cả năng lượng tình yêu từ những người này bao bọc các con, để rồi các con sẽ không thấy quá cô đơn nữa.

Và cuối cùng, dù mẹ đi bất cứ nơi đâu, một phần của mẹ sẽ luôn ở cạnh các con. Máu của mẹ chảy trong các con. Các con thừa hưởng những phần tốt nhất của mẹ. Mặc dù thân thể mẹ sẽ không còn ở đây, nhưng mẹ sẽ luôn dõi theo các con.

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó. Mẹ sẽ ngồi ngay đó, thúc giục con chơi lần nữa, lần nữa rồi lần nữa, thúc giục con đếm, chỉnh khuỷu tay, ngồi đúng tư thế. Và rồi mẹ sẽ ôm các con và nói cho các con biết các con đã làm tốt thế nào và mẹ tự hào về các con ra sao. Mẹ hứa đấy. Thậm chí sau khi các con đã chọn ngừng chơi từ lâu, mẹ vẫn sẽ đến bên các con vào những khoảnh khắc đặc biệt lẫn bình thường trong cuộc đời lúc các con sống với niềm đam mê và sự tận tâm trọn vẹn.

Đó có thể là khi các con đang đứng trên chóp núi, kinh ngạc trước vẻ đẹp phi thường và tràn đầy kiêu hãnh với khả năng của bản thân vì đã trèo lên đến đỉnh, hoặc khi lần đầu tiên các con ôm con mình trong vòng tay, hoặc khi các con đang khóc vì ai đó hay điều gì đó đã làm tan vỡ trái tim mềm yếu của mình, hoặc có lẽ là khi các con khổ sở thức suốt đêm để học bài hay làm việc. Hãy biết rằng mẹ các con từng cảm thấy những gì mà các con đang cảm thấy và mẹ luôn ở đó để ôm các con và thúc giục các con tiếp tục. Mẹ hứa đấy.

Mẹ thường mơ thấy khi mẹ qua đời, mẹ rốt cục sẽ biết cảm giác ra sao khi nhìn thế giới bằng đôi mắt không suy giảm thị lực, nhìn được tận ở phía đằng xa, thấy được những đặc điểm bé xíu trên một chú chim, được cầm lái một chiếc xe. Ôi, mẹ thật mong mỏi có thị lực hoàn hảo, dù tất cả những năm qua mẹ vẫn sống mà không có được nó. Mẹ mong mỏi cái chết sẽ giúp mẹ trở nên toàn vẹn, cho mẹ thứ mà mẹ bị tước mất trong kiếp này. Mẹ tin rằng giấc mơ ấy sẽ trở thành hiện thực. Tương tự, khi thời gian của các con đã đến, mẹ sẽ ở đó chờ các con, để các con cũng được trao cho thứ mà các con đã bị mất. Mẹ hứa đấy. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy sống, các con yêu quý của mẹ. Hãy sống một cuộc đời đáng sống. Sống hết mình và trọn vẹn, một cách chín chắn, biết ơn, can đảm và thông thái. Hãy sống!

Mẹ yêu hai con mãi mãi và mãi mãi, đến vô cùng vô tận, vượt cả không gian và thời gian. Đừng bao giờ quên điều đó.

TỶ LỆ

Đáng lý đó là lễ cưới trong gia đình. Giữa mùa hè năm 2013, tất cả mọi người tụ tập ở Los Angeles để ăn mừng ngày hạnh phúc nhất đời người em họ tuyệt đẹp của tôi. Tôi đã không đến được. Josh và tôi cùng Mia và Belle từ New York bay đến, định ở lại cỡ một tuần. Khoảng một tháng trước đó tôi đã thấy khó chịu trong bụng – không quá rõ ràng, ngoại trừ cảm giác nó không được bình thường. Buồn nôn, quặn thắt và táo bón khiến tôi phải đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khám, nhưng dường như chẳng có gì thật sự không ổn cả. Thế rồi tại Los Angeles, tôi bắt đầu ói mửa dữ dội, vì thế tôi nằm phòng cấp cứu khi lễ cưới diễn ra.

Nội soi đại tràng cho thấy một khối u ở giữa đại tràng ngang; đại tràng gần như hoàn toàn tắt nghẽn. Trong thuật ngữ chẩn đoán, “khối u” là thứ bạn hoàn toàn không muốn bác sĩ phát hiện bên trong bạn. Thậm chí trước khi làm sinh thiết, các bác sĩ đã khá chắc chắn đó là ung thư. Nhưng họ không biết đích xác cho đến khi bắt tay điều trị.

Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc mình tỉnh dậy sau ca phẫu thuật cắt bỏ nửa đại tràng trong phòng hồi sức. Josh đang được y tá Tim và bác sĩ D.C. – bác sĩ phẫu thuật của tôi – an ủi. Họ bảo anh phải tự chăm sóc bản thân để còn chăm sóc cho tôi. Tim hỏi anh ấy đã ăn tối chưa và, trước khi Josh kịp trả lời, đưa cho anh ấy miếng pizza trong phần ăn tối của mình. Thậm chí lúc còn đang mê man vì thuốc, tôi đã biết có chuyện gì đó thật sự tồi tệ khi tất cả mọi người đều quá quan tâm săn sóc Josh mà không phải tôi, người mới vừa phẫu thuật xong.

Nên lúc khuôn mặt trẻ trung của bác sĩ D.C. xuất hiện trước mắt tôi, tôi khàn khàn thốt lên, “Nguy kịch lắm sao?”. Dựa vào bầu không khí trong phòng, tôi hoàn toàn chắc chắn câu trả lời là phải.

Trái lại, bác sĩ D.C. nói, “Không, không nguy kịch lắm. Rất nghiêm trọng, nhưng không nguy kịch”. Ông giải thích cho tôi rằng ông đã cắt bỏ khối u thành công, nhưng ông tìm thấy một “khối di căn cỡ bằng hạt đậu” ở màng bụng gần khu vực bàng quang, đúng là phần di căn từ khối u chính. Tôi tự nhủ, Ừ, nghe cũng không đến nỗi nào – một khối di căn bằng hạt đậu cũng đã được cắt bỏ – vậy sao Josh lại suy sụp đến thế?

Tôi nằm đó trong trạng thái mơ màng vì thuốc, để những lời trò chuyện của mọi người cuốn qua tai khi cố gắng tỉnh táo hơn. Bác sĩ D.C. bảo tôi sẽ không nhớ nổi bất kỳ lời nào được nói ra trong tối hôm đó. Josh nói ông đừng quá đoan chắc như vậy. Tôi mỉm cười một mình. Nhiều năm bên cạnh tôi đã dạy Josh rằng tinh thần tôi giống như một chiếc bẫy thép, và dù đang lơ mơ vì thuốc hay không, tôi cũng chẳng quên bất cứ thứ gì (đặc biệt khi đó là thứ mà tôi có thể dùng để quật lại anh).

Thật ra, tôi nhớ được rất nhiều thứ trong buổi tối hôm đó. Bên cạnh việc cơ thể khó chịu vì mới vừa phẫu thuật xong, tôi nhớ mình đã nghĩ rằng phẫu thuật chắc hẳn diễn ra lâu hơn dự kiến hai tiếng rưỡi đồng hồ, vì bên ngoài trời đã nhá nhem tối. Tôi nhớ được anh và em họ tôi đã đến thăm tôi trong phòng bệnh. Tuy nhiên, trên hết, tôi nhớ mọi người cứ nói tới nói lui các con số. Một khối di căn. Giai đoạn IV. Sáu phần trăm, 8 phần trăm, 10 phần trăm, 15 phần trăm. Con số ba mươi.

Vì tôi có một khối di căn lan từ khối u chính sang phần khác trong cơ thể, bất chấp kích thước lây lan, tôi đã bị quẳng vào nhóm giai đoạn IV. Ung thư đại tràng giai đoạn IV gắn với tỷ lệ sống sót rất thấp, đâu đó trong tầm từ 6 đến 15 phần trăm. Bác sĩ D.C. lặp đi lặp lại với Josh trong tối đó rằng thống kê tỷ lệ sống sót vốn dựa trên một nghiên cứu cách đó ba mươi năm rồi, vì vậy không nên tin vào con số đó quá. Một khi tôi nắm được việc mọi người lo lắng về các con số, tôi hiểu ra tại sao Josh lại quá rối trí. Josh thích các con số. Anh ấy có thể thực hiện các phép tính phức tạp trong đầu. Lúc còn trong giai đoạn tìm hiểu nhau, vài lần anh ấy từng hỏi tôi rằng, “Em nghĩ tỷ lệ chúng ta lấy nhau là bao nhiêu?”. Anh ấy nhớ số điểm của từng trận Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ kể từ thời mới bắt đầu giải đấu. Anh ấy có thể nhớ được Roger Federer thua 5-3 trong hiệp hai vòng ba giải Wimbledon 2009. Đối với anh, cũng như đối với nhiều người khác, những con số tạo nên thứ tự trong một thế giới đầy hỗn loạn của sự ngẫu nhiên. Nên khi biết được vợ mình mắc ung thư đại tràng giai đoạn IV và thành thử khả năng sống có thể chỉ còn là con số lẻ năm năm, điều đó hiển nhiên thật quá tàn khốc.

Josh khóc nức nở đêm đó và sáng sớm hôm sau, khi anh tìm kiếm trên mạng hết lần này đến lần khác tỷ lệ sống sót của ung thư đại tràng giai đoạn IV trên chiếc ghế bố làm giường ngủ của anh. Màn hình iPad hắt lên mặt anh thứ ánh sáng ma quái trong bóng tối phòng bệnh. Anh không muốn thảo luận về các con số thống kê vì sợ chúng sẽ làm tôi buồn khổ, nhưng Josh không bao giờ có thể giấu tôi bất cứ điều gì – đó là một trong số các lý do mà tôi yêu anh nhiều đến vậy.

Và rồi anh cứ bán tín bán nghi khi thấy những con số thật sự không làm tôi khổ sở. “Thì sao nào?”, tôi nói. “Em không hiểu à?”, anh gặng hỏi, mong tôi hiểu được sự nghiêm trọng của tình hình.

Dù Josh yêu tôi nhiều như vậy, anh vẫn không thể thấu hiểu sự thật cơ bản về tôi, đơn giản vì anh không sống cuộc đời của tôi.

Anh không hiểu được sự tồn tại của tôi trên hành tinh này là bằng chứng cho thấy các con số ít ảnh hưởng đến tôi ra sao. Con số chẳng là cái đinh gì hết. Đêm đó tôi bảo anh thử quay về năm 1976, quay về cảnh hoang tàn và tuyệt vọng ngày đó, và thử tính tỷ lệ một bé gái mù may mắn sống sót qua cảnh nghèo đói không tưởng nổi, tỷ lệ cô bé ấy thoát khỏi vết nhơ vì mang trên mình một dị dạng cơ thể – thứ sẽ khiến cô bé không được bất kỳ người đàn ông nào yêu thương và không xứng đáng được làm mẹ của bất kỳ đứa trẻ nào, và tỷ lệ cô bé ấy chịu đựng được nỗi hổ thẹn khi biết rằng mình sẽ vĩnh viễn là gánh nặng của một gia đình đầy kiêu hãnh – những người sẽ phải chăm sóc cho cô như một kẻ tàn tật cả đời.

Tôi yêu cầu Josh thử tính tỷ lệ một cô bé sống sót trên biển rộng khi rất nhiều đàn ông trưởng thành đều bỏ mạng, tỷ lệ cô bé ấy giành được chút thị lực dù bị tổn thương thần kinh thị giác đã nhiều năm, tỷ lệ cô bé ấy đạt được thành công trong học vấn bất chấp kỳ vọng ít ỏi của gia đình bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết kiểu dân nhập cư, tỷ lệ cô bé ấy tốt nghiệp Trường Luật Harvard, tỷ lệ cô bé ấy gây dựng được sự nghiệp ngành luật của mình tại một trong những hãng luật đa quốc gia nổi tiếng nhất trên thế giới, và cuối cùng, tỷ lệ cô bé ấy cưới được một người đàn ông đẹp trai, tài giỏi đến từ miền Nam nước Mỹ và rồi có với anh ấy hai đứa con gái xinh đẹp. Đương nhiên, Josh không thể tính được những tỷ lệ này.

Josh bỏ ra hàng giờ để đọc các nghiên cứu y khoa, cố gắng tăng khả năng sống của tôi. Chỉ một chỗ di căn thay vì nhiều chỗ di căn sẽ tăng thêm phần trăm sống, cũng như tuổi tác và mức độ cân đối cơ thể, cũng như việc tôi được tiếp cận với hệ thống y tế tốt nhất trên thế giới, cũng như việc tôi có một hệ thống hỗ trợ tuyệt vời. Theo Josh, những yếu tố này tăng tỷ lệ sống vốn chỉ có năm năm của tôi lên đâu đó gần 60 phần trăm, mà đối với anh thế tốt hơn 6 phần trăm rất nhiều.

Thật lòng, với tôi 60 phần trăm nghe cũng chẳng to tát gì. Sự thật là bất cứ thứ gì thấp hơn 100 phần trăm đều chưa đầy đủ.

Song tất cả chúng ta đều biết, chẳng có gì trong cuộc sống là 100 phần trăm cả. Cơ hội một người phụ nữ dưới bốn mươi mắc phải ung thư trực tràng là 0,08 phần trăm theo công bố của tổ chức Mayo Clinic – Josh nói cho tôi biết chuyện này vì cá nhân tôi không tìm kiếm bất kỳ thứ gì trên mạng liên quan đến các con số thống kê. Con số này xem xét những phụ nữ mắc bệnh bởi cả hai nguyên nhân – do di truyền và không do di truyền. Khối u của tôi cho thấy không có dấu hiệu di truyền, nghĩa là khả năng tôi mắc phải ung thư đại tràng thậm chí còn thấp hơn 0,08 phần trăm. Vị bác sĩ nội khoa xuất chúng của tôi nói với tôi rằng trong ba mươi bảy năm hành nghề, ông chưa bao giờ gặp trường hợp người nào trẻ như tôi mắc ung thư đại tràng không do di truyền. Sao tôi không thấy rất đặc biệt nhỉ? Tôi có ít nhất 99,92 phần trăm cơ hội không mắc ung thư đại tràng tại giai đoạn này trong đời, song tôi lại dính phải.

Thế nên các con số chẳng có ý nghĩa gì. Chúng không đem đến sự bảo đảm, cũng không là nguồn cơn làm trầm trọng thêm vấn đề. Dĩ nhiên, sẽ tốt hơn nếu tôi ung thư giai đoạn I và không có di căn lây lan, song thậm chí khi tỷ lệ có lợi cho bạn, bạn vẫn có thể thua cuộc. Dù Josh vô cùng ám ảnh với tỷ lệ thống kê, anh ấy luôn kể tôi nghe khi đội đang lép vế thắng trận đấu bóng bầu dục hay bóng rổ và thách thức các tỷ lệ, “Đó là lý do chúng ta phải tiến hành trận đấu”.

Ờ thì, tôi ở đây để tiến hành trận đấu, và tôi chọn không sống và chết theo những gì mà những người lập nên tỷ lệ nói. Tôi chọn không đặt niềm tin vào số phần trăm của một số nhà nghiên cứu ẩn danh khi họ nhìn vào một đám số liệu khách quan. Thay vào đó, tôi chọn đặt niềm tin vào mình, vào cơ thể, trí tuệ và tinh thần của mình, vào những phần vốn đã nhuần nhuyễn trong nghệ thuật thách thức tỷ lệ của bản thân. Huấn luyện viên Taylor luôn nói với đội bóng bầu dục nghèo Panther trường Trung học Dillon của ông trong phim Ánh sáng đêm thứ Sáu (Friday Night Lights) rằng, “Mắt sáng, tâm đầy, không thể thua cuộc!”.

Tôi có mắt sáng và tâm đầy.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: cupofjo

Đọc bài viết

Trích đăng

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Published

on

By

Trích từ: Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo
Tác giả: Lee Ji-sung
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2020

-  Vì sao Khoa Y Đại học Harvard bãi bỏ việc giảng dạy truyền thống?
-  Vì sao tập đoàn tài chính Goldman Sachs sa thải 598 nhân viên tài giỏi nhất?
-  Lý do Google và NASA thành lập Đại học Singularity?
-  Lý do IBM tuyển chọn nhân viên có trải nghiệm văn hóa nhân loại học?

Từ năm 2030 đến cuối thế kỷ 21, hàng tỷ người trên thế giới sẽ bị Trí thông minh nhân tạo (AI) “cướp” công ăn việc làm. Những ngành nghề lâu nay được xã hội kính trọng và đánh giá cao như nghề bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, nhân viên văn phòng... sẽ là những nạn nhân đầu tiên.

Lúc đó, thế giới lao dộng sẽ gồm một nhóm nhỏ những người điều khiển AI và số còn lại sẽ bị AI điều khiển với tên gọi “vô sản bấp bênh”. Vũ khí nào giúp bạn làm chủ Trí thông minh nhân tạo? Bí mật nằm ở những năng lực chỉ riêng con người mới có.

Chúng là gì? Làm sao đánh thức và phát triển vượt bậc những năng lực đó thông qua giáo dục và tự đào tạo? Cuốn sách này là cẩm nang không thể thiếu nếu bạn muốn LÀM-CHỦ-TRÍ-THÔNG-MINH-NHÂN-TẠO.

Eight - Lee Ji-sung

*

Xin hỏi quý vị

Hiện nay các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Google, IBM đang ra sức đào tạo nhân tài làm chủ AI theo phương pháp “EIGHT”. Còn quý vị? Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng trên boong một con tàu đang bốc cháy dữ dội. Độ cao từ boong tàu tới mực nước biển là 50 mét, tương ứng với độ cao tầng 17 chung cư, nước biển phía dưới thì tối đen, lạnh lẽo, chuyển động dữ dội.

Quý vị sẽ làm gì?

Chạy lòng vòng trên boong tàu bốc cháy, bị lửa táp vào người rồi tử nạn? Hay can đảm nhảy từ boong tàu xuống biển?

Có lẽ quý vị sẽ trả lời thế này.

“Nếu là tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển. Tôi sẽ không mắc sai lầm ngu ngốc vì sợ biển mà ở lại boong tàu đâu.”

Tháng 7 năm 1988, Andy Mochan có mặt trên boong tàu khoan dầu xảy ra tai nạn cháy nổ. Từ nơi ban đầu xảy ra vụ nổ, lửa nhanh chóng lan ra toàn bộ con tàu. Trên boong, lửa và khói đen cũng bắt đầu bốc lên. Không chần chừ, Andy Mochan lao xuống biển Bắc, nơi có những ngọn sóng lạnh lẽo. Việc nhảy từ độ cao tương ứng với tầng 17 của chung cư xuống biển chẳng khác gì đánh cược tính mạng, nhưng Mochan cho rằng so với việc tiếp tục ở lại trên boong tàu đang bốc cháy thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. May thay anh ấy đã sống, được cứu hộ không lâu sau khi nhảy xuống biển.

Chuyện vẫn chưa hết. Trên boong con tàu khoan dầu không ngừng bốc cháy còn có hơn 168 người khác. Tuy nhiên, họ cứ chạy tứ tán trên boong đến giây phút cuối cùng của cuộc đời một cách đầy tiếc nuối.

Tôi xin hỏi lại.

Nếu có mặt trên boong tàu đang bốc cháy đó, quý vị sẽ hành động như thế nào? Đánh cược mạng sống, một mình nhảy xuống biển? Hay ở lại cùng với 168 con người kia?

Ngay lúc này đây, con tàu khổng lồ mang tên Đại Hàn Dân Quốc đang cháy và chìm dần xuống biển. Người dân chạy tứ tán trên boong tàu, thậm chí trên tàu đang xảy ra chuyện gì họ cũng không biết và cũng không buồn tìm hiểu.

Quý vị sẽ làm gì? Quý vị sẽ giống như những người làm ngơ không biết thế giới đã thay đổi như thế nào, để cuối cùng đón nhận cái kết đáng tiếc? Hay sẽ lao xuống biển là cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đại diện cho Trí thông minh nhân tạo?

Vì sao đến chết Steve Jobs vẫn không rời Trí thông minh nhân tạo?

Tôi cũng không nhớ rõ hôm ấy là khi nào. Hôm ấy, khi bước ra ngoài, tôi cảm thấy dường như xung quanh đã thay đổi. Tất cả mọi người đều cầm thứ gì đó bóng bẩy trên tay, nhưng lúc đó tôi không để tâm quan sát kỹ. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với Iphone. Và tôi bắt đầu tò mò về Steve Jobs.

Dĩ nhiên, tôi đã biết rõ về Jobs từ lâu. Tôi từng bị thu hút bởi câu nói của Jobs “Nếu được dùng bữa trưa cùng với Socrates, tôi sẽ kể cho ông ấy nghe hết mọi công nghệ mà Apple có được”. Tôi không ngừng đọc, suy ngẫm và hiểu ra câu nói trên chỉ là lối diễn đạt theo phong cách riêng của Jobs cho cái gọi là “Phương pháp kinh doanh kiểu Socrates” mà các đại diện tiêu biểu là Peter Drucker của Mỹ và Charles Handy của châu Âu. Ngoài ra, tôi cũng biết thêm rằng bảng phả hệ trong ngành Kinh doanh hiện đại được nối tiếp theo thứ tự “các triết gia trước Socrates ®Socrates®Platon®Aristole®Vua Alexander®trường Cao học Luật Harvard®trường Cao học Kinh doanh Harvard®George Marshall®Peter Drucker, Charles Handy”. Ở đây tôi cũng tìm ra lời đáp cho câu hỏi “Làm sao ứng dụng phương pháp đối thoại của Socrates vào kinh doanh?”. Tôi đã mang tất cả sự thật cùng với câu trả lời tìm được vào bản thảo đang viết dở. Về sau, bản thảo đó được xuất bản thành sách với tựa đề Hãy lãnh đạo bằng cách đọc.

Trở lại câu chuyện về Iphone. Sau khi nhìn thấy Iphone, đúng hơn là nhìn thấy những người tôn thờ Jobs như giáo chủ và nâng niu chiếc Iphone như một quyển kinh thánh, tôi thật sự tò mò về Jobs. Tò mò mọi thứ về ông ấy, như suy nghĩ, triết lý, cảm xúc... Tôi đến hiệu sách mua tất cả các sách liên quan đến Jobs và Apple. Tôi còn đến ba thư viện mượn tất cả sách về Jobs và Apple. Nhưng tôi không mua Iphone. Lee Kun Hee – nhà sáng lập và đưa Samsung từ một doanh nghiệp hạng 3 trở thành tập đoàn Samsung hùng mạnh của hiện tại – từng nói thế này:

“Nếu quý vị đi xe buýt mà không biết nó được chế tạo như thế nào thì đó không phải là quý vị đi xe buýt mà là bị chất lên xe.”

Tôi muốn biết suy nghĩ, triết lý và cảm giác của người đã tạo ra chiếc Iphone, rồi sau đó sở hữu nó cũng không muộn.

Tôi của thời điểm đó là người như vậy. Một người vô cùng kiểu cách trong tất cả mọi việc, một người luôn luôn đập vỡ một phần chiếc cầu, và sau khi xác nhận được nó là cầu đá thì mới đi qua. Dĩ nhiên tôi của hiện tại đã khác sau khi sinh được hai đứa con. Tôi cố gắng sống như một dòng nước chảy.

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Hãy lãnh đạo bằng cách đọc được xuất bản vào tháng 11 năm 2010 và tái bản năm 2016, dài 432 trang. Vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân văn học” ở Hàn Quốc đã được giới học thuật sử dụng. Nhưng tất cả mọi người đều thốt lên: “Một quyển sách dài 368 trang với chủ đề ‘phải nhân văn’ ư? Thật là điên rồ”. Họ đều tin rằng sách của tôi sẽ thất bại. Thế nhưng thật bất ngờ, ngay lần xuất bản đầu tiên nó đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất với số lượng bản in cực lớn. Mượn lời diễn đạt của truyền thông lúc đó (chính miệng tôi nói thì đâm ra gượng gạo): quyển sách này đã thắp lên ngọn đuốc dẫn đường cho nhân văn học ở Hàn Quốc.

Khoảng bốn tháng sau khi quyển sách được xuất bản, tháng 3 năm 2011, ngọn đuốc ấy được châm thêm dầu. Tại sân khấu công bố Ipad 2, Steve Jobs tuyên bố: “Apple sinh ra từ điểm giao thoa giữa nhân văn học với khoa học và công nghệ.” Ngay lập tức, tuyên bố này gây xôn xao trong giới doanh nghiệp. Họ rỉ tai nhau rằng, “Yếu tố dẫn tới thành công của Jobs là nhân văn học”, “Bây giờ chúng ta phải theo nhân văn học thôi”. Con đường phát triển của doanh nghiệp hướng đến giới học thuật, các học giả nhạy bén bắt đầu sản xuất ra các bài giảng nhân văn học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trường đại học, Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội... đều thay đổi theo sự thay đổi của doanh nghiệp, cuối cùng cả nước bắt đầu nhộn nhịp theo đuổi nhân văn học.

Bản thân tôi cũng rơi vào vòng xoáy của trào lưu đó. Tới lúc định thần lại, tôi phát hiện mình đang đứng lớp giảng về nhân văn học trước các nhà tài phiệt, CEO và chính trị gia. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy bất an. Chẳng phải tôi đã từng gánh món nợ bảo lãnh 2 tỷ won và sống trong căn phòng gác mái vốn là kho chứa đồ nhưng được sửa chữa trái phép sao? Lúc đó, tôi đã cầu nguyện rất nhiều để xin Chúa cứu giúp. Chỉ cần Chúa cho tôi thành công trong mảng viết lách thì tôi sẽ dành cả đời, cho đến chết, để sống vì những người gặp khó khăn như tôi lúc này.

Tôi rất thích được mời đến nơi nào đó sang trọng nhưng cũng rất đắn đo khi nghĩ đến lời cầu xin với Chúa lúc còn là một tác giả vô danh. Cũng may là sự rối rắm đó của tôi kéo dài không lâu. Một ngày nọ, tôi đoạn tuyệt mối quan hệ với xã hội thượng lưu. Dĩ nhiên, hiện tại tôi đã kết nối lại với một số người, nhưng nếu nghĩ lại tôi cũng không hiểu rốt cuộc tại sao mình lại đột ngột đưa ra phán quyết và hành động như thế.

Từ lúc đó, cùng với các thành viên trong hội Polle Polle (Fan Café), tôi bắt đầu công việc phổ cập giáo dục nhân văn học ở trung tâm thiếu nhi địa phương trong nước, giúp đỡ trẻ em nghèo cùng những người thoát ly khỏi Triều Tiên. Bên cạnh đó, tôi cũng bắt tay vào việc xây dựng trường học ở những nơi nghèo khó bên ngoài Hàn Quốc.

Tôi đặc biệt say mê dự án làng tị nạn ở nước ngoài. Từ Đông Nam Á, Ấn Độ qua Pakistan, Nga, Nam Mỹ đến những trại tị nạn ở Trung Đông, châu Phi và Syria đều thiếu trường học nên chúng tôi trực tiếp đến thăm và lưu lại khá lâu ở những nơi đó.

Cùng sinh hoạt với những người dân vốn khác nhau về ngôn ngữ, một ngày nọ tôi bắt đầu đọc sách và suy ngẫm.

Cả ngày ở một làng tị nạn tràn lan người bệnh vô gia cư và người ăn xin như Kolkata (Ấn Độ), tôi vừa đọc Kant vừa suy ngẫm về vấn đề “Làm triết học là gì?”.

Ở ngôi làng của tộc người Maasai châu Phi, nơi có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, không có điện cũng không có nước, tôi đọc Tham luận triết học luân lý của Ludwig Josef Johann Wittgenstein và nghĩ về “điều không thể nói”.

Khi qua đêm trong công-ten-nơ ở trại tị nạn Jordan Syria, nơi có đầy bom của IS, tôi đọc Tân Ước và suy ngẫm về ý nghĩa của hoang mạc mà Thánh Gioan Baotixita và Chúa Jesus từng trú ngụ. Ban ngày, tôi đã quan sát nơi này khi ngồi trên ô tô.

Chuyện xảy ra khi tôi hoạt động tình nguyện ở Tondo, Philippine, một trong ba thành phố nghèo nhất trên thế giới. Sau khi kết thúc lịch trình một ngày làm việc, tôi đi vào thành phố và ghé qua hiệu sách. Khắp nơi trong hiệu sách đều trưng bày quyển Steve Jobs (bản tiếng Anh) của Walter Isaacson, cuốn tiểu sử duy nhất được Steve Jobs công nhận. Tôi lật qua vài trang rồi rời khỏi hiệu sách trở về Tondo. Tuy nhiên, kỳ lạ là gương mặt của Steve Jobs được in lớn trên bìa sách cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đã bối rối trong chốc lát, nhưng ngay lập tức đưa ra quyết định:

“Tốt thôi! Mình sẽ chỉ nghĩ về Jobs cho đến khi ông ấy không còn xuất hiện trong tâm trí bất bình thường này nữa!”

Tôi bắt đầu cuộc chạm trán lạ lùng với Jobs. Khi đó bất chợt trong đầu tôi nảy ra câu hỏi.

“Mọi người đang nói về Jobs và nhân văn học, vậy nhân văn học mà Jobs nhắc đến là gì? Nhân văn học vốn dĩ được chia thành triết học – lịch sử – văn chương, trong đó riêng triết học đã bao gồm Triết học phương Tây, Triết học phương Đông, Triết học Ấn Độ,... Triết học phương Tây lại gồm Triết học cổ đại, Triết học trung đại, Triết học cận đại... Đâu chỉ có thế. Riêng Triết học cổ đại phương Tây thôi đã có nhiều triết gia rồi. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là triết học, lịch sử, văn chương của những ai, ở thời đại nào? Liệu có phải Socrates từng được nhắc tới ở đầu chương sách này? Không. Lúc đó Jobs có nói là ông dựa trên phương pháp kinh doanh của bản thân. Nhân văn học kết hợp với khoa học công nghệ của Apple có lẽ bắt nguồn cội rễ từ Socrates nhưng đó không phải là Socrates. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là gì?”

Vài ngày sau tôi trở về Hàn Quốc. Để có được lời đáp cho câu hỏi này, tôi đã tìm kiếm gần như tất cả các sách và bài giảng ở Hàn Quốc có nhắc tới Jobs, Apple và nhân văn học. Tôi còn gặp gỡ các học giả và chuyên gia ngành nhân văn có tiếng để thăm hỏi. Nhưng dù ở đâu, với ai, tôi cũng không tìm được câu trả lời. Tất cả đều hỏi tại sao tôi lại thắc mắc điều đó. Do vậy, tôi nghiên cứu về Jobs lại từ đầu. Tôi đọc và nghiền ngẫm lại toàn bộ các sách liên quan đến Jobs và Apple, chụp màn hình lưu lại các bài báo trong nước nói về Jobs. Những video nói về Jobs hay có Jobs xuất hiện tôi cũng tua đi tua lại để xem. Ví dụ như chương trình “Steve Jobs: Cuộc phỏng vấn bị đánh mất”, tôi tự tay bê toàn bộ phụ đề lưu vào laptop, đọc đi đọc lại hơn mười lần, hay mẩu quảng cáo “Think Different” huyền thoại của Apple phản ánh triết lý của Jobs tôi cũng xem đi xem lại hơn ba mươi lần.

Và cuối cùng tôi biết được sự thật: Nhân văn học của Jobs là triết học công cụ xuất hiện trong cuốn Tồn tại và Thời gian của triết gia Martin Heidegger; sự kết hợp giữa nhân văn học và khoa học công nghệ có nghĩa là tác nghiệp của Mark Weiser, người đứng đầu PARC (Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto); “Simple” (mẫu) là triết lý thiết kế của Trường dạy nghệ thuật Bauhaus ở Đức và triết lý thiết kế kiến trúc Mỹ được phát triển và kế thừa từ Louis Henry Sullivan ® Frank Lloyd Wright ® Joseph Eichler. Sau này, tôi nói rõ hơn về những điều này trong quyển Nhân văn học trong tôi.

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời. Nhiều người trên thế giới tiếc thương cho sự ra đi của Jobs. Làn sóng này cũng xảy ra ở Hàn Quốc. Bất chợt, tôi tò mò về sự ra đi của ông.

“Jobs đã làm gì trước khi chết? Lẽ nào ông lại không đóng góp một khoản tiền khổng lồ cho nơi nào đó, như bệnh viện ung bướu chẳng hạn? Và hẳn là ông đã dành trọn khoảng thời gian quý báu cuối cùng bên những người thân yêu?”

Khác với phỏng đoán của tôi, Jobs vẫn miệt mài nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo.

Năm 2003, Cơ quan Chỉ đạo Dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng Mỹ, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford (SRI International), xúc tiến dự án Trí thông minh nhân tạo CALO (Trợ lí nhận thức học và tổ chức) với mục đích nghiên cứu và phát triển Trí thông minh nhân tạo có khả năng học tập và suy luận đến có thể đối thoại với con người. Dự án huy động khoảng 300 chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo và được tiến hành trong 5 năm. Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford đã tách riêng một phần của dự án này và cho khởi nghiệp. Tháng 4 năm 2010, Jobs chi khoảng 2.260 tỷ won mua lại doanh nghiệp này. Jobs trực tiếp chỉ đạo dự án Trí thông minh nhân tạo Iphone, phát triển phần mềm Siri. Jobs qua đời sau hôm công bố Iphone 4S có tích hợp trợ lí nhận dạng giọng nói Siri.

Chính vì vậy, trong một năm rưỡi trước khi qua đời, Jobs bỏ ra một số tiền khổng lồ mua lại doanh nghiệp start-up về Trí thông minh nhân tạo, trực tiếp chỉ huy dự án Trí thông minh nhân tạo và ngừng thở vào hôm sau ngày dự án đó được hoàn thành. Nói đơn giản, Jobs đã dồn hết sức sống còn lại của mình cho Trí thông minh nhân tạo. Sẽ thế nào nếu Jobs không dồn hết tâm huyết vào Trí thông minh nhân tạo cho đến lúc cuối đời? Biết đâu ông ấy sẽ sống thêm được một thời gian. Không chừng bây giờ ông ấy vẫn còn sống.

Thông qua nhiều cách, tôi biết việc quan trọng nhất mà Jobs đã làm được trước khi chết, tôi bị sốc nặng, mặt nghệch ra. Tôi không hiểu “Jobs bị gì vậy?”, “rốt cuộc Trí thông minh nhân tạo là cái quái gì?”. Đương nhiên, từ năm 2004, tôi đã biết các doanh nghiệp IT lẫy lừng của Mỹ đều tập trung vào Trí thông minh nhân tạo, dựa vào câu nói của Bill Gates “Tôi sẽ dẹp hết mọi việc sang một bên và chạy ngay tới nếu nơi đó có thông tin liên quan đến Trí thông minh nhân tạo” trong quyển Buffett & Gates on Success (tạm dịch Buffett và Bill Gates nói về thành công) được dịch và xuất bản bằng tiếng Hàn. Thế nhưng, khi đó với tôi, Trí thông minh nhân tạo là thứ nằm giữa ranh giới của khoa học viễn tưởng và khoa học. Không, nó gần với khoa học viễn tưởng hơn. Tuy nhiên khi lần theo hành tung của Jobs trước khi mất, tôi nhận ra Trí thông minh nhân tạo hoàn toàn không phải là khoa học viễn tưởng. Từ lúc này tôi nghiêm túc đón nhận Trí thông minh nhân tạo, chính thức bắt đầu nghiên cứu về nó. Tháng 3 năm 2015, tôi mang một phần nội dung nghiên cứu được vào Nhân văn học trong tôi.

Không ai quan tâm

Nhân văn học trong tôi leo lên vị trí số 1 của thể loại sách tổng hợp bán chạy nhất sau khoảng 2 tháng xuất bản. Quỹ tin tức về Nhân văn học trong tôi mà tôi thực hiện cùng với Daum (trang thông tin điện tử) đạt hơn 100 triệu won và tạo ra một đề tài lớn. Trong thâm tâm, tôi đã kỳ vọng rằng “mối quan tâm về Trí thông minh nhân tạo sẽ bùng nổ ở Hàn Quốc ngay thôi”. Nhưng rốt cục, chỉ mình tôi đơn thương độc mã nghĩ như thế trên đất nước Kim Chi này. Thật đó, không ai quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo cả. Chán nản, tôi chọn cách quên nó đi.

Rồi một ngày nọ, theo tôi nhớ có thể là do AlphaGo, cả nước đã náo loạn. Tôi nhận được liên lạc từ nhà xuất bản. Họ bảo rằng một doanh nghiệp đề nghị tôi đến giảng cho họ về chủ đề “Trí thông minh nhân tạo và nhân văn học”. Thật thú vị. Và tôi đã đồng ý ngay.

Doanh nghiệp đó có khá nhiều nhân viên nên buổi thuyết giảng được chia thành hai lượt, sáng và chiều. Trong giờ ăn trưa hôm đó đã xảy ra một sự việc khiến tôi thay đổi ý nghĩ về Trí thông minh nhân tạo. Ngồi dùng cơm cùng Tổng giám đốc và ban lãnh đạo nhưng thật tình tôi không thể nuốt nổi cơm.

Lý do là vì sau lời mào đầu lê thê, ẩn ý sâu xa của ông Tổng: “Chắc nhà văn cũng quan sát thấy, công ty chúng tôi được nhiều người từ Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông và dĩ nhiên cả Mỹ và châu Âu thường xuyên lui tới. Thế nhưng, không biết từ bao giờ mọi người bắt đầu nói với nhau về Trí thông minh nhân tạo. Tôi tìm hiểu và biết rằng thế giới đang được tái cấu trúc, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm. Vì vậy, công ty chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo để nghe họ thuyết giảng. Nhưng tất cả đều chỉ trình bày đại loại như công nghệ Trí thông minh nhân tạo phát triển như thế này; trong tương lai do Trí thông minh nhân tạo mà thế giới sẽ thay đổi như thế này; Trí thông minh nhân tạo giống như SkyNet trong phim Kẻ hủy diệt, nó xuất hiện và biến nhân loại thành nô lệ của nó. Anh thử nghĩ xem, những chuyện đó liên quan gì đến chúng tôi? Việc quan trọng không phải là đưa ra đáp án cho câu hỏi “Chúng tôi cần chuẩn bị gì cho tương lai?” hay sao? Giờ đây chắc chắn sẽ sớm đến thời đại mà Trí thông minh nhân tạo vượt qua được con người. Vậy tóm lại lúc đó là khi nào, chúng tôi phải đào tạo, biến hóa bản thân như thế nào, nhân viên và con cái của nhân viên chúng tôi cũng phải học và chuẩn bị ra sao, họ phải cho chúng tôi biết những thứ đó chứ. May mắn là trong quyển Nhân văn học trong tôi của anh có thể hiện đôi chút nội dung như thế nên lần này chúng tôi đã mời anh. Cảm ơn nhà văn, dù bận rộn nhưng đã nhận lời đến đây”.

Từng thành viên ban lãnh đạo luân phiên đưa ra lời thắc mắc, người thì hỏi đứng trước thời đại Trí thông minh nhân tạo thì bản thân tôi phải chuẩn bị gì, người thì kể chi tiết con cái họ đang được cha mẹ chuẩn bị cho như thế nào và hỏi vậy định hướng và phương pháp của họ có đúng không, người khác lại hỏi tôi có thể cho họ lời khuyên không.

Tôi nhớ đó là bữa trưa khá mệt mỏi như cả ngày hôm đó, nhưng tôi nhận ra điều này:

“Ừ nhỉ, việc quan trọng là trả lời câu hỏi “Trong thời đại Trí thông minh nhân tạo thì tôi cần phải chuẩn bị gì?”. Đúng thế, việc cần thiết với tất cả mọi người chính là điều đó. Sau này mình phải nghiên cứu sâu hơn về nó.”

40.000 người đối đầu với 49.960.000 người

Buổi thuyết giảng ở doanh nghiệp đó có phải là bước ngoặt với tôi? Đột nhiên các lời đề nghị thuyết giảng về Trí thông minh nhân tạo bắt đầu ập tới xối xả. Ban đầu tôi từ chối “Ôi trời, tôi không phải là người nghiên cứu hay phát triển Trí thông minh nhân tạo gì cả, tôi chỉ là nhà văn thôi”. Trí thông minh nhân tạo không phải là chuyên môn của tôi nên tôi đã bối rối khi nhận được đề nghị thuyết giảng từ khắp cả nước chứ không phải một hai nơi.

Sự thực ở thời điểm đó tôi không hề có ý định sẽ viết quyển sách này. Bỗng một hôm khi đang đọc sách liên quan đến Trí thông minh nhân tạo ở thư viện, tôi vô tình biết được xã hội nhân loại tương lai sẽ chia thành “giai cấp ra chỉ thị cho Trí thông minh nhân tạo” và “giai cấp nhận chỉ thị của Trí thông minh nhân tạo”. Và cũng được biết chuyện các nước tiên tiến đã nỗ lực từ lâu để sản xuất ra nhiều nhất có thể các công dân phụ thuộc vào điện tử. Tôi đã sốc. Càng sốc hơn khi biết được sự thật tiếp theo. Hàn Quốc gần như không có người hiểu biết về lĩnh vực này. Truyền thông cũng không đả động đến.

Hỏng rồi. Tôi cảm thấy bất an, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ lặp lại lịch sử của thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc. Tôi bắt đầu tích lũy tài liệu để viết sách. Tôi gần như đã đọc hết các sách về Trí thông minh nhân tạo được xuất bản cũng như tất cả các tin tức liên quan mà truyền thông đã đăng. Bằng cách đó tôi đã thu thập tài liệu trong hơn một năm, và mất khoảng ba tháng để phân tích tài liệu.

Thế nhưng, thật khó để đặt bút viết. Trong suốt hai năm, tôi bận bịu với các bài giảng ở khắp nơi trên cả nước, đồng thời phải giải quyết nhiều công việc khác nên trong một tháng nhiều lắm chỉ viết được khoảng năm hay sáu lần. Tính bình quân mỗi lần giảng có khoảng 300 người nghe thì tất cả tôi đã giảng cho khoảng 40.000 người. Ngược lại, số người không được nghe giảng về Trí thông minh nhân tạo, số người được cho là không hề quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo chiếm khoảng 49.960.000 người.

Hơn nữa, môi trường chung của Hàn Quốc thì sao? Hãy nhìn vào nhóm 8 trường hàng đầu Gangnam gần như giữ vai trò dẫn đường cho giáo dục Hàn Quốc. Ngay lúc này, mọi người không thấp thỏm lo lắng là do giáo dục đã bớt chạy theo hướng nhồi nhét chăng? Tất cả các nước tiên tiến đều tuyên bố rằng trong tương lai chỉ số thông minh (IQ) của Trí thông minh nhân tạo sẽ vượt qua mức 10.000 nên kiểu giáo dục học thuộc lòng hoàn toàn không có ý nghĩa, họ đang nỗ lực để giúp trẻ em phát triển năng lực mà Trí thông minh nhân tạo tuyệt đối không thể có. Minh họa cho điều này, không khác gì việc súng đã được phát minh và tất cả mọi người đều trang bị súng, chỉ riêng chúng ta vẫn còn dạy cho trẻ con cách chế tạo mũi tên tốt hơn một chút. Hay chuyện con người đã phát minh ra điện và mọi người đang tạo ra nền văn minh từ điện nhưng chỉ mỗi chúng ta lại đang dạy cho trẻ con cách làm nến có thể cháy lâu hơn một chút.

Còn Chính phủ và Quốc hội thì sao? Trong khi các cơ quan nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước đang tranh nhau công bố các báo cáo về việc trong tương lai khoảng 10 năm tới thế giới sẽ thay đổi, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm, các nghề nghiệp mang tính chuyên môn và dĩ nhiên bao gồm cả nghề lao động đơn giản, thậm chí các công việc kỹ thuật sẽ bị thay thế bởi Trí thông minh nhân tạo thì ở Hàn Quốc, Chính phủ và Quốc hội lại không đưa ra được đối sách nào cả. Khoan nói tới chuyện ra đối sách thiết thực, ngay cả việc hướng dẫn người dân như Chính phủ và Quốc hội Nhật đã làm: “Khi xin việc hãy lựa chọn công việc mà về sau không bị Trí thông minh nhân tạo thay thế”, họ còn không thể làm được.

Thế còn vấn đề Triều Tiên? Không riêng Yuval Noah Harari, các nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng khuyến cáo Hàn Quốc có thể trở thành quốc gia phải đương đầu với mối nguy hiểm lớn nhất trong thời đại của Trí thông minh nhân tạo. Một người như Kim Jong-un sau này có thể xây dựng đội quân robot bằng Trí thông minh nhân tạo. Thực tế, hiện nay điều khiến binh lính khiếp sợ nhất trong lúc giao chiến không phải là lính con người mà là lính robot được chế tạo từ Trí thông minh nhân tạo. Tóm lại, chúng ta phải nhìn vấn đề Triều Tiên trên quan điểm của thời đại Trí thông minh nhân tạo. Sự uy hiếp từ đội quân robot Trí thông minh nhân tạo sẽ không biến mất cho dù chế độ Kim Jong-un sẽ chấm dứt ở Triều Tiên, 200.000 tù nhân chính trị bị bắt giam được trả tự do và nhân quyền được khôi phục, từ Bắc chí Nam được thống nhất theo chủ nghĩa tự do dân chủ với vai trò chủ đạo của Đại Hàn Dân Quốc.

Ngoài ra, xung quanh Hàn Quốc còn có Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, những quốc gia có tiềm năng quân sự hùng mạnh, có thể xây dựng quân đội robot Trí thông minh nhân tạo mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn cả Triều Tiên. Ba quốc gia này có bốn điểm chung như sau.

Thứ nhất, đã từng giao tranh với Hàn Quốc.

Thứ hai, giữa họ cũng từng xảy ra giao tranh.

Thứ ba, các nước láng giềng đều có kế hoạch triển khai quân đội đến bán đảo Triều Tiên trong tình huống khẩn cấp. Trung Quốc đã bố trí khoảng từ 500 đến 1.200 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hướng về bán đảo Triều Tiên; chưa hết, họ còn có đội quân chuyên biệt phụ trách bán đảo Triều Tiên từ trước; Nga cũng cho quân đội tập trận cùng với đội quân này của Trung Quốc; Nhật thì tuyên bố nếu nguy cấp họ bắt buộc phải triển khai quân tự vệ lên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, ngay thời điểm hiện tại họ đang đầu tư chi phí quân sự rất lớn để xây dựng quân đội vững mạnh.

Tóm lại Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều là những nước mạnh về kinh tế và quân sự. Ba quốc gia này liệu có ngồi yên trong thời đại Trí thông minh nhân tạo? Tuyệt đối là không rồi. Họ sẽ sản xuất ra đội quân robot Trí thông minh nhân tạo theo tiêu chuẩn hiện đại nhất của thế giới và đưa vào thực tiễn. Chúng ta phải nhìn thấy tương lai này và chuẩn bị đối phó với nó. Nếu không, chúng ta sẽ không bảo vệ được mình trong thời đại Trí thông minh nhân tạo.

Quốc gia đứng đầu thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người”

Toàn bộ tai ương về Trí thông minh nhân tạo do sự vô tri, vô năng của Chính phủ và Quốc hội gây ra sẽ trở thành gánh nặng cho người dân. Quý vị có biết quốc gia số 1 thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người” nằm ở đâu không? Chính là Hàn Quốc. Theo báo cáo do tổ chức Liên minh Robot thế giới (IFR) công bố, ở Hàn Quốc, cứ 10.000 người lao động thì có khoảng 462 đến 531 người bị robot thay thế, nhiều hơn mức trung bình 69 người của thế giới (số liệu năm 2016).

Sau này, nếu thời kỳ Trí thông minh nhân tạo chính thức bắt đầu thì Hàn Quốc có khả năng rất cao sẽ trở thành quốc gia số 1 trên thế giới tính theo tỷ lệ người bị Trí thông minh nhân tạo thay thế. Điều này có ý nghĩa gì? Có nghĩa là quý vị, người hiện đang đọc bài viết này có nhiều khả năng sẽ bị mất việc do Trí thông minh nhân tạo gây ra. Lỡ như tình huống đó xảy ra, quý vị và gia đình quý vị sẽ thế nào? Mới nghĩ thôi đã thấy kinh khủng. Có một việc còn kinh khủng hơn nữa. Quý vị hoàn toàn không biết về việc này, cũng như không hề có sự chuẩn bị nào để đối phó với nó.

Nhóm đặc quyền ở Hàn Quốc, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều kém năng lực, nhưng dù sao ở Hàn Quốc họ vẫn là tập thể chuẩn bị tốt nhất cho tương lai. Từ sau sự kiện AlphaGo, họ đều đặn tham dự các diễn đàn hay các buổi diễn thuyết, buổi thảo luận về vấn đề Trí thông minh nhân tạo, chăm chỉ cóp nhặt kiến thức liên quan. Nếu không tin, quý vị hãy thử gõ từ khóa đại loại như “diễn đàn Trí thông minh nhân tạo” hay “diễn thuyết Trí thông minh nhân tạo”, “thảo luận Trí thông minh nhân tạo” vào mục tìm kiếm tin tức trên mạng mà xem.

Dĩ nhiên việc học tập, nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo của nhóm đặc quyền chỉ dừng lại ở kiểu nhồi nhét. Thế nhưng thực tế họ là những người có nhiều hiểu biết nhất về Trí thông minh nhân tạo, có sự chuẩn bị tốt nhất cho thời đại Trí thông minh nhân tạo ở Hàn Quốc. Hơn nữa, ngoài tài sản và quyền lực, họ còn có cả mối quan hệ. Vì thế, dù thời đại Trí thông minh nhân tạo có xảy ra thì khả năng cao họ vẫn có thể sống tốt.

Nhưng đại đa số những người không có đặc quyền nào cả sẽ ra sao? Ở đây tôi sẽ nói cụ thể, đó là chuyện chúng ta sẽ mất việc làm, gia cảnh rơi vào khốn khó chỉ trong một buổi sáng và phải sống cuộc sống của kẻ nghèo khổ trong suốt phần đời còn lại.

Quý vị sẽ làm gì?

Cứ sống như hiện tại rồi một ngày nọ bị loại bỏ bởi Trí thông minh nhân tạo có tài năng vượt trội hơn quý vị?

Hay là ngay từ bây giờ quý vị sẽ biến mình thành người “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, tức là trở thành chủ nhân của Trí thông minh nhân tạo?

Tôi hy vọng quý vị sẽ lựa chọn ý thứ hai. Tôi hy vọng quý vị sẽ là một cá thể mạnh mẽ có thể bảo vệ cho những người thật sự quan trọng với quý vị và cả bản thân quý vị trong tương lai.

Nếu quý vị bắt đầu bước đi trên con đường trở thành “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, những người xung quanh quý vị cũng sẽ quan tâm đến con đường này. Và họ sẽ bắt đầu sánh bước cùng quý vị.

Chỉ khi người dân Hàn Quốc chuẩn bị cho tương lai theo cách như thế thì mới mở rộng được cánh cửa cường quốc Trí thông minh nhân tạo phía trước.

Tôi tin chắc là vậy.

Đây là lý do khiến tôi cầm bút sau hồi lâu lưỡng lự.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Con đường từ bi” – Jack Kornfield

Tôi đã yêu thương đủ chưa?

Published

on

Trích từ: Con đường từ bi
Tác giả: Jack Kornfield
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 6.2020

Chi tiết tác phẩm

Được viết bởi nhà tâm lý học và thiền sư nổi tiếng thế giới, cuốn sách ấm áp này đã chạm đến các vấn đề thiết yếu hiếm khi được đề cập trong sách thiền. Từ lòng trắc ẩn, sự nghiện ngập, chữa lành tâm lý và cảm xúc đến xử lý các vấn đề liên quan đến mối quan hệ và tình dục, cuốn sách giải đáp phần lớn nỗi băn khoăn của những người tìm kiếm tâm linh hiện đại, cả người vừa bắt đầu lẫn người đã có nhiều năm kinh nghiệm.

Con đường từ bi chứa đầy các câu chuyện, công án và cả những hướng dẫn thiền định khôn ngoan. Chính trải nghiệm sâu sắc và đôi khi hài hước của tác giả sẽ dẫn dắt bạn vượt qua các trở ngại và thử thách của đời sống tinh thần, cũng như tìm thấy cảm giác thiêng liêng trong trải nghiệm hàng ngày.


1
TÔI ĐÃ YÊU THƯƠNG ĐỦ CHƯA?

Ngay cả những trạng thái thăng hoa nhất và những thành quả tâm linh phi thường nhất cũng không quan trọng nếu chúng ta không thể hạnh phúc trong những cách cơ bản và bình dị nhất, nếu chúng ta không thể chạm đến người khác và cuộc đời mà chúng ta được ban tặng bằng tâm mình.

Khi thực hành đời sống tâm linh, vấn đề thật đơn giản: Chúng ta phải chắc chắn rằng đạo trình của mình được kết nối với trái tim. Có nhiều thị kiến khác được trình ra trước chúng ta trong trường tâm linh hiện đại. Những truyền thống tâm linh lớn đưa ra nhiều câu chuyện về giác ngộ, cực lạc, kiến văn, sự xuất thần, và những khả tính tối cao của tinh thần con người. Do phạm vi rộng của các giáo huấn sẵn có ở phương Tây, ban đầu chúng ta thường bị thu hút trước những phương diện quyến hoặc và phi thường này. Dù triển vọng đạt tới những trạng thái như vậy có thể thành tựu, và dù những trạng thái này quả là tiêu biểu cho các giáo huấn ấy, trong nghĩa nào đó, chúng cũng chỉ là một trong những kỹ thuật quảng cáo của nền thương mại tâm linh. Chúng không phải là mục tiêu của đời sống tâm linh. Nói cho cùng, đời sống tâm linh không phải là một tiến trình truy cầu hay thủ đắc sự phi thường hay các quyền năng đặc biệt nào đó. Thực ra, việc truy cầu như thế có thể dẫn ta xa rời bản thể của mình. Nếu không cẩn thận, ta có thể dễ dàng gặp những lỗi lớn trong đời sống hiện đại – tham vọng, chủ nghĩa vật chất và sự cô lập cá nhân – tái hiện trong đời sống tâm linh của mình.

Ở khởi đầu một hành trình tâm linh chân chính, chúng ta phải gần gũi nhiều hơn với gia đình, để trực tiếp tập trung vào những điều ngay trước mắt mình, để bảo đảm rằng đạo trình của chúng ta được kết nối với tình yêu sâu sắc nhất của mình. Don Juan, trong lời dạy dành cho Carlos Castaneda, diễn tả điều đó thế này:

Hãy chú mục vào mọi đạo trình một cách kĩ lưỡng và thận trọng. Hãy thử nhiều lần nếu cần. Rồi hãy hỏi bản thân và chỉ riêng bản thân cậu một câu thôi. Câu hỏi này là điều mà chỉ có một ông lão mới hỏi. Ân nhân của ta có lần đã chỉ bảo cho ta điều đó khi ta còn trẻ và lúc ấy khí huyết ta còn quá phương cương để hiểu được nó. Giờ thì ta đã hiểu. Ta sẽ nói cho cậu biết đó là gì: Đạo trình này có trái tim không? Nếu có, đạo trình ấy là tốt. Nếu không, vô ích thôi1.

Những giáo huấn trong cuốn sách này nói về việc tìm thấy một đạo trình bằng tâm như vậy, về việc thực hành một đạo trình chuyển hóa và chạm đến ta ở trung tâm của hiện hữu. Làm vậy là để tìm thấy một con đường thực tập cho phép ta sống toàn vẹn trong thế gian này từ đáy lòng mình.

Khi ta hỏi, “Tôi có đang theo đuổi một đạo trình bằng tâm không?” ta sẽ phát hiện ra rằng không ai có thể giúp ta xác định chính xác đạo trình ấy của ta là thế nào cả. Thay vào đó, ta phải để cho sự huyền nhiệm và vẻ đẹp của chất vấn này âm vang bên trong ta. Rồi từ nơi nào đó bên trong câu trả lời sẽ đến và hiểu biết sẽ khởi lên. Nếu ta tĩnh tại và lắng nghe sâu sắc, thậm chí chỉ trong một khoảnh khắc, ta sẽ biết mình có đang theo đuổi một đạo trình bằng tâm hay không.

Đúng là có thể nói chuyện trực tiếp với tâm mình. Đa số các nền văn hóa cổ đại biết điều này. Chúng ta quả thực có thể trò chuyện với tâm mình như thể nó là một người bạn tốt. Trong đời sống hiện đại, ta bận rộn với những sự vụ và ý nghĩ thường nhật đến mức quên mất nghệ thuật tinh túy trong việc dành thời gian trò chuyện với tâm mình. Khi ta hỏi nó về đạo trình hiện hành của mình, ta phải xem xét những giá trị mà ta đã chọn để sống cùng. Ta đặt thời gian, sức mạnh, sự sáng tạo, tình yêu của ta nơi đâu? Chúng ta phải xem xét đời sống của mình mà không đa cảm, phóng đại, hay lý tưởng hóa. Liệu những gì ta đang chọn có phản ánh những gì ta đánh giá là sâu sắc nhất không?

Truyền thống Phật giáo khuyên dạy những đạo hữu của mình coi toàn bộ đời sống là quý giá. Các phi hành gia rời Trái đất cũng đã tái khám phá chân lý này. Một phi hành đoàn Nga đã diễn tả điều đó thế này: “Chúng tôi mang những con cá nhỏ lên trạm không gian vì những nghiên cứu nhất định. Chúng tôi đã ở đó ba tháng. Sau chừng ba tuần thì lũ cá bắt đầu chết. Chúng tôi thấy nuối tiếc chúng biết mấy! Chúng tôi đã chẳng thể làm gì để cứu chúng cả! Trên Trái đất, chúng ta rất hể hả khi câu cá, nhưng khi bạn cô đơn và cách xa với bất cứ thứ gì trên mặt đất, bất cứ sự hiện diện nào của đời sống cũng được hoan nghênh đặc biệt. Bạn sẽ thấy đúng là đời sống quý giá xiết bao!” Cũng trong tinh thần này, một phi hành gia, khi phi thuyền của anh tiếp đất, đã mở nắp ra để hít hà khí ẩm của Trái đất: “Thực sự tôi đã nằm xuống và áp má mình vào đất. Tôi nằm xuống và hôn lên Trái đất.”

Thấy được sự quý giá của vạn hữu, chúng ta phải đặt toàn bộ chú tâm đến đời sống. Việc thực tập tâm linh có thể mang lại cho ta nhận thức này mà không cần đến một chuyến đi vào không gian.

Khi những phẩm chất của sự hiện diện và sự giản dị bắt đầu ngày càng thấm sâu vào đời ta, tình yêu bên trong chúng ta dành cho trái đất cùng vạn hữu cũng bắt đầu tự hiển lộ và làm đạo trình của chúng ta trở nên sống động.

Để hiểu một cách sâu sắc hơn cảm thức quý giá này gợi lên điều gì và đem lại ý nghĩa ra sao với một đạo trình bằng tâm, chúng ta hãy bắt đầu với thiền định sau đây. Trong tu tập Phật giáo, người ta được khuyến khích xem xét cách để sống tốt bằng việc quán chiếu về cái chết của mình. Hình thức thiền định truyền thống dành cho mục đích này là ngồi yên lặng và ý thức về tính tạm thời của đời sống. Sau khi đọc đoạn này, hãy khép mắt bạn và cảm nhận sự tử vong của cái thân người mà bạn đã được ban tặng này. Cái chết là nhất định với chúng ta – chỉ có thời điểm chết thì vẫn chưa rõ thôi. Hãy hình dung bản thân bạn vào lúc cuối đời – tuần tới hoặc năm tới hay thập kỉ tới, một thời điểm nào đó trong tương lai. Bấy giờ hãy hồi tưởng lại toàn bộ đời mình và nhớ đến hai việc tốt mình đã làm trong tâm trí, hai điều mà bạn cho rằng mình đã làm tốt. Chúng không cần là những việc đại sự, hãy để bất kì thứ gì muốn khởi lên tự hiện ra. Khi hình dung và nhớ lại những việc tốt này, bạn cũng sẽ nhận thức được những kí ức này đã tác động đến ý thức mình ra sao, chúng đã chuyển hóa những cảm giác và trạng thái của tâm và trí như thế nào khi bạn thấy chúng. Khi bạn đã hoàn thành việc quán chiếu hãy xem xét thật cẩn thận phẩm chất của những tình thế này, những gì được bao hàm trong một khoảnh khắc của lòng tốt được chọn ra từ cả một cuộc đời nói và hành động. Hầu như bất cứ ai có thể nhớ lại những việc tốt như vậy trong thiền định đều phát hiện ra rằng chúng giản dị đến đáng ngạc nhiên. Chúng hiếm khi là những việc người ta đưa vào trích yếu. Với một số người, khoảnh khắc của lòng tốt chỉ đơn giản là việc họ bảo với cha mình trước khi ông ấy qua đời rằng họ yêu ông, hoặc khi họ bay xuyên đất nước giữa đời sống bộn bề của mình để chăm sóc đàn con của chị mình khi cô ấy đang chữa trị chấn thương vì tai nạn ô tô. Một giáo viên tiểu học đã có một thị kiến đơn giản về những buổi sáng mà cô phải giữ lũ trẻ đang gào khóc và có một ngày khó nhọc. Khi hưởng ứng thiền định này, có lần một người đã giơ tay mỉm cười và nói, “Khi chúng ta tìm được chỗ đậu xe cùng lúc trên những con phố đông đúc, tôi luôn nhường chỗ đậu ấy cho người khác.” Đó chính là thiện hạnh trong đời cô ấy.

Một phụ nữ khác, một y tá ở tuổi lục tuần đã nuôi dạy đàn con cháu và sống một cuộc đời rất trọn vẹn, nêu ra kí ức này: Lúc bà sáu tuổi có một chiếc ô tô bị hỏng ngay trước nhà bà, hơi phun ra từ dưới nắp mui. Hai người lớn tuổi bước ra và quan sát nó, rồi một người bước tới góc đường trả tiền điện thoại để gọi trạm sửa xe. Họ vào lại trong xe và ngồi đến tận sáng để chờ xe kéo. Hệt như mọi đứa bé sáu tuổi tò mò, cô bé bước ra nói chuyện với họ, và sau khi thấy họ chờ đợi mòn mỏi trong chiếc xe nóng bức, cô bé quay vào nhà. Thậm chí không hỏi họ, cô bé đã chuẩn bị một khay trà đá và bánh mì kẹp rồi mang chiếc khay ấy ra mời họ bên vệ đường.

Những điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta không cần phải dị thường hay to tát. Đó là những khoảnh khắc chúng ta chạm đến người khác, khi chúng ta hiện diện ở đó theo cách ân cần hay chu đáo nhất. Sự thân mật giản dị và thâm thúy này là tình yêu mà mọi chúng ta đều mong mỏi. Những khoảnh khắc chạm đến và được chạm đến có thể trở thành nền tảng cho một đạo trình bằng tâm, và chúng xảy ra theo cách tức thời và trực tiếp nhất. Mẹ Teresa diễn đạt nó như thế này: “Trong đời này, chúng ta quả không thể làm được nhiều chuyện lớn lao. Chúng ta chỉ có thể làm những điều nhỏ bé với tình yêu lớn lao thôi.”

Một số người thấy rằng bài tập này rất khó. Không có việc tốt nào đến với tâm trí họ, hay một vài việc có thể khởi lên nhưng bị khước từ ngay lập tức vì bị cho là quá hời hợt hay nhỏ bé, không thuần khiết hoặc không hoàn hảo. Chẳng lẽ điều này có nghĩa là thậm chí chẳng có nổi hai khoảnh khắc tốt đẹp trong cả một cuộc đời có hàng trăm ngàn sự việc? Khó mà nói như vậy được! Tất cả chúng ta đều có khá nhiều khoảnh khắc tốt đẹp. Điều đó có một ý nghĩa thâm thúy khác nữa. Đó chính là sự phản chiếu về việc chúng ta khó khăn với bản thân như thế nào. Chúng ta phán xét bản thân quá nghiêm khắc, và chỉ có một Idi Amin2 hay một Stalin mới dám thuê chúng ta làm chủ tọa phiên tòa của họ thôi. Nhiều người trong chúng ta phát hiện mình ít có lòng thương xót với bản thân. Ta hầu như không thể công nhận rằng tình yêu và lòng tốt chân chính có thể tỏa chiếu từ trái tim mình. Tuy nhiên có đấy.

Sống một đạo trình bằng tâm nghĩa là sống theo cung cách ta thể hiện bản thân trong thiền định này, để cho hương vị của lòng tốt thâm nhập vào cuộc đời ta. Khi toàn tâm chú ý vào các hành động của mình, khi bộc lộ tình yêu và thấy được sự quý giá của cuộc sống, phẩm chất của lòng tốt trong ta được tăng trưởng. Một sự hiện diện ân cần đơn giản có thể bắt đầu thâm nhập nhiều hơn vào những khoảnh khắc của đời ta. Và nhờ thế, chúng ta sẽ liên tục hỏi chính tâm mình, “Sống như vầy có ý nghĩa gì?” Đạo trình ấy, con đường mà chúng ta đã chọn để sống đời mình, có đang dẫn đến điều này không?

Trong sự căng thẳng và phức tạp của đời mình, ta có thể sao lãng những ý hướng sâu sắc nhất. Nhưng khi người ta bước vào đoạn cuối cuộc đời và nhìn lại, những câu hỏi mà họ hay hỏi mình nhất thường không phải là, “Mình có bao nhiêu tiền trong nhà băng?” hay “Mình đã viết bao nhiêu cuốn sách?” hay “Mình đã tạo dựng cái gì?” hoặc điều gì tương tự. Nếu bạn từng có đặc ân hiện diện bên cạnh một người tỉnh ngộ vào thời điểm họ chết, bạn sẽ thấy những câu hỏi của họ sẽ rất giản dị: “Tôi đã yêu thương đủ chưa?”, “Tôi đã sống trọn vẹn chưa?”, “Tôi đã học được cách buông xả chưa?”

Những câu hỏi giản dị này đi thẳng vào trọng tâm của đời sống tâm linh. Khi ta lưu tâm đến việc yêu thương đủ đầy và sống trọn vẹn, ta có thể thấy cách mà những chấp trước và sợ hãi đã hạn chế mình, và ta cũng có thể thấy được nhiều cơ hội cho tim mình mở rộng. Chúng ta đã cho mình yêu thương mọi người quanh mình, gia đình, và cộng đồng, trái đất mà ta sống trên ấy chưa? Và, ta cũng đã học được cách buông xả rồi chứ? Ta có học được cách sống qua những biến cố của cuộc đời với sự thanh tao, trí huệ, và từ bi chưa? Ta đã học được cách tha thứ và sống với tinh thần của trái tim thay vì tinh thần của phán xét chưa?

Buông xả là một chủ đề trung tâm trong việc thực hành tâm linh, khi ta thấy được sự quý giá và ngắn ngủi của cuộc đời. Khi sự buông xả được kêu đòi, nếu ta không biết làm thế, ta sẽ phải chịu đựng rất nhiều, và khi bước đến cuối đời, ta có thể đối diện với cái được gọi là tiến trình sụp đổ. Sớm muộn gì chúng ta cũng phải học cách buông xả và để cho sự huyền nhiệm vô thường của đời sống xuyên thấu mình mà không sợ hãi, không níu kéo và nắm giữ.

Tôi từng biết một phụ nữ trẻ đã ngồi cạnh mẹ mình suốt giai đoạn bệnh ung thư của bà đã di căn. Trong thời gian này, mẹ cô phải nằm viện với hàng tá ống dẫn và máy móc cắm vào người. Mẹ và con gái đều đồng ý rằng người mẹ không hề muốn chết kiểu ấy, và khi bệnh tình tiến triển, cuối cùng bà đã được gỡ bỏ mọi thiết bị y tế và được phép về nhà. Bệnh ung thư của bà ngày càng nặng thêm. Tuy nhiên người mẹ đã có một thời gian khó khăn để chấp nhận bệnh tình của mình. Bà cố điều hành gia đình từ giường bệnh, thanh toán các hóa đơn và giám sát mọi công việc thường ngày. Bà đã vật lộn với nỗi đau thể xác, nhưng còn vật lộn nhiều hơn với việc không thể buông bỏ. Một ngày nọ giữa cuộc phấn đấu này, khi đã an ổn hơn nhiều và cũng có chút hoang mang, bà gọi con gái đến bên và nói, “Con gái yêu ơi, làm ơn rút ống cắm đi con”, và con gái bà nhẹ nhàng nói rõ, “Mẹ ơi, mẹ đâu có bị cắm ống gì.” Một số người có nhiều thứ để học về việc buông xả.

Việc buông xả và bước qua đời sống từ thay đổi này đến thay đổi khác sẽ giúp hiện hữu tâm linh của ta trưởng thành hơn. Cuối cùng, ta phát hiện ra rằng yêu thương và buông xả có thể là cùng một thứ. Cả hai cách đều không tìm kiếm sự sở hữu. Cả hai đều cho phép ta chạm đến từng khoảnh khắc của cuộc đời vô thường này và cho phép ta hiện diện ở đó trọn vẹn cho dù bất cứ gì sẽ xảy đến tiếp theo. Có một câu chuyện cũ về một giáo sĩ Do Thái sống ở châu Âu, ngày nọ ông được một người đáp tàu từ New York đến tìm gặp. Người nọ đến cơ ngơi của giáo sĩ, một căn nhà rộng lớn trên một con phố ở một đô thị châu Âu, và được chỉ dẫn đến phòng của vị giáo sĩ trên gác mái. Anh ta bước vào và thấy vị đại sư đang sống trong một căn phòng chỉ có một chiếc giường, một cái ghế, và vài cuốn sách. Anh ta đã trông chờ nhiều hơn thế. Sau khi chào hỏi, người ấy hỏi, “Thưa Giáo sĩ, đồ đạc của ngài đâu?” Vị giáo sĩ hỏi ngược, “Chà, vậy của anh đâu?” Người khách đáp, “Nhưng, thưa Giáo sĩ, tôi chỉ là một người đi ngang qua” và vị đại sư trả lời, “Tôi cũng vậy, tôi cũng vậy thôi.”

Để yêu thương trọn vẹn và sống tốt, ta phải công nhận rằng mình không thể sở hữu hay làm chủ bất cứ thứ gì – nhà cửa, xe cộ, những người yêu thương, ngay cả chính thân thể ta nữa. Hỉ lạc và trí huệ không đến thông qua sở hữu mà thông qua khả năng rộng mở để yêu thương trọn vẹn hơn, để dịch chuyển và tự do trong đời sống.

Đây không phải là một bài học khất lần khất lữa được. Một vị thầy vĩ đại đã giải thích nó như vầy: “Rắc rối của bạn là khi bạn nghĩ rằng mình có thời gian.” Chúng ta chẳng hề biết mình có bao nhiêu thời gian cả. Sẽ như thế nào khi sống với hiểu biết rằng đây có thể là năm cuối, tuần cuối, ngày cuối của đời ta? Trong ánh sáng của câu hỏi này, chúng ta có thể chọn một đạo trình bằng tâm.

Đôi khi phải có một cú sốc để thức tỉnh chúng ta, để kết nối ta với đạo trình của mình. Vài năm trước tôi được chị gái của một bệnh nhân mời đến thăm bệnh nhân đó ở bệnh viện San Francisco. Anh ấy vào khoảng cuối độ tuổi ba mươi và giàu có. Anh có một công ty xây dựng, một thuyền buồm, một trang trại, một ngôi nhà phố, nhiều công trình. Ngày nọ khi đang ngồi lái xe trong chiếc BMW của mình, anh bỗng thấy tối sầm. Các xét nghiệm cho thấy anh có một khối u não ác tính, một loại ung thư đang phát triển nhanh chóng. Bác sĩ nói, “Chúng tôi muốn giải phẫu cho anh, nhưng tôi phải cảnh báo anh rằng khối u nằm trong trung tâm nói năng và lĩnh hội của não. Nếu chúng tôi cắt bỏ khối u ấy, anh có thể mất hết mọi khả năng đọc, viết, nói, hiểu bất cứ ngôn ngữ nào. Nếu chúng tôi không giải phẫu, chắc là anh có sáu tuần để sống. Xin hãy cân nhắc điều này. Chúng tôi muốn mổ vào buổi sáng. Hãy cho chúng tôi biết trước lúc đó nhé.”

Tôi đã đến thăm người bệnh trong tối đó. Anh ấy trở nên rất im lặng và trầm tư. Như bạn có thể hình dung, anh đang ở trong một trạng thái ý thức khác thường. Một sự thức tỉnh lớn đôi khi sẽ đến từ việc thực tập tâm linh, nhưng đối với anh thì nó đã đến thông qua những tình huống ngoại lệ. Khi chúng tôi trò chuyện, người đàn ông ấy chẳng nói gì đến trang trại, thuyền buồm hay tiền bạc của mình. Nơi anh hướng đến, người ta chẳng thể lấy đồng nào trong các sổ tiết kiệm và xe BMW. Mọi thứ có giá trị trong những thời điểm biến cố lớn là tiền tệ của tâm ta – khả năng và những hiểu biết về tâm đã được trưởng dưỡng trong ta.

Hai mươi năm trước, vào cuối những năm 1960, người đàn ông này đã hành thiền đôi chút, đã đọc một ít của Alan Watts, và khi đối diện khoảnh khắc này, đây là những gì anh đã dựa vào và muốn nói: đời sống tâm linh của anh và sự hiểu biết về sinh tử. Sau một cuộc trò chuyện thành tâm nhất, anh ngừng lời để im lặng một chốc và trầm tư. Rồi anh quay sang tôi và bảo, “Tôi đã chuyện trò đủ rồi. Có lẽ tôi đã nói quá nhiều nữa là khác. Tối nay đúng là cực kỳ quý giá để nhấp một ngụm nước hoặc để nhìn những con bồ câu trên bậu cửa ở trung tâm y tế này bay vù vào không trung. Dường như chúng quá đẹp đẽ với tôi. Nhìn một con chim bay qua không trung thật là một phép thuật. Tôi không thờ ơ với đời này. Có lẽ tôi sẽ chỉ sống tĩnh lặng hơn thôi.” Thế nên anh đã yêu cầu được giải phẫu. Sau mười bốn giờ được một bác sĩ phẫu thuật rất có tài mổ cho mình, chị anh đã đến phòng hồi sức thăm anh. Anh ngước lên nhìn chị và nói, “Chào buổi sáng.” Người ta đã có thể cắt bỏ khối u mà không làm mất khả năng nói của anh ấy.

Khi anh rời bệnh viện và đã bình phục sau ca mổ, toàn bộ cuộc đời anh thay đổi. Anh vẫn hoàn thành các bổn phận kinh doanh của mình một cách đầy trách nhiệm, nhưng đã không còn là kẻ tham công tiếc việc nữa. Anh dành nhiều thời gian hơn với gia đình và trở thành một cố vấn cho những người bị chẩn đoán là ung thư và bệnh hiểm nghèo khác. Anh dành nhiều thời gian với thiên nhiên và đầy yêu thương khi tiếp xúc với mọi người xung quanh.

Nếu đã gặp anh trước tối đó, có thể tôi đã xem anh là một thất bại tâm linh vì anh đã ít thực tập tâm linh và rồi hoàn toàn bỏ bê để trở thành một doanh nhân. Có vẻ anh đã quên tất thảy mọi giá trị tâm linh đó. Nhưng khi nó sa sút đến mức ấy, anh đã dừng lại để quán chiếu trong những khoảnh khắc giữa sự sống và cái chết của mình, và dù chỉ một ít thực hành tâm linh đã trải qua cũng trở nên rất quan trọng với anh. Chúng ta không bao giờ biết những người khác đang học cái gì, và chúng ta không thể phán xét việc thực tập tâm linh của ai đó quá nhanh chóng và dễ dàng được. Tất cả những gì ta có thể làm là nhìn sâu vào tim mình và tự hỏi về các vấn đề theo cách mà chúng ta đang sống. Cái gì có thể dẫn tôi đến sự rộng mở, lòng chính trực lớn hơn, và một khả năng yêu thương sâu sắc hơn?

Một đạo trình bằng tâm cũng sẽ bao gồm những tài năng và sự sáng tạo vô song. Biểu hiện bên ngoài của tâm ta có thể là viết những cuốn sách, xây những tòa cao ốc, tạo ra những cách thức để người ta phục vụ lẫn nhau. Đó có thể là giảng dạy hay làm vườn, phục vụ thức ăn hay chơi nhạc. Bất kể ta chọn gì, những sáng tạo của đời ta phải dựa trên nền tảng của tâm ta. Tình yêu của ta là nguồn mạch của mọi năng lượng sáng tạo và liên kết. Nếu chúng ta hành động mà không có một kết nối nào với tâm, ngay cả những điều vĩ đại nhất trong đời ta cũng có thể trở nên cạn kiệt, vô nghĩa, hoặc vô dụng.

Có lẽ bạn cũng nhớ rằng mấy năm trước có một loạt bài phát hành trên các báo về những kế hoạch để gầy dựng một ngân hàng tinh trùng của những người thắng giải Nobel. Tại thời điểm đó, một nhà nữ quyền có liên quan đã viết gửi tờ Boston Globe chỉ ra rằng nếu đã có các ngân hàng tinh trùng thì cũng nên có những ngân hàng trứng. Tờ Boston Globe đã in một lá thư phản hồi cho cô ấy của George Wald, chính là nhà sinh học từ Đại học Harvard vừa thắng giải Nobel, một quý ông và là một người có trí tuệ. George Wald đã viết cho cô rằng:

Bạn hoàn toàn đúng. Cần có một trứng cũng như một tinh trùng để bắt đầu hình thành một người trúng giải Nobel. Ai trong họ cũng có một người mẹ cũng như một người cha cả. Bạn có thể nói mọi điều bạn muốn về những người cha, nhưng sự đóng góp của họ với sự thụ thai thực sự là nhỏ hơn nhiều.

Nhưng tôi hy vọng bạn đã không nghiêm túc đề xuất một ngân hàng trứng. Gác chuyện Nobel sang một bên, thì cũng không có nhiều cách để bắt đầu một kỹ thuật như vậy. Có một số vấn đề, nhưng không gì khó như là việc liên quan đến những loại phản ứng sinh sản khác…

Nhưng hãy nghĩ đến một người đàn ông vô vọng đến mức kiên quyết kiếm được một quả trứng ưu việt từ một ngân hàng trứng đi. Sau đó anh ta phải thụ tinh nó. Khi nó đã được thụ tinh thì anh ta sẽ đem nó đi đâu? Cho vợ anh ta ư? “Đây, cưng ơi”, bạn có thể nghe anh ấy nói vậy, “anh vừa kiếm được cái trứng ưu việt này từ một ngân hàng trứng và vừa đích thân thụ tinh cho nó. Em sẽ chăm sóc nó chứ?” “Em đã có buồng trứng của riêng em để lo lắng rồi”, cô ấy đáp. “Anh biết anh có thể làm gì với cái trứng ưu việt của anh rồi đó. Đi thuê một cái dạ con đi. Trong khi ở đó, anh tốt hơn cũng nên thuê phòng mới luôn đi.”

Bạn thấy đó, chuyện ấy đúng là không thực thi được. Chân lý người ta thực sự cần không phải những người trúng giải Nobel mà là tình yêu kia. Bạn nghĩ sao người ta lại trở thành người trúng giải Nobel chứ? Muốn có tình yêu, chính thế. Muốn điều đó ghê gớm đến mức người ta sẽ làm việc mọi lúc và cuối cùng thành người trúng giải Nobel. Đó chỉ là một giải thưởng an ủi thôi.

Vấn đề chính là tình yêu. Quên chuyện ngân hàng tinh trùng và ngân hàng trứng đi. Các ngân hàng và tình yêu là không tương thích nhau. Nếu bạn không biết thế, bạn đã không tới ngân hàng của mình gần đây rồi.

Thế nên chỉ cần tập yêu thôi. Hãy yêu một người Nga đi. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nó dễ dàng xiết bao và nó sẽ thắp sáng buổi sáng của bạn biết mấy. Hãy yêu một người Iran, một người Việt Nam, những người không chỉ ở đây mà còn ở khắp nơi. Rồi khi bạn đã thực sự chán chê với nó, hãy thử điều gì đó khó hơn như là yêu những chính trị gia ở thủ đô của chúng ta xem.

Nỗi khao khát tình yêu và xúc cảm của tình yêu nằm bên dưới mọi hoạt động của chúng ta. Hạnh phúc chúng ta biết trong đời không xoay quanh việc sở hữu hoặc chiếm hữu hay thậm chí là hiểu biết. Thay vì thế, đó là sự phát hiện ra khả năng yêu, có được tình yêu, tự do, và mối quan hệ thông tuệ với toàn bộ đời sống. Tình yêu như vậy không sở hữu mà khởi sinh từ một ý thức về việc sống tốt đẹp của chính bản thân và kết nối với vạn hữu. Do đó, nó hào phóng và tỉnh thức, và nó yêu sự tự do của tất cả. Từ tình yêu, đạo trình của chúng ta có thể hướng dẫn ta học cách dùng những tài năng của mình để chữa lành và phục vụ, tạo ra bình an quanh ta, tôn vinh những điều thiêng liêng trong cuộc sống, tạo phước cho bất kì điều gì ta gặp phải, và mong ước tốt đẹp cho tất cả chúng sinh.

Đời sống tâm linh bên ngoài có vẻ phức tạp, nhưng trong cốt tủy thì không phải thế. Ta có thể tìm thấy một sự trong sáng và giản dị ngay giữa thế giới đa phức này khi phát giác được rằng phẩm chất của tâm thức ta trao cho cuộc đời mới chính là vấn đề quan trọng nhất. Thiền sư thi sĩ Ryokan (Lương Khoan) đã tổng kết điều này khi ông nói:

Mưa tạnh, mây quang, và trời trong trở lại.

Nếu tim bạn thuần tịnh, thì mọi thứ trong thế giới của bạn đều thuần tịnh…. Rồi trăng và hoa sẽ dẫn Đạo cho bạn.

Mọi giáo huấn tâm linh khác đều vô hiệu nếu chúng ta không thể yêu thương. Ngay cả những trạng thái thăng hoa nhất và những thành quả tâm linh phi thường nhất cũng không quan trọng nếu chúng ta không thể hạnh phúc trong những cách cơ bản và bình dị nhất, nếu, bằng tâm mình, chúng ta không thể chạm đến người khác và cuộc đời mà chúng ta được ban tặng. Vấn đề chính là chúng ta sống thế nào. Đây là lý do tại sao thật quá khó và quá quan trọng để đặt ra câu hỏi này với bản thân: “Tôi có đang sống trọn vẹn với đạo trình của mình không, tôi có sống mà không phải hối tiếc không?” ngõ hầu chúng ta có thể nói vào bất cứ ngày cuối cùng nào của đời mình rằng, “Có, tôi đã sống với đạo trình của mình bằng tâm.”

THIỀN ĐỊNH VỀ TỪ ÁI Phẩm chất của từ ái là vùng đất màu mỡ trên đó một đời sống tâm linh tích hợp có thể tăng trưởng. Với một tâm thương yêu là nền tảng, mọi thứ chúng ta nỗ lực, mọi điều chúng ta gặp phải sẽ dễ dàng rộng mở và trôi chảy hơn. Dù lòng từ ái có thể khởi lên một cách tự nhiên trong ta ở nhiều hoàn cảnh, nó cũng có thể được vun trồng. Thiền định sau đây là một bài tập đã 2500 năm tuổi, dùng những điệp ngữ, hình ảnh, và cảm giác để khơi gợi lòng từ ái và sự thân thiện hướng tới bản thân và người khác. Bạn có thể thử nghiệm bài tập này để xem nó có hữu ích với mình không. Tốt nhất là hãy bắt đầu bằng cách lặp đi lặp lại nó trong mười lăm hoặc hai mươi phút một hay hai lần mỗi ngày ở một nơi tĩnh lặng suốt vài tháng. Thoạt đầu, bạn có thể cảm thấy thiền định này là máy móc hoặc ngượng ngập hay thậm chí làm nảy sinh sự chống đối, những cảm giác bứt rứt và cáu giận, nếu điều này xảy đến, bạn phải đặc biệt kiên nhẫn và ân cần hướng tới bản thân mình, để cho bất kể thứ gì khởi lên đều được tiếp nhận trong một tinh thần thân thiện và tình cảm ân cần. Theo thời gian, ngay cả khi đối diện với những khó khăn nội tại, từ ái cũng sẽ phát triển. Hãy ngồi thoải mái, để thân thể bạn thư giãn và nghỉ ngơi. Hết mức có thể, bạn hãy để tâm trí mình tĩnh lặng, buông bỏ mọi kế hoạch và những mối bận tâm. Sau đó bắt đầu nhẩm những câu hướng đến bản thân sau đây. Bắt đầu với bản thân vì nếu không yêu thương mình thì bạn không thể yêu thương người khác được. Nguyện tôi được chan đầy từ ái. Nguyện tôi được tốt lành. Nguyện tôi được bình an và thong dong. Nguyện tôi được hạnh phúc. Khi nói những câu ấy, bạn cũng có thể muốn dùng hình ảnh từ những chỉ dẫn của Đức Phật: hình dung bản thân bạn như một đứa trẻ và được yêu mến, hoặc ý thức bản thân như chính bạn trong hiện tại, được chứa đựng trong một trái tim từ ái. Hãy để các cảm giác khởi lên với những lời này. Điều chỉnh lời lẽ và hình ảnh cho đến khi bạn tìm được những câu chính xác nhất để khai mở lòng từ của mình. Hãy lặp đi lặp lại những câu ấy, để những cảm giác thẩm thấu vào thân thể và tâm trí bạn. Thực tập thiền định này đều đặn trong vài tuần cho đến khi ý thức về từ ái trong bản thân bạn phát triển. Khi cảm giác đã sẵn sàng, cũng trong giai đoạn thiền định ấy, bạn có thể dần dần mở rộng tâm điểm từ ái của mình để bao hàm những người khác. Sau bản thân, hãy chọn một ân nhân, ai đó thực sự quan tâm đến bạn trong đời. Hình dung họ và ân cần thầm nguyện những câu tương tự, Nguyện anh ấy/cô ấy được chan đầy từ ái, và v.v... Khi lòng từ ái với ân nhân của bạn đã phát triển, hãy bắt đầu gồm cả những người bạn yêu mến khác vào cuộc thiền định, hình dung về họ và thầm nguyện những câu tương tự, khơi gợi một ý thức về lòng từ dành cho họ. Sau này bạn có thể dần dần bắt đầu bao hàm nhiều người khác nữa: bạn bè, các thành viên của cộng đồng, hàng xóm, con người ở khắp chốn, các động vật, toàn trái đất, và hết thảy chúng sinh. Rồi bạn thậm chí có thể thử nghiệm với việc gồm cả những người khó nhất trong đời mình, ước rằng họ cũng được chan đầy từ ái và bình an. Thực tập đến một mức nào đó, một ý thức từ ái vững chắc có thể phát triển và trong quá trình mười lăm hay hai mươi phút, bạn sẽ có thể bao hàm nhiều chúng sinh trong cuộc thiền định của mình, chuyển xuất từ bản thân, đến một ân nhân và những người thương yêu, và hết thảy chúng sinh ở khắp mọi nơi. Sau đó bạn có thể học cách thực tập điều đó ở bất cứ đâu. Bạn có thể dùng sự thiền định trong khi ùn tắc giao thông, trong xe buýt và máy bay, trong phòng chờ của bác sĩ, và trong hàng ngàn tình huống khác. Khi bạn yên lặng thực hành thiền định từ ái này giữa mọi người, ngay lập tức bạn sẽ cảm thấy một sự kết nối tuyệt diệu với họ – quyền năng của từ ái. Điều đó sẽ làm dịu đời bạn và giữ bạn kết nối với trái tim mình.


-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Trích “Những lời dạy của Don Juan” của tác giả Carlos Castaneda, nhà nhân học người Mỹ, cũng là nhân vật trong sách.
  2. Idi Amin Dada (1925 – 2003) là một nhà chính trị chuyên chế từng giữ chức Tổng thống Uganda (BT).

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng