Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Lưỡng giới: Thế đối ngẫu trác tuyệt

Những chuyện lớn chẳng bao giờ phụ thuộc vào tôi. Được sinh ra, ý tôi là thế, và chết đi. Và tình yêu. Và thứ mà tình yêu để lại cho chúng ta từ trước khi chúng ta chào đời.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Lưỡng giới đặt ra một thế chênh vênh cho người đọc hệt như tên gọi của nó. Ngập tràn trong những trang viết của Jeffrey Eugenides là những xung đột đè nén ở cả ngoại biên lẫn bên trong nội hàm. Dùng sự thiếu hụt enzyme 5-alpha-reductase ở nhân vật chính – Calliope Stephanides – Jeffrey lần về nguồn cội của hội chứng thiếu hụt nhiễm sắc thể như đầu mối khởi đầu cho tiểu thuyết này. Từ những mâu thuẫn nội hàm nằm riêng bên trong duy một cá thể, ông lần ngược quá trình sinh-rã tế bào theo chuyển động của dòng lịch sử, rồi từ đó tái hiện lại thế giới duy trên trang viết – thế giới của những đối ngẫu vẫn luôn hàm chứa trong mình. Lưỡng giới mang dáng vóc của một sử thi, khi nó không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà đồng thời còn là những cú ngoặt lịch sử, là những đối kháng vẫn luôn hàm ẩn, và cũng là những đối nghịch vẫn luôn tồn tại bên trong bản thể con người, như lối thích nghi, như cách kình chống với cuộc đời này.

Những nhập nhằng về giới

Như từng chia sẻ trong bài phỏng vấn với tờ The New Yoker, Jeffrey viết Lưỡng giới dựa trên cảm hứng từ cuốn Memoirs of a 19th Century French Hermaphrodite của Michael Foucault, và điều này cũng giải thích cho lý do vì sao ông lại chọn một nhân vật đầy đặc biệt như Calliope làm trung tâm cho tiểu thuyết này. Bản thân Calliope mang trong mình đặc điểm của cả hai giới, và có lẽ thông qua nhân vật này, liệu Jeffrey muốn khắc họa một cách hài hòa những khác biệt và xung đột tiềm ẩn vẫn luôn nằm trong hai dạng bản giới? Khoan hãy nói về nhân vật chính với những chi tiết đặc biệt, ở một mặt nào đó, Lưỡng giới dường như đã làm rất tốt khi khai thác thấu đáo những khía cạnh đối xứng cơ bản. Ông tách biệt những cá thể đại diện vô cùng rõ ràng: nếu Desdemona, Sourmalina hay Tessie đầy những âu lo rào trước đón sau trong suốt chiều dài tiểu thuyết; thì phía bên kia: Lefty, Zizmo hay Milton lại vô cùng phóng khoáng trong phong cách sống. Hiếm có một tiểu thuyết gia nào chịu từ bỏ cái tôi cá nhân để trung hòa các nhân vật của mình, biến họ thành số đông và đại diện cho một mẫu lớn mà hy sinh đi cá tính riêng. Ở đây, Jeffrey dường như đã làm được điều này. Ông viết về những người đàn ông và những người đàn bà vô cùng trung dung, họ trơ trơ ra đấy nhưng vẫn mang trong mình những vốn liếng riêng tư. Ở bề nổi thể hiện ra ngoài, với ông, họ vẫn là những tiêu bản thí nghiệm vô cùng sơ khai. Như mâu thuẫn trong việc mang thai, ông viết cho những người đàn ông: “Việc mang thai hạ thấp vai trò của các ông chồng. Sau một tí tự hào đàn ông chóng vánh thoạt đầu, họ nhanh chóng nhận ra cái vai trò bé nhỏ mà tự nhiên phân cho họ trong vở kịch sinh nở”. Còn trong khi đó, về phía những người phụ nữ, mà Desdemona như một đại diện, họ lại thấy rằng: “Không ra khỏi giường, bà thơ thẩn lang thang trên các hành lang tối của việc mang thai, vấp phải xương của những phụ nữ đã đi qua lối đó trước bà. [..] Desdemona bắt đầu biết đến những phụ nữ này về mặt cơ thể, chia sẻ nỗi đau và cơn thở dài, nỗi sợ hãi và sự chở che, cơn thịnh nộ rồi kỳ vọng của họ”. Để rồi sau này ông giải thích hai mặt giới tính bằng những nấc thang tiến hóa: “Tại sao đàn ông không biết giao tiếp? (Bởi vì họ phải im lặng khi đi săn). Tại sao phụ nữ giao tiếp tốt như vậy? (Bởi họ phải gọi nhau để biết trái cây và hạt ở đâu)”. Lưỡng giới thật sự là một khảo cứu đi sâu (riêng về mặt văn chương) bản chất hai giới vô cùng lý thú.

Quay lại với Calliope, việc mang trong mình sự thiếu hụt thứ enzyme chết tiệt ấy làm đời cô xoay vòng như chiếc lá chực chờ rơi xuống. Ở một mặt nào đấy, Jeffrey cung cấp cho ta những đặc trưng đương lúc cô vẫn mang bản dạng giới nữ; và sau đó là lúc cô đã trở thành Cal. Những sự giằng xé trong con người ấy như cuộc kình chống dưới sức ảnh hưởng của hai giới tính, chênh vênh và đầy chìm nổi. Với tiểu thuyết này, ta thấy rất rõ Jeffrey không can thiệp quá sâu vào trong tâm lý nhân vật, ông chỉ ở đó cung cấp bằng chứng và tiểu thuyết hóa những bằng chứng này. Những lát cắt về trò tò mò với Clementine Starks lúc nhỏ hay những câu chuyện ái tình với Đối tượng sau này; tất cả thể hiện một tính nữ không thể chối bỏ ở Calliope dưới con mắt vô cùng thấu đáo khi quan sát của ông. Dĩ nhiên việc đòi hỏi một tác gia không có bất cứ một điểm chung nào (hay chưa từng trải qua bước ngoặt nào như nhân vật chính) khai thác tình tiết một cách toàn diện là điều không tưởng. Và do đó, Jeffrey chọn cho mình đường hướng quan sát tỉ mỉ thay vì miêu tả tâm lý. Sự chọn lựa này đôi khi thông minh nhưng cũng đồng thời chính là góc chết rất dễ nhận ra cho ai mong đợi điều gì đó hay ho hơn thế – vụ nổ Big Bang trong tâm trí Calliope hay cuộc nổi dậy của những giằng xé nội tâm chẳng hạn. Nhưng dù thế nào đi nữa, Jeffrey đã hoàn thành rất tốt vai trò của mình khi dẫn dắt người đọc men bờ vực thẳm giữa những chênh vênh của nhân vật chính, không hoàn toàn toàn diện nhưng lại rõ ràng và khá đầy đủ.

Một điều rất đáng nhắc tới và làm nên sự cuốn hút khôn cưỡng của Lưỡng giới nằm ở chính Jeffrey. Ông đã có trước một nhân vật mang rất nhiều mặt để mà khai thác, có một bối cảnh trải dài qua ba lục địa; và cuối cùng để thêm vào sự thành công chung, ông góp phần mình đạo diễn để cuốn phim ấy bắt đầu ghép nối. Ta thấy một sự cố gắng của Jeffrey khi luôn tìm những mạch nguồn mới dẫn dắt câu chuyện. Ngôi thứ nhất và thứ ba chen nhau kể chuyện như những cú lia máy mà đi cùng đó là những chuyển cảnh vô cùng mãn nhãn. Đôi lúc theo nhịp quả bóng khúc côn cầu, đôi chỗ là những tua ngược theo cơn đột quỵ của Lefty, rồi những đời xe Cadillac đi cùng thăng trầm của nhà Stephanides,… tất cả tạo ra một sự dẫn dắt mới lạ nhưng lại ngăn nắp đầy tính biểu tượng. Đọc Lưỡng giới, ta dễ dàng bắt gặp một sự tương đồng với “phù thủy văn chương” Salman Rushdie, khi cả hai cùng theo đuổi lối viết thả trôi suy nghĩ đi theo mạch truyện. Jeffrey xây dựng Lưỡng giới theo lối đồng hiện – những chuyện cũ và mới đan xen lẫn nhau, đôi khi ông tạt ngang những dòng xưa cũ bằng chuyện đương thời; rồi cũng có khi ông từ đương thời quá giang về lại quá khứ chỉ bằng một mảnh trí nhớ hay một hình tượng. Chỉ khác ở chỗ, như đã nói trên, Lưỡng giới được kết cấu như một cuốn phim, và một khi đã làm thành phim thì kịch bản đã chực chờ sẵn. Jeffrey chuẩn bị kĩ càng cho từng phân cảnh nên dẫu có trôi đi đâu thì đó cũng là những sắp xếp được toan định trước. Bỏ đi râu ria lởm chởm, xen lẫn đồng hiện, rất tiện theo dõi mà không nhạt nhòa.

Nếu là một bộ phim, Lưỡng giới hoàn toàn có thể là cuốn hài kịch đen (humour noir) khi đồng hành cùng cái chua chát của Calliope là giọng giễu nhại của Jeffrey trong từng chi tiết nhỏ. Giả dụ như khi nói về sự đồng hóa văn hóa những năm 60, ông dùng hình ảnh vô cùng tượng trưng “nồi lẩu Anh ngữ Ford” để khắc họa nên cái xung đột giữa văn hóa bám sâu gốc rễ với những thói quen Tây phương; hay như Zizmo khi đối mặt với lối phân biệt chủng tộc cũng đã lên tiếng châm biếm bọn lợn da trắng thế này: “Từ cái hồi bọn Ăng lô Xắc xông còn mặc da thú thì dân Hy Lạp đã xây đền Partheon còn dân Ai Cập xây kim tự tháp rồi đấy”; và cả chi tiết cuộc điều tra về mối liên hệ giữa thức ăn Địa Trung Hải với việc kéo dài tuổi thọ trong khi Desdemona già cỗi chỉ mong mở lối đi vào thiên đàng,… Jeffrey không quá câu nệ vẻ đẹp hoa mỹ trong từng chi tiết tác phẩm mình, ông tha hồ buông ra cho nó hòa vào văn hóa đại chúng, văn hóa hippie, vào khu ổ chuột tồi tàn Black Bottom – nơi chứa thứ “văn hóa lùn” và lối sống phóng túng. Bằng sự thả mình không màng vẻ đẹp ấy, Lưỡng giới không chỉ là cuốn tiểu thuyết của riêng Calliope, mà nó dường như còn là áng sử thi của thời đại này với những chuyện không mới nhưng chưa hề cũ kéo dài bất tận.

Những xung đột khác

Lấy Calliope làm trung tâm câu chuyện, Jeffrey truy ngược về căn nguyên căn bệnh bắt đầu ở đời thứ nhất, Desdemona và Lefty ở bán đảo Tiểu Á. Ở những khoảnh khắc mở đầu này, ông gợi lên một không khí vô cùng thần thoại, là vẻ đẹp của Hy Lạp, của làng quê, của Smyrma và của cái làng Bithynios. Hôn phối cận huyết được coi như sự khởi đầu cho những thiếu hụt về sau này của Calliope trong cơn ngỡ ngàng: “Giờ đây ta biết mình mang cái bản đồ gen của mình đi khắp mọi nơi”. Tương tự như cuốn tiểu thuyết vô cùng ám ảnh của Virginia Andrews – Những bông hoa trên tầng áp mái, tình cảm nảy nở giữa người cùng sinh đều được bắt nguồn từ những thiếu hụt tình thương hay sự cách ly về mặt xã hội nào đó. Dừng bút ở đây, ông miêu tả tiếp theo là cuộc xâm lược của đế chế Ottoman vào Hy Lạp, và từ đây mở ra những câu chuyện khác.

Tị nạn, vấn đề muôn thuở. Chính cuộc thảm sát đẩy con người ta vào những bất định, vào đến tận cùng. Trên con thuyền vượt biển Aegean đến vùng đất hứa, Jeffrey miêu tả câu chuyện những năm 50 nhưng chưa bao giờ lỗi thời: “Căng thẳng tột độ, mù chữ học cách giả vờ biết đọc; đa thê thừa nhận chỉ có một vợ duy nhất; vô chính phủ chối đã từng đọc chính trị gia Proundhon; bệnh nhân tim giả vờ tráng kiện; động kinh thì chối không bị co giật; còn kẻ mang bệnh di truyền thì xí xóa bỏ qua không nhắc tới”. Nhưng cuộc vượt biên ấy chưa bao giờ được phép, mỗi một người họ lại đang chơi đùa với cuộc đời mình, như một canh bạc, hoặc được tất cả hoặc ngã về không. Cũng chính từ trên con tàu vượt biển ấy, từ nơi chôn rau cắt rốn nhìn sang khi len đã xoay hết vòng, là khi con người dễ dàng chối từ căn nguyên, làm nên một căn cước mới, một con người mới, một cuộc đời mới. Và những sai lạc vẫn thế tiếp tục.

Nước Mỹ những năm 60 trải qua những cơn bạo động về mặt sắc tộc. Những người da màu ở khu Black Bottom mà Desdemona hằng ngày đi qua như những con người dưới đáy xã hội. Cùng sự lớn mạnh của chế độ phân tách chủng tộc, khoảng cách giữa họ – những người da màu và tầng lớp da trắng ngày càng lên cao. Nuôi giữ trong sự thù hằn là những nhen nhóm xung đột văn hóa – thứ xung đột nguy hiểm nhất, hơn cả chính trị – mà ở đó bọn khích tướng dễ dàng nâng lên trở thành cực đoan. Như Fard Muhammad ở Quốc gia Hồi giáo, người truyền tư tưởng của mình để biến những người cuồng tín ngày càng cực đoan, một lần nói rằng: “Sinh ra từ dối trá. Sinh ra từ việc giết người. Một chủng tộc những con quỷ mắt xanh”. Xuyên suốt tiểu thuyết của mình, Jeffrey cho thấy ngột ngạt đè nén xã hội là những xung đột chưa bao giờ mới nhưng không lỗi thời. Tầm vóc lớn của một tác phẩm cũng hệt như thế, tuy được viết từ lâu nhưng rõ ràng vẫn phản ánh đúng một mặt nào đó xã hội đương thời, ở lúc đó và cả lúc này, khi Nhà Trắng vẫn đang rúng động những xung lực mới.

Jeffrey lặng lẽ dẫn người đọc đi qua thời kì đen tối cuộc khủng hoảng kinh tế, thời Đại suy thoái, thời cấm rượu ở nước Mỹ vĩ đại. Từ cuốn tiểu thuyết này, ta dễ hình dung một xã hội ngột ngạt lúc ấy ra sao, nhưng dẫu có xuống tận dốc, “Giấc mơ Mỹ” vẫn luôn là thứ mà con người ta không dễ từ bỏ. Có mặt trên chuyến tàu Pháp cứu viện từ bãi biển Hy Lạp ấy, bao nhiêu người đi là bấy nhiêu giấc mộng. Nhưng rồi giấc mộng tan tành, đời người chìm sâu vào bãi cát lún. Jeffrey miêu tả đầy đủ chật vật mà cả Lefty hay Milton sau này đã phải trải qua khi mơ giấc mộng hoang đường. Hay những cô gái phường vẫy mỏng manh trong tiết sương mù Detroit thật đến xơ xác – như một đại diện bộc trực nhất cho giấc mơ Mỹ để nhận ra rằng, không ai dễ dàng trở thành Martin Dressler của Steven Millhauser để xây nên một Đại Thế Giới tầm cỡ. Giấc mơ Mỹ là một thứ gì đó cao xa, mang chút vời vợi hệt như miền đất mà nó mang tên.

Đồng thời ở đây, Jeffrey cũng không bỏ qua tính nữ để gợi một mặt nào đó chủ nghĩa nữ quyền. Khái niệm “phụ nữ tự do” của Doris Lessing được Jeffrey mang vào Lưỡng giới như một tuyên ngôn, một phong cách mới. Mượn hình tượng Sourmalina và lối so sánh kép với Desdemona, Jeffrey vạch ra trước mắc người đọc là hai con đường: “Cả hai đã ngoài bảy mươi nhưng Desdemona là góa phụ tóc bạc, già lão chờ chết trong khi Lina, một kiểu góa phụ trái ngược hoàn toàn, thì lại là một mái tóc nhuộm đỏ lái con Firebird và nặc váy jean đeo thắt lưng có khóa màu ngọc lam”. Thế nhưng nữ quyền không chỉ xuất phát từ đây, mà là bản chất, là lời tái khẳng định mà ông muốn nói với cả thế giới ngoài kia: Nếu Calliope mang đủ quyền năng làm cuộc hành trình hệt thế hệ Beat khi mới 14 ở xứ Cali, thì những phụ nữ đâu đó ngoài kia hoàn toàn có thể tự mình đứng lên. Như Sourmalina những năm 60 mặc kệ thiên hạ để rồi gây nên vụ xì căng đan vô tiền khoáng hậu – diện bộ váy cam tươi rói chỉ sau vỏn vẹn có bốn mươi ngày để tang chồng mình: “Bốn mươi ngày là đủ rồi”. Tự do là khi bà sống, chẳng màng đến ai.

Cố hương vẫn luôn là nơi mà con người ta mong muốn trở về, và với Lưỡng giới, Jeffrey dường như cũng đang buông neo chính tâm tình mình. Lưỡng giới sử dụng rất nhiều điển tích thần thoại Hy Lạp, về Tiresias, về Apollo, về Dionysus,… Jeffrey đan cài lời hứa của Desdemona với thánh Christopher về việc sơn sửa đền đài để đổi lấy sự an toàn cho Milton như sự gắn chặt cố hương, hay dẫu Desdemona đi qua biết bao năm tháng cuộc đời, bà vẫn không thể nào quên những vườn dâu tằm, đĩa nhạc rebetika, trò chơi thỏ cáo hay mùi quả vả oi nồng cháy đượm vào hôm quân Thổ xâm chiếm,… tất cả luôn mang bà về những năm 50 thuở ấy, khi từ sườn núi Olympus bà phóng tầm mắt nhìn xuống cố đô Bursa của đế chế Ottoman trong chiều đầy gió. Cùng đó là nỗi luyến nhớ vùng đất Smyrna đẹp đẽ vẫn luôn ẩn hiện để rồi chôn vùi vào trong quên lãng, tựa Atlantic chìm xuống dưới đáy biển sâu.

Kết

Lưỡng giới lấy Calliope và câu chuyện của cô làm xương sống chính, thế nhưng những điểm cuốn hút lại nằm ở chuyện bên lề và ở bối cảnh lịch sử trải dài qua nhiều thế hệ. Như Jeffrey từng chia sẻ, ông định viết Lưỡng giới đơn thuần dưới dạng một cuốn tự truyện như bản Foucault; thế nhưng khi khai thác sâu hơn, ông lại nhận ra số mệnh của nó không chỉ đơn thuần thuật lại cuộc đời. Đọc Lưỡng giới, ta thấy cánh tay mà nó bao trùm mỗi lúc một rộng ra hơn, lại vươn dài thêm; dù cuộc thảm sát không đậm nét như Những người nuôi giữ bồ câu; nhen nhóm xung đột sắc tộc không khắc nghiệt bằng Nửa mặt trời vàng; phụ nữ vẫn chưa khai phá tận cùng như Doris Lessing, bồng bột tuổi trẻ vẫn chưa đắm mình hoang dã như Jack Kerouac hay giấc mơ Mỹ vẫn chưa hùng vĩ như Steven Millhauser; thế nhưng Lưỡng giới chứa đựng trong mình đầy những thành tố khắc họa lịch sử, và một tác phẩm chứng kiến lịch sử biến động lên xuống không ngừng sẽ lại chất chứa trong mình chính thứ danh định sử thi to tát.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Lưỡng giới



2 Comments

2 Bình luận

  1. Lưu Lưu

    Tháng Tám 23, 2019 at 3:42 chiều

    Hôm qua em có đi cmt linh tinh,có bạn bảo em thấy cái bìa này sến chắc em là một cô gái yêu thích sự sến sẩm nên mới cuồng si cái bìa này😂

  2. Thiên An

    Tháng Tám 24, 2019 at 4:08 chiều

    Từ việc thiếu hụt enzyme 5-alpha-reductase ở nhân vật chính – Calliope Stephanides, Lưỡng giới đã trở thành một câu chuyện thú vị và đây là một bài review có tâm nữa.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khúc hát của cây: Thước phim Pocahontas về thời hiện đại

Pocahontas – bộ phim hoạt hình Disney về một tù trưởng da đỏ trong thế kỷ 17 tại Bắc Mỹ. Bằng tình yêu và sự quả cảm, cô đã trở thành cầu nối hòa bình giữa người da trắng và người da đỏ.

Published

on

By

khuc hat cua cay feature

          Vẻ đẹp là tài sản của các mối quan hệ được đan dệt và có thể nghe được thông qua đôi tai được thiết kế riêng biệt và đa năng

Nếu Rachel Carson từng mang đến cho tôi những nhận thức thức thời về môi trường dường như luôn đúng dẫu bao năm qua, Michael Pollan là mối liên hệ được thêu dệt giữa mọi sinh vật trong một mạng lưới mạng sống; thì có thể nói, David George Haskell là người đầu tiên cho tôi cảm thức tìm về nguồn cội, lạc vào thế giới tự nhiên để đến đúng tâm điểm, khi con người và đời sống tự nhiên là hai phạm trụ lồng trong nhau, không tách khỏi nhau, tồn tại song song và phát triển cùng nhau. 

Khúc hát của cây đầy tính tượng thanh như chính tên gọi của nó. Có những thanh âm đến từ những khu vực còn chưa có nhiều tác động của con người như rừng Amazon ở biên giới Ecuador; nhưng cũng đôi khi, cây đứng đó và hòa mình vào những thanh âm của đời sống hiện đại khu Manhattan, New York hay đời sống chính trị đầy căng thẳng ở biên giới Palestine và Israel. Ở mỗi khoảnh khắc và mỗi nơi chốn, thực vật hay đời sống tự nhiên luôn gợi con người trở về với tổ kén của mình, và Haskell một cách tài tình với bộ não của một nhà khoa học trong giọng kể của một nhà thơ đã một lần nữa đi lại từ đầu, thức tỉnh, đánh bóng và làm rõ vai trò của loài Homo sapiens trong mạng lưới đầy phức tạp này.

Gồm 3 phần lớn và cũng đồng thời là 3 cuộc khảo sát tỉ mỉ những điều kiện khác nhau, Khúc hát của cây đưa ta về vùng hoang dã rừng Amazon với cây Ceibo, nơi tiếng mưa dường như thay đổi theo từng điều kiện, đối tượng hay bộ phận cây cối. Mưa là một thanh âm quen thuộc, nhưng liệu có bao giờ ta chịu lắng nghe những thang âm riêng biệt của chúng? Cách ly bối cảnh trong một khu rừng dường như nguyên sơ với bộ tộc người Waonari đầy tinh khôi và chất phác, con người như đang vượt thoát khỏi chốn hang động ý thức của Plato để đến với tiếng nói thiện lành của những gì trần truồng và nguyên bản nhất nơi con người chúng ta.

Đọc phần đầu tiên của cuốn sách này ta không thể không nhớ đến Pocahontas và những linh hồn rừng sâu của cô. Nếu nữ chiến binh bộ tộc da đỏ từng chiến đấu hết mình vì tình yêu xuyên qua sắc tộc cũng như niềm tin hướng vào tự nhiên; thì mối quan hệ giữa các loài với nhau, về nghệ thuật khoa học và chiến tranh sinh học đạt đến đỉnh điểm hay tính cộng đồng trong đời sống người Waorani đã một lần nữa cho ta góc nhìn nguyên bản nhất về giới tự nhiên. Nếu tính cá nhân bị lu mờ trước tập thể trong cộng đồng này, thì luôn tồn tại những mục đích nhỏ nhen khác, khi con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Từ khu rừng có phần hoang dã để ta nhìn lại những gì là tự nhiên nhất, Haskell dẫn dắt người đọc quay ngược về thời lịch sử, với những hóa thạch, địa tầng trồi sụt đã từng tạo nên những cá thể đầu tiên nhất, để từ đó cho thấy tự nhiên không chỉ được kết nối qua một mạng lưới, mà bản thân nó đã là một tấm lưới. Trong quá trình ấy, đi từ chuyển lưu, giao tiếp, phụ thuộc lẫn nhau sang loại thải bởi đột biến và chọn lọc tự nhiên; mối quan hệ giữa những loài với nhau được thắt chặt và càng khẳng định hơn nữa, thực vật hay những sinh vật đơn bào nhỏ bé cũng đều có những tế bào thần kinh truyền dẫn ghi nhớ. Chúng có trí thông minh để tạc ghi những mối quan hệ với các giống loài khác.

Trong những di chỉ của người Mesolithic khai quật được ở tại công trường Queensferry vùng Edinburg nước Anh, người ta đã chứng minh rằng hóa thạch của than, củi thu thập từ đây đã có tuổi đời hơn 10.369 năm. Từ gỗ cây phỉ dùng sưởi ấm cho đến loại hạt họ ăn hàng ngày; những hóa thân gỗ này biến thành than đã bị chôn vùi, từ đó được tìm thấy trong lịch sử ngành khai thác mỏ. Từ khói của những lò lửa mà bất cứ tác phẩm văn chương nước Anh đương đại nào trong thời kì này cũng từng khắc họa; cho đến những phần tử nhựa trôi lênh đênh phía trên đại dương để rồi tắp vào gốc cọ Sebal bật rễ; một phần nào đó Haskell cũng mang đến cho ta góc nhìn về những gì con người đã làm với giới tự nhiên.

Dù cho là những hoạt động có vẻ đánh mất nhân tính, nhưng tự nhiên không chần chừ và ôm cánh tay lần nữa tái sinh. Trong mối quan hệ giữa các loài vi khuẩn biển và sinh vật phù du, rác thải nhựa khiến sự trao đổi thông tin giữa các tế bào bị phá vỡ, khiến những sinh vật này có sự biến đổi so với tổ tiên mà chúng thừa hưởng, phần nào giải quyết một phần được rác thải nhựa. Thế nhưng như một câu hỏi mà ông trích dẫn từ Thoreau khi chứng kiến hàng ngàn những người tị nạn Ireland vì nạn thiếu ăn phải lênh đênh rồi chết trên biển, rằng “Tại sao phải lãng phí thời gian trong nỗi sợ hay lòng thương hại?”, thì tự nhiên giờ đây đứng trước con người cũng vẫn với ánh mắt ấy, với bụi mịn, khí thải, bê tông hóa, đô thị hóa hay rác thải nhựa… Tất cả đặt ra câu hỏi của Thoreau trong thời đại này, dường như cấp bách và khó khăn hơn cả.

Con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Nhưng một mặt nào đó, mục nát không phải là đã kết thúc, mà nó là bom hẹn giờ, là ngòi kích nổ cho quá trình tái sinh. Với những tàn tích để lại của cây tần bì xanh vươn cao đã ngã, từng loài ong bắp cày, bọ cánh cứng, ruồi, cuốn chiếu… đã đến và hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhìn nhận con người không thoát khỏi mối quan hệ giữa các thành phần môi trường, thời đại ngày nay dường như loài Homo sapiens cũng đang tham gia vào quá trình ấy, khi Trung Quốc và Ấn Độ có một chiến dịch cải thiện trong việc phủ xanh những đồi đất trọc; còn những nước tiên tiến đã đến gần hơn với xe hạn chế phát thải trong dáng hình của xe điện mà Tesla dường như đi đầu trong phân khúc này.

Haskell không phải là người tiên phong chỉ riêng trong việc lắng nghe cây cỏ; mà ông vươn xa hơn với tác phẩm này, để đến với những trường đoạn triết học, đạo đức, tôn giáo, chính trị… thông qua đời sống tự nhiên. Ở đó liệu cây hay những loài sinh vật khác có nhận thức được thẩm mỹ hay những làn ranh đạo đức ta vẫn thường nghe? Vì bởi giá trị vẻ đẹp nằm ở trạng thái bên ngoài. Nó tồn tại trong tâm trí kẻ đang chiêm ngưỡng, nên hoàn toàn có thể nói rằng, cây cối hay mọi thành phần trong một mạng lưới đều có một thẩm mỹ riêng. Và có hay không lằn ranh đạo đức chia đôi thế giới thành hai đối trọng chúng tachúng, khi con người rốt cuộc cũng là tự nhiên, khi hủy hoại môi trường cũng là đồng thời giết đi chính mình, bởi bất cứ loài sinh vật nào cũng có một thẩm mỹ riêng, một vẻ đẹp riêng, một trí khôn riêng.

Mang con người từ vùng hoang dã và từ quá khứ về lại đời sống đô thị, Haskell phần nào mô tả “nỗi sợ địa lý” của loài Homo sapiens với thế giới tự nhiên. Nếu người da màu sợ hãi khu rừng vì những giá treo cổ có thể ập đến họ bất cứ lúc nào như bài ca Strange Fruit của Billie Holiday, phụ nữ thì sợ tiến trình ‘cô bé quàng khăn đỏ’ khi phải nương nhờ một sức mạnh nào đó, tránh khỏi bắt bớ, hãm hiếp hay lợi dụng. Người da trắng cũng chẳng tốt hơn, khi nếu dừng lại quá lâu trên một vỉa hè cũng là vi hiến hoặc phạm pháp. Giữa đời sống thành thị mà con người bị gò bó như thế, tự nhiên và sự mất mát bản sắc đa dạng đang tỉ lệ thuận với sự đồng hóa. Những loài thực vật ngoại lai như Lê Callery đang bị lên án bởi những đặc tính của mình. Nhưng nhờ có hơn 5 triệu cây xanh ở riêng New York mà nó đã giảm thiểu 2 ngàn tấn chất ô nhiễm không khí và xử lý gần hơn 40 ngàn tấn CO2.

Cây cối đã đứng đó như một hiện thân từ trong lịch sử. Những cây olive ở xứ Tiểu Á vừa là ngọn nguồn vừa là phế tích cho những kì địa chất đã qua. Những trầm tích từ phấn hoa bay qua Biển Chết báo hiệu một lịch sử dài của chính loài người. Từ cổ chí kim khi qua những kiến tạo địa chất cho đến nhân tạo hơn, trong cuộc chiến giữa Palestine và Israel hay quả bom nguyên tử biến Hiroshima thành bãi chiến địa; thì cây cối vẫn vững vàng, đứng đó, và ghi lại âm thầm trong mình một khúc hát riêng. Tường tận, bao quát mà đầy trữ tình; Khúc hát của cây là một tác phẩm lớn làm nên cuộc cách mạng về nhân tính, về sợi dây kết nối và hơn hết là vẻ đẹp của tự nhiên, để đặt ngang hàng với những tuyệt tác của Thoreau, Rachel Carson hay Aldo Leopold.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Cafe sáng