Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Mắc kẹt ở Giữa: Chênh vênh giữa hai bờ giới tính

Một cuộc phỏng vấn với Jeffrey Eugenides, tác giả của tác phẩm “Lưỡng Giới”

Published

on

Tuần qua ngay trên tạp chí này, Jeffrey Eugenides công bố The Obscure Object (Đối tượng mơ hồ), một chương ngắn trích từ tiểu thuyết sắp ra mắt Lưỡng giới, trong đó bàn về một người lưỡng tính trẻ tuổi. Tại đây, Eugenides chuyện trò với Bill Buford, biên tập viên mảng văn chương và hư cấu của tờ The New Yorker, rồi cùng thảo luận về cuốn tiểu thuyết, công việc trước đó và cả cuộc sống gần đây của ông với tư cách người Mỹ xa xứ định cư tại Đức.

Bill Buford (BB): Điều gì làm ông hứng thú với một nhân vật lưỡng tính dự phần vào cả hai giới?

Jeffrey Eugenides (JE): Sự quan tâm của tôi bén rễ từ ít nhất mười lăm năm trước, khi tôi đọc cuốn Memoirs of a 19th Century French Hermaphrodite (tạm dịch Hồi ức của một người lưỡng tính Pháp thế kỷ 19) của Michel Foucault. Foucault tìm thấy những hồi ký ấy trong thư khố của Ủy ban Vệ sinh Công cộng Pháp. Tôi nghĩ đọc về họ sẽ rất tuyệt vời. Herculine Barbin, người lưỡng tính tôi đang đề cập là một sinh viên trường dòng. Cô ấy cao, gầy, ngực lép và học hành tài giỏi. Cô đã phải lòng người bạn thân nhất của mình và họ bắt đầu mối tình bí mật.  Đó là phần sự thật trong trường hợp này, và tôi say sưa đọc cuốn hồi ký vì chúng chứa nhiều yếu tố khuấy động óc tưởng tượng của tôi: một sự lột xác cá nhân đáng kinh ngạc, một niềm ham mê nhà kính và một bí ẩn y khoa. Chỉ duy nhất một vấn đề: Herculine Barbin không thể viết. Lời văn của cô cứng như gỗ, dấu chấm than kết thúc cứ mỗi hai câu. Cô được trời phú cho cái lối cường điệu như kịch mê-lô và tệ hơn, cô thường nhảy cóc qua những phần quan trọng. Lưỡng giới khởi đầu giống như sự thôi thúc trám đầy những lỗ hổng đó, để kể câu chuyện mà Herculine Barbin đã không kể được. Ngay từ đầu tôi biết rằng tôi muốn viết về một người lưỡng tính thực sự, hãy còn đang sống. Các nhân vật lưỡng tính trong văn chương hoặc là những hình tượng thần thoại như Tiresias1, hoặc là những sáng tạo huyền ảo như Orlando2 của Virginia Woolf. Tôi thì lại muốn những sự thật sinh học xác đáng.

BB: Tại sao câu hỏi về giới tính lại hấp dẫn ông đến vậy?

JE: Đâu chỉ riêng tôi. Nó hấp dẫn rất nhiều người. Một thời gian dài nó khiến loài người quan tâm, đó là lý do tại sao lưỡng tính xuất hiện trong nhiều sử thi kinh điển và truyền thuyết sáng thế. Plato tuyên bố con người nguyên thủy vốn lưỡng tính. Hai nửa này bị phân tách và bây giờ buộc phải không ngừng tìm kiếm nửa kia, rõ ràng vì thế mà rất khó đặt chỗ ăn tối trong ngày Valentine.

Tôi lớn lên vào những năm bảy mươi trung tính3, tại thời điểm vai trò giới tính bị chối bỏ. Mọi người đều bị thuyết phục rằng tính cách, và đặc biệt là hành vi đặc thù giới tính được quyết định bởi cách nuôi dạy. Giờ thì đảo ngược hết cả. Sinh học và di truyền được cho là các yếu tố quyết định thực sự của hành vi. Do đó chúng ta có những giải thích tiến hóa hợp thời theo lối hiện tại của ta: Đàn ông không thể giao tiếp vì hai mươi ngàn năm trước họ phải giữ im lặng trong cuộc săn bắn; phụ nữ dùng lời nói vì họ phải gọi nhau lúc hái lượm các loại hạt và quả mọng. Điều này cũng ngớ ngẩn y hệt những lời giải thích “nuôi dạy”4 trước kia.

Câu hỏi về giới tính, hay sự hình thành bản chất giới tính, đưa đến một vấn đề triết học rộng lớn hơn. Chúng ta có tự do? Hay tất tần tật mọi thứ về tính cách của ta, và theo Heracleitus là cả số phận chúng ta đều đã được định đoạt? Cuộc đời người dẫn chuyện của tôi diễn ra màn tranh luận ấy.

BB: Cuốn tiểu thuyết của ông cũng là về một gia đình di cư sang Mỹ. Ở mức độ nào đó, phải chăng đây chính là câu chuyện gia đình ông?

JE: Tôi chưa bao giờ chủ tâm phô ra trang viết một câu chuyện gia đình. Như đã nói, lúc đầu tôi chỉ muốn viết hồi ký hư cấu về một người lưỡng tính như Tiresias. Nhưng điều này dẫn tôi đến những người lưỡng tính khác trong văn học. Thuyết lưỡng tính đưa đến chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa cổ điển dẫn về văn hóa Hy Lạp cổ. Văn hóa Hy Lạp cổ lại chỉ đường đến chú Pete của tôi. Ý tôi là thế này: Khi tiến hành khảo cứu cho cuốn sách, tôi bắt gặp một tình trạng lưỡng tính được gọi là hội chứng thiếu hụt 5-alpha-reductase. Tính trạng này thường xuất hiện ở những bé gái ngay khi ra đời, rồi sau đó gây nam hóa vào tuổi dậy thì. Đó là một chuỗi biến đổi rất ly kỳ. Hội chứng nói trên do đột biến gen lặn tạo nên, thường xảy ra ở những cộng đồng kết hôn cận huyết. Khi phát hiện ra điều đó, suy nghĩ của tôi về cuốn sách đã thay đổi. Để kể chuyện đời nhân vật lưỡng tính mà tôi tạo ra, tôi sẽ phải thuật lại quá trình kế thừa đặc điểm di truyền của cô ấy – và điều này thì do gia đình mang lại. Nửa đầu sẽ là câu chuyện về sự truyền tải cái gen này (hay nói cách khác là chuyện về ông bà cha mẹ), và nửa sau sẽ là cuốn hồi ký hư cấu của Cal (tục danh của Calliope) Stephanides. Sau đó tôi biết rằng, như cha tôi từng nói, cuốn sách trở thành một ổ bánh mì kẹp thịt thực sự, một thiên sử thi người Mỹ gốc Hy Lạp của riêng tôi. Thế nhưng anh đúng rồi. Anh mong chờ điều gì với một cái tên như Eugenides chứ?

BB: Nào hãy dành một phút nói về vấn đề giới tính. Chắc chắn rất nhiều nhà văn quan tâm đến nó, nhưng dường như với ông nó là mối quan tâm đặc biệt – lằn ranh giới tính5, nơi một giới tính bị lu mờ bởi nửa còn lại, rồi thì khoảnh khắc khi nhận ra những hiểu biết ta có được về các chàng trai và cô gái lộn tùng phèo hết cả. Tôi đang nghĩ đến khởi đầu của một vài truyện mới đây ông đã cho công bố ngay trên tờ báo này.

JE: Thiên kiến văn chương nảy sinh tự nhiên đến mức nó gần giống như là một phần bản tính của nhà văn. Nó đã sẵn ở đó trước cả khi anh kịp nhận ra mình sở hữu những phẩm chất ấy. Tôi làm việc cùng Lưỡng giới trong nhiều năm và một phần những gì tôi công bố trên tờ The New Yorker trực tiếp dính tới bản dạng giới6. Tại sao chất liệu này lại làm tôi thích thú, tại sao tôi muốn khám phá nó dưới dạng thuật ngữ kể chuyện – chà, tôi có thể thử trả lời điều đó bằng các thông tin tiểu sử, hay xã hội, lịch sử. Tôi không chắc liệu như vậy có làm rõ được điều gì không, nhưng tôi khá chắc nó sẽ cô đọng hơn nhiều. Trực giác thì tôi thích ý tưởng một người lưỡng tính kể lại cuốn sách bởi vì bản chất của tiểu thuyết gia vốn là lưỡng tính. Anh được giả định xâm nhập vào đầu cả hai giới tính và thăm thú qua lại dễ dàng. Chuyển động giữa các giới kiểu như vậy cũng vận hành trong The Virgin Suicides (tạm dịch Trinh nữ tự sát). Độc giả nam có xu hướng đồng cảm với nhóm người dẫn chuyện thanh thiếu niên. Độc giả nữ, họ nói với tôi, thường đồng cảm với những cô gái Lisbon bị cô lập, kết tội. Tôi khá chắc có những độc giả khác cảm thấy nhận định của mình đến từ cả hai giới. Điều tôi đang nói ở đây là: hành động đọc cuốn tiểu thuyết đã đưa độc giả vào tình trạng lẫn lộn giới tính. Anh chuyển động qua lại từ vương quốc đàn ông sang lãnh địa phụ nữ. Đây chẳng phải điều tôi ý thức được tại thời điểm tôi viết The Virgin Suicides. Bây giờ, chỉ trong ánh sáng của Lưỡng giới tôi mới thấy được nó.

BB: Vấn đề ngoại ô cũng làm ông bận tâm, và một lần nữa liên quan đến việc viết tiểu thuyết của ông. Tại sao vùng ngoại ô lại như chủ đề lớn vậy?

JE: Tôi không biết số liệu thực tế, nhưng tôi ngờ rằng ít nhất bảy mươi phần trăm dân số nước Mỹ sống ở vùng ngoại ô. Với thống kê như vậy, đó là điều tự nhiên khi người ta viết về chúng. Các nhà văn luôn viết về nơi họ lớn lên, và tôi lớn lên ở Grosse Pointe. Anh bắn tôi đi còn hơn. Nabokov đã đi săn bướm ở Crimea hay sao? Tôi thì từng dong buồm Flying Scots trên sông Detroit. Cũng chẳng có gì mới mẻ, Updike và Cheever đã đặt câu chuyện tại vùng ngoại ô từ lâu trước tôi. The Virgin Suicides gần như hoàn toàn diễn ra ở ngoại ô. Nhưng Lưỡng giới bao phủ nhiều vùng đất hơn là chỉ Grosse Pointe. Một phần đặt tại Tiểu Á, và dĩ nhiên thêm cả Berlin cùng San Francisco. Về vấn đề này, cuốn sách theo tôi hướng đến thành phố Detroit hơn là vùng ngoại vi Grosse Pointe. Henry Ford, những nhà sáng lập Quốc gia Hồi giáo ở Detroit năm 1931, những cuộc bạo loạn sắc tộc năm 1967 – tất cả đều là biểu tượng nổi bật. Vì vậy, tôi muốn nói Lưỡng giới là cả đô thị lẫn vùng ngoại ô, là cả châu Âu cũng như nước Mỹ.

BB: Nếu Cal được sinh ra ở châu Âu thay vì ngoại ô nước Mỹ, liệu cuộc sống của cô có khác đi?

JE: Tôi thường nghĩ theo khuynh hướng rằng sự ngẫu nhiên trong tính trạng di truyền của Cal sẽ áp đảo bất kỳ sợi dây liên kết nào khác. Nhưng rõ ràng nước Mỹ luôn là vùng đất tự đổi thay. Chỉ lý do đó thôi thì câu chuyện đời Cal đi theo tiếng gọi quốc gia rồi.

BB: Ông đã sống ở Berlin được đôi ba năm. Và ông từng là người nước ngoài làm việc tại Mỹ trong lúc đang viết về đất nước này. Quan điểm của ông về Hợp Chúng Quốc đã thay đổi hay chưa ngay khi ông đang ngồi đây?

JE: Có chứ và nên như thế. Tôi từng nghĩ George W.7 được coi như là nhà quý tộc. Nếu vậy, sự tiêu dùng kín đáo8 nổi tiếng lấy đâu ra? Tại Grosse Pointe, những người càng giàu đi xe hơi càng xoàng. Cảm giác của tôi là Hoa Kỳ, với tư cách siêu cường duy nhất trên thế giới, nên hành động theo lối gây ra ít đố kỵ nhất, ít chú ý nhất; nên bớt kiêu căng và tinh tế hơn. Chúng ta nên là Rome nhưng trông cứ như Canada.

BB: Vì vậy, quan điểm của ông ngày càng tiêu cực hơn?

JE: Tôi không trở thành người bài Mỹ. Trên thực tế, có vài tờ báo châu Âu, đặc biệt ở Anh, khiến tôi sôi máu. Tuần này một nhà văn còn tuyên bố nhà nước khủng bố lớn nhất thế giới, anh đoán xem, là nước Mỹ. Sống ở đây còn chẳng khiến tôi đi xa đến thế. Nhưng khoảng cách đã cho tôi một góc nhìn mới về tổ quốc tôi. Từ bên kia đại dương một số chuyện trông khá kinh khủng. Hàng trăm nghi can bị bắt tại Hoa Kỳ do nghi ngờ liên quan tới khủng bố, bị giam giữ mà không buộc tội, và với danh tính bị che giấu – nhìn điều này xem, nó rất là tệ. Nó đi ngược lại dấu ấn công lý đặc trưng của hệ thống Mỹ. Thất bại trong phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, sự lãng phí cùng cực của Hoa Kỳ, có vẻ như chẳng ai ở đó nghe nói tới cái đèn hẹn giờ – những chuyện ấy trông rất tệ nhìn từ phía bên này. Cũng hệt như đàn ông trưởng thành mặc quần sọt đội mũ bóng chày vậy.

Đồng thời, tôi mất hẳn cảm giác tự ti văn hóa trong mối liên hệ với Âu châu. Ở đây họ không thực sự sản xuất những bộ phim tốt hơn hoặc viết những cuốn sách hay hơn. Nhìn chung, tôi có nhiều cuộc luận đàm thông minh với người Berlin hơn là người New York. Nơi đây có thời gian để nghĩ suy, có lẽ là do mọi người luôn trong kỳ nghỉ. Nơi đây thật dễ chịu, thật nhân văn, chỉ là khoảnh khắc văn hóa châu Âu đã trôi xa rồi. Tôi có linh cảm rằng nước Mỹ cũng thế, hoặc gần như thế. Tuy nhiên chúng ta không có gì phải hổ thẹn. Biểu hiện văn hóa của chúng ta trong thế kỷ qua rất đáng kinh ngạc.

Nước Mỹ có vẻ năng suất hơn châu Âu. Năng suất hơn cả nước Đức. Người Đức không được việc như số đông thường tin tưởng. Chúng tôi mua năm chiếc đồng hồ Đức trong vòng ba năm và tiêu tùng cả rồi. Anh nghĩ tại sao từ “tiêu” lại luẩn qua luẩn quẩn nhiều đến vậy? Còn nữa, người châu Âu muốn sửa gáy Hoa Kỳ vì các vấn đề chủng tộc, song toàn bộ châu Âu vẫn còn sa lầy trong các tàn tích của định kiến chủng tộc đến độ người Mỹ hẳn sẽ thấy sửng sốt. Họ chế giễu chúng ta là bọn đúng đắn chính trị9 nhưng tại nơi đây họ có thể dùng một chút đúng đắn chính trị ấy. Nó sẽ chẳng làm đau ai.

Hết.

3V dịch.

Bài viết được thực hiện bởi Bill Buford, đăng trên bản in tạp chí The New Yorker số ra ngày 29.07.2002.

Chú thích:

  1. Tiresias là nữ tiên tri mù con thần Apollo, được cho là người lưỡng tính vừa có ngực vừa có dương vật, khi là đàn ông khi khác lại là phụ nữ.
  2. Orlando là nhân vật lưỡng tính hư cấu trong tác phẩm cùng tên của Virginia Woolf. Vốn là một người đàn ông, tỉnh dậy sau giấc ngủ dài Orlando biến thành phụ nữ và có thú vui cải trang thành đàn ông.
  3. Nguyên văn là “unisex”. Unisex hay phong cách trung tính chỉ những đồ dùng hoặc cách ăn mặc thích hợp cho cả nam và nữ. Từ unisex được dùng lần đầu tiên năm 1968 trên tạp chí Life của Mỹ.
  4. “Nature versus nurture” là cuộc tranh luận học thuật về bản chất và nuôi dưỡng, liên quan đến việc liệu hành vi của con người được quyết định bởi môi trường sống và giáo dục hay là được định đoạt từ trước khi sinh thông qua gen của chính họ. Ở đây Jeffrey Eugenides có ý châm biếm cả hai.
  5. Từ nguyên là “gender boundaries”.
  6. Từ nguyên là “gender identity”, còn gọi là bản dạng giới hay nhân dạng giới tính, là giới tính tự xác định của một người. Bản dạng giới không nhất thiết dựa trên giới tính sinh học hoặc giới tính được người khác cảm nhận và cũng không phải là thiên hướng tình dục.
  7. Ý nói George Walker Bush, tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ.
  8. Từ nguyên là “inconspicuous consumption”, là thuật ngữ được đề cập trong cuốn sách The Sum of Small Things: A Theory of an Aspirational Class (tạm dịch Tổng quan những điều nhỏ nhặt: Một lý thuyết về Giai cấp Khát Khao) của tác giả Elizabeth Currid-Halkett, theo đó người ta có xu hướng ít đầu tư vào những món hàng vật chất hơn, mà thay vào đó thiên về những thói quen và lựa chọn phong cách sống như một hình thức mới để khẳng định địa vị của mình.
  9. Từ nguyên là “P.C.” viết tắt của “political correctness” được sử dụng để mô tả ngôn ngữ, chính sách, hoặc các biện pháp nhằm tránh các hành vi gây bất lợi cho các thành viên của các nhóm cụ thể trong xã hội.

Đọc tất cả những bài viết của 3V.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Viet Thanh Nguyen, giám khảo gốc Á đầu tiên của giải Pulitzer, và vai trò mới vượt quá lằn ranh văn chương

Published

on

Cuộc đời của Viet Thanh Nguyen đã thay đổi khi anh đoạt giải Pulitzer năm 2016 trong hạng mục tiểu thuyết cho cuốn tiểu thuyết đầu tay gây sửng sốt, The Sympathizer. Trong những năm gần đây, Nguyen – trưởng khoa Tiếng Anh tại Đại học Nam California – đã trở thành cây viết xã luận ​​cho tờ The New York Times, nhận được Học bổng MacArthur (hay còn được gọi là quỹ “tài trợ thiên tài”), tham gia nói chuyện vòng quanh đất nước và thậm chí còn xuất hiện trên chương trình truyền hình Late Night with Seth Meyers.

Một vai trò mới

Thành tựu mới nhất của anh là một trong những dấu mốc đáng ghi nhớ khi góp mặt vào Hội đồng giám khảo Pulitzer với tư cách là thành viên người Mỹ gốc Á đầu tiên trong lịch sử 103 năm của tổ chức này. Theo luật định, nhiệm kỳ này kéo dài ba năm và có thể gia hạn hai lần, tối đa là chín năm.

“Họ đã mời tôi vài lần trước đó, nhưng tôi không thể tham gia vì còn nhiều việc và vẫn đang cố gắng hoàn thành phần tiếp theo của The Sympathizer. Khi họ quay lại vài tháng trước và ngỏ ý, khi đó tôi vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề The Committed. Tôi coi trọng ý tưởng về quyền công dân, dù cho đó là phục vụ đất nước hay văn học hay người Mỹ gốc Á, vì vậy tôi gật đầu và đồng ý tham gia.”

R. O. Kwon, tác giả cuốn sách bán chạy The Incendants, nói rằng lẽ ra đã không phải mất quá nhiều thời gian để Hội đồng giám khảo Pulitzer mời một thành viên người Mỹ gốc Á nhưng bây giờ đã có. “Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời, và may mắn cho chúng tôi - Việt là một nhà văn xuất sắc, đột phá và là đại diện vững chắc cho những giọng nói bị thiệt thòi. Anh mở những cánh cửa và luôn chào đón những người khác."

Về văn chương của người Mỹ gốc Á

Thời thế đã thay đổi từ ngày anh tốt nghiệp đại học California, Berkeley, nơi trưởng khoa tuyên bố rằng anh không thể viết luận án về văn học Mỹ gốc Việt vì đề tài ấy quá co cụm. Thay vào đó, anh mở rộng nghiên cứu sang văn chương người Mỹ gốc Á. Cuốn sách đầu tiên Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America (tạm dịch Chủng tộc và Kháng cự: Văn học và chính trị người Mỹ gốc Á) xuất bản năm 2002, là một nghiên cứu văn chương về người Mỹ gốc Á bắt đầu với Onoto Watanna 1896 và kết thúc với Lois-Ann Yamanaka 1996.

“Đối với nhiều nhà văn người Mỹ gốc Á được xuất bản từ cuối thế kỷ 19 cho đến những năm 1990, họ hiểu rằng bản thân ít được biết đến và những câu chuyện của họ cũng thế […] Có rất nhiều áp lực đối với họ, bởi đó là những người tiên phong. Họ biết gia đình và cộng đồng sẽ nhìn vào những tác phẩm này. Có nhiều cảm giác mãnh liệt trong việc họ là người phơi bày cục diện ấy."

Viet Thanh Nguyen nhớ lại anh đã từng có thể theo kịp tất cả tác phẩm do người Mỹ gốc Á viết, nhưng giờ đây anh thấy điều đó là không tưởng bởi sự bùng nổ gần đây của thơ, tiểu thuyết và hồi ký. "Trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ở đất nước này, đặc biệt là trong văn học; những người Mỹ gốc Á mới thật sự là người thành công và sung mãn nhất" - Nguyễn, người viết cuốn sách phi hư cấu Không gì chết đi bao giờ: Việt Nam và ký ức chiến tranh và tập truyện ngắn Người tị nạn, nói. Anh cũng biên tập Kẻ ly hương, gồm 17 bài tiểu luận của các nhà văn tị nạn, và gần đây nhất đồng sáng tác cuốn sách thiếu nhi Chicken of the Sea với con trai mình, Ellison Nguyễn, khi đó 5 tuổi.

Theo anh, dù ngành xuất bản chủ yếu vẫn là địa hạt của người da trắng, nhưng người Mỹ gốc Á đã đạt được thành công trong văn học một phần vì đây là loại hình nghệ thuật có chi phí thâm nhập thấp. “Một loại hình nghệ thuật càng đắt tiền, thì những người bị loại trừ càng khó thâm nhập. Đó là lý do tại sao có Hollywood, nơi chống lại sự thay đổi và tồn tại định kiến nhất với những câu chuyện của người Mỹ gốc Á; trong khi trong văn chương, đặc biệt là thơ, rất ít tốn kém, là nơi những người bị loại trừ có cơ hội. Bởi vì ai cũng có thể viết. "

Anh tin rằng gánh nặng đại diện mà các tác giả người Mỹ gốc Á đã từng cảm thấy giờ không còn quá nặng nề với các nhà văn ngày nay, điều này cho phép tạo ra sự lập dị và tính thể nghiệm nhiều hơn. Nguyễn cho biết tiểu thuyết của chính mình có lợi vì được xuất bản sau khi văn học Việt - Mỹ "đã có vài thập kỷ thực sự phát triển”. The Sympathizer được phát hành vào năm 2015 trùng đúng 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, đề cập đến vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam dưới giọng kể của một người nửa Việt, nửa Pháp không tên làm việc như một điệp viên hai mang trong hậu quốc chiến tranh.

Phần tiếp theo rất được mong đợi sẽ nối tiếp cuốn tiểu thuyết đoạt nhiều giải thưởng này. The Committed, một tiểu thuyết giật gân lấy bối cảnh ở Paris, sẽ được xuất bản vào tháng Ba. Anh nói: “Tôi nghĩ điều quan trọng là phải điều tra và tìm lại những gì người Pháp đã làm ở Việt Nam, bởi Pháp và Mỹ là hai trong số những cường quốc thuộc địa lớn trong thế kỷ trước, và tầm nhìn của họ về dân chủ, tự do và giải phóng chắc chắn là rất quan trọng trong cuộc đời tôi và quyết định số phận của rất nhiều người ở rất nhiều quốc gia.

Nói thẳng sự thật

Nguyễn đã tận mắt chứng kiến những tác động lâu dài của chiến tranh, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Anh đến Hoa Kỳ năm 1975 cùng gia đình với tư cách là người tị nạn khi đó 4 tuổi và ban đầu được định cư tại một trại ở Fort Indiantown Gap, Pennsylvania. Họ bị chia tách và sống với những người bảo lãnh khác nhau trong vài tháng trước khi được đoàn tụ để chuyển đến San Jose, California, nơi cha mẹ anh mở một trong những cửa hàng tạp hóa Việt Nam đầu tiên trong thành phố.

Cha mẹ của Nguyễn làm việc mệt mỏi hàng giờ quanh năm và bị thương trong một vụ cướp có vũ trang tại cửa hàng của họ vào đêm Giáng sinh. Khi anh còn là một thiếu niên, gia đình của anh là nạn nhân của một cuộc xâm nhập có chủ đích, trong đó kẻ đột nhập chĩa súng vào mặt họ. Khi Nguyễn trở thành sinh viên đại học tại Berkeley, nơi sau này anh nhận bằng tiến sĩ Anh, anh đã cống hiến cho công bằng xã hội và viết op-eds [bài xã luận với quan điểm cá nhân độc lập] cho tờ báo của trường.

“Tôi luôn thẳng thắn,” anh nói. "Cuốn sách đã cho tôi một nền tảng lớn để nói tất cả những gì tôi luôn muốn nói." Là một nhà phê bình văn hóa, anh đề cập đến mọi thứ: từ hiển hình khuôn mẫu ở Hollywood đến phản ứng của chính phủ với Covid-19 và thậm chí cả cộng đồng mình. "Cộng đồng người Mỹ gốc Việt là nhóm gốc Á duy nhất có đại đa số ủng hộ Trump, và tôi không quá băn khoăn khi lên tiếng về sự phân biệt chủng tộc, đồng lõa và đạo đức giả của họ. Nếu người Mỹ gốc Á đứng về phía bất công, công việc của chúng ta vẫn là phải chỉ trích chính cộng đồng ấy”.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Victoria Namkung, đăng tại NBC News.

*



Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Những sự thật tự nhiên: Tinh thần Aldo Leopold

Published

on

Bảy mươi năm sau khi Niên lịch miền gió cát được xuất bản lần đầu, Aldo Leopold - “cha đỡ đầu của tư duy sinh thái học hiện đại” đã nói gì về sự tái tạo và đạo đức đất đai?

Ngày 21 tháng Tư năm 1948, Aldo Leopold qua đời vì một cơn đau tim trong khi đang giúp hàng xóm dập lửa lan trên cỏ đầu mùa không xa nơi “lán trại” nổi tiếng của ông bên ngoài Baraboo, Wisconsin. Lúc đó ông chỉ mới 61 tuổi. Một năm sau, cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – Niên lịch miền gió cát được xuất bản. Được xem là tác phẩm kinh điển của thời đại với cách kể chuyện đầy hấp dẫn, cuốn sách đã nói lên một điều mà ngày nay chúng ta vẫn biết đến như là “đạo đức đất đai”.

Niên lịch miền gió cát ra đời thức thời hơn bao giờ hết, và có thể nói rằng công dân nào cũng nên đọc nó, dù cho họ sở hữu, phát triển, trồng trọt, chăn nuôi hay môi giới đất đai, hoặc chỉ vu vơ đi qua cánh đồng và sẵn sàng suy ngẫm về sợi dây liên hệ sâu sắc giữa mình với thiên nhiên. Tạp chí Mountain Journal đã có cuộc trò chuyện với nhà báo, nhà sử học, nhà bảo tồn Curt Meine, thành viên cao cấp của Quỹ Aldo Leopold và Trung tâm Con người và Tự nhiên; để thảo luận về ý tưởng của Leopold và suy ngẫm về ảnh hưởng lâu dài của cuốn sách nhân kỷ niệm 70 năm kể từ ngày xuất bản.

Meine gọi Leopold là người vừa theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatist), vừa theo đuổi lý tưởng (idealist). Ông nói rằng trích dẫn ông yêu thích nhất của Leopold xuất phát từ bài tiểu luận “Đạo đức đất đai”: “Trong những điều từng được viết ra, không gì quan trọng bằng đạo đức... Nó phát triển trong tâm trí của một cộng đồng biết tư duy.” 

Khi viết ra các nhận định vào thời điểm những năm 1940, Aldo Leopold không hình dung được cuốn sách của mình sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mức nào. Thế nhưng, cho đến nay, cuốn sách vẫn được ngày càng nhiều độc giả yêu thích, trở thành nguồn tư liệu quý giá, làm thay đổi phong trào môi trường và đóng vai trò nền tảng trong lĩnh vực chính sách, đạo đức và khoa học bảo tồn hiện đại.

*

Cuộc phỏng vấn của Mountain Journal với Curt Meine

Lần đầu tiên anh quan tâm đến Leopold diễn ra như thế nào?

Maine: Giống như rất nhiều người, lần đầu tiên tôi đọc Aldo Leopold là qua tác phẩm kinh điển Niên lịch miền gió cát. Tôi trưởng thành trong một gia đình yêu thích câu cá và cắm trại, và tôi cho rằng điều đó khiến tôi dễ bị hớp hồn bởi cuốn sách ấy. Tôi từng sống ở Chicago. Một người bạn cấp ba trở về từ Montana vào kỳ nghỉ đã đọc Leopold và tặng cho tôi một cuốn. Ngay sau đó tôi đã chuyển đến Madison, Wisconsin để học cao học tại Đại học Wisconsin - nơi Leopold từng dạy và cũng là nơi lưu trữ luận án nghiên cứu của ông. Điều này dẫn đến điều khác, cuối cùng tôi đã nghiên cứu và viết về Leopold trong luận án của mình. Nó được xuất bản năm 1988 với tựa đề Aldo Leopold: Cuộc đời và thành tựu, và là cuốn tiểu sử đầy đủ đầu tiên viết về Leopold.

Tuy nhiên, đằng sau tất cả những điều đó là cảm giác rằng chuyện đời Leopold đã cho tôi những kiến thức sâu sắc và bài học quan trọng để hiểu được gốc rễ của ngành bảo tồn và khoa học, chính trị và triết học môi trường. Đối với tôi, nó mang lại cơ hội để tạm xa rời những vấn đề khẩn thiết và cấp bách, để hiểu sâu hơn về nền móng và sự phát triển của phong trào bảo tồn cũng như vòng vận động của môi trường.

Mục đích của Quỹ Aldo Leopold là gì?

Maine: Quỹ Aldo Leopold được khởi lập bởi năm người con của Aldo và vợ Estella để tiếp tục cam kết với công cuộc bảo tồn thiên nhiên. Nền tảng của quỹ là tìm cách nâng cao đạo đức đất đai thông qua các chương trình giáo dục, đào tạo, truyền thông và quản lý đất đai. Điều này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm công việc phục hồi đất đai địa phương, đào tạo các nhà lãnh đạo bảo tồn tương lai, các chương trình giáo dục với quy mô tiếp cận vượt xa căn cứ của chúng tôi gần Baraboo, Wisconsin.

Gia đình Leopold tại “lán trại” của họ ở Wisconsin. Nhiều ý tưởng cho cuốn Niên lịch miền gió cát và các bản vẽ từ nhiệm kỳ của ông ở Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ đã được mạ kẽm ở đây. Hàng sau, từ trái sang phải: Aldo Leopold, vợ Estella, các con trai: Luna và Starker. Hàng dưới, các con gái: Nina và Estella với chú chó của gia đình, Gus. 

Anh mô tả quá trình tuần tự phát triển trong cách tư duy của Leopold như thế nào, và những gì đúc kết nên tư duy này?

Maine: Cách tiếp cận và hiểu biết về bảo tồn của Leopold đã phát triển liên tục trong suốt cuộc đời ông để đáp ứng những nhu cầu môi trường mới xuất hiện, sự thay đổi hoàn cảnh văn hóa - chính trị, sự phát triển khoa học cơ bản và phản ánh liên tục kinh nghiệm cá nhân của ông trong lĩnh vực này. Về cơ bản, Leopold nhận thấy rằng thành công trong bảo tồn không thể xác định bằng các biện pháp kinh tế đơn giản và ngắn hạn; mà bằng cách tạo ra các mối quan hệ lành mạnh hơn với tự nhiên. Nền móng cho kết luận này là ngành khoa học tân tiến về sinh thái học (mà ông là người đi tiên phong) cùng với những thay đổi mà ông chứng kiến trong các hệ thống kinh tế và xã hội của con người.

Năm 1940, Leopold đã viết rằng “Bảo tồn là sự phát triển chậm chạp và tốn nhiều công sức của một mối quan hệ mới giữa con người và đất đai.” Và đất đai vào thời điểm đó, Leopold cho rằng nó bao gồm đất, nước, động – thực vật và con người. Nghĩa là, bảo tồn không chỉ đơn thuần là cải tiến sản lượng bền vững của nhân tố này hoặc nhân tố kia từ đất. Nó cũng không chỉ liên quan đến việc bảo vệ các thành tố đặc biệt, hiếm hoi, đẹp đẽ hoặc có ý nghĩa kinh tế của lãnh thổ này. Nó liên quan đến cả hai điều trên và nhiều hơn nữa. Phần nhiều hơn nữa này chính là mối quan hệ đạo đức giữa chúng ta với đất đai cũng như công cuộc bảo vệ, thúc đẩy và khôi phục các phẩm chất của đất mà ông xác định là “năng lực tự tái sinh”.

Đây là những kết luận mà ông không ngừng suy ngẫm trong suốt sự nghiệp của mình. Trong quá trình đó, có rất nhiều tình tiết và trải nghiệm đặc biệt hình thành nên thế giới quan của ông - thời niên thiếu ở Iowa, sự giáo dục ở miền đông bắc, những năm tháng đầu sự nghiệp ở Cục Lâm nghiệp Hoa Kỳ, những cuộc du hành đến châu Âu, Canada và miền bắc Mexico, làm việc hàng ngày trong các cảnh quan hỗn độn của Wisconsin và vùng Trung Tây. Một trong những khía cạnh đáng chú ý của Leopold là khả năng điều chỉnh cái nhìn sâu sắc nhất từ hầu như mọi trải nghiệm mà ông có.

Leopold đã đưa ra một số quan sát sắc bén về sự tái tạo. Đúng là ông tin vào hiệu quả tái sinh của việc thông tri với thiên nhiên, nhưng cũng cảnh báo việc thương mại hóa, tiền tệ hóa và lạm dụng nó. Anh nghĩ gì về những mối quan tâm này?

Maine: Leopold hiểu và đánh giá sự cải tạo đất đai là một trong những cách chính mà người Mỹ hiện đại tương tác với đất đai và thế giới tự nhiên, thông qua đó chúng ta có thể phát triển đạo đức đất đại một cách cá nhân. Và vì vậy, ông đã dành thời gian đáng kể trong suốt sự nghiệp của mình để cung cấp cơ hội cải tạo thông qua bảo tồn động vật hoang dã, bảo vệ thiên nhiên hoang dã, phục hồi đất đai và các phương thức khác. Nhưng ông cũng hiểu rằng cải tạo có thể trở thành một biểu hiện tiêu dùng hiện đại khác – là việc lấy mọi thứ từ đất mà không quan tâm đến vẻ đẹp, sự đa dạng hay sức sống của nó.

Nói cách khác, mối liên kết giữa cải tạo và bảo tồn hầu như không được đảm bảo. Leopold từng viết rằng “Thêm nhiều sự cải tạo không phải là việc xây thêm những con đường lên mảnh đất đáng mến của ta, mà là xây sự tiếp thu vào tâm trí con người (vẫn còn chưa được đáng mến lắm).” Ông lo ngại về sự mất kết nối ngày càng tăng do sự phát triển của công nghệ và khả năng hạn hẹp của ta để nhìn nhận thứ mà ông gọi là “bí ẩn cuối cùng, những hoạt động nội tại trong lòng đất.” Leopold quan tâm trước nhất đến việc “đọc thấu đất”. Ông cố gắng tìm hiểu từng chức năng một. Ông tìm cách nhìn thấu đất trong từng chi tiết tinh tế cũng như trong một tổng thể thay đổi, để hiểu vị trí con người trong đó. Cải tạo có thể và nên là một trong những cách chính để khuyến khích những điều này trong chính chúng ta. Nhưng cải tạo hiện đại chỉ tách chúng ta ra, làm chúng ta mù quáng.

Tại sao Niên lịch miền gió cát vẫn còn sức sống cho đến ngày nay?

Maine: Điều đầu tiên và quan trọng nhất, Leopold là một người kể chuyện hay. Mặc dù một số tài liệu tham khảo của ông có thể lỗi thời, ông vẫn lôi cuốn độc giả với câu chuyện gần gũi về chim dẽ gà nhảy múa trên bầu trời hoặc những vòng tuổi của cây sồi già hay tiếng gọi của những con sếu. Qua quan sát của ông, chúng trở thành chứng nhân cho những thước phim mà ông thấy được. Tôi đã định nói rằng văn xuôi của ông không hề bị tác động bởi thời gian, nhưng có lẽ nó hoàn toàn ngược lại. Leopold đã thấm đẫm câu chuyện của mình với trải nghiệm cá nhân và vào trong lịch sử. Có một cảm nhận sâu sắc về thời gian xếp lớp trong những dòng chữ, và có lẽ trong thời đại thay đổi chóng mặt hiện nay, ta thấy mình được định hướng tốt hơn thông qua những con chữ của ông. Leopold cũng đặt ra những câu hỏi lớn lao mà chúng ta vẫn tự hỏi về mối quan hệ đúng đắn của mình với tự nhiên, với sự hoang dã và tự do; ngay cả khi bản thân chúng ta vẫn thường vật lộn tìm ra định nghĩa về những phẩm chất này. Và cuối cùng, tồn tại một vẻ đẹp thuần khiết trong văn xuôi của ông. Trong những đoạn văn mạnh mẽ nhất của mình, ông chạm đến chúng ta theo cách mà âm nhạc và thi ca vốn vẫn làm được.

Chúng ta đang sống trong thời đại thay đổi chóng mặt về mặt xã hội và sinh thái. Aldo Leopold nói gì với chúng ta về thời đại này?

Maine: Thẳng thắn mà nói, những ý tưởng, sách vở hay số liệu cốt lõi từ quá khứ mà chúng ta vẫn kiếm tìm để được truyền cảm hứng dường như ngày càng ít hữu ích hơn. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ chưa từng có tiền lệ, một thời kỳ của những đổi thay bi thảm và hợp lực. Các điểm tham chiếu lịch sử rất xa vời (trong trường hợp khả quan nhất) và đáng nghi (trong trường hợp tồi tệ nhất). Nhưng lịch sử không hoạt động bằng cách cung cấp sự đảm bảo hoặc xác nhận đơn giản. Đối với tôi, lịch sử luôn là điều thiết yếu trong việc truy tìm quỹ đạo của sự thay đổi và làm tham chiếu nhìn nhận thách thức hiện đại. Leopold đã không, và không thể, dự đoán đầy đủ các giải pháp mang tính hệ thống mà chúng ta phải đưa ra để giải quyết các vấn đề xã hội và sinh thái có liên quan sâu sắc với nhau. Nhưng tôi nhận ra những ví dụ và hiểu biết sâu sắc của ông rất hữu ích trong việc xác định những căn cứ. Ông hiểu rằng, về mặt nền tảng, tất cả đều quy về giá trị con người.

Dạo gần đây, dường như tôi luôn đồng tình với một vài tuyên bố mà Leopold đã đưa ra. Trong một bản thảo chưa xuất bản, ông viết: “Có hai điều khiến tôi quan tâm: mối quan hệ giữa người với người, và mối quan hệ giữa con người với đất đai.” Để kết nối những địa hạt đó, Leopold giúp đặt nền móng cho hệ tư duy chặt chẽ mà chúng ta phải đạt được nếu muốn giải quyết hiệu quả các vấn đề biến đổi khí hậu, mất mát đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, hệ thống nông nghiệp - thực phẩm, công bằng kinh tế và môi trường.

Trong thực tế, bảo tồn cuối cùng cũng đã coi trọng mối quan hệ cổ xưa đã được chứng minh giữa con người và đất đai. Chúng ta thấy điều này trong sự đánh giá ngày càng cao thế giới quan của người bản địa và kiến ​​thức sinh thái truyền thống trong bảo tồn và hơn thế nữa. Đặt chúng cùng nhau thì tất cả đều dẫn về việc điều chỉnh giá trị mối quan hệ giữa người và người, và giữa con người với đất đai. Chúng ta sống trong thời đại tồn tại những đổi thay và những nhu cầu sâu rộng. Tất cả chúng ta đều được giao nhiệm vụ mở rộng và củng cố nền tảng đạo đức của mình để đáp lại. Leopold là một trong số nhiều người đã đóng góp cho công việc đó. Trong tương lai, chúng ta sẽ cần mọi nguồn trí tuệ hữu ích mà chúng ta có thể tập hợp lại được.

Hết.

Ngô Thuận Phát lược dịch.

Bản gốc được thực hiện bởi Todd Wilkinson, đăng tại Mountain Journal.


Đọc tất cả bài viết của Ngô Thuật Phát.


Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Những giai thoại lý thú về nhà văn lắm tài nhiều tật Ernest Hemingway

Về chuyện nhậu nhẹt, ẩu đả, hôn nhân và những chuyện riêng tư khác của một trong những văn hào vĩ đại nhất nước Mỹ.

Published

on

Những nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là Ernest Hemingway (1899-1961). Sau đây là những giai thoại về Hemingway mà tôi đã trích đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ tác phẩm Writers Gone Wild (tạm dịch Nhà văn đại náo) do Bill Peschel biên soạn.

1. Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)

John Steinbeck thích truyện ngắn The Butterfly and the Tank của Hemingway nên viết thư khen ngợi và ngỏ ý muốn gặp Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu, Steinbeck và Hemingway tình cờ gặp nhà văn John O’Hara. O’Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng gỗ mận gai mà Steinbeck đã tặng cho ông trước đó. Mận gai (blackthorn) là một loại gỗ nổi tiếng cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ mận gai.” Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O’Hara là ông có thể bẻ gãy cây gậy bằng cái đầu của mình. O’Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để gậy lên đầu, dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ của cây gậy vào góc quán và chế nhạo, “cái này mà ông dám bảo là mận gai.”

Steinbeck giận sôi gan, không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè của ông thường giật mình khi thấy một Steinbeck vốn rất dịu dàng lại nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway. Sự căm ghét này kéo dài hằng chục năm. Steinbeck lấy cuốn sách Mặt trời vẫn mọc trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng đều đều làm nó dở đi và khó nghe, rồi bảo, “tôi không sao người ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”

Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận) – đoạn người đàn ông vì quá đói nên đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối – rằng đây “không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,” Steinbeck viết, “lời phân tích của ông Hemingway không hẳn có giá trị nhưng quả nhiên rất buồn cười.”

2. Hemingway đánh nhau với Wallace Stevens (1936)

Người Mỹ có câu“Sticks and stones may break my bones but words never hurt me” ("Gậy gộc và đá tảng có thể làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm nhò gì”) thường được dùng để biện bãi khi bị người khác dùng lời nói làm tổn thương. Thật ra lời nói còn gây tổn thương hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì còn có thể đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.

Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula, Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó đoán phần thắng sẽ về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu, nhưng ông cao hơn và đô con hơn. Ông cũng là một tay đấm quyền Anh cừ khôi. Stevens lúc ấy đang say và Hemingway cũng đã ngà ngà.

Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao” rồi thụi cho Hemingway một cú, Hemingway lập tức đấm trả lại. Sau khi tàn cuộc, chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy, ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.

Lo ngại cho danh tiếng của mình (Stevens là giám đốc của một hãng bảo hiểm nổi tiếng), Stevens yêu cầu Hemingway đừng tiết lộ với ai việc này. Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông cho chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong The Short Happy Life of Francis Macomber, sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy, ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể lại với ai điều này.

“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát… Yêu cầu chúng tôi ‘đừng kể lại chuyện này’ là một hành động đáng chê.”

Stevens dường như không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết thư cho một người bạn, “tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc sách của ông ấy.”

3. Hemingway chơi khăm vợ

Hemingway là một kẻ ích kỷ; ông cư xử tệ hại với nhiều người, kể cả vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ tường thuật ngày tổng tấn công (D-day). Tuy không phải cận chiến với Phát xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.

Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau. Hemingway nhậu nhẹt nhiều hơn, viết lách ít hơn, và – trái ngược với bà – không hề muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán Thế chiến thứ nhất và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.

Tuy nhiên, khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier’s rằng bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn trên cơ vợ nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí Collier’s thuê ông: ông đã cướp cơ hội độc quyền tường thuật chiến tranh từ chính vợ mình. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho ông.

Trước tình huống này, Gellhorn đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển, vừa đi vừa tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này chở đầy chất nổ.

Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau một tai nạn xe hơi trên đường phố đã tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway được đưa lên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn để sắp xếp hồ sơ truyền tin.

Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác. Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng minh gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân, bà hỗ trợ bác sĩ và y tá thông dịch tiếng Pháp và tiếng Đức, mang nước và đút thức ăn cho bệnh nhân.

Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo đội cứu thương vào đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông đặt súng đại bác bị vỡ toang, và việc vận chuyển quân nhân và nhu yếu phẩm liên tục băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.

Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier’s trước khi bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi phạm vi của phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà. Khi Berlin thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.

4. Hemingway thiết lập đường dây do thám

Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám tại Cuba trong chiến tranh để thu thập tin tức về hoạt động của Đức quốc xã. Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của mình, rồi lênh đênh trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức quốc xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của Hemingway.

5. Tuần trăng mật của Hemingway (1921)

Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; bà hai mươi chín tuổi và là “Nesto” của ông. Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.

Hai người cưới nhau ở vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới, họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có nhà nghỉ mát mùa hè. Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng rượu vang.

Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức ăn. Ông mua hai kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời đất gì cả.

Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn trên của hồ. Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest. Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát một bài quân ca Ý.

Ông cũng chẳng đáng yêu mấy khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng cao địa vị ông trong mắt bà, nhưng bà cho hành động ấy là một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.

Tuần trăng mật - bà thú nhận - “phần lớn là thảm bại.”

6. Hemingway buổi tối trời

Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục lại chẳng khác tư tưởng thời Victoria mấy. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm, vì thế nên phân chia đều những tột đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người chờ sẵn khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.

William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt xuất sắc triết lý hôn nhân của Hemingway: “Cái sai của Hemingway là ông ta cứ nghĩ mình phải cưới tất cả các bà tình nhân.”

Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh quyền và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chuyện chăn gối. Một phần vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley, bà vợ đầu tiên, cho rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá lơ đãng khi đang yêu đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ bậc nữ nhi nào.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà dịch.

Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild – the Feuds, Frolics, and Follies of Literature’s Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes  (Nhà văn đại náo – Những chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình, kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người), do Bill Peschel biên soạn.

Đọc bài viết

Cafe sáng