Trích đăng

Chương 1 “Lưỡng Giới” – Jeffrey Eugenides

“Tôi sinh ra hai lần: lần đầu, là bé gái, vào một ngày không sương khói khác thường ở Detroit tháng Giêng năm 1960; rồi lần nữa, là thằng nhóc thiếu niên, ở phòng cấp cứu gần thành phố Petoskey, tiểu bang Michigan, tháng Tám năm 1974.”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Lưỡng giới

Tác giả: Jeffrey Eugenides

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: tháng 7.2019

CÁI THÌA BẠC

Tôi sinh ra hai lần: lần đầu, là bé gái, vào một ngày không sương khói khác thường ở Detroit tháng Giêng năm 1960; rồi lần nữa, là thằng nhóc thiếu niên, ở phòng cấp cứu gần thành phố Petoskey, tiểu bang Michigan, tháng Tám năm 1974. Độc giả chuyên ngành có thể đã tình cờ bắt gặp tôi trong nghiên cứu của Tiến sĩ Peter Luce, “Bản Dạng Giới trong trường hợp Lưỡng giới tính Giả do thiếu enzyme 5-Alpha-Reductase,”1 đăng trên Tạp chí Nội tiết Nhi khoa năm 1975. Hoặc bạn thấy ảnh chụp tôi ở chương mười sáu cuốn Di Truyền Học và Di Truyền mà giờ đây đáng tiếc đã lỗi thời. Tôi chính là đứa trần truồng đứng cạnh biểu đồ tăng trưởng chiều cao với băng đen che hai mắt ở trang 578.

Tên tôi trên giấy khai sinh là Calliope Helen Stephanides. Bằng lái xe gần đây nhất (do Cộng hòa Liên bang Đức cấp) chỉ ghi đơn giản là Cal. Tôi từng là thủ môn khúc côn cầu, thành viên lâu năm của Hiệp hội Cứu Lấy Loài Lợn Biển, kẻ hiếm khi đi lễ của Giáo hội Chính thống Hy Lạp, và phần lớn thời gian khi trưởng thành, nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng như Tiresias2, ban đầu tôi là một thứ rồi sau biến thành thứ khác. Tôi bị bạn bè cùng lớp chế giễu, bị bác sĩ biến thành chuột lang thí nghiệm, bị bác sĩ chuyên khoa sờ nắn, và bị tổ chức March of Dimes3 nghiên cứu. Một con bé tóc đỏ ở khu Grosse Pointe phải lòng tôi mà không hề biết tôi bị làm sao. (Anh nó cũng mê tôi.) Một chiếc xe tăng có lần đẩy tôi vào trận chiến trong thành phố; một cái bể bơi biến tôi thành huyền thoại; tôi rời bỏ cơ thể mình đến cư ngụ những cơ thể khác – và tất cả những chuyện này đều xảy ra trước khi tôi bước sang tuổi mười sáu.

Nhưng lúc này đây, ở tuổi bốn mươi mốt, tôi cảm thấy một lần chào đời nữa đang đến gần. Sau hàng thập kỷ quên lãng, tự nhiên tôi nghĩ đến những bà trẻ ông trẻ đã về nơi chín suối, những người ông thất lạc từ lâu lắm, những đứa anh em họ năm đời bắn đại bác không tới chả biết ai là ai, hay trong trường hợp gia đình lai cận huyết như nhà tôi, một người mang tất cả các vai trò ấy. Vì thế trước khi quá muộn, tôi muốn viết về nó một lần dứt khoát cho xong luôn: cuộc phiêu lưu xuyên thời gian đầy thăng trầm của chiếc gen duy nhất. Hỡi Thi Thần, xin cất lời ca về đột biến lặn trên nhiễm sắc thể thứ năm của tôi! Hãy hát về thời nó đơm hoa trên sườn núi Olympus hai thế kỷ rưỡi trước, khi dê thì be be còn ôliu thì rụng quả. Hãy hát về chuyện nó được truyền qua chín thế hệ, vô hình tập hợp lại trong cái vốn gen ô uế của gia đình Stephanides. Và hát về Thượng đế, dưới lốt vỏ cuộc thảm sát, làm cho cái gen đó lại bay đi rất xa; về chuyện nó bị thổi vù như hạt giống qua đại dương tới Hoa Kỳ, được mưa ô nhiễm công nghiệp cuốn đi cho đến khi rơi xuống miếng đất màu mỡ là cái tử cung vùng Trung Tây của bà bô tôi.

Xin lỗi nếu thỉnh thoảng tự dưng tôi có hơi hướm Homer quá.

Cái đó cũng di truyền đấy.

Ba tháng trước khi tôi chào đời, sau một bữa tối Chủ nhật linh đình, bà nội Desdemona Stephanides sai anh tôi đi lấy hộ bà hộp tằm. Chương Mười Một đang vào bếp lấy suất bánh pút đinh gạo thứ hai thì bị bà chặn lại. Năm mười bảy tuổi, vừa lùn tè vừa to bè bè, cùng bộ lưới bao tóc nom rất hãi, bà tôi phù hợp hoàn hảo với việc chặn đường người khác. Trong bếp phía sau bà, cả đội quân đàn bà ngày hôm đó đang tụ tập cười đùa to nhỏ. Tò mò, Chương Mười Một nghiêng người sang bên dòm xem đang có vụ gì, nhưng Desdemona giơ tay véo thật lực vào má anh. Sau khi khiến anh tập trung trở lại, bà vẽ một hình chữ nhật lên không trung rồi chỉ lên trần nhà. Đoạn, qua hàm răng giả lắp không khít, bà bảo, “Đi nấy4 hộ yia yia5 cái, cục cưng mou6.”

Chương Mười Một biết phải làm gì. Anh phóng qua hành lang vào phòng khách. Anh bò lên cầu thang tới tầng hai. Anh vọt qua các phòng ngủ nằm dọc hành lang tầng trên. Ở phía cuối hành lang là cánh cửa cơ hồ tàng hình, bị giấy dán tường đè lên như thể dẫn vào lối đi bí mật. Chương Mười Một định vị được nắm đấm cửa nhỏ xíu cao ngang đầu, đoạn vận hết công lực mở ra. Sau cánh cửa là cầu thang nữa. Anh lưỡng lự ngó đăm đăm vào bóng tối phía trên một lúc lâu rồi mới chầm chậm bò lên căn áp mái nơi ở của ông bà.

Đi giày thể thao anh băng qua dưới mười hai cái lồng chim quây báo ẩm ướt treo trên rui nhà. Làm mặt can trường anh xông vào cái mùi chua lòm của bọn vẹt đuôi dài, và mùi hương riêng của ông bà tôi, một hỗn hợp thuốc diệt mối với thuốc hasit7. Anh khéo len qua cái bàn chất đầy sách vở với bộ sưu tập đĩa nhạc dân gian Hy Lạp rebetiko của ông nội. Cuối cùng, va vào ghế Ottoman da và cái bàn cà phê mặt tròn bằng đồng, anh tìm thấy giường ông bà, và dưới gậm giường, cái hộp tằm.

Được tạc từ gỗ ôliu, chỉ nhỉnh hơn hộp giày một chút, cái hộp có nắp bằng thiếc đục những lỗ thông hơi nhỏ xíu và dát hình một vị thánh chả nhận ra được là ai. Mặt vị thánh đã mòn, nhưng những ngón trên bàn tay phải thì giơ lên ban phước cho một cây dâu tằm màu tím, thấp tè, vẻ siêu ngạo mạn. Sau khi đờ đẫn nhìn hình ảnh thực vật sinh động này mất một lúc, Chương Mười Một bèn kéo cái hộp trong gậm giường rồi mở ra. Bên trong là hai vòng hoa cưới được tết từ dây thừng và hai bím tóc dài cuộn lại như con rắn, mỗi bím đều thắt ruy băng đen nhàu nhĩ. Anh chọc ngón trỏ vào bím tóc. Đúng lúc đó một con vẹt quác mồm gào toáng làm ông anh tôi giật nảy người, anh bèn đóng hộp lại, kẹp vào nách, đoạn mang xuống lầu cho Desdemona.

Bà vẫn đợi ở bậu cửa. Cầm lấy hộp tằm từ tay anh, bà quay lại bếp. Đến lúc này Chương Mười Một mới được thấy trọn căn phòng, nơi đồng loạt các mẹ các chị tự dưng im bặt. Họ dịch sang bên để Desdemona đi qua và ngay giữa tấm lót sàn là bà bô tôi. Tessie Stephanides ngồi ngả người ra ghế ăn, mình bẹp dí dưới cái bụng chửa to đùng căng như mặt trống. Khuôn mặt bà, đỏ hồng và nóng bừng, lộ vẻ bơ phờ nhưng vui sướng. Desdemona đặt hộp tằm lên bàn bếp rồi mở ra. Bà luồn tay xuống dưới vương miện với bím tóc lấy ra thứ mà Chương Mười Một không nhìn thấy: cái thìa bằng bạc. Bà buộc mẩu dây vào cán thìa. Đoạn bà chúi tới giơ cái thìa lên trên cái bụng căng phồng của bà bô tôi. Và, cũng chính là lên trên tôi.

Cho đến lúc này Desdemona vẫn giữ được kỷ lục hoàn hảo: hai mươi ba lần dự đoán chính xác. Bà đã biết Tessie sẽ là Tessie. Bà đoán giới tính của anh tôi cùng tất thảy con cái bạn bè ở nhà thờ. Đứa duy nhất bà không đoán giới tính là con bà, bởi người mẹ mà đi thăm dò chính tử cung đầy bí ẩn của mình là chuyện xui xẻo. Tuy vậy, bà chẳng ngại thăm dò tử cung bà bô tôi. Sau chút lưỡng lự ban đầu, cái thìa đánh mình từ Bắc sang Nam, thế nghĩa là tôi sẽ là bé trai.

Chân giạng tè he trên ghế, bà bô tôi cố nặn ra một nụ cười. Bà không muốn có con trai. Bà có một đứa rồi. Thực ra bà chắc mẩm tôi sẽ là con gái đến độ chỉ chọn cho tôi mỗi một cái tên: Calliope. Nhưng khi bà tôi hét lên bằng tiếng Hy Lạp, “Con trai!” thì tiếng hét lan khắp phòng, ra ngoài hành lang, xuyên qua hành lang vào phòng khách nơi cánh đàn ông đang tranh cãi chuyện chính trị chính em. Thế là bà bô, nghe từ đó vang đi vang lại quá nhiều lần, bắt đầu tin biết đâu là con trai thật.

Tuy vậy, ngay sau khi tiếng hét lọt tới tai ông bô tôi, ông khệnh khạng vào phòng bảo với bà nội rằng, ít nhất lần này cái thìa của bà sai rồi. “Mày dựa vào cái gì mà tinh tướng thế ?” Desdemona hỏi ông.

Thế là ông đáp lại bằng cái câu nhiều người Mỹ thế hệ ông vận tới:

“Dựa vào khoa học bu ạ.”

Kể từ lúc họ quyết định có thêm đứa nữa – nhà hàng làm ăn tốt với cả Chương Mười Một đã thôi bỉm biếc từ lâu – Milton và Tessie nhất trí họ muốn có con gái. Chương Mười Một vừa lên năm. Cách đó ít lâu anh vớ được con chim chết ngoài sân bèn mang luôn vào nhà cho mẹ xem. Anh mê bắn biếc, dùng búa nện niếc, nghiền nghiếc, và vật lộn với bố. Trong gia đình rặt đàn ông như thế, Tessie dần thấy lạc lõng vì mỗi mình là phụ nữ và hình dung mười năm tới sẽ bị giam hãm trong cái thế giới của các kiểu ốp mâm xe với bệnh thoát vị. Bà mơ có con gái để cân bằng quyền lực: cùng là đồng bọn yêu chó cảnh, cùng ủng hộ đề nghị đi xem chương trình trượt băng nghệ thuật Ice Capades. Mùa xuân năm 1959, khi chuyện bàn bạc thụ thai tôi diễn ra, bà bô tôi không tiên lượng được việc chẳng bao lâu sau hàng nghìn phụ nữ rồi sẽ đốt sạch xu chiêng của họ. Xu chiêng của bà độn bông, cứng ngắc, lại khó cháy. Dù rất yêu con trai, Tessie biết có những chuyện bà chỉ chia sẻ được với con gái mà thôi.

Sáng sáng khi chạy xe đi làm, ông bô tôi thấy ảo ảnh một bé gái bé bỏng mắt đen láy dễ thương vô bờ bến. Nó ngồi trên ghế cạnh ông – hiện lên hầu hết vào lúc chờ đèn đỏ – đặt câu hỏi cho cái tai kiên nhẫn biết tuốt của ông. “Bố ơi cái đó gọi là gì ạ?” “Cái đó à? Đó là huy hiệu hãng Cadillac con ạ.” “Huy hiệu Cadillac là gì ạ?” “Chà, hồi xưa, có một nhà thám hiểm người Pháp tên là Cadillac, và ông chính là người phát hiện ra Detroit. Đó là huy hiệu của gia tộc ông ấy, ở Pháp.” “Pháp là gì ạ?” “Pháp là một quốc gia ở châu Âu.” “Châu Âu là gì ạ?” “Là một lục địa, giống một miếng đất bự, bự hơn một quốc gia rất rất nhiều. Nhưng không phải chỉ châu Âu mới có xe Cadillac nữa đâu, kukla8ạ. Ngay trên nước Mỹ cổ xưa tốt lành này đã sản xuất ra nó rồi con ạ.” Đèn xanh bật lên, ông lái xe đi. Nhưng cái vật mẫu cho tôi ấy vẫn nấn ná lại. Nó hiện ra ở trạm đèn đỏ tiếp theo rồi tiếp theo nữa. Được đồng hành với nó dễ chịu đến mức ông bô tôi, một người đàn ông óc tuyền sáng kiến, quyết định xem mình có thể biến ảo ảnh thành hiện thực không.

Vì thế thời gian gần đây, trong phòng khách nơi cánh đàn ông vốn hay bàn bạc chuyện chính trị, họ cũng bắt đầu bàn về tốc độ tinh trùng. Peter Tatakis, “chú Pete,” bọn tôi vẫn gọi vậy, là thành viên đứng đầu câu lạc bộ tranh biện được thành lập hằng tuần trên ghế xô pha đôi màu đen nhà chúng tôi. Độc thân cả đời, chú chả có họ hàng thân thích gì ở Mỹ cả nên đâm ra gắn bó với gia đình tôi. Chủ nhật nào chú cũng lái con Buick màu đỏ thẫm đến chơi, cao lớn, mặt quắt lại vẻ buồn bã, nhưng trên đầu tóc tai lại xoăn tít đầy sức sống. Chú chả thiết gì chuyện con cái. Vốn ủng hộ xê ri Những Đại Danh Tác – đã nghiền những hai lần – chú Pete chỉ quan tâm tới những tư tưởng nghiêm túc với cả opera Ý. Trong lĩnh vực lịch sử, chú mê sử gia Edward Gibbon9, còn trong lĩnh vực văn chương là những ghi chép của Madame de Staël10. Chú khoái trích dẫn ý kiến của quý bà dí dỏm đó về ngôn ngữ Đức, rằng tiếng Đức dùng đối thoại không hợp vì ta phải chờ đến cuối câu mới nghe được động từ, nên chả thể nào cắt ngang được. Chú Pete từng muốn trở thành bác sĩ, nhưng “tai ương” đã bóp chết ước mơ đó. Ở Mỹ, chú mài đũng quần hai năm ở trường dạy nắn khớp xương, và giờ đây quản lý phòng khám nhỏ ở thành phố Birmingham với bộ xương người vẫn chưa trả góp xong. Hồi đó, thiên hạ không tin tưởng mấy một người nắn xương. Người ta chả đến chỗ chú Pete để phóng xuất năng lượng hỏa xà kundalini. Chú bẻ cổ, nắn thẳng xương sống, và làm đệm độn vòm bàn chân từ cao su xốp. Dẫu vậy, vào những buổi chiều Chủ nhật thời kỳ đấy, trong số những vị khách đến nhà tôi, chú vẫn là người đạt gần đến tầm của một bác sĩ nhất. Khi còn trẻ, chú phẫu thuật cắt bỏ nửa dạ dày, và giờ đây cứ sau bữa tối là lại làm một lon Pepsi cho tiêu cơm. Cái thức uống nhẹ này được đặt tên từ enzyme pepsin giúp tiêu hóa, chú bảo với chúng tôi vẻ thông thái, thành thử nó hợp với vai trò đó.

Chính cái kiểu kiến thức này khiến ông bô tôi tin sái cổ những gì chú Pete nói khi bàn chuyện liên quan tới kế hoạch sinh sản. Đầu ngả vào gối dựa, chân không mang giày, bản opera Madama Butterfly bật khe khẽ trên dàn, chú Pete giải thích rằng dưới kính hiển vi tinh trùng mang nhiễm sắc thể giai bơi nhanh hơn tinh trùng mang nhiễm sắc thể gái. Nhận định này ngay lập tức làm cho mấy ông chủ nhà hàng với thợ hoàn thiện đồ lông thú11 tụ tập ở phòng khách nhà tôi hồ hồ hởi hởi. Tuy nhiên, ông bô lại chơi một kiểu ngồi giống bức tượng Người suy tư12 mà ông rất yêu thích và có một bức mini đặt trên bàn điện thoại phía bên kia phòng. Mặc dù chủ đề này được đưa ra trong không khí tự do cởi mở sau bữa tối Chủ nhật, và cung cách thảo luận không có gì ám chỉ cá nhân, nhưng ai cũng biết tỏng, con tinh trùng mọi người đang bàn tán chính là của ông bô tôi. Chú Pete nói rõ ràng: để có con gái, vợ chồng nên “quan hệ tình dục hai mươi tư giờ trước khi trứng rụng.” Bằng cách đó, tinh trùng trai nhanh nhạy hơn bươn bả đâm bổ tới mà chết sạch. Tinh trùng gái, chậm chạp nhưng đáng tin hơn, sẽ đến đúng lúc trứng rụng.

Cụ giai nhà tôi khó lòng thuyết phục được cụ gái làm theo kế hoạch đó. Tessie Zizmo là trinh nữ khi kết hôn với Milton Stephanides ở tuổi hai mươi hai. Giai đoạn đính hôn, trùng với Đệ nhị Thế chiến, là thời kỳ mà cả hai vẫn còn trinh trắng. Bà tự hào vì đã thành công khi cùng lúc vừa nhen nhóm vừa kìm giữ ngọn lửa của ông bô, khiến ông luôn ở trạng thái ham muốn vừa phải trong suốt cơn biến động toàn cầu. Tuy vậy, chuyện này chả khó khăn mấy bởi bà ở mãi Detroit còn Milton ở tận Annapolis trong Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Suốt hơn một năm, Tessie thắp nến thánh ở nhà thờ Hy Lạp cầu nguyện cho chồng chưa cưới, còn Milton thì ngắm ảnh bà kẹp ở đầu giường. Ông ưa sắp đặt cho Tessie bắt chước các tư thế trên tạp chí điện ảnh, nghiêng người, gót giày kiễng lên bậc, hở đoạn tất đen. Bà bô tôi nom ngoan ngoãn kỳ lạ trong những bức ảnh cũ này, như thể không khoái gì hơn khi được người đàn ông mặc quân phục của mình bố trí cho đứng dựa vào cổng nhà và cột đèn đường ở khu phố nghèo họ sống.

Bà không chịu đầu hàng cho đến khi Nhật đầu hàng. Rồi, từ đêm tân hôn trở đi (theo như những gì ông anh kể vào đôi tai bịt chặt của tôi), ông bà bô làm tình đều đặn và đê mê. Tuy vậy, khi đụng đến chuyện sinh con đẻ cái thì bà lại có chủ kiến riêng. Bà tin rằng bào thai cảm nhận được lượng tình yêu tạo ra lúc thụ thai. Thành thử, gợi ý của ông bô không được bà đồng tình cho lắm.

“Anh nghĩ chuyện này là gì hả Milt, đi thi thế vận hội Olympic à?” “Mình chỉ đang nói về mặt lý thuyết thôi mà em,” ông nói.

“Chú Pete thì biết quái gì chuyện đẻ đái chứ?”

“Chú ấy đọc bài báo đó trên tạp chí Khoa học thường thức Hoa Kỳ đấy,” Milton nói. Rồi để cho lập luận vững chắc hơn: “Chú đặt báo này dài hạn đấy.”

“Nghe này, nhỡ lưng bị lệch, em sẽ đi khám chú Pete. Nếu chân bẹt như chân anh, em cũng sẽ đi khám. Nhưng chỉ thế thôi.”

“Chuyện này đã được kiểm chứng. Dưới kính hiển vi. Tinh trùng giai bơi nhanh hơn.”

“Em cá bọn nó cũng ngu hơn đó.”

“Cứ nói tiếp đi. Nói xấu tinh trùng giai bao nhiêu tùy em. Thoải con gà mái đi. Mình đâu có muốn tinh trùng trai. Thứ mình muốn là một tinh trùng gái già, chậm rãi, đáng tin.”

“Dẫu chuyện kia có thật thì vẫn rất lố bịch. Em đâu thể cứ thế mà làm như cái máy được, Milt ạ.”

“Anh thì còn khó hơn em ấy chứ.”

“Em không muốn nghe nữa.”

“Anh cứ tưởng em muốn có con gái.”

“Em muốn có con gái chứ.”

“Chậc,” ông nói, “thế thì đây là cách để mình có con gái đấy.”

Tessie cười trừ, đoạn gạt phăng đề xuất này. Nhưng đằng sau lời chế nhạo của bà là nỗi e dè rất nghiêm túc về mặt đạo lý. Can thiệp vào chuyện bí ẩn và kỳ diệu như sinh nở là hành động xấc xược. Trước hết, Tessie không tin ta làm được chuyện đó. Mà dù có làm được, bà cũng tin ta không nên thử.

Dĩ nhiên, một người kể chuyện ở vị thế của tôi (còn chưa hoài thai vào thời điểm đó) làm sao mà biết chắc như đinh đóng cột những chuyện này. Tôi chỉ có thể giải thích cơn cuồng khoa học ông bô bị nhiễm hồi mùa xuân năm 59 là triệu chứng của thứ niềm tin đang sinh sôi rồi sẽ làm cả thiên hạ lây nhiễm hồi đó. Xin nhớ cho rằng, vệ tinh Sputnik vừa mới được phóng chỉ hai năm trước đó. Bệnh bại liệt bắt ông bà bô ở rịt trong nhà suốt bao tháng hè lúc còn nhỏ đã bị vắc xin Salk chế ngự. Thiên hạ đâu thể ngờ bọn virus thông minh hơn con người, cứ tưởng rằng chẳng chóng thì chầy bọn nó sẽ thuộc về quá khứ không bao giờ nảy nòi ra lần nữa. Ở cái nước Mỹ hậu chiến đầy lạc quan đó, mà tôi vớt vát được giai đoạn cuối, ai cũng là ông chủ số phận của chính mình, vì thế dĩ nhiên ông bô tôi sẽ cố trở thành ông chủ số phận mình.

Vài ngày sau khi đề cập kế hoạch với Tessie, một tối nọ Milton về nhà mang theo một món quà. Một hộp trang sức có thắt nơ.

“Ý đồ gì đây?” Tessie nghi ngờ hỏi.

“Ý em là sao, sao lại ý đồ gì đây?”

“Hôm nay không phải sinh nhật em. Không phải kỷ niệm ngày cưới. Thế lý do gì anh lại tặng quà cho em?”

“Chả nhẽ phải có lý do thì anh mới được tặng quà cho em à? Nào, em mở ra đi.”

Tessie bán tín bán nghi nhếch một khóe miệng. Nhưng thật khó lòng không mở hộp trang sức khi nó nằm sờ sờ trên tay. Vì thế cuối cùng bà cũng tháo nơ rồi mở hộp ra.

Trong hộp, trên nền nhung đen, là cái cặp nhiệt độ.

“Cặp nhiệt độ à,” bà bô tôi nói.

“Không phải cặp nhiệt độ tầm thường đâu nhé,” Milton nói. “Phải đi đến ba tiệm thuốc mới tìm được loại này đấy.”

“Loại đắt tiền hả?”

“Đúng thế,” Milton nói. “Loại này gọi là nhiệt kế đo nhiệt độ cơ bản. Nó đo nhiệt độ nhạy tới từng một phần mười độ.” Ông nhướn mày lên. “Nhiệt kế bình thường chỉ đo được hai phần mười thôi. Cái này là một phần mười đấy. Em thử xem. Ngậm vào mồm ấy.” “Em đâu có bị sốt,” Tessie nói.

“Không phải để xem có bị sốt không. Em dùng để xem nhiệt độ cơ thể lúc nghỉ ngơi thấp nhất là bao nhiêu. Loại này chính xác và chuẩn hơn nhiệt kế thông thường dùng khi bị sốt.”

“Lần sau mua cho em sợi dây chuyền nhé.”

Nhưng Milton không từ bỏ: “Nhiệt độ cơ thể thay đổi thường xuyên, Tess ạ. Mình không nhận thấy được, nhưng đúng là vậy. Nhiệt độ trong người lên xuống liên tục. Chẳng hạn như” – ông ho khẽ – “tình cờ nếu em rụng trứng. Thì nhiệt độ của em tăng lên. Sáu phần mười độ, hầu hết đều vậy. Bây giờ,” ông nói tiếp, hào hứng hơn, không nhận thấy vợ đang cau mày, “nếu thực thi cái kế hoạch hôm nọ – chỉ là ví dụ thôi, việc mình làm trước tiên là đo nhiệt độ cơ bản của em. Có thể không phải 37 độ C. Nhiệt độ mỗi người đều khác nhau một chút. Cái này anh cũng học được từ chú Pete đấy. Một khi xác định nhiệt độ cơ bản rồi, em tìm xem lúc nào nhiệt độ tăng lên sáu phần mười độ. Khi đó, nếu em chịu, thì khi đó là lúc mình biết cần phải, em biết đấy, pha cốc tai.”

Bà chả ừ hữ gì. Bà chỉ đặt cái cặp nhiệt độ vào hộp, đóng nắp, đoạn đưa lại cho chồng.

“Được rồi,” ông nói. “Được thôi. Tùy em. Mình sẽ lại dính thêm thằng cu. Đứa thứ hai. Nếu em muốn như vậy thì sẽ là như vậy.”

“Em chả dám chắc lúc này dính diếc được cái gì đâu anh ạ,” bà đáp.

Trong lúc đó, tại phòng nghỉ trước khi lên sân khấu cuộc đời, tôi đợi. Một tia hy vọng lẻ loi trong mắt ông bô tôi còn chưa có (ông đang âu sầu nhìn xuống cái hộp đựng nhiệt kế trên đùi). Lúc này bà bô đứng dậy từ cái gọi là xô pha đôi. Bà đi về phía cầu thang, tay sờ lên trán, và khả năng tôi ra đời dường như càng lúc càng mờ mịt. Lúc này ông đứng dậy đi quanh nhà kiểm tra, tắt đèn, khóa cửa. Khi ông lên lầu, hy vọng cho tôi lại bùng lên. Thời điểm cho việc đó phải cực kỳ chuẩn xác để tôi trở thành con người tôi như bây giờ. Chỉ cần trì hoãn hành động một tiếng đồng hồ thôi là sẽ thay đổi lựa chọn gen. Việc tôi được thụ thai còn nhiều tuần nữa mới xảy ra, nhưng ông bà bô tôi đã bắt đầu quá trình va chạm dần dần. Ngoài hành lang trên lầu, cái đèn ngủ Acropolis đang thắp sáng, đó vốn là quà của Jackie Halas, chủ cửa hàng đồ lưu niệm. Bà bô đang ngồi ở bàn trang điểm lúc ông vào phòng ngủ. Bà dùng hai ngón tay xoa kem rửa mặt Noxzema lên mặt, xong lấy khăn giấy chùi đi. Ông chỉ cần thốt một lời âu yếm là bà tha thứ luôn. Không phải tôi mà có lẽ một đứa giông giống tôi sẽ được tạo ra vào đêm hôm đó. Một số vô hạn những cá thể có khả năng tồn tại tụ tập ở ngưỡng cửa, tôi đứng với bọn nó mà chả có tấm vé đảm bảo nào, thời giờ chậm chạp trôi, những hành tinh trên trời quay với tốc độ như thường lệ, thời tiết cũng góp phần mình, bởi vì bà bô sợ sấm và sẽ phải rúc vào ông bô nếu đêm đó trời mưa. Nhưng không, trời quang mây đãng, như sự bướng bỉnh của hai cụ vậy. Đèn phòng ngủ tắt bụp. Họ nằm yên ở phần giường mình. Cuối cùng bà nói, “Ngủ ngon.” Còn ông đáp, “Gặp em sáng mai.” Những khoảnh khắc dẫn tới sự ra đời của tôi được sắp xếp đâu ra đấy như thể được ra sắc lệnh. Ắt hẳn đó là lý do vì sao tôi lại ngẫm ngợi về thời khắc đó nhiều đến thế.

Chủ nhật tuần sau đó, bà bô đưa Desdemona với anh tôi đi nhà thờ. Ông bô tôi chưa bao giờ đi cùng, lúc lên tám ông đã đứng vào hàng ngũ những kẻ vô thần vì nến thánh đắt cắt cổ. Tương tự, sáng sáng ông nội tôi thích ở nhà dịch sang tiếng Hy Lạp hiện đại những bài thơ đã được “phục hồi” của thi sĩ Sappho. Bảy năm sau đó, mặc dù liên tiếp bị đột quỵ, ông nội vẫn làm việc ở cái bàn nhỏ, ghép từng mẩu huyền thoại thành bức tranh khảm lớn, thêm đoạn giữa chỗ này, đoạn cuối chỗ kia, gắn vần chân hay nhịp iambus. Tối tối ông vừa nghe loại nhạc hay được chơi trong nhà thổ vừa hút shisha.

Năm 1959, Nhà thờ Chính thống Hy Lạp Đức Mẹ Lên Trời nằm trên phố Charlevoix. Chính tại nơi đó chưa đầy một năm sau tôi sẽ được rửa tội và nuôi nấng theo Chính thống giáo13. Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời, với những linh mục đứng đầu lần lượt thay phiên do Tòa Thượng phụ ở Constatinople cử tới, ai mới đầu đến cũng có bộ râu sum suê quyền lực, bộ lễ phục thêu thiêng liêng, nhưng sau một thời gian đều kiệt quệ sạch – theo quy luật là sáu tháng – bởi cộng đoàn cứ quàng quạc suốt ngày, lại còn chê bai đả kích linh mục hát thánh ca không hay, rồi linh mục phải liên tục bắt một số phần tử giáo dân coi nhà thờ như chỗ ngồi ở Sân vận động Tiger im lặng, và cuối cùng, mỗi tuần phải gắng sức mà giảng một bài kinh hai lần, ban đầu bằng tiếng Hy Lạp rồi cũng bài đó bằng tiếng Anh. Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời, với những giờ uống cà phê rộn ràng, cơ sở tồi tàn với mái nhà dột nát, những lễ hội văn hóa công phu vất vả, những lớp học giáo lý nơi di sản được gìn giữ chốc lát trong chúng tôi trước khi được phép tiêu tán trong cuộc lưu vong vĩ đại. Tessie với hai bà cháu tiến xuống lối đi giữa các dãy ghế ở giữa nhà thờ, đi qua những khay cát đựng nến thánh. Phía trên cao, to đùng đoàng như bong bóng thú trong Lễ diễu hành Ngày lễ Tạ ơn của tập đoàn Macy14, là Chúa Ban Phước Lành. Người ông cong cong uốn trên không gian mái vòm. Không giống những vị Chúa Jesus trần tục khổ sở được họa ngang tầm mắt người nhìn trên các bức tường trong nhà thờ, vị Chúa Ban Phước Lành của chúng tôi rõ là siêu phàm, đầy quyền năng, lừng lững trên thiên đường. Người đang nhoài xuống đưa bốn cuộn da cừu có ghi Phúc âm cho các tông đồ phía trên bàn thờ. Còn bà bô tôi, suốt đời cố tin Chúa mà chẳng mảy may thành công, ngước lên người tìm lời dìu dắt.

Cặp mắt Chúa Ban Phước Lành nhấp nháy trong ánh sáng mờ ảo. Chúng như hút Tessie lên cao. Qua khói hương trầm đang cuộn lên, đôi mắt Đấng Cứu Thế sáng rực lên như những cảnh chiếu chớp nhoáng các sự kiện vừa xảy ra trên tivi…

Đầu tiên là bà Desdemona tuần trước khuyên nhủ con dâu. “Đẻ thêm làm gì hả Tessie?” bà hỏi với vẻ cố tình thản nhiên. Cúi xuống ngó vào cái lò nướng nhằm giấu đi vẻ hoang mang trên mặt (cái vẻ hoang mang mãi đến mười sáu năm sau ta mới hiểu được), Desdemona gạt ý tưởng đó đi. “Thêm con thêm rắc rối chứ được cái gì…”

Tiếp đó là bác sĩ Philobosian, vị bác sĩ già của gia đình. Với những tấm bằng cổ lỗ sĩ sau lưng, vị đốc tờ già phán: “Vớ vẩn. Tinh trùng nam bơi nhanh hơn á? Nghe này. Người đầu tiên nhìn thấy tinh trùng dưới kính hiển vi là nhà khoa học Leeuwenhoek. Cô có biết với ông ta trông chúng giống cái gì không? Giống giun đấy…”

Rồi lại Desdemona, trình bày một góc nhìn khác: “Chúa quyết định trai hay gái. Không phải con…”

Những cảnh này lướt qua đầu bà bô trong suốt buổi giảng kinh tràng giang đại hải ngày Chủ nhật. Cộng đoàn nhấp nhổm đứng lên rồi ngồi xuống. Ngồi ở hàng ghế phía trước, mấy đứa em họ tôi, Socrates, Plato, Aristotle, và Cleopatra, ngọ nguậy không yên. Cha Mike xuất hiện từ phía sau bức tường có hình những vị thánh và vung bình hương. Bà cố cầu nguyện nhưng chẳng ích gì. Bà thoi thóp tới giờ uống cà phê.

Từ cái tuổi mười hai thơ ngây, bà bô tôi đã chẳng tài nào khởi sự ngày mới mà không có sự trợ giúp của ít nhất hai tách cà phê đen đặc không đường, cái sở thích bà học được từ mấy tay thuyền trưởng tàu lai kéo và mấy thằng cha độc thân ăn mặc hoa hòe hoa sói đầy rẫy ở nhà trọ nơi bà lớn lên. Khi còn học cấp ba, cao một mét năm lăm, bà ngồi cạnh đám công nhân nhà máy ôtô ở quán ăn góc phố, uống cà phê trước tiết học đầu tiên. Trong khi họ lướt xem tỉ số cá độ đua ngựa trên báo, Tessie làm xong bài tập về nhà môn giáo dục công dân. Lúc này đây, dưới tầng hầm trong nhà thờ, bà bảo Chương Mười Một chạy ra ngoài chơi với bọn trẻ con để bà uống tách cà phê cho tỉnh táo.

Bà đang uống tách thứ hai thì một giọng dịu dàng nữ tính thổi vào tai bà. “Chào buổi sáng, Tessie.” Đó là em rể bà, Cha Michael Antoniou.

“Chào Cha Mike. Buổi lễ hôm nay cảm động quá,” Tessie nói rồi ngay lập tức hối hận. Cha Mike là phó tế ở Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời.

Khi vị linh mục gần đây nhất ra đi, quay về Athens chỉ sau vẻn vẹn có ba tháng, cả gia đình hy vọng Cha Mike sẽ được thăng chức. Nhưng cuối cùng, một linh mục mới người nước ngoài, Cha Gregorios lại được vị trí đó. Cô Zo, chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào để than van về cuộc hôn nhân của mình, thốt lên tại bữa tối bằng giọng nữ diễn viên hài kịch, “Chồng tôi. Lúc nào cũng làm phù dâu chớ chưa bao giờ được làm cô dâu.”

Khi khen ngợi buổi lễ, Tessie không hề có ý khen ngợi Cha Greg. Tình huống còn nhạy cảm hơn nữa bởi nhiều năm trước đây Tessie với Michael Antoniou đã đính hôn với nhau. Giờ đây bà kết hôn với Milton còn Cha Mike thì lại cưới em gái Milton. Tessie xuống dưới này để đầu óc được thư thái uống cà phê vậy mà chưa gì ngày hôm đó đã trở nên tồi tệ không kiểm soát nổi.

Dẫu vậy, Cha Mike có vẻ không để tâm đến chuyện coi thường này. Ông đứng cười, đôi mắt dịu dàng trên chòm râu xồm xoàm như thác nước đang gào thét. Vốn lành tính, Cha Mike rất được lòng đám bà góa đi lễ. Họ ưa túm tụm quanh ông, mời ông ăn bánh và tắm mình trong bản chất phước lành của ông. Một phần của bản chất này sinh ra từ lòng mãn nguyện tuyệt đối của Cha Mike dù ông chỉ cao có một mét sáu ba. Vẻ ngoài thấp bé có sự hào phóng riêng của nó, như thể ông san sẻ bớt chiều cao của mình cho người khác. Dường như ông đã tha thứ cho Tessie cái tội hủy hôn với ông nhiều năm trước, nhưng trong không khí giữa hai người vẫn luôn tồn tại cái gì đó, như cái thứ phấn rôm thỉnh thoảng bay ra từ cổ áo linh mục.

Mỉm cười, cẩn thận cầm tách cà phê với đĩa, Cha Mike hỏi, “Tessie, cả nhà khỏe không em?”

Dĩ nhiên bà biết, vốn là vị khách tuần nào cũng đến nhà tôi vào Chủ nhật, Cha Mike đã được nghe trọn vẹn kế hoạch canh trứng nhờ đo nhiệt độ. Dòm vào mắt ông, bà nghĩ mình dò ra vẻ khoái chí.

“Kiểu gì hôm nay anh lại chả ghé qua nhà em,” bà nói vẻ vô tư. “Được xem tận mắt nhé.”

“Anh mong đến chơi lắm,” Cha Mike nói. “Nhà em lúc nào cũng có chuyện xôm hết.”

Tessie lại nhìn vào mắt Cha Mike nhưng nó dường như tràn ngập vẻ ấm áp chân thành. Rồi có chuyện xảy ra khiến bà tuyệt nhiên không để tâm gì tới Cha Mike nữa.

Phía bên kia phòng, Chương Mười Một trèo lên ghế để với lấy vòi bình cà phê. Anh cố rót một tách, ngặt nỗi mở được vòi rồi mà không đóng lại được. Cà phê nóng bỏng tung tóe khắp bàn. Cái thứ nước nóng rẫy ấy bắn lên người một con bé đứng ngay cạnh đấy. Con bé nhảy bật ra sau. Mồm nó há hốc, nhưng không thốt ra tiếng nào cả.

Bà bô tôi lao vụt qua phòng lật đật đưa con bé vào phòng vệ sinh nữ.

Không ai nhớ tên con bé đó. Nó chả phải con cái nhà nào hay đi lễ thường xuyên. Nó còn chả phải dân Hy Lạp. Nó xuất hiện ở nhà thờ đúng vào ngày hôm đó rồi không bao giờ quay lại, và dường như chỉ tồn tại cho một mục đích duy nhất là làm bà bô tôi đổi ý. Trong phòng vệ sinh, con bé cởi ngay cái áo đang bốc hơi ra còn Tessie thì mang khăn ướt tới.

“Con có sao không cưng? Có bị bỏng không?”

“Thằng đó vụng về thế không biết,” con bé nói.

“Ừ. Chuyện gì nó cũng dính vào.”

“Bọn con trai thật bất trị.”

Tessie mỉm cười. “Vốn từ của con cũng ghê nhỉ.”

Nghe lời khen này con bé cười toét miệng. “‘Bất trị’ là từ yêu thích của con. Anh trai con rất bất trị. Tháng trước con mê từ ‘lằng nhằng’. Nhưng ta không dùng được từ ‘lằng nhằng’ trong nhiều trường hợp. Nghĩ cho kỹ thì nhiều thứ không thể nào dùng từ ‘lằng nhằng’ được.”

“Con nói đúng,” Tessie vừa cười vừa nói. “Nhưng bất trị thì dùng đâu cũng được cả.”

“Cô nói quá chuẩn luôn,” con bé nói.

Hai tuần sau. Chủ nhật lễ Phục sinh năm 1959. Việc trung thành bám trụ vào lịch Julius15 một lần nữa lại khiến nhà tôi lạc nhịp với toàn bộ khu dân cư chung quanh. Chủ nhật hai tuần trước, anh tôi ngó bọn trẻ con hàng xóm đi săn trứng đủ màu trong bụi cây. Anh nhìn bạn bè ăn đầu thỏ bằng sô cô la và nốc cả vốc kẹo dẻo vào cái mồm tuyền răng sâu. (Đứng dòm từ cửa sổ, ông anh trai không muốn gì hơn là được tin một vị Chúa người Mỹ sống lại đúng ngày.) Đến tận hôm qua Chương Mười Một mới được phép nhuộm trứng, mà rồi chỉ được mỗi một màu đỏ16. Khắp nhà trứng đỏ ánh lên dưới những tia nắng dài ngày hạ chí. Trứng đỏ đầy ụp trong đống bát trên bàn ăn. Chúng treo trong túi nhỏ trên những khung cửa. Chúng nằm khắp bệ lò sưởi và được nướng thành ổ bánh mì tsoureki hình thánh giá.

Nhưng lúc này là chiều muộn; cả nhà đã ăn tối xong. Còn ông anh tôi thì đang cười mỉm. Bởi vì bây giờ tới phần trong lễ Phục sinh của Hy Lạp mà anh mê hơn trò săn trứng với kẹo dẻo: chơi chọi trứng. Cả nhà quây quần ở bàn ăn. Cắn môi, Chương Mười Một chọn một quả trứng trong bát, săm soi rồi bỏ lại. Anh chọn quả khác. “Quả này trông được đây,” Milton vừa nói vừa chọn trứng. “Cứng như đá nhé.” Milton giơ quả của mình lên. Chương Mười Một lăm le tấn công. Đúng lúc đó bà bô bỗng vỗ lên lưng ông bô. “Đợi tí nào Tessie. Bố con anh đang chọi trứng mà.” Bà đập vào lưng ông mạnh hơn.

“Sao thế?”

“Nhiệt độ cơ thể em.” Bà ngập ngừng. “Tăng sáu phần mười rồi.”

Bà dùng cái cặp nhiệt độ đã được ít lâu. Đây là lần đầu tiên ông bô tôi nghe chuyện này.

“Bây giờ á?” ông thì thầm. “Chúa ơi, Tessie, em chắc chứ?”

“Em chả biết. Anh bảo em canh khi nào nhiệt độ tăng lên nên em đang bảo với anh là tăng lên sáu phần mười độ rồi.” Đoạn hạ thấp giọng, “Với cả đã mười ba ngày kể từ lần cuối cái mà anh biết là cái gì rồi đấy.”

“Nào bố,” Chương Mười Một nài nỉ.

“Tạm dừng,” Milton bảo. Ông bỏ trứng vào gạt tàn. “Trứng của tôi đấy nhé. Không ai được đụng vào cho tới khi tôi quay lại đâu đấy.”

Trên lầu, tại phòng ngủ chính, ông bà bô hoàn thành nhiệm vụ.

Sự ngượng nghịu tự nhiên của một đứa trẻ ngăn tôi không tưởng tượng chi tiết cảnh đó. Chỉ có thế này: sau khi xong xuôi, như thể chốt hạ, ông bô nói, “Thế chắc là ổn.” Hóa ra ông đúng thật. Đến tháng Năm, Tessie phát hiện mình có thai, thế là quá trình chờ đợi bắt đầu.

Sáu tuần tuổi tôi có mắt với tai. Được bảy tuần tuổi thì có mũi, cả môi nữa. Cơ quan sinh dục ngoài bắt đầu hình thành. Hoóc môn bào thai, nhận tín hiệu từ nhiễm sắc thể, ức chế các ống Müllerian, kích thích các ống Wolffian. Khi papou17đặt tay lên bụng bà bô bảo, “Đứa thứ hai may mắn nhé!” thì hai mươi ba cặp nhiễm sắc thể tiếp hợp rồi trao đổi đoạn, quay tít cái cò quay roulette. Sắp xếp theo đoàn, gen của tôi thực thi mệnh lệnh nhận được. Tất cả trừ hai đứa – một cặp vô lại – hay là nhà cách mạng, tùy quan điểm của bạn – lỉnh đi trên nhiễm sắc thể số 5. Cùng nhau, chúng rút mất một enzyme, tức là làm một loại hoóc môn bị ngừng sản xuất, tức làm đời tôi trở nên rắc rối.

Trong phòng khách, cánh đàn ông đã thôi bàn chuyện chính trị mà chuyển sang cá độ xem đứa con sắp ra đời của Milt là giai hay gái. Ông bô tôi rất tự tin. Hai mươi tư tiếng sau hành động đó, nhiệt độ cơ thể bà bô tăng lên thêm hai phần mười nữa, chứng tỏ trứng sắp rụng. Đến lúc đó tinh trùng giai đã mệt bở hơi tai phải bỏ cuộc. Tinh trùng gái, như bọn rùa, thắng cuộc đua. (Tại thời điểm đó Tessie đưa cho Milton cái cặp nhiệt độ và bảo bà không bao giờ muốn nhìn thấy nó nữa.)

Tất cả những chuyện này dẫn tới cái ngày Desdemona đung đưa cái thìa trên bụng bà bô tôi. Hồi đó thì làm gì đã có siêu âm; bói thìa là ngon nhất rồi. Desdemona khom người. Căn bếp im phăng phắc. Các chị em cắn môi dưới, nhìn, đợi. Phút đầu tiên, cái thìa không hề nhúc nhích. Tay Desdemona run rẩy và sau vài giây dài dằng dặc, bà Lina giữ nó đứng yên. Cái thìa xoay xoay; tôi đạp đánh phốc; bà bô rú lên. Rồi, đủng đỉnh, bị một cơn gió không ai cảm thấy đẩy đi, theo cái kiểu cầu cơ siêu nhiên bí hiểm, cái thìa bạc bắt đầu di chuyển, đánh mình, thoạt tiên là một vòng tròn nhỏ nhưng quỹ đạo dần dần thành hình ê líp cho đến khi đường đi ẹp lại thành một đường thẳng tắp từ cái lò đến ghế dài. Nói cách khác là từ Bắc tới Nam. Desdemona kêu lên, “Koros18!” Thế là những tiếng hét “Koros, koros” rộ lên khắp phòng.

Đêm hôm đó, ông bô bảo, “Hai mươi ba lần đúng liên tục rồi thì ắt hẳn lần tiếp theo trật lất. Lần này mẹ sai đứt rồi. Tin anh đi.”

“Nhỡ là con trai em cũng chả buồn đâu,” bà bô đáp. “Thực lòng ấy. Miễn nó khỏe mạnh, đầy đủ chân tay.”

“‘Nó’ nó cái gì. Em đang nói về con gái anh đấy.”

Một tuần sau năm mới tôi ra đời, vào ngày 8 tháng Giêng, năm 1960. Trong phòng đợi, chỉ có độc những điếu xì gà cột nơ hồng19, ông bô tôi hét lên, “Quá chuẩn!” Tôi là con gái. Dài nửa mét. Nặng ba cân ba.

Cũng đúng vào ngày 8 tháng Giêng năm đó, ông nội bị đột quỵ lần đầu tiên trong chuỗi mười ba cú. Bố mẹ tôi khi hối hả lao vào viện đã làm ông tỉnh giấc, vì thế ông ra khỏi giường xuống lầu pha cà phê. Một tiếng sau, Desdemona phát hiện ông nằm trên sàn bếp. Mặc dù các chức năng thần kinh không hề bị ảnh hưởng, sáng hôm đó, khi tôi cất tiếng khóc chào đời ở bệnh viện Phụ Nữ, papou của tôi không còn nói được nữa. Theo như Desdemona, ông nội ngất quỵ ngay sau khi lật úp tách cà phê để đọc vận may qua bã.

Khi biết tin tôi là trai hay gái, chú Pete không chịu nhận bất kỳ lời chúc mừng nào. Không có phép lạ gì ở đây cả. “Với cả,” chú đùa, “Milt làm từ a tới z cơ mà.” Desdemona trở nên nghiêm nghị.

Đứa con trai sinh ra ở Mỹ của bà đã đúng, và với cú thất bại mới toanh này, cố hương, mà bà vẫn nỗ lực sống ở đó mặc cho cách xa bốn ngàn dặm và ba mươi tám năm trời, lùi thêm một nấc nữa. Tôi chào đời đánh dấu kết thúc màn đoán giới tính trẻ con của bà và khởi đầu cho quá trình tụt dốc dài dặc của chồng bà. Mặc dầu thỉnh thoảng cái hộp tằm có tái xuất, nhưng cái thìa bạc không còn là bảo vật được nằm trong hộp nữa.

Tôi được lôi ra, đét đít, và xịt nước tắm rửa, đúng theo trật tự đó. Họ bọc tôi trong chăn rồi đặt nằm giữa sáu bé sơ sinh khác, bốn trai, hai gái, tất cả bọn nó, không giống tôi, đều được đeo thẻ ghi chính xác. Chuyện này nghe thì phi thực nhưng tôi nhớ rất rõ: những đốm sáng chầm chậm tràn vào làm bừng sáng màn tối.

Ai đó đã mở mắt tôi ra.


Chú thích:

  1. Lưỡng giới tính Giả là những người có tuyến sinh dục và nhiễm sắc thể là nữ tính, nhưng cơ quan sinh dục và các đặc trưng giới tính lại là nam giới (lưỡng giới tính giả nam); hoặc tuyến sinh dục và nhiễm sắc thể là nam tính, nhưng cơ quan sinh dục và các đặc trưng giới tính lại là nữ giới (lưỡng giới tính giả nữ). (Các chú thích trong bản dịch là của dịch giả.)
  2. Nhà tiên tri mù của thành Thebes trong thần thoại Hy Lạp, vốn là đàn ông, sau bị biến thành phụ nữ trong bảy năm, rồi sau đó trở lại làm đàn ông.
  3. Một tổ chức từ thiện của Mỹ với sứ mạng là cải thiện sức khỏe cho trẻ em bằng cách ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh, sinh non, tử vong ở trẻ sơ sinh.
  4. Trong bản gốc, tác giả cho nhân vật Desdemona, vốn gốc Hy Lạp, nói thứ tiếng Anh không đúng chuẩn nên sang tiếng Việt người dịch cho nhân vật nói ngọng “l” thành “n”, và nói nhầm dấu hỏi thành dấu ngã. Những chỗ như vậy trong hội thoại sẽ được in nghiêng.
  5. Tiếng Hy Lạp: bà.
  6. Tiếng Hy Lạp: của tôi.
  7. Chế biến từ cây cần sa, thường hút bằng ống shisha, gây cảm giác phê thuốc và có thể gây nghiện.
  8. Tiếng Hy Lạp: búp bê.
  9. Sử gia nổi tiếng người Anh (1737-1794), đồng thời là Nghị sĩ của Nghị viện Anh, với tác phẩm xuất sắc nhất là The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (tạm dịch: Lịch sử Suy tàn và Sụp đổ của đế quốc La Mã).
  10. Nữ sĩ văn chương xuất sắc người Pháp (1766-1817), có ảnh hưởng lớn lên Chủ nghĩa Lãng mạn châu Âu, là người chống lại Napoleon một cách gay gắt nên bị lưu đày không được phép sống ở Paris. Bà du hành Đức nhiều lần, và đất nước này là nguồn tư liệu cho tác phẩm nổi tiếng của bà, Germany (Nước Đức), nơi bà bình luận các khía cạnh khác nhau trong đời sống, con người, văn chương của nước Đức.
  11. Những người chịu trách nhiệm sửa sang, khâu vá ở khâu cuối cùng trong việc may quần áo lông thú như sửa lớp lông, chọn và khâu lớp lót, cúc, móc…
  12. Tượng Le Penseur của nhà điêu khắc nổi tiếng người Pháp Auguste Rodin khắc họa một người đàn ông ngồi chống cằm suy tư.
  13. Chính thống giáo Hy Lạp là giáo hội thuộc Chính thống giáo Đông phương – nhánh Kitô giáo lớn thứ hai sau Giáo hội Công giáo Rôma, với giám mục bậc cao nhất được gọi là Thượng phụ.
  14. Lễ diễu hành hằng năm ở thành phố New York, được coi là lớn nhất thế giới, với những con thú bóng khổng lồ từ các bộ phim hoạt hình.
  15. Tín đồ Chính thống giáo theo lịch Julius (do Julius Caesar đặt ra trước Công nguyên) nên ngày Phục sinh khác với tín đồ Công giáo theo lịch Gregorius hay còn gọi là lịch Tây.
  16. Có rất nhiều lý giải cho nguồn gốc tập tục này của Chính thống giáo: màu đỏ là màu máu trên thánh giá mà Chúa Jesus bị đóng đinh để cứu chuộc loài người, hoặc trứng đỏ tượng trưng cho ngôi mộ đá trống rỗng mà Chúa phục sinh, hoặc từ câu chuyện Mary Magdalene là người đầu tiên phát hiện ra Chúa Jesus phục sinh trong mồ đã đi đến báo cho hoàng đế La Mã, ông này không chịu tin và bảo chỉ tin nếu trứng trong rổ bên cạnh biến thành màu đỏ, và ngay lập tức trứng chuyển sang màu đỏ.
  17. Tiếng Hy Lạp: ông.
  18. Tiếng Hy Lạp: con trai.
  19. Xì gà cột nơ hồng, báo hiệu sinh con gái (theo phong tục một số nước phương Tây).

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Trích đăng

Phụ nữ và trẻ em sẽ điều khiển thế giới? – trích “2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai”

Dân số thế giới có vẻ tăng với tốc độ kinh hoàng. Tuy nhiên, đến năm 2030, chúng ta sẽ phải đối mặt với thực tế khan hiếm trẻ sơ sinh.

Published

on

By

Trích từ: 2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai
Tác giả: Mauro F. Guillén
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2021

Dân số thế giới có vẻ tăng với tốc độ kinh hoàng. Năm 1820 chỉ có 1 tỷ người trên trái đất. Một thế kỷ sau, đã có hơn 2 tỷ. Gián đoạn một thời gian ngắn sau cuộc Đại suy thoái và Thế chiến thứ II, tỷ lệ tăng dân số quay trở lại với tốc độ ngoạn mục: 3 tỷ năm 1960, 4 tỷ năm 1975, 5 tỷ năm 1987, 6 tỷ năm 2000, và 7 tỷ năm 2010. “Kiểm soát dân số, hay chạy đua tới diệt vong?”– là tiêu đề nổi bật trên trang bìa cuốn sách gây chấn động The Population Bomb (Tạm dịch Bùng nổ dân số) xuất bản năm 1968 của các giáo sư Đại học Stanford Paul và Anne Ehrlich. Kể từ đó, các chính phủ và tổ chức xã hội lớn trên toàn thế giới phải nghiêm túc quan tâm đến hiện thực không thể tránh khỏi này: Chúng ta sẽ tràn ngập hành tinh và hủy diệt chính mình (cùng hàng triệu loài động thực vật).

Tuy nhiên, đến năm 2030, chúng ta sẽ phải đối mặt với thực tế khan hiếm trẻ sơ sinh.

Trong vài thập niên tới, dân số thế giới sẽ tăng với tỷ lệ chưa đến một nửa so với tỷ lệ của những năm từ 1960 đến 1990. Ở một số quốc gia, dân số thậm chí còn giảm (vì không có nhiều người nhập cư). Một ví dụ cụ thể, kể từ đầu thập niên 1970, phụ nữ Mỹ trong độ tuổi sinh sản trung bình có ít hơn hai con – một tỷ lệ không đủ để thay thế cho thế hệ già. Nhiều nơi khác trên thế giới cũng thế. Người dân ở các quốc gia như Brazil, Canada, Thụy Điển, Trung Quốc, và Nhật Bản bắt đầu lo lắng ai sẽ chăm sóc người già và trả lương hưu.

Tỷ lệ sinh ở Đông Á, châu Âu và châu Mỹ suy giảm trong khi ở châu Phi, Trung Đông và Nam Á, tỷ lệ này giảm chậm, dẫn đến sự thay đổi trong thế cân bằng quyền lực kinh tế và địa chính trị trên toàn cầu. Hãy xem: Hiện nay khi một trẻ sinh ra ở các nước phát triển thì có hơn chín trẻ được sinh ra ở các quốc gia đang phát triển và thị trường mới nổi. Nói cách khác, cứ mỗi trẻ được sinh ra ở Mỹ thì có 4,4 trẻ được sinh ra ở Trung Quốc; 6,5 trẻ ở Ấn Độ và 10,2 trẻ ở châu Phi. Thêm vào đó, điều kiện dinh dưỡng và y tế ở các nước nghèo nhất thế giới ngày càng được cải thiện, làm tăng số lượng trẻ sơ sinh sống được đến tuổi trưởng thành và bước vào tuổi sinh sản. Nửa thế kỷ trước, ở các nước châu Phi như Kenya và Ghana, cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ chết dưới 14 tuổi, nhưng hiện nay tỷ lệ này còn thấp hơn 1/10.

Những thay đổi nhanh chóng về dân số thế giới xuất phát không chỉ từ các nước có tỷ lệ sinh cao hơn, mà còn từ các quốc gia có tuổi thọ tăng nhanh. Ví dụ, trong những năm 1950, tuổi thọ trung bình của dân số ở những nơi kém phát triển nhất thế giới thấp hơn 30 năm so với tuổi thọ ở các quốc gia phát triển nhất. Ngày nay khoảng cách này chỉ còn là 17 năm. Thời gian từ năm 1950 đến 2015, tỷ lệ tử vong ở châu Âu giảm chỉ 3% trong khi ở châu Phi giảm đến 65%. Các nước nghèo hơn đang bắt kịp xu thế tuổi thọ cao nhờ giảm tỷ lệ tử vong ở tất cả các độ tuổi.

Hãy xem Hình 3 để đánh giá tác động của thay đổi nhân khẩu học đối với toàn thế giới, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm tổng dân số các khu vực trên thế giới từ năm 1950 đến 2017 cùng với con số dự báo cho đến năm 2100 của Liên Hiệp Quốc.

Tập trung vào năm 2030, ta thấy Nam Á (bao gồm cả Ấn Độ) sẽ vẫn dẫn đầu về số dân. Châu Phi trở thành khu vực dân số lớn thứ hai, trong khi Đông Á (bao gồm cả Trung Quốc) sẽ rớt xuống hạng ba. Châu Âu, từng xếp thứ hai trong thập niên 1950, nhưng sẽ rơi xuống vị trí thứ sáu, đứng sau Đông Nam Á (bao gồm Campuchia, Indonesia, Philippines, và Thái Lan, cùng với một số quốc gia khác) và châu Mỹ Latinh.

Dòng di cư quốc tế có thể phần nào làm dịu bớt tác động tiêu cực của biến động lớn này vì các nước có nhiều trẻ em sẽ bù đắp cho những nơi thiếu hụt trên thế giới. Thực chất, hiện tượng này đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử, chẳng hạn trong những năm 1950 và 1960 có rất nhiều người ở khu vực Nam Âu di cư đến Bắc Âu. Tuy nhiên, thời nay, dòng di cư sẽ không đủ lớn để xoay đổi các xu hướng dân số (xem dữ liệu trong Hình 3). Tôi phải nhấn mạnh điểm này vì có vẻ quá nhiều chính phủ đang muốn tăng cường bức tường biên giới, dù là theo cách truyền thống (với gạch và vữa), hay sử dụng công nghệ laser, máy dò, hay cả hai.

Nhưng ngay cả khi không tăng cường kiểm soát biên giới, tôi vẫn cho rằng dòng di cư không thể tác động quá lớn đến xu hướng dân số. Với mức độ di cư và gia tăng dân số hiện tại, Tiểu vùng Sahara châu Phi – gồm 50 quốc gia châu Phi không giáp với biển Địa Trung Hải – sẽ trở thành khu vực đông dân thứ hai trên thế giới vào năm 2030. Giả sử cứ cho là số dân di cư sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm tới thì cũng chỉ làm chậm dự đoán trên cho đến năm 2033. Như vậy cũng không thể làm chệch xu hướng chủ yếu dẫn đến sự thay đổi dân số thế giới hiện tại mà chỉ làm chậm lại ba năm.

PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ĐIỀU KHIỂN THẾ GIỚI

Vậy đâu là vấn đề đằng sau hiện tượng giảm sinh trên toàn cầu? Câu hỏi không dễ trả lời, dù nói chung, việc thụ thai một em bé không có gì khó với nhiều phương pháp dễ sử dụng và phổ biến. Tôi xin bắt đầu trả lời bằng câu chuyện của một trong những cụ kỵ nhà tôi ở Tây Ban Nha, người mang thai 21 lần và sinh được 19 người con. Bà sinh con đầu khi 21 tuổi và sinh con út khi đã 42. Đất nước phát triển và phụ nữ có điều kiện tốt hơn để học hành, gia đình trở nên nhỏ dần cho đến mức một phụ nữ chỉ có một hoặc hai con.

Ảnh: Pexels

Thực tế ở các nơi khác trên thế giới như châu Phi, Trung Đông và Nam Á, hàng triệu phụ nữ hiện nay vẫn có năm, mười, hoặc thậm chí nhiều con hơn trong đời. Tuy nhiên, theo thời gian, số trẻ sơ sinh trung bình trên mỗi phụ nữ ở các nước đang phát triển đang giảm dần, cũng như ở các nước phát triển con số này suy giảm mạnh kể từ hai thế hệ trước. Phụ nữ bây giờ có cơ hội tận hưởng nhiều thứ bên ngoài gia đình. Để nắm bắt cơ hội, họ chú trọng việc học hành và nhiều trường hợp muốn tiếp tục học lên cao hơn. Điều này có nghĩa họ sẽ có con chậm hơn. Sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong nền kinh tế nói riêng và trong xã hội nói chung chính là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng giảm sinh trên toàn thế giới. Phụ nữ đang ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến những gì xảy ra trên toàn cầu.

Hãy xem phụ nữ Mỹ thay đổi thứ tự ưu tiên trong đời mình nhanh chóng như thế nào. Và những năm 1950, phụ nữ Mỹ kết hôn trung bình ở tuổi 20; ở nam giới là 22 tuổi. Ngày nay con số đó là 27 cho nữ và 29 cho nam. Độ tuổi sinh con lần đầu trung bình cũng tăng thành 28 tuổi. Có sự thay đổi này phần lớn là do thời gian dành cho học hành dài hơn. Hiện nay, rất nhiều phụ nữ tốt nghiệp trung học, và không ít người tiếp tục lên đại học. Những năm 1950, có khoảng 7% phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 29 có bằng đại học, chỉ bằng một nửa so với đàn ông. Ngày nay, tỷ lệ phụ nữ có bằng đại học đạt gần 40%, trong khi nam giới chỉ đạt 32%.

TÌNH TRẠNG SUY GIẢM HAM MUỐN TÌNH DỤC

Chiều hướng tiến hóa dân số có vẻ đã thay đổi. Trong nhiều thiên niên kỷ, sự tăng trưởng dân số chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định như lương thực, chiến tranh, bệnh tật, và thiên tai. Các nhà triết học, thần học, và khoa học đã vất vả hàng thế kỷ để trả lời câu hỏi Trái đất có thể nuôi sống bao nhiêu con người. Năm 1798, nhà kinh tế học, nhân khẩu học người Anh – Đức Cha Thomas Robert Malthus, đã cảnh báo về hiện tượng mà sau này được biết đến là “bẫy Malthus” – tức xu hướng sinh sản tràn lan làm cạn kiệt nguồn sinh sống của con người. Vào thời của Malthus, dân số thế giới chưa đến 1 tỷ người (so với 7,5 tỷ người ngày nay). Ông cho rằng con người là kẻ thù xấu xa nhất của chính mình vì sinh hoạt tình dục bừa bãi. Theo ông, dân số tăng vọt sẽ dẫn đến nạn đói và bệnh tật vì nguồn cung cấp lương thực không thể theo kịp. Malthus và nhiều người cùng thời đã lo ngại đến nguy cơ tuyệt chủng của loài người do sinh sản tràn lan. Ông viết: “Với vấn nạn gia tăng dân số vượt hơn khả năng trái đất có thể nuôi sống, nhân loại sẽ phải chịu tình trạng chết yểu theo cách này hay cách khác”.

Ảnh: Pexels

Với lợi thế của hậu bối, ngày nay chúng ta có thể nói rằng Malthus đã đánh giá thấp vai trò phi thường của các phát minh cải tiến nhằm gia tăng sản lượng nông nghiệp. Ông cũng không thấy hết tiềm năng mở rộng nguồn cung lương thực thông qua thương mại quốc tế nhờ vận chuyển đường biển vừa nhanh vừa rẻ. Tuy nhiên, ông đã đúng khi nhấn mạnh dân số và thực phẩm là hai mặt của một vấn đề.

Không chỉ đánh giá thấp vai trò to lớn của tiến bộ khoa học trong sản xuất và phân phối lương thực, Malthus còn hoàn toàn bỏ qua thực tế công nghệ hiện đại có thể làm suy giảm ham muốn tình dục của con người. Lý do rất đơn giản: Càng có nhiều hình thức giải trí thì người ta càng giảm sinh hoạt tình dục. Xã hội hiện đại cho chúng ta mọi loại hình giải trí, từ phát thanh, truyền hình cho đến trò chơi điện tử hay phương tiện truyền thông. Ở một số nước phát triển, kể cả Mỹ, tỷ lệ sinh hoạt tình dục đã suy giảm trong vài thập niên qua. Một nghiên cứu toàn diện được đăng trên tạp chí Archives of Sexual Behavior cho thấy “người Mỹ trưởng thành quan hệ tình dục ít hơn khoảng chín lần trong đầu thập niên 2010 so với cuối thập niên 1990”, sự suy giảm này chủ yếu xảy ra ở những cặp vợ chồng hoặc cặp đôi sống chung đã lâu. Nếu dựa trên độ tuổi, thì “những người sinh trong thập niên 1930 (Thế hệ Im lặng) sinh hoạt tình dục thường xuyên nhất, trong khi những người sinh trong thập niên 1990 (Thế hệ Millennials và iGen) lại quan hệ tình dục ít nhất”. Nghiên cứu đưa ra kết luận: “Người Mỹ giảm sinh hoạt tình dục vì… số lượng cá nhân độc thân hoặc không có bạn tình ngày càng tăng, đi đôi với sự suy giảm tần suất sinh hoạt tình dục ở các cặp đôi phối ngẫu lâu dài”.

Một ví dụ thú vị chứng minh tác động của giải trí đến ham muốn tình dục của chúng ta, liên quan đến một vụ mất điện. Năm 2008, trên đảo Zanzibar, ngoài khơi bờ biển Đông Phi, xảy ra một vụ mất điện cực kỳ khó chịu, kéo dài hết cả tháng. Vụ việc chỉ ảnh hưởng đến khu vực có điện lưới trên đảo; những nhà còn lại vẫn tiếp tục sử dụng máy phát điện. Đây là cơ hội hiếm có cho các nhà nghiên cứu có thể tiến hành “thử nghiệm” về hoạt động sinh sản của người dân, thông qua “nhóm thử nghiệm” bao gồm các gia đình không có điện và “nhóm đối chứng” bao gồm những hộ sử dụng máy phát điện trong tháng mất điện đó. Chín tháng sau, tỷ lệ sinh sản của nhóm thử nghiệm tăng khoảng 20%, trong khi tỷ lệ của nhóm đối chứng vẫn không đổi.

ĐỒNG TIỀN XOAY VÒNG THẾ GIỚI

Tiền dĩ nhiên cũng đóng vai trò lớn trong quyết định sinh con của chúng ta. Năm 2018, tờ New York Times tiến hành một cuộc khảo sát để tìm hiểu lý do tại sao người Mỹ ngày càng có ít con hoặc thậm chí không có con. Bốn trong năm lý do hàng đầu có liên quan đến tiền bạc. “Tiền lương không tăng kịp với chi phí sinh hoạt, cộng với khoản vay sinh viên nên khó mà ổn định tài chính – cho dù có bằng đại học, có việc làm và hai nguồn thu nhập”, chia sẻ của anh David Carlson, 29 tuổi, có vợ cũng đi làm. Thanh niên từ các gia đình có thu nhập thấp cũng ngại có con vì họ buộc phải lựa chọn giữa xây dựng gia đình hay để dành tiền cho những điều có giá trị khác.

Như trường hợp của Brittany Butler, người gốc Baton Rouge, Louisiana, cô là người đầu tiên trong gia đình tốt nghiệp đại học. Ở tuổi 22, cô ưu tiên lấy bằng thạc sĩ về công tác xã hội trước rồi trả các khoản vay sinh viên, và ổn định cuộc sống ở một nơi an toàn. Còn chuyện con cái tính sau.

Trở lại những năm 1960, nhà kinh tế học Trường Đại học Chicago Gary Becker đã đưa ra luận điểm quan trọng về cơ sở quyết định sinh con của các bậc cha mẹ: Họ cân nhắc đánh đổi giữa chất lượng và số lượng con họ mong muốn. Thông thường, khi thu nhập tăng, họ có thể mua thêm một hoặc hai chiếc xe nhưng sẽ không mua hàng chục cái cho dù có nhiều tiền đến đâu. Họ cũng không mua hàng chục cái tủ lạnh hay máy giặt. Becker lý luận rằng khi thu nhập tăng cao người ta sẽ chú trọng về chất lượng thay vì số lượng; nghĩa là, họ sẽ thay những chiếc xe cũ tàn tạ bằng một chiếc sedan hoặc SUV mới hơn, lớn hơn, và sang trọng hơn. Đối với con cái, điều này có nghĩa là họ dành nhiều sự quan tâm và tiền bạc hơn cho một số ít con hơn. Ông viết: “Cân nhắc giữa số lượng và chất lượng con cái là lý do quan trọng nhất khiến các bậc phụ huynh quyết định tập trung nhiều hơn cho con khi thu nhập gia tăng”, nghĩa là khi có thêm thu nhập, họ muốn đầu tư nhiều hơn cho từng đứa để chúng có nhiều cơ hội tốt hơn trong cuộc sống.

Ảnh: Pexels

Luận điểm về hành vi con người của Becker đã mang lại cho ông giải Nobel Kinh tế Khoa học năm 1992. Đối với một vấn đề phức tạp như tỷ lệ sinh sản, ý tưởng của ông đã bỏ sót vai trò của sở thích cũng như các tiêu chuẩn văn hóa và giá trị, tuy nhiên ông đã khởi xướng một xu hướng xã hội quan trọng. Ngày nay, nhiều phụ huynh chú trọng đầu tư thêm thời gian và tiền bạc cho ít con hơn để chúng có được những cơ hội thành công nhất có thể, từ tiền đóng học phí đại học cho đến tham gia các hoạt động ngoại khóa.

Như nhà xã hội học Trường Đại học Maryland Philip Cohen giải thích: “Chúng ta muốn đầu tư cho con nhiều hơn để chúng có những cơ hội tốt nhất khi cạnh tranh trong một môi trường ngày càng bất bình đẳng”. Theo nghĩa đó, con cái được xem như là dự án đầu tư, với giá trị hiện tại ròng (NPV) và tỷ suất hoàn vốn (ROI).

Để biết các cặp vợ chồng dựa vào đâu mà quyết định sẽ có bao nhiêu con, chúng ta hãy xem số tiền họ cần chi tiêu cho mỗi đứa. Năm 2015, chính phủ liên bang tính được để nuôi dạy một đứa trẻ cho đến năm 17 tuổi, một gia đình trung bình ở Mỹ sẽ phải chi một số tiền đáng kinh ngạc là 233.610 USD, chưa kể nếu bao gồm cả học phí đại học thì số tiền đó sẽ gấp đôi. Trong máy tính xách tay, tôi có một bảng liệt kê mọi thu nhập và chi phí gia đình mỗi năm. Quả là sửng sốt khi biết một gia đình trung bình ở Mỹ có thể sẽ phải chi hơn nửa triệu đô la cho mỗi đứa con, nhất là khi chúng tốt nghiệp từ trường đại học đắt tiền. Tôi làm một bảng tính khác với các hạng mục tương tự nhưng trừ ra mọi chi phí liên quan đến con cái. Kết quả là nếu không đầu tư cho con cái ăn học, chúng ta có thể mua một chiếc xe hơi sang trọng hay một nhà nghỉ bên bờ biển.

- Còn tiếp -

Đọc bài viết

Trích đăng

Nỗi sợ hãi trong tôi

“Chó đen” là hình ảnh ẩn dụ cho chứng trầm cảm. Năm 2014, nhân ngày Phòng chống tự sát thế giới, WHO đã thực hiện video “I Had a Black Dog: His Name was Depression” (dựa theo tên quyển sách của Matthew Johnstone phát hành năm 2005).

Published

on

By

Có ai khác trong tôi là tác phẩm tập hợp những bài viết của các tác giả chuyên viết cho giới trẻ, kể về kinh nghiệm cá nhân khi phải đương đầu với những chứng bệnh tâm lý phổ biến như: lo lắng, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực,...  Quyển sách muốn đem đến một chỗ dựa tinh thần, giúp mọi người nhận ra tình trạng hỗn loạn và sự tranh đấu nội tâm mà gia đình, bạn bè và chính bản thân mình đang gặp phải, từ đó gắn kết tất cả lại với nhau.

“Ellen Hopkins, Lauren Oliver, Francisco X. Stork, Sara Zarr, và 27 cộng sự khác trong tuyển tập này đều là những tác giả của các đầu sách bán chạy và đạt nhiều giải thưởng, nhưng chính họ cũng phải thừa nhận rằng bài viết về chứng bệnh tinh thần là những dòng chữ khó khăn nhất mà họ từng đặt bút. Các tác giả giải thích chứng rối loạn tâm lý xuất hiện như thế nào và họ bị mất quyền kiểm soát cuộc sống của mình vào tay “nó” hay “con quái vật” ấy ra sao. Cam đoan rằng những câu chuyện đầy thuyết phục trong sách sẽ giúp bạn không còn thấy đơn độc.” — Angela Leeper (Booklist “Starred Review”, 01/02/2018)

  • Trích từ: Có ai khác trong tôi
  • Tác giả: Nhiều tác giả (Jessica Burkhart biên soạn)
  • Phát hành: Tháng 04.2019
  • Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

*
CHƯƠNG 1
Nỗi sợ hãi trong tôi

(Scott Neumyer)

Tôi có một lời thú nhận. Tôi đã nói dối. Rất nhiều.

Không phải là những lời nói dối nghiêm trọng hay có thể làm thay đổi vận mệnh gì cả. Tôi chưa bao giờ lừa dối vợ hay vi phạm luật pháp, hoặc làm gì đó bất hợp pháp trong sự nghiệp của mình. Tôi xử sự ngay thẳng theo như Kinh thánh.

Nhưng trong thập kỷ qua, dường như tôi đã nói dối quá nhiều đến nỗi không thể đếm hết. Trong đó có một vài chuyện tôi không thể nhớ nổi để kể, và một vài chuyện có lẽ tôi đã thuyết phục bản thân mình rằng vào thời điểm đó tôi không nói dối. Đó là những điều tôi đã nói và đã làm trên thực tế. Đó là sự thật.

Tuy nhiên tôi quá thông minh để suy nghĩ (ngay cả trong chốc lát) rằng tôi đã hoàn toàn thành thật với bản thân và mọi người xung quanh tôi khá lâu rồi.

Bây giờ bạn đã biết. Tôi là một kẻ nói dối. Một kẻ chuyên nói dối, bẩn thỉu, thối tha. Nhưng chờ đã! Trước khi bạn lật trang và chuyển sang câu chuyện của người khác, nghĩ rằng họ thật sự chân thành và thành tâm hơn tôi, hãy nán lại trong vài phút và đọc tiếp đã.

Tôi là một người tốt. Thực sự. Tôi thề. Tôi có thể đã nói dối vô số lần trong mười năm qua, nhưng tôi thực sự là một người tốt, dễ thương và thông minh. Tôi nói nghiêm túc đấy! Chỉ cần hỏi mẹ tôi thì biết!

Bạn thấy đấy, tôi chưa bao giờ thực sự muốn nói dối. Tôi đã luôn tự hào về việc chân thành và trung thực với mọi người. Bạn cần ai đó nói thật? Đó chính là tôi!

Nhưng khi nói đến tôi, đó là nơi bắt đầu những rắc rối, bởi vì tôi có sự sợ hãi bên trong tôi – giọng nói kì lạ này – luôn nói cho tôi biết những gì phải làm và nếu tôi có thể làm cho nó câm mồm, tôi sẽ bị nguyền rủa. Được rồi, trước khi tôi nhận được tất cả Jiminy Cricket [1] ở bạn hoặc cuối cùng nói cho bạn biết về một số điều điên rồ mà tôi đã nói dối, hãy để tôi trở lại từ đầu. Hãy để tôi đưa bạn đến thời điểm cái ác dần dần lóe ra bên trong tôi giống như tác nhân gây nổ lồng ngực trong phim Alien (Quái vật không gian).

Tôi đã 36 tuổi rồi (Tôi biết… Tôi biết… Tôi đã già rồi!), vì vậy mọi việc bắt đầu có lẽ khi tôi 24 tuổi. Bạn gái của tôi vào thời điểm đó (bây giờ là vợ và là mẹ của các con tôi) đã quyết định đưa tôi đến thành phố New York để xem phim Rent (Những người bạn) nhân sinh nhật tôi. Chúng tôi đã quen nhau từ thời trung học nhưng chỉ bắt đầu hẹn hò khoảng năm tháng trước chuyến đi, và đó là lần đầu tiên chúng tôi ăn mừng sinh nhật cùng nhau.

Sáng sớm hôm đó chúng tôi đã đi chơi ở New Brunswick, New Jersey và nhảy lên một chuyến tàu đi đến Big Apple[2], giống như nhiều lần trước đây. Với nhiều thời gian rảnh rỗi khi đến Manhattan, chúng tôi quyết định ăn tối trước khi đến Broadway. Và rắc rối bắt đầu từ đây. Chúng tôi chưa kịp dùng bữa thì Denise xin phép vào nhà vệ sinh. Cô ấy có vẻ lo lắng, nhưng tôi đã chờ khi cô ấy chạy đi. Khoảng năm phút sau, Denise vội vàng trở lại. “Chúng ta phải đi”, Denise nói. “Chúng ta phải đi bây giờ. Ngay lập tức. Tôi không biết liệu cô ấy có khóc hay không, vì có những giọt mồ hôi chảy xuống má cô ấy, nhưng tôi có thể chắc chắn ngay lập tức từ vẻ mặt của cô ấy, quả thực, đã đến lúc phải đi.

“Em ổn chứ?” Tôi hỏi. “Mọi chuyện ổn chứ?”
“Chúng ta phải đi thôi. Nhé anh. Ngay bây giờ. Em không được khỏe.”

Và, với lời đề nghị đó, tôi níu bồi bàn, thanh toán hóa đơn và chạy ra ngoài gặp cô ấy, tôi bước lên vỉa hè, vẫy tay đón taxi.
“Không có taxi”, cô nói. “Chúng ta phải đi. Hãy đi thật nhanh.”
Vì vậy, chúng tôi đi bộ thật nhanh đến ga Penn, nơi chúng tôi đã may mắn bắt kịp chuyến tàu tiếp theo quay trở lại Jersey.

Hoang mang và lo lắng cho Denise, tôi đã cố gắng xoa lưng cô ấy trên đường về nhà, nhưng lại nghĩ đến việc làm vậy ngay thời điểm đó chỉ làm cô ấy tồi tệ hơn. Vì vậy, thay vào đó, tôi đã gọi bố mẹ đón chúng tôi tại nhà ga. Cô chơi trò con rắn trên điện thoại di động phổ thông Nokia của mình để cố gắng rũ bỏ muộn phiền và bất cứ điều gì làm phiền cô ấy ra khỏi tâm trí. Sáng hôm sau Denise đã đi đến bác sĩ của mình, giải thích chính xác những gì đã xảy ra và được chẩn đoán cô bị mắc chứng rối loạn hoảng sợ và lo âu. Trong tám tháng tiếp theo, tôi đã chứng kiến bạn gái tôi chịu đựng những thứ kinh khủng, phải vật lộn với cảm giác lo lắng khi cô ấy cố gắng làm việc, hoàn thành lớp điều dưỡng, và trở thành người phụ nữ vui vẻ, yêu đời, như cô ấy đã từng. Tôi nắm tay cô ấy, xoa lưng và khóc cùng với cô ấy khi mọi việc trở nên khó khăn hơn bình thường.

Và rồi, một ngày nào đó, giống như mùi hương quen thuộc bạn luôn có thể ngửi ngay sau khi kết thúc cơn mưa, mọi vấn đề sẽ qua. Cô ấy đã hoàn thành công việc bằng cách gặp chuyên gia trị liệu, thực hành liệu pháp phơi nhiễm, và vượt qua nỗi sợ của mình. Tất cả đều không có thuốc đặc trị.

Phải, cô ấy vẫn sẽ phải đối phó với sự lo lắng từ ngày này qua ngày khác (tất cả chúng ta cũng vậy), nhưng cô ấy không còn lo lắng bị nỗi sợ tấn công nữa. Cô ấy không còn tưởng tượng có con gấu đằng sau cánh cửa sẵn sàng nhảy ra bất cứ lúc nào. Cô ấy được tự do. Và đó là khi tôi đến gặp Bruce Springsteen sống tại Lincoln Financial Field ở Philadelphia, Pennsylvania.

Tôi đã nói đến điều này rất chi tiết về tất cả sự kinh hãi của nó trước khi tôi viết một câu chuyện cho SBNation.com được gọi là I am Royce White (Tôi là Royce White) nhưng tôi sẽ thông tin cho bạn những nét chính: Ngồi trên những chai thuốc tẩy, tôi vừa xem nhóm nhạc Boss hát thật to bài Thunder Road (Con đường sấm sét) vừa dán đầu vào giữa hai đầu gối trong một phòng tắm công cộng. Tôi đã khốn khổ vì bệnh tật và sợ hãi… Tôi không biết gì cả. “Anh nghĩ rằng anh đang có một cơn hoảng loạn”, tôi nói với Denise từ trong phòng tắm. “Anh đổ mồ hôi không ngừng, và tất cả những gì anh có thể nghĩ là CHẠY NGAY RA KHỎI ĐÂY ĐỂ VỀ NHÀ.”

Tôi đã đổ mồ hôi rất nhiều đến nỗi chiếc Nokia màu cam của tôi gần như trượt khỏi tay tôi, rơi xuống sàn nhà. Bạn biết rằng tôi đã chứng kiến những thứ tồi tệ mà bạn gái tôi vượt qua trong khoảng tám tháng? Tôi đã ở trong tình trạng kinh khủng tương tự. Chỉ là tình trạng của tôi diễn ra trong một hoàn cảnh khác, trong nhà vệ sinh bẩn thỉu, với khoảng năm mươi người hâm mộ Springsteen cuồng nhiệt tự hỏi khi nào cửa ngăn sẽ mở ra. Đêm đó là khởi đầu của mọi thứ đối với tôi.

Nó chưa thực sự bắt đầu cho đến khi một vài tháng sau đó khi mùa hè đã qua và tôi đã có cơn hoảng loạn nghiêm trọng trong khi thay thế giảng dạy một lớp giáo dục thể chất trung học. Ngay khi chuông reo kết thúc tiết học, tôi đã nói với văn phòng chính là tôi phải rời khỏi và lao xuống tiền sảnh đến bãi đậu xe, không bao giờ quay lại giảng dạy.

Sau khoảng một tháng, hầu như tôi không rời khỏi phòng ngủ, chứ đừng nói là nhà, tôi đã tìm được một công việc khác và được điều trị bởi rất nhiều thuốc chống trầm cảm Zoloft (sau khi chứng kiến những khó khăn mà bạn gái tôi đối mặt khi điều trị mà không dùng thuốc, tôi dám chắc tôi đã đi đúng hướng), cuộc sống của tôi dần ổn. Đó là hơn mười năm trước. Một thập kỷ của đời người. Mười năm dài, những năm tháng đau đớn, mệt mỏi, đầy lo lắng. Nhưng hãy đoán xem? Tôi vẫn ở đây. Bây giờ trở lại nơi mà chúng ta bắt đầu – tôi đang là kẻ nói dối tồi tệ, vô tích sự.

Vì vậy, phải, hơn thập kỷ qua, tôi đã nói rất nhiều lời nói dối vô hại để bản thân thoải mái hơn. Tôi chủ yếu nói với họ để tôi không phải làm thứ gì đó hoặc phải đi đâu đó mà khiến tôi lo lắng xoắn cả lên về việc đi lại. Trong mười năm đó, tôi đã nói dối vợ và con tôi về việc phải làm việc để không đi nghỉ mát. Tôi đã nói dối về việc quá bận rộn nên không xem bóng đá cùng bạn bè vì tôi sợ hãi khi xem bóng đá với bạn bè của tôi. Tôi đã giả bộ đau đầu, đau lưng và mọi loại đau khác mà bạn có thể nghĩ ra để giữ cho tôi yên ổn, không cảm thấy lo lắng. Tôi đã nói dối về việc ăn quá nhiều thức ăn và cả ăn quá ít. Tôi đã nói dối về mọi thứ để làm cho bản thân mình cảm thấy tốt hơn – để không cảm thấy từng cơn nhói lo âu kéo dài trong ruột.

Tôi đã mất bạn bè và làm gia đình hoang mang, những người không thể nắm bắt những gì đang diễn ra trong đầu tôi. Cơ bản là tôi đã hủy hoại những tấm hình cưới của một trong những người bạn thân của mình, tôi đã chán ngấy sự lo âu. Tôi nuốt lời quá nhiều đến nỗi tôi không ngạc nhiên chút nào khi người bạn thân nhất trong đời không mời tôi dự đám cưới của anh ấy. Tất nhiên tôi buồn nhưng hoàn toàn thông cảm. Đôi khi tôi ngạc nhiên là tôi đã vượt qua đám cưới của chính mình. Và, tôi chưa bao giờ thừa nhận điều này với bất kỳ ai trước đây (thậm chí cả chuyên gia trị liệu), nhưng tôi đã thực sự nằm vật xuống cầu thang để khỏi phải tham dự một bữa tiệc sinh nhật lớn của một thành viên gia đình.

Tôi có thể nói gì? Tôi cảm thấy hoàn toàn khủng khiếp về những điều tôi đã làm. Tôi đã làm những điều ấy. Tôi không thích tôi nói dối quá nhiều. Tôi ghét vì tôi đã thất hứa những việc mà tôi sẽ không bao giờ có cơ hội làm lại (đặc biệt khi điều đó liên quan những đứa con tôi). Tôi ghét một thực tế rằng tôi là người mà mọi người không muốn nhờ làm việc gì vì họ biết tôi sẽ nói không ngay lập tức (ơ, ít nhất tôi đã không nói dối nữa!).

Nhưng hãy đoán xem? Tôi vẫn ở đây. Và đó là lý do tôi dành tất cả thời gian nói về mọi thứ khủng khiếp, ngu xuẩn, ích kỉ mà tôi đã làm để kiềm chế sự sợ hãi bên trong tôi. Tôi đã phơi bày tất cả ở đây vì tôi mệt mỏi với lời nói dối. Tôi chán việc thất hứa. Và tôi chán khi phải là “ai khác”.

Và tôi cũng đã thổ lộ những điều sâu kín trong tâm hồn mình ở đây vì tôi biết rằng bạn cũng từng nói dối. Bạn nuốt lời. Và bạn từng là “ai khác”.

Và tôi ở đây để nói với bạn rằng mọi việc sẽ trở nên tốt hơn. Có vẻ không giống vậy. Có thể bạn là Artax trong The Neverending Story (Chuyện dài bất tận), và bạn đang chết đuối trong đầm lầy nỗi buồn[3]. Có thể cảm thấy quá khó khăn. Tin tôi đi, tôi đã ở trong tình huống đó và cảm nhận được. Nhưng hãy đoán xem? Bạn vẫn còn ở đây. Và đó là bài học trong câu chuyện của tôi cho những đứa trẻ. Nỗi lo thu hút nỗi lo, nhưng sẽ dần được chữa lành với thời gian, sự siêng năng làm việc và giúp sức. Nó thực sự trở nên tốt hơn.

Mười năm trước, tôi đã thua, đã sợ hãi và thất nghiệp sau khi chạy trốn khỏi công việc tôi có. Hôm nay tôi vô cùng tự hào khi có thể nói rằng tôi viết báo cho các tờ New York Times, GQ, Esquire, Sports Illustrated và ESPN. Tôi đã tổ chức các công việc dài hạn, trở thành một biên tập viên và giành được một giải thưởng khi kể câu chuyện của mình. Và tôi có thể viết đi viết lại nhiều lần về nhận thức về sức khỏe tâm thần và phá vỡ sự kỳ thị bệnh tâm thần ở đất nước này. Tôi có một người vợ, hai đứa con tuyệt vời và một đôi mèo, tất cả cùng sống dưới một mái nhà. Tôi vẫn có những ngày khó khăn và nhiều lần sự lo lắng trở nên nghiêm trọng, nhưng tôi đã học cách khiến sự sợ hãi bên trong tôi im lặng và để tôi yên một lúc. Mọi người, đây là những gì bạn có thể mong đợi nếu bạn ngẩng cao đầu, yêu cầu giúp đỡ và làm việc.

Cảm giác lo lắng giống như bạn đang rơi vào một cái hố đen tối rồi cứ tiếp tục rơi xuống và rơi xuống. Nhưng, hãy tin tôi khi tôi cho bạn biết, có một ngôi nhà có khả năng nẩy ở dưới đáy, vì vậy bạn sẽ ổn thôi. Trong nhiều năm nay tôi đã nhắc đi nhắc lại trong đầu rằng hy vọng đứa con gái 7 tuổi của tôi không giống như tôi. Ngay cả tối nay, khi tôi đang đu đưa cho đứa con gái ba tháng tuổi của tôi ngủ, tôi thậm chí đã thì thầm với nó: “Khi con lớn lên đừng như bố nhé.” Nhưng bạn biết gì không? Có thể giống như bố sẽ không tệ đến vậy.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Jiminy Cricket: một lời tuyên thệ trong đạo Công giáo, thể hiện sự ngạc nhiên hoặc sốc. (Các chú thích trong sách là của người dịch)
  2. Big Apple: biệt danh của thành phố New York.
  3. Swamps of Sadness: một đầm lầy chết người tượng trưng cho nỗi buồn và sự bất hạnh, một địa điểm trong tác phẩm Chuyện dài bất tận của tác giả Michael Ende.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: The Yak Magazine

Đọc bài viết

Trích đăng

20 trích dẫn hay trong tác phẩm Đường xưa mây trắng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Nhân Ngày Tiếp Nối lần thứ 95 của Thiền sư Thích Nhất Hạnh – 11.10.2021.

Published

on

By

Đường Xưa Mây Trắng - Theo Gót Chân Bụt là một câu chuyện vô cùng lý thú về cuộc đời của Bụt được kể lại dưới ngòi bút hùng hồn đầy chất thơ của tác giả. Với văn phong nhẹ nhàng giản dị, với lối kể chuyện sinh động lôi cuốn, tác giả đã đưa chúng ta trở về tắm mình trong dòng sông Nguyên thỉ cách đây gần 2.600 năm, để được hiểu và gần gũi với một bậc giác ngộ mà cuộc đời của Ngài tỏa rạng nếp sống đầy tuệ giác và từ bi. Đọc Đường Xưa Mây Trắng cho chúng ta cảm tưởng như đang đọc một thiên tình sử, nhẹ nhàng, gần gũi mà sâu lắng.

Sách đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, được tái bản nhiều lần ở các nước và được xếp vào hàng những quyển sách hay nhất của thế kỷ 20.

Đường xưa mây trắng - thiền sư Thích Nhất Hạnh

Gấp lại cuốn sách và bạn sẽ cảm thấy tình yêu mến dành cho Đức Phật dường như được mở rộng ra nhiều. Tình yêu mến đó không bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ, lòng tôn kính dành cho bậc vĩ nhân ta thường thấy, mà từ “cái thấy” của ta dành cho Đức Phật, thấy Người cũng tồn tại trong ta, thấy hình như Người đã nói lên những gì mà ta đã trải qua và trăn trở, thấy Người thật hiểu ta quá.

Như mọi khi, hãy thở ba hơi thở, buông bỏ hết những kiến thức về Phật Giáo mà mình đã tiếp nạp, rồi đón nhận “cơn mưa pháp” giàu tình thương và chân lý, và tiến bộ thông qua hành trình ngược về 2,600 năm trước: nối gót bước chân của người đã làm thay đổi thế giới mãi về sau.

*

*

Bài viết về các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



Đọc bài viết

Cafe sáng