Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Lưỡng Giới” – Jeffrey Eugenides

“Tôi sinh ra hai lần: lần đầu, là bé gái, vào một ngày không sương khói khác thường ở Detroit tháng Giêng năm 1960; rồi lần nữa, là thằng nhóc thiếu niên, ở phòng cấp cứu gần thành phố Petoskey, tiểu bang Michigan, tháng Tám năm 1974.”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Lưỡng giới

Tác giả: Jeffrey Eugenides

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: tháng 7.2019

CÁI THÌA BẠC

Tôi sinh ra hai lần: lần đầu, là bé gái, vào một ngày không sương khói khác thường ở Detroit tháng Giêng năm 1960; rồi lần nữa, là thằng nhóc thiếu niên, ở phòng cấp cứu gần thành phố Petoskey, tiểu bang Michigan, tháng Tám năm 1974. Độc giả chuyên ngành có thể đã tình cờ bắt gặp tôi trong nghiên cứu của Tiến sĩ Peter Luce, “Bản Dạng Giới trong trường hợp Lưỡng giới tính Giả do thiếu enzyme 5-Alpha-Reductase,”1 đăng trên Tạp chí Nội tiết Nhi khoa năm 1975. Hoặc bạn thấy ảnh chụp tôi ở chương mười sáu cuốn Di Truyền Học và Di Truyền mà giờ đây đáng tiếc đã lỗi thời. Tôi chính là đứa trần truồng đứng cạnh biểu đồ tăng trưởng chiều cao với băng đen che hai mắt ở trang 578.

Tên tôi trên giấy khai sinh là Calliope Helen Stephanides. Bằng lái xe gần đây nhất (do Cộng hòa Liên bang Đức cấp) chỉ ghi đơn giản là Cal. Tôi từng là thủ môn khúc côn cầu, thành viên lâu năm của Hiệp hội Cứu Lấy Loài Lợn Biển, kẻ hiếm khi đi lễ của Giáo hội Chính thống Hy Lạp, và phần lớn thời gian khi trưởng thành, nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng như Tiresias2, ban đầu tôi là một thứ rồi sau biến thành thứ khác. Tôi bị bạn bè cùng lớp chế giễu, bị bác sĩ biến thành chuột lang thí nghiệm, bị bác sĩ chuyên khoa sờ nắn, và bị tổ chức March of Dimes3 nghiên cứu. Một con bé tóc đỏ ở khu Grosse Pointe phải lòng tôi mà không hề biết tôi bị làm sao. (Anh nó cũng mê tôi.) Một chiếc xe tăng có lần đẩy tôi vào trận chiến trong thành phố; một cái bể bơi biến tôi thành huyền thoại; tôi rời bỏ cơ thể mình đến cư ngụ những cơ thể khác – và tất cả những chuyện này đều xảy ra trước khi tôi bước sang tuổi mười sáu.

Nhưng lúc này đây, ở tuổi bốn mươi mốt, tôi cảm thấy một lần chào đời nữa đang đến gần. Sau hàng thập kỷ quên lãng, tự nhiên tôi nghĩ đến những bà trẻ ông trẻ đã về nơi chín suối, những người ông thất lạc từ lâu lắm, những đứa anh em họ năm đời bắn đại bác không tới chả biết ai là ai, hay trong trường hợp gia đình lai cận huyết như nhà tôi, một người mang tất cả các vai trò ấy. Vì thế trước khi quá muộn, tôi muốn viết về nó một lần dứt khoát cho xong luôn: cuộc phiêu lưu xuyên thời gian đầy thăng trầm của chiếc gen duy nhất. Hỡi Thi Thần, xin cất lời ca về đột biến lặn trên nhiễm sắc thể thứ năm của tôi! Hãy hát về thời nó đơm hoa trên sườn núi Olympus hai thế kỷ rưỡi trước, khi dê thì be be còn ôliu thì rụng quả. Hãy hát về chuyện nó được truyền qua chín thế hệ, vô hình tập hợp lại trong cái vốn gen ô uế của gia đình Stephanides. Và hát về Thượng đế, dưới lốt vỏ cuộc thảm sát, làm cho cái gen đó lại bay đi rất xa; về chuyện nó bị thổi vù như hạt giống qua đại dương tới Hoa Kỳ, được mưa ô nhiễm công nghiệp cuốn đi cho đến khi rơi xuống miếng đất màu mỡ là cái tử cung vùng Trung Tây của bà bô tôi.

Xin lỗi nếu thỉnh thoảng tự dưng tôi có hơi hướm Homer quá.

Cái đó cũng di truyền đấy.

Ba tháng trước khi tôi chào đời, sau một bữa tối Chủ nhật linh đình, bà nội Desdemona Stephanides sai anh tôi đi lấy hộ bà hộp tằm. Chương Mười Một đang vào bếp lấy suất bánh pút đinh gạo thứ hai thì bị bà chặn lại. Năm mười bảy tuổi, vừa lùn tè vừa to bè bè, cùng bộ lưới bao tóc nom rất hãi, bà tôi phù hợp hoàn hảo với việc chặn đường người khác. Trong bếp phía sau bà, cả đội quân đàn bà ngày hôm đó đang tụ tập cười đùa to nhỏ. Tò mò, Chương Mười Một nghiêng người sang bên dòm xem đang có vụ gì, nhưng Desdemona giơ tay véo thật lực vào má anh. Sau khi khiến anh tập trung trở lại, bà vẽ một hình chữ nhật lên không trung rồi chỉ lên trần nhà. Đoạn, qua hàm răng giả lắp không khít, bà bảo, “Đi nấy4 hộ yia yia5 cái, cục cưng mou6.”

Chương Mười Một biết phải làm gì. Anh phóng qua hành lang vào phòng khách. Anh bò lên cầu thang tới tầng hai. Anh vọt qua các phòng ngủ nằm dọc hành lang tầng trên. Ở phía cuối hành lang là cánh cửa cơ hồ tàng hình, bị giấy dán tường đè lên như thể dẫn vào lối đi bí mật. Chương Mười Một định vị được nắm đấm cửa nhỏ xíu cao ngang đầu, đoạn vận hết công lực mở ra. Sau cánh cửa là cầu thang nữa. Anh lưỡng lự ngó đăm đăm vào bóng tối phía trên một lúc lâu rồi mới chầm chậm bò lên căn áp mái nơi ở của ông bà.

Đi giày thể thao anh băng qua dưới mười hai cái lồng chim quây báo ẩm ướt treo trên rui nhà. Làm mặt can trường anh xông vào cái mùi chua lòm của bọn vẹt đuôi dài, và mùi hương riêng của ông bà tôi, một hỗn hợp thuốc diệt mối với thuốc hasit7. Anh khéo len qua cái bàn chất đầy sách vở với bộ sưu tập đĩa nhạc dân gian Hy Lạp rebetiko của ông nội. Cuối cùng, va vào ghế Ottoman da và cái bàn cà phê mặt tròn bằng đồng, anh tìm thấy giường ông bà, và dưới gậm giường, cái hộp tằm.

Được tạc từ gỗ ôliu, chỉ nhỉnh hơn hộp giày một chút, cái hộp có nắp bằng thiếc đục những lỗ thông hơi nhỏ xíu và dát hình một vị thánh chả nhận ra được là ai. Mặt vị thánh đã mòn, nhưng những ngón trên bàn tay phải thì giơ lên ban phước cho một cây dâu tằm màu tím, thấp tè, vẻ siêu ngạo mạn. Sau khi đờ đẫn nhìn hình ảnh thực vật sinh động này mất một lúc, Chương Mười Một bèn kéo cái hộp trong gậm giường rồi mở ra. Bên trong là hai vòng hoa cưới được tết từ dây thừng và hai bím tóc dài cuộn lại như con rắn, mỗi bím đều thắt ruy băng đen nhàu nhĩ. Anh chọc ngón trỏ vào bím tóc. Đúng lúc đó một con vẹt quác mồm gào toáng làm ông anh tôi giật nảy người, anh bèn đóng hộp lại, kẹp vào nách, đoạn mang xuống lầu cho Desdemona.

Bà vẫn đợi ở bậu cửa. Cầm lấy hộp tằm từ tay anh, bà quay lại bếp. Đến lúc này Chương Mười Một mới được thấy trọn căn phòng, nơi đồng loạt các mẹ các chị tự dưng im bặt. Họ dịch sang bên để Desdemona đi qua và ngay giữa tấm lót sàn là bà bô tôi. Tessie Stephanides ngồi ngả người ra ghế ăn, mình bẹp dí dưới cái bụng chửa to đùng căng như mặt trống. Khuôn mặt bà, đỏ hồng và nóng bừng, lộ vẻ bơ phờ nhưng vui sướng. Desdemona đặt hộp tằm lên bàn bếp rồi mở ra. Bà luồn tay xuống dưới vương miện với bím tóc lấy ra thứ mà Chương Mười Một không nhìn thấy: cái thìa bằng bạc. Bà buộc mẩu dây vào cán thìa. Đoạn bà chúi tới giơ cái thìa lên trên cái bụng căng phồng của bà bô tôi. Và, cũng chính là lên trên tôi.

Cho đến lúc này Desdemona vẫn giữ được kỷ lục hoàn hảo: hai mươi ba lần dự đoán chính xác. Bà đã biết Tessie sẽ là Tessie. Bà đoán giới tính của anh tôi cùng tất thảy con cái bạn bè ở nhà thờ. Đứa duy nhất bà không đoán giới tính là con bà, bởi người mẹ mà đi thăm dò chính tử cung đầy bí ẩn của mình là chuyện xui xẻo. Tuy vậy, bà chẳng ngại thăm dò tử cung bà bô tôi. Sau chút lưỡng lự ban đầu, cái thìa đánh mình từ Bắc sang Nam, thế nghĩa là tôi sẽ là bé trai.

Chân giạng tè he trên ghế, bà bô tôi cố nặn ra một nụ cười. Bà không muốn có con trai. Bà có một đứa rồi. Thực ra bà chắc mẩm tôi sẽ là con gái đến độ chỉ chọn cho tôi mỗi một cái tên: Calliope. Nhưng khi bà tôi hét lên bằng tiếng Hy Lạp, “Con trai!” thì tiếng hét lan khắp phòng, ra ngoài hành lang, xuyên qua hành lang vào phòng khách nơi cánh đàn ông đang tranh cãi chuyện chính trị chính em. Thế là bà bô, nghe từ đó vang đi vang lại quá nhiều lần, bắt đầu tin biết đâu là con trai thật.

Tuy vậy, ngay sau khi tiếng hét lọt tới tai ông bô tôi, ông khệnh khạng vào phòng bảo với bà nội rằng, ít nhất lần này cái thìa của bà sai rồi. “Mày dựa vào cái gì mà tinh tướng thế ?” Desdemona hỏi ông.

Thế là ông đáp lại bằng cái câu nhiều người Mỹ thế hệ ông vận tới:

“Dựa vào khoa học bu ạ.”

Kể từ lúc họ quyết định có thêm đứa nữa – nhà hàng làm ăn tốt với cả Chương Mười Một đã thôi bỉm biếc từ lâu – Milton và Tessie nhất trí họ muốn có con gái. Chương Mười Một vừa lên năm. Cách đó ít lâu anh vớ được con chim chết ngoài sân bèn mang luôn vào nhà cho mẹ xem. Anh mê bắn biếc, dùng búa nện niếc, nghiền nghiếc, và vật lộn với bố. Trong gia đình rặt đàn ông như thế, Tessie dần thấy lạc lõng vì mỗi mình là phụ nữ và hình dung mười năm tới sẽ bị giam hãm trong cái thế giới của các kiểu ốp mâm xe với bệnh thoát vị. Bà mơ có con gái để cân bằng quyền lực: cùng là đồng bọn yêu chó cảnh, cùng ủng hộ đề nghị đi xem chương trình trượt băng nghệ thuật Ice Capades. Mùa xuân năm 1959, khi chuyện bàn bạc thụ thai tôi diễn ra, bà bô tôi không tiên lượng được việc chẳng bao lâu sau hàng nghìn phụ nữ rồi sẽ đốt sạch xu chiêng của họ. Xu chiêng của bà độn bông, cứng ngắc, lại khó cháy. Dù rất yêu con trai, Tessie biết có những chuyện bà chỉ chia sẻ được với con gái mà thôi.

Sáng sáng khi chạy xe đi làm, ông bô tôi thấy ảo ảnh một bé gái bé bỏng mắt đen láy dễ thương vô bờ bến. Nó ngồi trên ghế cạnh ông – hiện lên hầu hết vào lúc chờ đèn đỏ – đặt câu hỏi cho cái tai kiên nhẫn biết tuốt của ông. “Bố ơi cái đó gọi là gì ạ?” “Cái đó à? Đó là huy hiệu hãng Cadillac con ạ.” “Huy hiệu Cadillac là gì ạ?” “Chà, hồi xưa, có một nhà thám hiểm người Pháp tên là Cadillac, và ông chính là người phát hiện ra Detroit. Đó là huy hiệu của gia tộc ông ấy, ở Pháp.” “Pháp là gì ạ?” “Pháp là một quốc gia ở châu Âu.” “Châu Âu là gì ạ?” “Là một lục địa, giống một miếng đất bự, bự hơn một quốc gia rất rất nhiều. Nhưng không phải chỉ châu Âu mới có xe Cadillac nữa đâu, kukla8ạ. Ngay trên nước Mỹ cổ xưa tốt lành này đã sản xuất ra nó rồi con ạ.” Đèn xanh bật lên, ông lái xe đi. Nhưng cái vật mẫu cho tôi ấy vẫn nấn ná lại. Nó hiện ra ở trạm đèn đỏ tiếp theo rồi tiếp theo nữa. Được đồng hành với nó dễ chịu đến mức ông bô tôi, một người đàn ông óc tuyền sáng kiến, quyết định xem mình có thể biến ảo ảnh thành hiện thực không.

Vì thế thời gian gần đây, trong phòng khách nơi cánh đàn ông vốn hay bàn bạc chuyện chính trị, họ cũng bắt đầu bàn về tốc độ tinh trùng. Peter Tatakis, “chú Pete,” bọn tôi vẫn gọi vậy, là thành viên đứng đầu câu lạc bộ tranh biện được thành lập hằng tuần trên ghế xô pha đôi màu đen nhà chúng tôi. Độc thân cả đời, chú chả có họ hàng thân thích gì ở Mỹ cả nên đâm ra gắn bó với gia đình tôi. Chủ nhật nào chú cũng lái con Buick màu đỏ thẫm đến chơi, cao lớn, mặt quắt lại vẻ buồn bã, nhưng trên đầu tóc tai lại xoăn tít đầy sức sống. Chú chả thiết gì chuyện con cái. Vốn ủng hộ xê ri Những Đại Danh Tác – đã nghiền những hai lần – chú Pete chỉ quan tâm tới những tư tưởng nghiêm túc với cả opera Ý. Trong lĩnh vực lịch sử, chú mê sử gia Edward Gibbon9, còn trong lĩnh vực văn chương là những ghi chép của Madame de Staël10. Chú khoái trích dẫn ý kiến của quý bà dí dỏm đó về ngôn ngữ Đức, rằng tiếng Đức dùng đối thoại không hợp vì ta phải chờ đến cuối câu mới nghe được động từ, nên chả thể nào cắt ngang được. Chú Pete từng muốn trở thành bác sĩ, nhưng “tai ương” đã bóp chết ước mơ đó. Ở Mỹ, chú mài đũng quần hai năm ở trường dạy nắn khớp xương, và giờ đây quản lý phòng khám nhỏ ở thành phố Birmingham với bộ xương người vẫn chưa trả góp xong. Hồi đó, thiên hạ không tin tưởng mấy một người nắn xương. Người ta chả đến chỗ chú Pete để phóng xuất năng lượng hỏa xà kundalini. Chú bẻ cổ, nắn thẳng xương sống, và làm đệm độn vòm bàn chân từ cao su xốp. Dẫu vậy, vào những buổi chiều Chủ nhật thời kỳ đấy, trong số những vị khách đến nhà tôi, chú vẫn là người đạt gần đến tầm của một bác sĩ nhất. Khi còn trẻ, chú phẫu thuật cắt bỏ nửa dạ dày, và giờ đây cứ sau bữa tối là lại làm một lon Pepsi cho tiêu cơm. Cái thức uống nhẹ này được đặt tên từ enzyme pepsin giúp tiêu hóa, chú bảo với chúng tôi vẻ thông thái, thành thử nó hợp với vai trò đó.

Chính cái kiểu kiến thức này khiến ông bô tôi tin sái cổ những gì chú Pete nói khi bàn chuyện liên quan tới kế hoạch sinh sản. Đầu ngả vào gối dựa, chân không mang giày, bản opera Madama Butterfly bật khe khẽ trên dàn, chú Pete giải thích rằng dưới kính hiển vi tinh trùng mang nhiễm sắc thể giai bơi nhanh hơn tinh trùng mang nhiễm sắc thể gái. Nhận định này ngay lập tức làm cho mấy ông chủ nhà hàng với thợ hoàn thiện đồ lông thú11 tụ tập ở phòng khách nhà tôi hồ hồ hởi hởi. Tuy nhiên, ông bô lại chơi một kiểu ngồi giống bức tượng Người suy tư12 mà ông rất yêu thích và có một bức mini đặt trên bàn điện thoại phía bên kia phòng. Mặc dù chủ đề này được đưa ra trong không khí tự do cởi mở sau bữa tối Chủ nhật, và cung cách thảo luận không có gì ám chỉ cá nhân, nhưng ai cũng biết tỏng, con tinh trùng mọi người đang bàn tán chính là của ông bô tôi. Chú Pete nói rõ ràng: để có con gái, vợ chồng nên “quan hệ tình dục hai mươi tư giờ trước khi trứng rụng.” Bằng cách đó, tinh trùng trai nhanh nhạy hơn bươn bả đâm bổ tới mà chết sạch. Tinh trùng gái, chậm chạp nhưng đáng tin hơn, sẽ đến đúng lúc trứng rụng.

Cụ giai nhà tôi khó lòng thuyết phục được cụ gái làm theo kế hoạch đó. Tessie Zizmo là trinh nữ khi kết hôn với Milton Stephanides ở tuổi hai mươi hai. Giai đoạn đính hôn, trùng với Đệ nhị Thế chiến, là thời kỳ mà cả hai vẫn còn trinh trắng. Bà tự hào vì đã thành công khi cùng lúc vừa nhen nhóm vừa kìm giữ ngọn lửa của ông bô, khiến ông luôn ở trạng thái ham muốn vừa phải trong suốt cơn biến động toàn cầu. Tuy vậy, chuyện này chả khó khăn mấy bởi bà ở mãi Detroit còn Milton ở tận Annapolis trong Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Suốt hơn một năm, Tessie thắp nến thánh ở nhà thờ Hy Lạp cầu nguyện cho chồng chưa cưới, còn Milton thì ngắm ảnh bà kẹp ở đầu giường. Ông ưa sắp đặt cho Tessie bắt chước các tư thế trên tạp chí điện ảnh, nghiêng người, gót giày kiễng lên bậc, hở đoạn tất đen. Bà bô tôi nom ngoan ngoãn kỳ lạ trong những bức ảnh cũ này, như thể không khoái gì hơn khi được người đàn ông mặc quân phục của mình bố trí cho đứng dựa vào cổng nhà và cột đèn đường ở khu phố nghèo họ sống.

Bà không chịu đầu hàng cho đến khi Nhật đầu hàng. Rồi, từ đêm tân hôn trở đi (theo như những gì ông anh kể vào đôi tai bịt chặt của tôi), ông bà bô làm tình đều đặn và đê mê. Tuy vậy, khi đụng đến chuyện sinh con đẻ cái thì bà lại có chủ kiến riêng. Bà tin rằng bào thai cảm nhận được lượng tình yêu tạo ra lúc thụ thai. Thành thử, gợi ý của ông bô không được bà đồng tình cho lắm.

“Anh nghĩ chuyện này là gì hả Milt, đi thi thế vận hội Olympic à?” “Mình chỉ đang nói về mặt lý thuyết thôi mà em,” ông nói.

“Chú Pete thì biết quái gì chuyện đẻ đái chứ?”

“Chú ấy đọc bài báo đó trên tạp chí Khoa học thường thức Hoa Kỳ đấy,” Milton nói. Rồi để cho lập luận vững chắc hơn: “Chú đặt báo này dài hạn đấy.”

“Nghe này, nhỡ lưng bị lệch, em sẽ đi khám chú Pete. Nếu chân bẹt như chân anh, em cũng sẽ đi khám. Nhưng chỉ thế thôi.”

“Chuyện này đã được kiểm chứng. Dưới kính hiển vi. Tinh trùng giai bơi nhanh hơn.”

“Em cá bọn nó cũng ngu hơn đó.”

“Cứ nói tiếp đi. Nói xấu tinh trùng giai bao nhiêu tùy em. Thoải con gà mái đi. Mình đâu có muốn tinh trùng trai. Thứ mình muốn là một tinh trùng gái già, chậm rãi, đáng tin.”

“Dẫu chuyện kia có thật thì vẫn rất lố bịch. Em đâu thể cứ thế mà làm như cái máy được, Milt ạ.”

“Anh thì còn khó hơn em ấy chứ.”

“Em không muốn nghe nữa.”

“Anh cứ tưởng em muốn có con gái.”

“Em muốn có con gái chứ.”

“Chậc,” ông nói, “thế thì đây là cách để mình có con gái đấy.”

Tessie cười trừ, đoạn gạt phăng đề xuất này. Nhưng đằng sau lời chế nhạo của bà là nỗi e dè rất nghiêm túc về mặt đạo lý. Can thiệp vào chuyện bí ẩn và kỳ diệu như sinh nở là hành động xấc xược. Trước hết, Tessie không tin ta làm được chuyện đó. Mà dù có làm được, bà cũng tin ta không nên thử.

Dĩ nhiên, một người kể chuyện ở vị thế của tôi (còn chưa hoài thai vào thời điểm đó) làm sao mà biết chắc như đinh đóng cột những chuyện này. Tôi chỉ có thể giải thích cơn cuồng khoa học ông bô bị nhiễm hồi mùa xuân năm 59 là triệu chứng của thứ niềm tin đang sinh sôi rồi sẽ làm cả thiên hạ lây nhiễm hồi đó. Xin nhớ cho rằng, vệ tinh Sputnik vừa mới được phóng chỉ hai năm trước đó. Bệnh bại liệt bắt ông bà bô ở rịt trong nhà suốt bao tháng hè lúc còn nhỏ đã bị vắc xin Salk chế ngự. Thiên hạ đâu thể ngờ bọn virus thông minh hơn con người, cứ tưởng rằng chẳng chóng thì chầy bọn nó sẽ thuộc về quá khứ không bao giờ nảy nòi ra lần nữa. Ở cái nước Mỹ hậu chiến đầy lạc quan đó, mà tôi vớt vát được giai đoạn cuối, ai cũng là ông chủ số phận của chính mình, vì thế dĩ nhiên ông bô tôi sẽ cố trở thành ông chủ số phận mình.

Vài ngày sau khi đề cập kế hoạch với Tessie, một tối nọ Milton về nhà mang theo một món quà. Một hộp trang sức có thắt nơ.

“Ý đồ gì đây?” Tessie nghi ngờ hỏi.

“Ý em là sao, sao lại ý đồ gì đây?”

“Hôm nay không phải sinh nhật em. Không phải kỷ niệm ngày cưới. Thế lý do gì anh lại tặng quà cho em?”

“Chả nhẽ phải có lý do thì anh mới được tặng quà cho em à? Nào, em mở ra đi.”

Tessie bán tín bán nghi nhếch một khóe miệng. Nhưng thật khó lòng không mở hộp trang sức khi nó nằm sờ sờ trên tay. Vì thế cuối cùng bà cũng tháo nơ rồi mở hộp ra.

Trong hộp, trên nền nhung đen, là cái cặp nhiệt độ.

“Cặp nhiệt độ à,” bà bô tôi nói.

“Không phải cặp nhiệt độ tầm thường đâu nhé,” Milton nói. “Phải đi đến ba tiệm thuốc mới tìm được loại này đấy.”

“Loại đắt tiền hả?”

“Đúng thế,” Milton nói. “Loại này gọi là nhiệt kế đo nhiệt độ cơ bản. Nó đo nhiệt độ nhạy tới từng một phần mười độ.” Ông nhướn mày lên. “Nhiệt kế bình thường chỉ đo được hai phần mười thôi. Cái này là một phần mười đấy. Em thử xem. Ngậm vào mồm ấy.” “Em đâu có bị sốt,” Tessie nói.

“Không phải để xem có bị sốt không. Em dùng để xem nhiệt độ cơ thể lúc nghỉ ngơi thấp nhất là bao nhiêu. Loại này chính xác và chuẩn hơn nhiệt kế thông thường dùng khi bị sốt.”

“Lần sau mua cho em sợi dây chuyền nhé.”

Nhưng Milton không từ bỏ: “Nhiệt độ cơ thể thay đổi thường xuyên, Tess ạ. Mình không nhận thấy được, nhưng đúng là vậy. Nhiệt độ trong người lên xuống liên tục. Chẳng hạn như” – ông ho khẽ – “tình cờ nếu em rụng trứng. Thì nhiệt độ của em tăng lên. Sáu phần mười độ, hầu hết đều vậy. Bây giờ,” ông nói tiếp, hào hứng hơn, không nhận thấy vợ đang cau mày, “nếu thực thi cái kế hoạch hôm nọ – chỉ là ví dụ thôi, việc mình làm trước tiên là đo nhiệt độ cơ bản của em. Có thể không phải 37 độ C. Nhiệt độ mỗi người đều khác nhau một chút. Cái này anh cũng học được từ chú Pete đấy. Một khi xác định nhiệt độ cơ bản rồi, em tìm xem lúc nào nhiệt độ tăng lên sáu phần mười độ. Khi đó, nếu em chịu, thì khi đó là lúc mình biết cần phải, em biết đấy, pha cốc tai.”

Bà chả ừ hữ gì. Bà chỉ đặt cái cặp nhiệt độ vào hộp, đóng nắp, đoạn đưa lại cho chồng.

“Được rồi,” ông nói. “Được thôi. Tùy em. Mình sẽ lại dính thêm thằng cu. Đứa thứ hai. Nếu em muốn như vậy thì sẽ là như vậy.”

“Em chả dám chắc lúc này dính diếc được cái gì đâu anh ạ,” bà đáp.

Trong lúc đó, tại phòng nghỉ trước khi lên sân khấu cuộc đời, tôi đợi. Một tia hy vọng lẻ loi trong mắt ông bô tôi còn chưa có (ông đang âu sầu nhìn xuống cái hộp đựng nhiệt kế trên đùi). Lúc này bà bô đứng dậy từ cái gọi là xô pha đôi. Bà đi về phía cầu thang, tay sờ lên trán, và khả năng tôi ra đời dường như càng lúc càng mờ mịt. Lúc này ông đứng dậy đi quanh nhà kiểm tra, tắt đèn, khóa cửa. Khi ông lên lầu, hy vọng cho tôi lại bùng lên. Thời điểm cho việc đó phải cực kỳ chuẩn xác để tôi trở thành con người tôi như bây giờ. Chỉ cần trì hoãn hành động một tiếng đồng hồ thôi là sẽ thay đổi lựa chọn gen. Việc tôi được thụ thai còn nhiều tuần nữa mới xảy ra, nhưng ông bà bô tôi đã bắt đầu quá trình va chạm dần dần. Ngoài hành lang trên lầu, cái đèn ngủ Acropolis đang thắp sáng, đó vốn là quà của Jackie Halas, chủ cửa hàng đồ lưu niệm. Bà bô đang ngồi ở bàn trang điểm lúc ông vào phòng ngủ. Bà dùng hai ngón tay xoa kem rửa mặt Noxzema lên mặt, xong lấy khăn giấy chùi đi. Ông chỉ cần thốt một lời âu yếm là bà tha thứ luôn. Không phải tôi mà có lẽ một đứa giông giống tôi sẽ được tạo ra vào đêm hôm đó. Một số vô hạn những cá thể có khả năng tồn tại tụ tập ở ngưỡng cửa, tôi đứng với bọn nó mà chả có tấm vé đảm bảo nào, thời giờ chậm chạp trôi, những hành tinh trên trời quay với tốc độ như thường lệ, thời tiết cũng góp phần mình, bởi vì bà bô sợ sấm và sẽ phải rúc vào ông bô nếu đêm đó trời mưa. Nhưng không, trời quang mây đãng, như sự bướng bỉnh của hai cụ vậy. Đèn phòng ngủ tắt bụp. Họ nằm yên ở phần giường mình. Cuối cùng bà nói, “Ngủ ngon.” Còn ông đáp, “Gặp em sáng mai.” Những khoảnh khắc dẫn tới sự ra đời của tôi được sắp xếp đâu ra đấy như thể được ra sắc lệnh. Ắt hẳn đó là lý do vì sao tôi lại ngẫm ngợi về thời khắc đó nhiều đến thế.

Chủ nhật tuần sau đó, bà bô đưa Desdemona với anh tôi đi nhà thờ. Ông bô tôi chưa bao giờ đi cùng, lúc lên tám ông đã đứng vào hàng ngũ những kẻ vô thần vì nến thánh đắt cắt cổ. Tương tự, sáng sáng ông nội tôi thích ở nhà dịch sang tiếng Hy Lạp hiện đại những bài thơ đã được “phục hồi” của thi sĩ Sappho. Bảy năm sau đó, mặc dù liên tiếp bị đột quỵ, ông nội vẫn làm việc ở cái bàn nhỏ, ghép từng mẩu huyền thoại thành bức tranh khảm lớn, thêm đoạn giữa chỗ này, đoạn cuối chỗ kia, gắn vần chân hay nhịp iambus. Tối tối ông vừa nghe loại nhạc hay được chơi trong nhà thổ vừa hút shisha.

Năm 1959, Nhà thờ Chính thống Hy Lạp Đức Mẹ Lên Trời nằm trên phố Charlevoix. Chính tại nơi đó chưa đầy một năm sau tôi sẽ được rửa tội và nuôi nấng theo Chính thống giáo13. Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời, với những linh mục đứng đầu lần lượt thay phiên do Tòa Thượng phụ ở Constatinople cử tới, ai mới đầu đến cũng có bộ râu sum suê quyền lực, bộ lễ phục thêu thiêng liêng, nhưng sau một thời gian đều kiệt quệ sạch – theo quy luật là sáu tháng – bởi cộng đoàn cứ quàng quạc suốt ngày, lại còn chê bai đả kích linh mục hát thánh ca không hay, rồi linh mục phải liên tục bắt một số phần tử giáo dân coi nhà thờ như chỗ ngồi ở Sân vận động Tiger im lặng, và cuối cùng, mỗi tuần phải gắng sức mà giảng một bài kinh hai lần, ban đầu bằng tiếng Hy Lạp rồi cũng bài đó bằng tiếng Anh. Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời, với những giờ uống cà phê rộn ràng, cơ sở tồi tàn với mái nhà dột nát, những lễ hội văn hóa công phu vất vả, những lớp học giáo lý nơi di sản được gìn giữ chốc lát trong chúng tôi trước khi được phép tiêu tán trong cuộc lưu vong vĩ đại. Tessie với hai bà cháu tiến xuống lối đi giữa các dãy ghế ở giữa nhà thờ, đi qua những khay cát đựng nến thánh. Phía trên cao, to đùng đoàng như bong bóng thú trong Lễ diễu hành Ngày lễ Tạ ơn của tập đoàn Macy14, là Chúa Ban Phước Lành. Người ông cong cong uốn trên không gian mái vòm. Không giống những vị Chúa Jesus trần tục khổ sở được họa ngang tầm mắt người nhìn trên các bức tường trong nhà thờ, vị Chúa Ban Phước Lành của chúng tôi rõ là siêu phàm, đầy quyền năng, lừng lững trên thiên đường. Người đang nhoài xuống đưa bốn cuộn da cừu có ghi Phúc âm cho các tông đồ phía trên bàn thờ. Còn bà bô tôi, suốt đời cố tin Chúa mà chẳng mảy may thành công, ngước lên người tìm lời dìu dắt.

Cặp mắt Chúa Ban Phước Lành nhấp nháy trong ánh sáng mờ ảo. Chúng như hút Tessie lên cao. Qua khói hương trầm đang cuộn lên, đôi mắt Đấng Cứu Thế sáng rực lên như những cảnh chiếu chớp nhoáng các sự kiện vừa xảy ra trên tivi…

Đầu tiên là bà Desdemona tuần trước khuyên nhủ con dâu. “Đẻ thêm làm gì hả Tessie?” bà hỏi với vẻ cố tình thản nhiên. Cúi xuống ngó vào cái lò nướng nhằm giấu đi vẻ hoang mang trên mặt (cái vẻ hoang mang mãi đến mười sáu năm sau ta mới hiểu được), Desdemona gạt ý tưởng đó đi. “Thêm con thêm rắc rối chứ được cái gì…”

Tiếp đó là bác sĩ Philobosian, vị bác sĩ già của gia đình. Với những tấm bằng cổ lỗ sĩ sau lưng, vị đốc tờ già phán: “Vớ vẩn. Tinh trùng nam bơi nhanh hơn á? Nghe này. Người đầu tiên nhìn thấy tinh trùng dưới kính hiển vi là nhà khoa học Leeuwenhoek. Cô có biết với ông ta trông chúng giống cái gì không? Giống giun đấy…”

Rồi lại Desdemona, trình bày một góc nhìn khác: “Chúa quyết định trai hay gái. Không phải con…”

Những cảnh này lướt qua đầu bà bô trong suốt buổi giảng kinh tràng giang đại hải ngày Chủ nhật. Cộng đoàn nhấp nhổm đứng lên rồi ngồi xuống. Ngồi ở hàng ghế phía trước, mấy đứa em họ tôi, Socrates, Plato, Aristotle, và Cleopatra, ngọ nguậy không yên. Cha Mike xuất hiện từ phía sau bức tường có hình những vị thánh và vung bình hương. Bà cố cầu nguyện nhưng chẳng ích gì. Bà thoi thóp tới giờ uống cà phê.

Từ cái tuổi mười hai thơ ngây, bà bô tôi đã chẳng tài nào khởi sự ngày mới mà không có sự trợ giúp của ít nhất hai tách cà phê đen đặc không đường, cái sở thích bà học được từ mấy tay thuyền trưởng tàu lai kéo và mấy thằng cha độc thân ăn mặc hoa hòe hoa sói đầy rẫy ở nhà trọ nơi bà lớn lên. Khi còn học cấp ba, cao một mét năm lăm, bà ngồi cạnh đám công nhân nhà máy ôtô ở quán ăn góc phố, uống cà phê trước tiết học đầu tiên. Trong khi họ lướt xem tỉ số cá độ đua ngựa trên báo, Tessie làm xong bài tập về nhà môn giáo dục công dân. Lúc này đây, dưới tầng hầm trong nhà thờ, bà bảo Chương Mười Một chạy ra ngoài chơi với bọn trẻ con để bà uống tách cà phê cho tỉnh táo.

Bà đang uống tách thứ hai thì một giọng dịu dàng nữ tính thổi vào tai bà. “Chào buổi sáng, Tessie.” Đó là em rể bà, Cha Michael Antoniou.

“Chào Cha Mike. Buổi lễ hôm nay cảm động quá,” Tessie nói rồi ngay lập tức hối hận. Cha Mike là phó tế ở Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời.

Khi vị linh mục gần đây nhất ra đi, quay về Athens chỉ sau vẻn vẹn có ba tháng, cả gia đình hy vọng Cha Mike sẽ được thăng chức. Nhưng cuối cùng, một linh mục mới người nước ngoài, Cha Gregorios lại được vị trí đó. Cô Zo, chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào để than van về cuộc hôn nhân của mình, thốt lên tại bữa tối bằng giọng nữ diễn viên hài kịch, “Chồng tôi. Lúc nào cũng làm phù dâu chớ chưa bao giờ được làm cô dâu.”

Khi khen ngợi buổi lễ, Tessie không hề có ý khen ngợi Cha Greg. Tình huống còn nhạy cảm hơn nữa bởi nhiều năm trước đây Tessie với Michael Antoniou đã đính hôn với nhau. Giờ đây bà kết hôn với Milton còn Cha Mike thì lại cưới em gái Milton. Tessie xuống dưới này để đầu óc được thư thái uống cà phê vậy mà chưa gì ngày hôm đó đã trở nên tồi tệ không kiểm soát nổi.

Dẫu vậy, Cha Mike có vẻ không để tâm đến chuyện coi thường này. Ông đứng cười, đôi mắt dịu dàng trên chòm râu xồm xoàm như thác nước đang gào thét. Vốn lành tính, Cha Mike rất được lòng đám bà góa đi lễ. Họ ưa túm tụm quanh ông, mời ông ăn bánh và tắm mình trong bản chất phước lành của ông. Một phần của bản chất này sinh ra từ lòng mãn nguyện tuyệt đối của Cha Mike dù ông chỉ cao có một mét sáu ba. Vẻ ngoài thấp bé có sự hào phóng riêng của nó, như thể ông san sẻ bớt chiều cao của mình cho người khác. Dường như ông đã tha thứ cho Tessie cái tội hủy hôn với ông nhiều năm trước, nhưng trong không khí giữa hai người vẫn luôn tồn tại cái gì đó, như cái thứ phấn rôm thỉnh thoảng bay ra từ cổ áo linh mục.

Mỉm cười, cẩn thận cầm tách cà phê với đĩa, Cha Mike hỏi, “Tessie, cả nhà khỏe không em?”

Dĩ nhiên bà biết, vốn là vị khách tuần nào cũng đến nhà tôi vào Chủ nhật, Cha Mike đã được nghe trọn vẹn kế hoạch canh trứng nhờ đo nhiệt độ. Dòm vào mắt ông, bà nghĩ mình dò ra vẻ khoái chí.

“Kiểu gì hôm nay anh lại chả ghé qua nhà em,” bà nói vẻ vô tư. “Được xem tận mắt nhé.”

“Anh mong đến chơi lắm,” Cha Mike nói. “Nhà em lúc nào cũng có chuyện xôm hết.”

Tessie lại nhìn vào mắt Cha Mike nhưng nó dường như tràn ngập vẻ ấm áp chân thành. Rồi có chuyện xảy ra khiến bà tuyệt nhiên không để tâm gì tới Cha Mike nữa.

Phía bên kia phòng, Chương Mười Một trèo lên ghế để với lấy vòi bình cà phê. Anh cố rót một tách, ngặt nỗi mở được vòi rồi mà không đóng lại được. Cà phê nóng bỏng tung tóe khắp bàn. Cái thứ nước nóng rẫy ấy bắn lên người một con bé đứng ngay cạnh đấy. Con bé nhảy bật ra sau. Mồm nó há hốc, nhưng không thốt ra tiếng nào cả.

Bà bô tôi lao vụt qua phòng lật đật đưa con bé vào phòng vệ sinh nữ.

Không ai nhớ tên con bé đó. Nó chả phải con cái nhà nào hay đi lễ thường xuyên. Nó còn chả phải dân Hy Lạp. Nó xuất hiện ở nhà thờ đúng vào ngày hôm đó rồi không bao giờ quay lại, và dường như chỉ tồn tại cho một mục đích duy nhất là làm bà bô tôi đổi ý. Trong phòng vệ sinh, con bé cởi ngay cái áo đang bốc hơi ra còn Tessie thì mang khăn ướt tới.

“Con có sao không cưng? Có bị bỏng không?”

“Thằng đó vụng về thế không biết,” con bé nói.

“Ừ. Chuyện gì nó cũng dính vào.”

“Bọn con trai thật bất trị.”

Tessie mỉm cười. “Vốn từ của con cũng ghê nhỉ.”

Nghe lời khen này con bé cười toét miệng. “‘Bất trị’ là từ yêu thích của con. Anh trai con rất bất trị. Tháng trước con mê từ ‘lằng nhằng’. Nhưng ta không dùng được từ ‘lằng nhằng’ trong nhiều trường hợp. Nghĩ cho kỹ thì nhiều thứ không thể nào dùng từ ‘lằng nhằng’ được.”

“Con nói đúng,” Tessie vừa cười vừa nói. “Nhưng bất trị thì dùng đâu cũng được cả.”

“Cô nói quá chuẩn luôn,” con bé nói.

Hai tuần sau. Chủ nhật lễ Phục sinh năm 1959. Việc trung thành bám trụ vào lịch Julius15 một lần nữa lại khiến nhà tôi lạc nhịp với toàn bộ khu dân cư chung quanh. Chủ nhật hai tuần trước, anh tôi ngó bọn trẻ con hàng xóm đi săn trứng đủ màu trong bụi cây. Anh nhìn bạn bè ăn đầu thỏ bằng sô cô la và nốc cả vốc kẹo dẻo vào cái mồm tuyền răng sâu. (Đứng dòm từ cửa sổ, ông anh trai không muốn gì hơn là được tin một vị Chúa người Mỹ sống lại đúng ngày.) Đến tận hôm qua Chương Mười Một mới được phép nhuộm trứng, mà rồi chỉ được mỗi một màu đỏ16. Khắp nhà trứng đỏ ánh lên dưới những tia nắng dài ngày hạ chí. Trứng đỏ đầy ụp trong đống bát trên bàn ăn. Chúng treo trong túi nhỏ trên những khung cửa. Chúng nằm khắp bệ lò sưởi và được nướng thành ổ bánh mì tsoureki hình thánh giá.

Nhưng lúc này là chiều muộn; cả nhà đã ăn tối xong. Còn ông anh tôi thì đang cười mỉm. Bởi vì bây giờ tới phần trong lễ Phục sinh của Hy Lạp mà anh mê hơn trò săn trứng với kẹo dẻo: chơi chọi trứng. Cả nhà quây quần ở bàn ăn. Cắn môi, Chương Mười Một chọn một quả trứng trong bát, săm soi rồi bỏ lại. Anh chọn quả khác. “Quả này trông được đây,” Milton vừa nói vừa chọn trứng. “Cứng như đá nhé.” Milton giơ quả của mình lên. Chương Mười Một lăm le tấn công. Đúng lúc đó bà bô bỗng vỗ lên lưng ông bô. “Đợi tí nào Tessie. Bố con anh đang chọi trứng mà.” Bà đập vào lưng ông mạnh hơn.

“Sao thế?”

“Nhiệt độ cơ thể em.” Bà ngập ngừng. “Tăng sáu phần mười rồi.”

Bà dùng cái cặp nhiệt độ đã được ít lâu. Đây là lần đầu tiên ông bô tôi nghe chuyện này.

“Bây giờ á?” ông thì thầm. “Chúa ơi, Tessie, em chắc chứ?”

“Em chả biết. Anh bảo em canh khi nào nhiệt độ tăng lên nên em đang bảo với anh là tăng lên sáu phần mười độ rồi.” Đoạn hạ thấp giọng, “Với cả đã mười ba ngày kể từ lần cuối cái mà anh biết là cái gì rồi đấy.”

“Nào bố,” Chương Mười Một nài nỉ.

“Tạm dừng,” Milton bảo. Ông bỏ trứng vào gạt tàn. “Trứng của tôi đấy nhé. Không ai được đụng vào cho tới khi tôi quay lại đâu đấy.”

Trên lầu, tại phòng ngủ chính, ông bà bô hoàn thành nhiệm vụ.

Sự ngượng nghịu tự nhiên của một đứa trẻ ngăn tôi không tưởng tượng chi tiết cảnh đó. Chỉ có thế này: sau khi xong xuôi, như thể chốt hạ, ông bô nói, “Thế chắc là ổn.” Hóa ra ông đúng thật. Đến tháng Năm, Tessie phát hiện mình có thai, thế là quá trình chờ đợi bắt đầu.

Sáu tuần tuổi tôi có mắt với tai. Được bảy tuần tuổi thì có mũi, cả môi nữa. Cơ quan sinh dục ngoài bắt đầu hình thành. Hoóc môn bào thai, nhận tín hiệu từ nhiễm sắc thể, ức chế các ống Müllerian, kích thích các ống Wolffian. Khi papou17đặt tay lên bụng bà bô bảo, “Đứa thứ hai may mắn nhé!” thì hai mươi ba cặp nhiễm sắc thể tiếp hợp rồi trao đổi đoạn, quay tít cái cò quay roulette. Sắp xếp theo đoàn, gen của tôi thực thi mệnh lệnh nhận được. Tất cả trừ hai đứa – một cặp vô lại – hay là nhà cách mạng, tùy quan điểm của bạn – lỉnh đi trên nhiễm sắc thể số 5. Cùng nhau, chúng rút mất một enzyme, tức là làm một loại hoóc môn bị ngừng sản xuất, tức làm đời tôi trở nên rắc rối.

Trong phòng khách, cánh đàn ông đã thôi bàn chuyện chính trị mà chuyển sang cá độ xem đứa con sắp ra đời của Milt là giai hay gái. Ông bô tôi rất tự tin. Hai mươi tư tiếng sau hành động đó, nhiệt độ cơ thể bà bô tăng lên thêm hai phần mười nữa, chứng tỏ trứng sắp rụng. Đến lúc đó tinh trùng giai đã mệt bở hơi tai phải bỏ cuộc. Tinh trùng gái, như bọn rùa, thắng cuộc đua. (Tại thời điểm đó Tessie đưa cho Milton cái cặp nhiệt độ và bảo bà không bao giờ muốn nhìn thấy nó nữa.)

Tất cả những chuyện này dẫn tới cái ngày Desdemona đung đưa cái thìa trên bụng bà bô tôi. Hồi đó thì làm gì đã có siêu âm; bói thìa là ngon nhất rồi. Desdemona khom người. Căn bếp im phăng phắc. Các chị em cắn môi dưới, nhìn, đợi. Phút đầu tiên, cái thìa không hề nhúc nhích. Tay Desdemona run rẩy và sau vài giây dài dằng dặc, bà Lina giữ nó đứng yên. Cái thìa xoay xoay; tôi đạp đánh phốc; bà bô rú lên. Rồi, đủng đỉnh, bị một cơn gió không ai cảm thấy đẩy đi, theo cái kiểu cầu cơ siêu nhiên bí hiểm, cái thìa bạc bắt đầu di chuyển, đánh mình, thoạt tiên là một vòng tròn nhỏ nhưng quỹ đạo dần dần thành hình ê líp cho đến khi đường đi ẹp lại thành một đường thẳng tắp từ cái lò đến ghế dài. Nói cách khác là từ Bắc tới Nam. Desdemona kêu lên, “Koros18!” Thế là những tiếng hét “Koros, koros” rộ lên khắp phòng.

Đêm hôm đó, ông bô bảo, “Hai mươi ba lần đúng liên tục rồi thì ắt hẳn lần tiếp theo trật lất. Lần này mẹ sai đứt rồi. Tin anh đi.”

“Nhỡ là con trai em cũng chả buồn đâu,” bà bô đáp. “Thực lòng ấy. Miễn nó khỏe mạnh, đầy đủ chân tay.”

“‘Nó’ nó cái gì. Em đang nói về con gái anh đấy.”

Một tuần sau năm mới tôi ra đời, vào ngày 8 tháng Giêng, năm 1960. Trong phòng đợi, chỉ có độc những điếu xì gà cột nơ hồng19, ông bô tôi hét lên, “Quá chuẩn!” Tôi là con gái. Dài nửa mét. Nặng ba cân ba.

Cũng đúng vào ngày 8 tháng Giêng năm đó, ông nội bị đột quỵ lần đầu tiên trong chuỗi mười ba cú. Bố mẹ tôi khi hối hả lao vào viện đã làm ông tỉnh giấc, vì thế ông ra khỏi giường xuống lầu pha cà phê. Một tiếng sau, Desdemona phát hiện ông nằm trên sàn bếp. Mặc dù các chức năng thần kinh không hề bị ảnh hưởng, sáng hôm đó, khi tôi cất tiếng khóc chào đời ở bệnh viện Phụ Nữ, papou của tôi không còn nói được nữa. Theo như Desdemona, ông nội ngất quỵ ngay sau khi lật úp tách cà phê để đọc vận may qua bã.

Khi biết tin tôi là trai hay gái, chú Pete không chịu nhận bất kỳ lời chúc mừng nào. Không có phép lạ gì ở đây cả. “Với cả,” chú đùa, “Milt làm từ a tới z cơ mà.” Desdemona trở nên nghiêm nghị.

Đứa con trai sinh ra ở Mỹ của bà đã đúng, và với cú thất bại mới toanh này, cố hương, mà bà vẫn nỗ lực sống ở đó mặc cho cách xa bốn ngàn dặm và ba mươi tám năm trời, lùi thêm một nấc nữa. Tôi chào đời đánh dấu kết thúc màn đoán giới tính trẻ con của bà và khởi đầu cho quá trình tụt dốc dài dặc của chồng bà. Mặc dầu thỉnh thoảng cái hộp tằm có tái xuất, nhưng cái thìa bạc không còn là bảo vật được nằm trong hộp nữa.

Tôi được lôi ra, đét đít, và xịt nước tắm rửa, đúng theo trật tự đó. Họ bọc tôi trong chăn rồi đặt nằm giữa sáu bé sơ sinh khác, bốn trai, hai gái, tất cả bọn nó, không giống tôi, đều được đeo thẻ ghi chính xác. Chuyện này nghe thì phi thực nhưng tôi nhớ rất rõ: những đốm sáng chầm chậm tràn vào làm bừng sáng màn tối.

Ai đó đã mở mắt tôi ra.


Chú thích:

  1. Lưỡng giới tính Giả là những người có tuyến sinh dục và nhiễm sắc thể là nữ tính, nhưng cơ quan sinh dục và các đặc trưng giới tính lại là nam giới (lưỡng giới tính giả nam); hoặc tuyến sinh dục và nhiễm sắc thể là nam tính, nhưng cơ quan sinh dục và các đặc trưng giới tính lại là nữ giới (lưỡng giới tính giả nữ). (Các chú thích trong bản dịch là của dịch giả.)
  2. Nhà tiên tri mù của thành Thebes trong thần thoại Hy Lạp, vốn là đàn ông, sau bị biến thành phụ nữ trong bảy năm, rồi sau đó trở lại làm đàn ông.
  3. Một tổ chức từ thiện của Mỹ với sứ mạng là cải thiện sức khỏe cho trẻ em bằng cách ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh, sinh non, tử vong ở trẻ sơ sinh.
  4. Trong bản gốc, tác giả cho nhân vật Desdemona, vốn gốc Hy Lạp, nói thứ tiếng Anh không đúng chuẩn nên sang tiếng Việt người dịch cho nhân vật nói ngọng “l” thành “n”, và nói nhầm dấu hỏi thành dấu ngã. Những chỗ như vậy trong hội thoại sẽ được in nghiêng.
  5. Tiếng Hy Lạp: bà.
  6. Tiếng Hy Lạp: của tôi.
  7. Chế biến từ cây cần sa, thường hút bằng ống shisha, gây cảm giác phê thuốc và có thể gây nghiện.
  8. Tiếng Hy Lạp: búp bê.
  9. Sử gia nổi tiếng người Anh (1737-1794), đồng thời là Nghị sĩ của Nghị viện Anh, với tác phẩm xuất sắc nhất là The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (tạm dịch: Lịch sử Suy tàn và Sụp đổ của đế quốc La Mã).
  10. Nữ sĩ văn chương xuất sắc người Pháp (1766-1817), có ảnh hưởng lớn lên Chủ nghĩa Lãng mạn châu Âu, là người chống lại Napoleon một cách gay gắt nên bị lưu đày không được phép sống ở Paris. Bà du hành Đức nhiều lần, và đất nước này là nguồn tư liệu cho tác phẩm nổi tiếng của bà, Germany (Nước Đức), nơi bà bình luận các khía cạnh khác nhau trong đời sống, con người, văn chương của nước Đức.
  11. Những người chịu trách nhiệm sửa sang, khâu vá ở khâu cuối cùng trong việc may quần áo lông thú như sửa lớp lông, chọn và khâu lớp lót, cúc, móc…
  12. Tượng Le Penseur của nhà điêu khắc nổi tiếng người Pháp Auguste Rodin khắc họa một người đàn ông ngồi chống cằm suy tư.
  13. Chính thống giáo Hy Lạp là giáo hội thuộc Chính thống giáo Đông phương – nhánh Kitô giáo lớn thứ hai sau Giáo hội Công giáo Rôma, với giám mục bậc cao nhất được gọi là Thượng phụ.
  14. Lễ diễu hành hằng năm ở thành phố New York, được coi là lớn nhất thế giới, với những con thú bóng khổng lồ từ các bộ phim hoạt hình.
  15. Tín đồ Chính thống giáo theo lịch Julius (do Julius Caesar đặt ra trước Công nguyên) nên ngày Phục sinh khác với tín đồ Công giáo theo lịch Gregorius hay còn gọi là lịch Tây.
  16. Có rất nhiều lý giải cho nguồn gốc tập tục này của Chính thống giáo: màu đỏ là màu máu trên thánh giá mà Chúa Jesus bị đóng đinh để cứu chuộc loài người, hoặc trứng đỏ tượng trưng cho ngôi mộ đá trống rỗng mà Chúa phục sinh, hoặc từ câu chuyện Mary Magdalene là người đầu tiên phát hiện ra Chúa Jesus phục sinh trong mồ đã đi đến báo cho hoàng đế La Mã, ông này không chịu tin và bảo chỉ tin nếu trứng trong rổ bên cạnh biến thành màu đỏ, và ngay lập tức trứng chuyển sang màu đỏ.
  17. Tiếng Hy Lạp: ông.
  18. Tiếng Hy Lạp: con trai.
  19. Xì gà cột nơ hồng, báo hiệu sinh con gái (theo phong tục một số nước phương Tây).

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Trích đăng

Một câu chuyện đầy cảm hứng về nghề tay trái hái ra tiền

Chris Guillebeau, qua giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước, đã truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Published

on

By

Trích từ: Cây tiền
Tác giả: Chris Guillebeau
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 4.2021

Cây tiền được viết bởi tác giả best-seller của The New York Times – Chris Guillebeau, dùng giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước để truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Sách kể câu chuyện về Jake Aarons – chàng trai trẻ đang bị khủng hoảng, cả trong đời sống tài chính lẫn tình cảm. Anh sẽ bị tống khỏi căn hộ đang thuê trong 30 ngày tới. Giữa tình cảnh ngặt nghèo, Jake tham gia một nhóm hành động gặp gỡ hàng tuần. Mỗi thành viên nhóm có nhiệm vụ chạy một mô hình kinh doanh ngoài công việc chính để kiếm thêm thu nhập, với điều kiện: chi càng ít vốn càng tốt trước khi mô hình kiếm được tiền.

Trong vòng một tuần, Jake đã vật lộn học cách kiếm 1000 USD, với sự giúp đỡ tận tình của các thành viên khác. Nhờ lòng kiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi, Jake đã tích lũy được nhiều kỹ năng quan trọng và kiểm soát thành công cuộc sống của mình.

Mượn câu chuyện của Jake, quyển sách nêu lên những bài học hay, hữu hiệu trong kĩ năng quản lý tài chính thời hiện đại. Trong khi nhiều cuốn sách cùng thể loại gạch ra những đầu dòng “how to”, lời khuyên và các bước hướng dẫn hành động, Cây tiền khéo léo đi theo một hướng khác và không trùng lập với những tác phẩm bàn về tài chính hiện hành.

"Chris Guillebeau luôn là một trong những bộ óc truyền cảm hứng kinh doanh mạnh mẽ nhất - cung cấp cho chúng ta nhiều điều bổ ích, từ cẩm nang du lịch thế giới đến xây dựng cuộc sống thú vị. Giờ đây, với Cây Tiền, anh cho thấy mình cũng là bậc thầy kể chuyện. Nếu bạn đang mong mỏi làm việc để kiếm sống và phát triển sự nghiệp, đây là một cuốn sách đáng đọc."

*

HỒI 1

Này Jake, đang nghĩ đi đâu đấy? Anh còn nghe chứ?” Trong tâm trí, Jake Aarons cảm thấy mình hoàn toàn kiểm soát được cuộc sống. Không những anh đã ngừng lo lắng về các email rất đáng lo ngại nhận được ngay trước cuộc họp khách hàng này, mà cả những vấn đề mà chúng nói đến cũng không tồn tại. Anh còn tưởng tượng ra tương lai tươi sáng cùng bạn gái và một sự nghiệp xán lạn tại công ty truyền thông, tiếp thị, quảng cáo này.

Nhưng trong phòng họp nơi anh đang ngồi đây, đối diện với sếp và cách khách hàng hai ghế, họ lại vừa ký với công ty một hợp đồng lớn, vậy mà anh chẳng để tâm chút nào. Ngay cả khi mộng tưởng về một thực tại khác, anh cũng nhận thức được rằng thực tại đang phải bất ngờ đối mặt đây đáng chán hơn nhiều. Giá mà anh có thể...

“Này, mặt đất gọi Jake, tỉnh lại đi!”

“Sao? Ồ... xin lỗi. Tôi đang tổng hợp các suy nghĩ của mình”.

Anh “tua” lại trong óc vài phút gần nhất của cuộc họp, chuyển khỏi chế độ “lái tự động” để vào trạng thái nhớ các chi tiết chính. Năm con người đang ngồi chằm chằm nhìn anh. Đầu tiên, sếp anh, Jan, người đang dẫn dắt cuộc họp và cố gắng thu hút sự chú ý của anh. Tiếp theo là hai đại diện của Avery Tech, khách hàng đã thuê họ. Cách xa hơn vài ghế là Sloan, người mang danh hiệu “đầy vinh dự” mà Jake gán cho là CAO - Chief Asshole Officer - Giám đốc bỉ ổi. Đương nhiên, Sloan không biết mình được Jake gán cho biệt hiệu đầy cao quý đó. Trong thâm tâm, anh ta tự coi mình là “Cố vấn cao cấp”, dù cho công ty của họ không phân chia nhân viên theo cấp bậc. Cuối cùng, ngồi cạnh Sloan là Preena, một đồng nghiệp dễ mến hơn mà Jake đã coi là bạn trong suốt mười tháng làm việc tại Brightside.

Và sau đó là Jake. Giờ anh phải làm gì ấy nhỉ?

Mãi anh mới nhớ ra. Anh phải trình bày ý tưởng của nhóm mình để giúp Avery Tech thoát khỏi ngõ cụt và kiếm lời trở lại. Việc giúp các doanh nghiệp kiếm lời suy cho cùng chẳng phải là việc của công ty anh đó sao.

Suốt buổi sáng anh đã phân tâm, bị ám ảnh bởi một số tin tức đến không đúng lúc, nhưng giờ là lúc tỉnh táo lại rồi. Anh hắng giọng nhìn căn phòng, nhìn vào mắt Jan và các đại diện bên phía khách hàng.

“À ừ, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét các tài khoản truyền thông xã hội của quý vị. Tôi nghĩ rằng quý vị có thể tận dụng được nhiều điều hơn ở chúng”.

Cả nhóm chờ đợi. Tận dụng điều gì hả Jake? Phải rồi. Trình bày tiếp đi nào.

“Chúng ta sẽ nói chi tiết hơn khi tiến hành, nhưng tôi tự hỏi liệu công ty các vị có nghĩ đến việc tiếp cận một vài khách hàng hiện tại để nhận phản hồi không. Kiểu như, kiểm tra xem họ có đề xuất cải tiến nào hay không”.

Rồi xong, họ hết nghe anh nói rồi. Đó là những gì xảy ra khi bạn đến một cuộc họp trình bày ý tưởng mà không lận lưng theo ý tưởng nào.

Jan chữa cháy: “Không sao, Jake, tôi sẽ lo tiếp từ đây. À mà Sloan, anh có ý tưởng nào muốn trình bày không?”

Sloan, Giám đốc bỉ ổi, thế nào cũng nói được mấy câu xứng đáng điểm mười quảng cáo bản thân.

“Tất nhiên rồi”, Sloan đáp và không quên bắt lấy ánh mắt Jake trước khi nói tiếp. “Tôi đã đi sâu tìm hiểu số liệu phân tích trang web của công ty quý vị và nhận thấy một điều thực sự thú vị. Công ty mình bán chip bộ nhớ và thẻ nhớ cho máy tính, đúng chứ?”

Các đại diện khách hàng liền tươi tắn lại.

“Chà, nhưng có vẻ hầu hết những người truy cập vào trang web của quý vị không thực sự tìm kiếm thứ đó, ít nhất là không trực tiếp tìm kiếm chúng. Họ đang tìm kiếm các cụm từ như ‘lưu trữ dữ liệu’ và ‘bộ xử lý máy tính’. Không chỉ vậy, nếu tách người mua hàng khỏi những người chỉ truy cập website rồi thoát ra, những người vào website để tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’ có khả năng mua cao hơn hai mươi sáu phần trăm”.

“Thật là thú vị”, Đại diện Một bên khách hàng nói, trong khi Đại diện Hai gật đầu và viết xuống điều gì đó.

“Tuy nhiên, cái cần nói là”, Sloan tiếp tục. “Quý vị không thực sự có chiến lược nhắm mục tiêu vào những người tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’. Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ điểm này. Rồi từ đó, chúng ta có thể xem lại việc nhắm vào đối tượng khách hàng, đưa ra thêm phương thức bán hàng gia tăng cho họ, hoặc khai thác thêm giá trị từ những khách hàng này”.

“Ừm”, Đại diện Một gật gù. “Quả thật chúng tôi không biết đến điều này”

Phần còn lại của cuộc họp triển khai từ đó. Jake trở lại trạng thái kẻ dự thính, Jan điều khiển cuộc họp, còn Sloan tô vẽ cho bản thân. Chỉ Jake biết rằng toàn bộ chuyện “đi sâu tìm hiểu những số liệu phân tích trang web công ty” này thực ra là ý của Preena. Nếu bóng đến chân, cô ấy sẽ đá nó, sẽ trình bày ý tưởng này, nhưng Sloan đã gạt cô ra để tự tung tự tác

Chính thói hành xử đó đã khiến Jake ưu ái đặt cho Sloan biệt hiệu “cao quý” kia. Anh ta luôn sẵn sàng “làm quá” mọi thứ, nhất là vì lợi ích của chính mình. Sáng ra luôn là người đi làm sớm nhất, còn chiều luôn là người cuối cùng rời khỏi công ty, và không quên để cho mọi người biết mình đi sớm về trễ như thế.

Thật không may, trong cấu trúc một công ty agency, chính hành vi tư lợi này lại được khen thưởng.

Về phần Jake, anh thường xuyên bị phân tâm, nhưng không đến mức đầu óc trên mây thế này. Nhất là trong cuộc họp có khách hàng, sếp và đối thủ của mình, anh đã cố gắng chuẩn bị. Nhưng sự thật là đầu óc anh giờ đang phải lo quá nhiều thứ. Hồi sáng sớm nay xảy ra sự việc khiến anh đứng ngồi không yên: Jake rốt cuộc đã đọc email gửi cho mình từ thứ Ba.

Việc đến thứ Sáu mới đọc email nhận vào thứ Ba với vài người có thể được xem là một hành động ngông cuồng. Có thể đầu óc bạn tin vào kiểu “mới sáng sớm đừng kiểm tra email” và quyết định đi xa thêm bước nữa “mới có vài ngày, vội gì kiểm tra email”. Và cuối cùng, việc đó có thể khiến bạn bị sa thải, hoặc tệ hơn thế.

Email đầu tiên thu hút sự chú ý của anh mang dòng tiêu đề đáng ngại:

Thông báo tình trạng thu nợ

Tin được gửi từ Công ty dịch vụ tài chính Midland, thông báo gần đây họ đã mua lại khoản nợ vay sinh viên của Jake và hiện đang muốn có một lịch trình thanh toán.

Tám năm trước, Jake đã phát hiện ra phép màu của các khoản vay sinh viên. “Đó là tiền miễn phí từ chính phủ!”. Bạn cùng phòng của anh nói như thể trúng xổ số.

“Tuyệt vời!”, Jake nói rồi ký vào các giấy tờ giúp anh nhận được một khoản tiền lớn trong tài khoản ngân hàng, cũng như một máy nướng bánh mì miễn phí mà anh chưa từng bóc hộp. Lúc đó anh nghĩ mình sẽ có đủ khả năng trả nợ... một ngày nào đó. Đấy chẳng phải cách phương thức cho vay này hoạt động sao? Ngoài ra, còn lâu mới đến hạn trả bất kỳ khoản vay nào.

Nhưng bây giờ dường như ngày xa xôi ở vùng đất tương lai đó cũng đã đến. Trong suốt ba năm đầu – năm cuối anh có học bổng lo – Jake đã vay tổng cộng 52.450.38 đô la. Hơn một nửa số tiền đó trả thẳng cho Đại học bang California ở Northridge. Số còn lại thì đã tiêu tán... đâu đó. Quy định cho vay nói rằng tiền vay chỉ có thể được dùng cho các chi phí học tập, mà theo cách lý giải của Jake thì nó đã được tiêu vào tiền thuê nhà, ăn uống, xăng xe, và một chuyến đi tới Ireland với anh trai Zach, và cả bia nữa.

Công ty Midland đang muốn anh trả nợ, kèm lãi suất, với lịch thanh toán bắt đầu từ tháng tới, yêu cầu anh trả khoản vay đầu tiên là 805.14 đô la. Thư thông báo còn hân hoan nói rằng nếu anh trả một khoản lớn hơn thì sẽ được chiết khấu.

Kế đến, Jake mở một email khác. Là từ Roland, người quản lý bất động sản đã cho anh thuê căn hộ hiện tại. Căn hộ này là nơi tuyệt nhất trong số những nơi anh từng ở, giá lại rẻ nữa. Kể cả anh Zach, người đang làm việc cho một công ty khởi nghiệp lớn ở San Francisco, cũng thấy ấn tượng với căn hộ này.

Thư Roland gửi có tiêu đề:

Thông báo pháp lý: thay đổi đơn vị thuê

Jake nhấp vào đường link liên kết.

Chào Jake,
Hy vọng cậu vẫn khỏe. Xin lỗi đã mang tin xấu đến cho cậu, nhưng người chủ căn hộ cậu thuê đang lên kế hoạch bán nó. Họ cần trả tiền dưỡng lão cho mẹ già, và họ muốn cậu rời đi ngay.
Theo luật, họ phải thông báo trước cho cậu hai mươi mốt ngày, và không may là họ không thể chờ lâu hơn thế. Họ cũng cần vào căn hộ để chụp ảnh, và một khi đã đăng bán, sẽ có khách đến xem nhà. Như thế chúng tôi cần hẹn trước một số lần để cậu ra khỏi nhà khi khách đến.
Một lần nữa, xin lỗi về tin tức này. Tôi biết căn hộ này là nơi tuyệt vời với cậu!
Roland Myers
Tập đoàn cho thuê

Nợ vay khó trả đã khổ rồi, không có nhà để ở còn tồi tệ hơn. Tin nhắn với thông báo hai mươi mốt ngày kia được gửi vào thứ Ba. Bây giờ là chiều thứ Sáu, nghĩa là... chỉ còn mười tám ngày nữa thôi sao?

Trước khi có màn phát biểu “xuất sắc” trước khách hàng lúc nãy, anh đã vắt óc nghĩ xem phải làm gì. Chẳng có giải pháp rõ ràng nào hiện ra. Anh gần như chỉ cảm thấy ngợp.

Sau cuộc họp, Jake ra ngoài nói chuyện với bạn mình. “Preena! Sao cô lại để Sloan làm điều đó với mình?”

“Sao nào, để hắn ăn cắp ý tưởng của tôi hả?”

“Đúng thế! Tôi thấy tất cả những giấy tờ được in ra để trên bàn của cô. Toàn bộ chuyện đi sâu vào các số liệu phân tích đều là ý của cô”.

“Chà, đúng vậy”, cô nhún vai. “Cách hắn làm chả hay ho gì. Nhưng tôi phải phản ứng thế nào? Cãi nhau trước mặt khách hàng? Hắn biết tôi sẽ không dám thách thức hắn. Mà nhân tiện, anh sao rồi? Anh có vẻ hơi phân tâm trong cuộc họp”.

Jake nói với cô về những email mà anh rốt cuộc cũng chịu đọc.

“Khó khăn rồi đấy, Jake. Tôi phải hoàn thành một số công việc cho khách hàng trước khi đến cuộc họp tiếp theo nên không thể chia sẻ thêm, nhưng hãy lên kế hoạch để nói về vấn đề này kỹ lưỡng hơn vào thứ Hai nhé”.

“Tất nhiên là được”. Trên đường trở về bàn làm việc của mình, anh đi ngang qua văn phòng của Sloan. Anh tưởng tượng hắn ngồi bên trong, đang đọc Binh pháp Tôn Tử và viết email cho quản lý để tóm tắt cuộc họp khách hàng mà hắn là diễn viên chính.

***

Làm việc đến tối muộn để xây dựng một chiến lược tốt hơn cho khách hàng mà anh đã làm thất vọng, Jake không để ý điện thoại của mình nhấp nháy lời nhắc nhở đến cuộc hẹn quan trọng nhất trong ngày: cuộc hẹn ăn tối với bạn gái Maya. Chỉ đến khi nghe tiếng chuông báo hiệu tin nhắn từ cô, anh mới nhìn xuống điện thoại.

“Này, Jake, nơi này dễ thương lắm! Em đến sớm vài phút và chộp được một bàn cạnh cửa sổ. Gặp anh sớm nhé!”

Sớm là một dự đoán lạc quan quá mức, nhưng Maya đâu có biết.

“Anh đến ngay đây!”. Jake vừa nhắn tin, vừa cầm lấy cái túi đeo chéo và chạy ra cửa, trong đầu nhẩm lượng giao thông sẽ phải vượt qua: phải mất ít nhất mười lăm phút, mà giờ này có khi mất đến hai mươi phút. Chết thật.

Có gì to tát chứ. Chỉ là kỷ niệm sáu tháng của hai đứa thôi.

Có gì to tát đâu, như 50.000 đô la anh nợ, như tài khoản tiết kiệm có chưa đầy 3.000 đô. Và việc anh cần làm chỉ là tìm cách bắt đầu trả nợ, đồng thời tìm nơi ở mới là được chứ gì.

Trên đường ra, Jan ra hiệu anh xuống gặp cô. “Này Jake, chúng ta gặp nói chuyện chút được không?”

“À được chứ, tôi sẽ chỉ trễ hẹn với Maya thôi...”

“Tôi nói nhanh thôi. Tôi có chút lo lắng về cậu. Với việc sáp nhập đang diễn ra, ban lãnh đạo sẽ phải đưa ra một số quyết định khó khăn”.

Dù mọi người gọi nó là vậy thì nó không hẳn là một sự sáp nhập. Brightside gần đây đã đạt được thỏa thuận để cho một công ty ở Bờ Đông lớn hơn nhiều mua lại như một phần trong mối quan hệ “đối tác chiến lược” với công ty này.

Cho đến nay, nhóm chuyển giao từ Philadelphia đã đến thăm trụ sở Nam California của Brightside hai lần, mỗi lần lại đưa ra những nhận xét vô thưởng vô phạt trong khi “ý tứ” đánh giá phong cách ăn mặc và trò chuyện suồng sã hơn ở khu Bờ Tây. Họ đã hứa sẽ “tôn trọng văn hóa nơi này”, mà theo Preena lý giải, điều đó đồng nghĩa với việc họ dự định thay đổi mọi thứ trong đó.

“Hãy nỗ lực thêm nếu được nhé”, Jan nói khi cô ra dấu rằng anh có thể đi. “Vài tuần tới đây sẽ ảnh hưởng rất lớn về mặt đánh giá”.

Jake cảm ơn sếp mình rồi bước ra ngoài, miệng hứa sẽ cải thiện. Anh gần như đã nghĩ lúc ra bãi đậu xe là Sloan đã cắt lốp xe của mình.

Nhưng lốp xe chẳng hề gì, chỉ hơi mòn một chút trên chiếc Mazda mười hai tuổi mà anh đã lái những sáu năm. Điều tốt nhất anh có thể nói về ngày hôm nay là anh không bị cảnh sát phạt chạy quá tốc độ trong khi lái vun vút đến nhà hàng. Tuy nhiên, khi đã đến nơi, anh cũng chưa nghĩ ra được cách nào để trả những khoản vay hoặc để tìm một nơi ở mới.

Biết đâu Maya sẽ nghĩ ra được cách nào đó. Anh sẽ hỏi cô – tất nhiên là sau khi xin lỗi vì đến muộn hơn ba mươi phút bữa ăn tối kỷ niệm của hai người họ.

Còn tiếp.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

“Mia và Isabelle yêu dấu…”

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó.

Published

on

By

Trích từ: Tháo gỡ phép màu
Tác giả: Julie-Yip Williams
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 3.2021

Julie-Yip Williams (1976 - 2018) là một phụ nữ Việt Nam gốc Hoa, theo gia đình sang Mỹ từ nhỏ. Cô bị khiếm thị bẩm sinh nhưng đã vượt khó, tốt nghiệp luật sư tại Harvard Law School, làm việc ở một văn phòng luật danh tiếng và có một gia đình nhỏ hạnh phúc. Cô sống cùng chồng và hai con gái tại Brooklyn. Ở tuổi ba mươi bảy, cô bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng, khiến cuộc sống của cô hoàn toàn thay đổi. Julie qua đời vào tháng Ba năm 2018 sau một thời gian chống chọi với căn bệnh.

Quyển sách Tháo gỡ phép màu là cách Julie ghi lại hành trình cuộc đời mình.

“Một biên niên ký cảm động, tuyệt đẹp, đáng đọc và đáng được nhiều người say mê.” (Siddhartha Mukherjee, tác giả đoạt giải Pulitzer với The Emperor of All Maladies)

Tháo gỡ phép màu - Julie-Yip Williams

*

Xin chào, hoan nghênh. Tên tôi là Julie Yip-Williams. Tôi biết ơn và rất vinh dự khi các bạn có mặt ở đây. Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả.

Cuộc sống tôi tốt đẹp và cuộc đời tôi trọn vẹn. Biết bao điều xuất hiện nhiều hơn hẳn những gì mà tôi có thể tưởng đến, hoặc nhiều hơn hẳn những gì mà xuất thân vô cùng tầm thường của tôi cho phép tôi mong đợi. Tôi là một người vợ, một người mẹ, một người con, một người em, một người bạn, một người di cư, một bệnh nhân ung thư, một luật sư, và giờ là một nhà văn. Tôi luôn gắng sống một cách có thiện ý và thiện tâm, dù tôi chắc chắn mình cũng từng làm tổn thương người khác trên bước đường đời. Tôi nỗ lực hết mình để sống một cuộc đời mãn nguyện và đáng sống, để đương đầu một cách uyển chuyển với những thử thách tất yếu, và để nổi bật với sự hài hước của mình cùng tình yêu cho cuộc sống vẹn nguyên. Thế thôi. Tuy tôi đang hấp hối ở độ tuổi đầu bốn mươi, và sắp phải bỏ lại các con yêu quý của mình, tôi vẫn thấy hạnh phúc.

Cuộc đời tôi chẳng dễ dàng. Tôi sống sót qua thời thơ dại cứ như một phép màu, và tôi đến được nước Mỹ cứ như một điều kỳ diệu. Sinh ra trong cảnh mù lòa và nghèo đói ở Việt Nam, lại trong 8 | JULIE YIP-WILLIAMS thời chiến tranh, điều này lẽ ra đã định sẵn số phận cuộc đời và đóng kín vận mệnh của tôi. Tuy những điều đó đã lưu lại dấu vết nơi tôi, song chúng đã không ngăn được tôi. Cái chết kề cận dạy tôi rất nhiều về cách sống – về cách chủ động đối mặt với những sự thật phũ phàng, về cách đón nhận cả đau khổ lẫn vui sướng. Vòng tay ôm lấy những phần khắc nghiệt của cuộc đời có lẽ là trải nghiệm tự do lớn lao trong cuộc đời tôi.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều nếm trải những phần khắc nghiệt ấy. Những sự kiện mà chúng ta nghe được trên tin tức hay từ bạn bè, những bi kịch kết thúc với cái chết xảy ra cho những người khác ở các nơi khác, những điều ấy khiến chúng ta thấy buồn nhưng cũng thấy nhẹ nhõm và biết ơn vì chúng ta nghĩ, cảm ơn Chúa đã phù hộ con không bị như thế… – bão tố và động đất tàn khốc, đánh bom và xả súng bạo lực, tai nạn xe cộ, và tất nhiên, bệnh nan y. Những thứ ấy khiến tâm can ta rúng động vì chúng làm ta nhớ rằng ta cũng sẽ chết, rằng ta thật sự bất lực như thế nào trước những sức mạnh vô hình có thể khiến Trái đất phải run rẩy, hoặc khiến tế bào bị đột biến và đẩy cơ thể vào cảnh nổi loạn chống lại chính nó.

Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình về điều đó, cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu – cả hai đều không toàn diện, bạn hiểu mà, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ là ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành – nếu như tôi không quá tự tin – thứ gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống. Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ.

Julie Yip-Williams
Tháng Hai năm 2018

CÁI CHẾT, PHẦN MỘT
Tháng Ba năm 1976, Tam Kỳ, miền Nam Việt Nam

Lúc tôi hai tháng tuổi, ba mẹ tôi, theo lệnh của bà nội, mang tôi đến chỗ ông thầy thuốc ở Đà Nẵng và đề nghị trả ông ấy vàng thỏi để bốc cho tôi thang thuốc đưa tôi vào giấc ngủ vĩnh hằng. Vì tôi mù bẩm sinh, nên đối với người bà gốc Hoa, tôi là thứ “hư hại”. Tôi sẽ là gánh nặng và nỗi xấu hổ của gia đình. Khó mà kiếm được tấm chồng. Ngoài ra, bà nội viện lý do rằng bà làm thế vì thương tôi – tôi sẽ thoát khỏi kiếp sống khốn khổ.

Sáng hôm đó, mẹ mặc cho tôi bộ đồ em bé cũ kỹ bám đầy những vết ố nâu vàng do phân của anh chị tôi để lại mà mẹ không thể giặt sạch được, dù đã vò vô số lần. Sau khi lệnh cho mẹ mặc cho tôi bộ quần áo này, bà nội đứng trước lối vào phòng ngủ của ba mẹ tôi, xem mẹ mặc đồ cho tôi. “Cho nó mặc thứ khác chỉ tổ lãng phí”, bà nói khi mẹ tôi mặc xong, như thể khẳng định sự đúng đắn trong lời chỉ dạy của bà.

Đó là bộ quần áo tôi sẽ mặc khi chết. Trong thời kỳ cùng quẫn như thế, chẳng ích lợi gì khi phí phạm một bộ đồ trẻ em còn tốt cho một đứa bé sắp sửa trở thành một thi hài.

Bi kịch gia đình tôi bắt đầu từ tâm điểm nóng bỏng của cuộc Chiến tranh lạnh. Miền Nam Việt Nam đã được trả tự do từ mười một tháng trước đó, nhưng chuỗi domino địa chính trị vẫn đổ ập vào cuộc đời của những người nhà Yip.

Vào năm 1972, chiến tranh rõ ràng đã chuyển sang hướng bất lợi cho miền Nam, và ba tôi rất sợ mất đi những thứ ít ỏi ông đang có khi liều mạng sống của mình cho một quốc gia mà ông – một người đàn ông dân tộc Hoa – cảm thấy chẳng có chút lòng tự hào dân tộc nào. Trong bốn năm phục vụ quân đội, vào những chuyến thăm nhà ngắn ngủi, ba tôi không bao giờ nói với bất cứ ai trong gia đình về những điều kinh khủng mà ông đã thấy hoặc đã làm. Những nỗ lực của bà nội hòng giúp ông tránh đi sự tồi tệ của chiến tranh bằng cách hối lộ để ông được nhận vào làm tài xế cho một vị đội trưởng quân đội đã không thành công như mẹ con ông hằng hy vọng. Ông thấy mình lái xe vào lãnh thổ của họ, chẳng rõ các tay bắn tỉa cùng mìn giấu ở đâu, ngủ trong rừng vào buổi tối, lo sợ bị cắt cổ khi ông đang ngủ trên nền rừng, và rồi giật mình thon thót bởi những tiếng nổ xé toạc sự im lặng của một khắc yên bình mong manh. Cuối cùng, nỗi sợ hãi thường trực về cái chết – hoặc tệ hơn, về việc mất tay chân, như đã xảy ra với một số người bạn của ông – đã lấn át hết mọi khái niệm về danh dự mà ông có cùng nỗi sợ về việc bị coi là thằng hèn. Một ngày nọ, ông đi khỏi trại lính với lý do lấy tiếp liệu cho chiếc xe jeep của ông và không quay đầu lại. Trong một tuần, ông đi bộ và đi nhờ xe đến Sài Gòn, rồi trốn trong Chợ Lớn (một quận cũ vốn là nơi cư trú của ít nhất một triệu người Hoa). Chợ Lớn là một nơi thật náo nhiệt với số dân cư không mặn mà với nỗ lực tham chiến nhiều đến mức ông có thể ẩn náu trong khi vẫn có thể đi lại tự do trong cộng đồng.

Bà nội tôi (sau khi được ba tôi nhắn cho biết ông đang ở đâu, người chẳng tin vào khả năng chung thủy của bất kỳ người đàn ông nào, kể cả con trai bà) đã đề nghị mẹ tôi vào Sài Gòn với ba. Vậy nên mẹ tôi, tay này xách chị Lyna mới được hai tuổi, tay kia bế anh Mau mới sinh, tiến vào Sài Gòn, và ở đó họ sống trong phấp phổng cùng ba tôi cho đến khi cuộc chiến kết thúc, chờ đến khi ông có thể an toàn quay về Tam Kỳ mà không sợ bị bắt bỏ tù, hoặc thậm chí tệ hơn, bị bắt tiếp tục phục vụ quân đội trong lúc tình hình đang tồi tệ đi nhanh chóng. Đó không phải lúc để có thêm một đứa con nữa.

Khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, ba mẹ tôi cùng với những người khác ở Sài Gòn vỡ òa vui sướng, vì chiến tranh cuối cùng đã kết thúc. Khi Sài Gòn giao thời, họ ăn mừng bằng cách tham gia vào đám đông cuồng nhiệt cướp phá những cửa hàng và nhà kho bị bỏ lại, lấy các thùng chứa gas cùng các bao gạo và bất cứ thứ gì khác mà đôi tay họ có thể khuân đi được. Họ ăn mừng bằng cách chào đón tin tôi sắp tới với thế giới này, và sau khi Sài Gòn thất thủ, họ cuối cùng đã về nhà ở Tam Kỳ, nơi tôi mở mắt chào đời vào một đêm tháng Một bình thường tám tháng sau đó. Tôi nặng hơn ba ký một chút, lớn theo chuẩn Việt Nam, nhưng không lớn đến mức khiến mẹ con tôi gặp nguy hiểm tính mạng trong quá trình sinh nở. Bệnh viện bẩn thỉu, và việc mổ lấy thai không phải là một lựa chọn hay trong những ngày ấy; chẳng ai biết cách thực hiện thủ thuật, có lẽ trừ khi ở Sài Gòn. Ba đặt tên 莉菁 cho tôi, phát âm là “Lijing” theo tiếng Quan Thoại và “Lising” theo tiếng Hải Nam, hiểu theo nghĩa đen là “tinh túy của hoa nhài”. Tên tôi có ý thể hiện sự hoạt bát, sức sống và vẻ đẹp. Mẹ tôi, người đã chờ đợi từ rất lâu, rất hồi hộp. Và bà nội tôi cũng vậy – lúc mới đầu thôi. Hai tháng sau, được quấn trong quần áo cũ của anh chị, tôi nằm trong vòng tay của ba, trên một chuyến xe đò, đi hai tiếng đồng hồ lên phía bắc đến Đà Nẵng theo quốc lộ 1, để nhận án tử.

CUỘC ĐỜI
Ngày 14 tháng Bảy năm 2017, Brooklyn, New York

Mia và Isabelle yêu dấu,

Mẹ đã lo hết tất cả chuyện hậu sự sau khi mẹ chết mà mẹ có thể nghĩ tới: mẹ đang thuê một đầu bếp với mức lương rất hợp lý cho các con và ba; mẹ đã để lại một danh sách hướng dẫn ai là nha sĩ của các con và lúc nào cần đóng học phí và lúc nào cần gia hạn hợp đồng thuê đàn violin và danh tính của người chỉnh âm đàn piano. Trong những ngày sắp tới, mẹ sẽ làm video về tất tần tật các chi tiết trong nhà để mọi người biết bộ lọc không khí nằm ở đâu và loại thức ăn cho chó của Chipper. Song mẹ đã nhận ra rằng mấy chuyện này chỉ là chuyện nhỏ, những vấn đề dễ giải quyết và tương đối không quan trọng trên cõi đời này.

Mẹ đã nhận ra mẹ sẽ làm các con vô cùng thất vọng, nếu chính người mẹ của các con lại không cố gắng giảm bớt nỗi đau mất mẹ, nếu mẹ không cố gắng nỗ lực giải quyết thứ có thể sẽ là câu hỏi lớn nhất trong cuộc đời non trẻ của các con. Các con sẽ mãi mãi là những đứa bé có mẹ chết vì ung thư, bị người khác nhìn với con mắt thông cảm xen lẫn thương hại (điều mà các con hiển nhiên sẽ oán ghét, dù cho mọi người có ý tốt). Việc mẹ các con qua đời sẽ dệt nên một mảnh trong cuộc đời các con như một vết nhơ rành rành trên một khung cảnh nguyên sơ. Các con sẽ thắc mắc khi các con thấy xung quanh tất cả mọi người khác đều còn đủ cha mẹ, Tại sao mẹ tôi lại phải bệnh rồi chết chứ? Thật không công bằng, các con sẽ khóc. Và các con sẽ tha thiết muốn có mẹ ở bên cạnh để ôm con khi bị bạn bè cư xử tệ, để nhìn các con bấm lỗ tai, để ngồi ở hàng ghế đầu vỗ tay thật lớn trong những buổi biểu diễn âm nhạc của các con, để làm vị phụ huynh phiền phức khăng khăng đòi chụp thêm tấm hình nữa với cô sinh viên mới tốt nghiệp, để giúp con mặc đồ trong ngày cưới của con, để bế đứa trẻ mới sinh từ tay con lúc con chợp mắt. Và mỗi lần các con khao khát có mẹ, lòng sẽ lại lần nữa đau đớn và các con sẽ tự hỏi tại sao.

Mẹ không biết liệu lời của mẹ có thể xoa dịu nỗi đau của các con hay không. Nhưng sẽ thật tắc trách nếu mẹ không làm thử.

Giáo viên dạy Sử năm lớp Bảy của mẹ, cô Olson – một người lập dị gàn dở nhưng cũng là một giáo viên tuyệt vời – từng bác bỏ lời phản đối “Thật không công bằng!” của đám thiếu niên (ví dụ, khi cô cho bọn mẹ làm kiểm tra đột xuất, hay khi bọn mẹ chơi trò được gọi là đố vui “Bất công”) với câu “Đời không công bằng đâu. Tập làm quen đi!”. Đâu đó trên đường đời, chúng ta lớn lên với suy nghĩ rằng nên có sự công bằng, rằng mọi người nên được đối đãi bình đẳng, rằng nên có sự ngang bằng trong đối xử cũng như cơ hội. Sự mong đợi đó chắc hẳn xuất phát từ việc được lớn lên ở một quốc gia giàu có, nơi luật pháp được thiết lập một cách chặt chẽ. Thậm chí lúc mới ở cái tuổi lên năm non nớt, cả hai con đều kêu gào đòi công bằng như thể đó là một quyền căn bản (chẳng hạn như, thật không công bằng khi Belle được xem phim còn Mia thì không). Nên có lẽ những mong muốn có được sự công bằng và bình đẳng đó đã hằn sâu vào tâm trí loài người và tinh thần đạo đức của chúng ta. Mẹ không chắc nữa.

Điều mẹ biết chắc là cô Olson đã đúng. Đời không công bằng. Các con sẽ ngốc nghếch mong đợi sự công bằng, ít nhất đối với vấn đề liên quan đến sự sống và cái chết, vấn đề ngoài phạm vi luật pháp, vấn đề không thể được bố trí hay bị nỗ lực của con người thao túng, vấn đề rõ ràng thuộc về Chúa hay may mắn hay số phận hay những thế lực khó hiểu, chưa được biết đến nào đó.

Dù lúc lớn lên không mồ côi mẹ, mẹ vẫn chịu tổn thương theo cách khác và ở cái tuổi non nớt hơn tuổi các con bây giờ mẹ đã hiểu được đời chẳng công bằng. Nhìn tất cả những đứa trẻ khác, những đứa có thể lái xe và chơi quần vợt và những đứa không phải dùng kính lúp để đọc, mẹ thấy đau y như kiểu mà có lẽ giờ các con có thể hiểu. Người ta cũng nhìn mẹ với sự thương hại, điều mà mẹ căm ghét. Mẹ cũng bị tước đi các cơ hội; mẹ luôn là người ghi lại tỷ số và không bao giờ được tham gia các trận đấu trong lớp thể dục. Bà ngoại không nghĩ mẹ đáng được đi học tiếng Hoa sau giờ học tiếng Anh tại trường như anh chị em của mẹ, vì bà cho rằng mẹ sẽ không thể nhìn thấy được các ký tự. (Dĩ nhiên, sau đó, mẹ học tiếng Hoa suốt thời gian học đại học rồi đi du học và tiếng Hoa của mẹ đã vượt qua anh chị em của mẹ). Đối với một đứa trẻ, chẳng có gì tệ hơn là khác biệt, theo kiểu tiêu cực, đáng thương như thế. Mẹ đã rất buồn. Mẹ khóc trong sự giận dữ cô độc. Giống như các con, mẹ có mất mát riêng của mẹ, sự mất mát thị lực, điều khiến mẹ gặp thêm nhiều mất mát khác. Mẹ đau khổ. Mẹ tự hỏi tại sao. Mẹ ghét sự bất công trong tất cả mọi thứ.

Các con bé bỏng của mẹ, mẹ không có câu trả lời cho câu hỏi tại sao này, ít nhất không phải bây giờ và không phải ở kiếp này. Nhưng mẹ biết rằng nỗi đau và sự chịu đựng có một giá trị phi thường. Nếu các con cho phép bản thân được trải nghiệm nó, được khóc, được cảm thấy ưu sầu và đau khổ, được tổn thương. Bước qua lửa đỏ và con sẽ xuất hiện ở phía bên kia, nguyên vẹn và mạnh mẽ hơn. Mẹ hứa đấy. Các con sau cùng sẽ tìm thấy sự thật, vẻ đẹp, trí tuệ và bình yên. Các con sẽ hiểu rằng chẳng có gì tồn tại mãi mãi, dù là nỗi đau hay hạnh phúc. Các con sẽ hiểu rằng niềm vui chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi buồn. Sự khuây khỏa chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi đau. Tình thương chẳng thể tồn tại nếu không có sự tàn nhẫn. Dũng cảm chẳng thể tồn tại nếu không có sự sợ hãi. Hy vọng chẳng thể tồn tại nếu không có thất vọng. Trí tuệ chẳng thể tồn tại nếu không có sự chịu đựng. Lòng biết ơn chẳng thể tồn tại nếu không có sự túng thiếu. Những nghịch lý đầy rẫy trên cõi đời này. Sống là một bài tập lèo lái đi giữa chúng.

Mẹ bị tước mất thị lực. Thế nhưng, tình trạng thể chất không may cá biệt ấy đã thay đổi mẹ theo hướng tốt hơn. Thay vì làm mẹ chìm đắm trong tủi thân, nó đã khiến mẹ thêm nhiều hoài bão. Nó khiến mẹ thêm tháo vát. Nó khiến mẹ thêm khôn khéo. Nó dạy mẹ nhờ người khác giúp đỡ, không xấu hổ với khiếm khuyết thân thể của mình. Nó buộc mẹ thành thật với chính mình và các giới hạn của bản thân, và cuối cùng, thành thật với những người khác. Nó dạy mẹ mạnh mẽ và kiên trì.

Các con bị tước mất người mẹ. Là mẹ các con, mẹ ước mình có thể bảo vệ các con khỏi đau khổ. Nhưng cũng chính vì là mẹ các con, mẹ muốn các con cảm nhận được nỗi đau, sống với nó, ôm ấp nó, và rồi học từ nó. Hãy trở thành những người mạnh mẽ hơn vì nó, bởi các con sẽ biết rằng các con mang trong mình sức mạnh của mẹ. Hãy trở thành người giàu tình thương hơn vì nó; thông cảm với những người đang chịu đựng những niềm đau riêng. Hãy tận hưởng cuộc đời cùng mọi vẻ đẹp cuộc sống vì nó; hãy sống với sự hăng say và lòng nhiệt huyết đặc biệt vì mẹ. Hãy biết ơn theo cách mà chỉ những ai đã mất mẹ từ rất sớm mới có thể biết, theo cách mà các con hiểu về sự vô thường và quý giá của cuộc đời. Đây là thử thách đối với các con bé bỏng của mẹ để tiếp nhận một bi kịch tồi tệ và biến nó thành cội nguồn vẻ đẹp, tình yêu, sức mạnh, lòng dũng cảm và trí tuệ.

Rất nhiều người có thể không đồng tình, nhưng mẹ luôn tin tưởng, luôn luôn, thậm chí khi mẹ còn là một cô nhóc hiểu chuyện sớm thường khóc một mình trên giường, rằng mục đích của chúng ta trên cuộc đời này là trải nghiệm tất cả những thứ mà chúng ta có thể trải nghiệm, để hiểu nhiều nhất có thể về thân phận con người mà chúng ta đúc kết được từ một kiếp sống, dù kiếp sống đó dài hay ngắn bao nhiêu. Chúng ta ở đây để cảm nhận nhiều loại cảm xúc phức tạp nảy sinh khi làm người. Và từ những trải nghiệm đó, linh hồn của chúng ta mở mang, trưởng thành, học hỏi, thay đổi, và chúng ta hiểu thêm một chút về ý nghĩa thật sự khi được làm người. Mẹ gọi đó là sự tiến hóa của linh hồn. Hãy biết rằng mẹ các con đã sống một cuộc đời phi thường, đầy nỗi khổ, niềm đau nhiều hơn mong đợi, đầu tiên là mù lòa và rồi thì ung thư. Và mẹ cho phép những nỗi khổ, niềm đau ấy định nghĩa mẹ, thay đổi mẹ, nhưng theo chiều hướng tích cực.

Trong những năm kể từ khi mẹ nhận được chẩn đoán, mẹ đã biết đến tình yêu và tình thương mà mẹ chưa bao giờ nghĩ là có thể xảy ra; mẹ đã tự mình chứng kiến và trải nghiệm mức độ sâu sắc nhất của sự quan tâm nơi con người, nó khiến mẹ trở nên vô cùng khiêm nhường và thôi thúc mẹ trở thành một người tốt hơn. Mẹ từng có một nỗi sợ khủng khiếp muốn đè bẹp mẹ, nhưng mẹ đã vượt qua nỗi sợ đó và tìm được lòng dũng cảm. Những bài học mà mù lòa và rồi ung thư dạy mẹ nhiều đến nỗi mẹ không kể ra đây hết được, nhưng mẹ hy vọng, khi các con đọc điều kế tiếp, các con sẽ hiểu làm cách nào có thể thay đổi theo cách tích cực từ bi kịch và các con sẽ học được giá trị thật sự của sự chịu đựng. Giá trị cuộc đời của một người không nằm trong số năm sống được, mà nằm trong cách người đó thấm nhuần những bài học từ cuộc đời ấy nhiều ra sao, trong cách mà người đó hiểu được và đúc kết những khía cạnh phức tạp, lộn xộn của trải nghiệm làm người nhiều thế nào. Mặc dù mẹ sẽ chọn ở với các con lâu hơn, giả như mẹ được lựa chọn, nếu các con có thể học hỏi từ cái chết của mẹ, nếu các con chấp nhận thử thách trở thành một người tốt hơn vì sự ra đi của mẹ, thì điều đó sẽ khiến linh hồn mẹ ngập tràn hạnh phúc và bình yên.

Các con sẽ cảm thấy cô đơn và bơ vơ, nhưng hãy hiểu rằng các con không chỉ có một mình. Đúng là chúng ta bước đi đơn độc trên cuộc đời này, vì chúng ta cảm nhận điều mà chúng ta cảm nhận một mình và mỗi chúng ta đều có lựa chọn của riêng bản thân. Nhưng việc tiếp cận và tìm được những người giống các con là hoàn toàn có thể, và khi làm vậy các con sẽ cảm thấy không quá cô đơn nữa. Đây là một điều khác trong số những nghịch lý cuộc sống mà các con sẽ học cách định hướng. Đầu tiên và trước hết, các con có thể nương tựa lẫn nhau. Các con là chị em, điều đó tạo ra gắn kết huyết thống và những trải nghiệm chung không giống bất cứ ai. Hãy tìm kiếm sự an ủi ở nhau. Hãy luôn tha thứ và yêu thương nhau. Tiếp đó, còn có ba mà. Rồi còn có Titi, cậu Mau, dì Nancy, dì Caroline, dì Sue và rất nhiều bạn bè thân thiết, tất cả họ đều biết và yêu mẹ rất nhiều – những người nghĩ đến các con, cầu nguyện cho các con và lo lắng cho các con. Tất cả năng lượng tình yêu từ những người này bao bọc các con, để rồi các con sẽ không thấy quá cô đơn nữa.

Và cuối cùng, dù mẹ đi bất cứ nơi đâu, một phần của mẹ sẽ luôn ở cạnh các con. Máu của mẹ chảy trong các con. Các con thừa hưởng những phần tốt nhất của mẹ. Mặc dù thân thể mẹ sẽ không còn ở đây, nhưng mẹ sẽ luôn dõi theo các con.

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó. Mẹ sẽ ngồi ngay đó, thúc giục con chơi lần nữa, lần nữa rồi lần nữa, thúc giục con đếm, chỉnh khuỷu tay, ngồi đúng tư thế. Và rồi mẹ sẽ ôm các con và nói cho các con biết các con đã làm tốt thế nào và mẹ tự hào về các con ra sao. Mẹ hứa đấy. Thậm chí sau khi các con đã chọn ngừng chơi từ lâu, mẹ vẫn sẽ đến bên các con vào những khoảnh khắc đặc biệt lẫn bình thường trong cuộc đời lúc các con sống với niềm đam mê và sự tận tâm trọn vẹn.

Đó có thể là khi các con đang đứng trên chóp núi, kinh ngạc trước vẻ đẹp phi thường và tràn đầy kiêu hãnh với khả năng của bản thân vì đã trèo lên đến đỉnh, hoặc khi lần đầu tiên các con ôm con mình trong vòng tay, hoặc khi các con đang khóc vì ai đó hay điều gì đó đã làm tan vỡ trái tim mềm yếu của mình, hoặc có lẽ là khi các con khổ sở thức suốt đêm để học bài hay làm việc. Hãy biết rằng mẹ các con từng cảm thấy những gì mà các con đang cảm thấy và mẹ luôn ở đó để ôm các con và thúc giục các con tiếp tục. Mẹ hứa đấy.

Mẹ thường mơ thấy khi mẹ qua đời, mẹ rốt cục sẽ biết cảm giác ra sao khi nhìn thế giới bằng đôi mắt không suy giảm thị lực, nhìn được tận ở phía đằng xa, thấy được những đặc điểm bé xíu trên một chú chim, được cầm lái một chiếc xe. Ôi, mẹ thật mong mỏi có thị lực hoàn hảo, dù tất cả những năm qua mẹ vẫn sống mà không có được nó. Mẹ mong mỏi cái chết sẽ giúp mẹ trở nên toàn vẹn, cho mẹ thứ mà mẹ bị tước mất trong kiếp này. Mẹ tin rằng giấc mơ ấy sẽ trở thành hiện thực. Tương tự, khi thời gian của các con đã đến, mẹ sẽ ở đó chờ các con, để các con cũng được trao cho thứ mà các con đã bị mất. Mẹ hứa đấy. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy sống, các con yêu quý của mẹ. Hãy sống một cuộc đời đáng sống. Sống hết mình và trọn vẹn, một cách chín chắn, biết ơn, can đảm và thông thái. Hãy sống!

Mẹ yêu hai con mãi mãi và mãi mãi, đến vô cùng vô tận, vượt cả không gian và thời gian. Đừng bao giờ quên điều đó.

TỶ LỆ

Đáng lý đó là lễ cưới trong gia đình. Giữa mùa hè năm 2013, tất cả mọi người tụ tập ở Los Angeles để ăn mừng ngày hạnh phúc nhất đời người em họ tuyệt đẹp của tôi. Tôi đã không đến được. Josh và tôi cùng Mia và Belle từ New York bay đến, định ở lại cỡ một tuần. Khoảng một tháng trước đó tôi đã thấy khó chịu trong bụng – không quá rõ ràng, ngoại trừ cảm giác nó không được bình thường. Buồn nôn, quặn thắt và táo bón khiến tôi phải đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khám, nhưng dường như chẳng có gì thật sự không ổn cả. Thế rồi tại Los Angeles, tôi bắt đầu ói mửa dữ dội, vì thế tôi nằm phòng cấp cứu khi lễ cưới diễn ra.

Nội soi đại tràng cho thấy một khối u ở giữa đại tràng ngang; đại tràng gần như hoàn toàn tắt nghẽn. Trong thuật ngữ chẩn đoán, “khối u” là thứ bạn hoàn toàn không muốn bác sĩ phát hiện bên trong bạn. Thậm chí trước khi làm sinh thiết, các bác sĩ đã khá chắc chắn đó là ung thư. Nhưng họ không biết đích xác cho đến khi bắt tay điều trị.

Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc mình tỉnh dậy sau ca phẫu thuật cắt bỏ nửa đại tràng trong phòng hồi sức. Josh đang được y tá Tim và bác sĩ D.C. – bác sĩ phẫu thuật của tôi – an ủi. Họ bảo anh phải tự chăm sóc bản thân để còn chăm sóc cho tôi. Tim hỏi anh ấy đã ăn tối chưa và, trước khi Josh kịp trả lời, đưa cho anh ấy miếng pizza trong phần ăn tối của mình. Thậm chí lúc còn đang mê man vì thuốc, tôi đã biết có chuyện gì đó thật sự tồi tệ khi tất cả mọi người đều quá quan tâm săn sóc Josh mà không phải tôi, người mới vừa phẫu thuật xong.

Nên lúc khuôn mặt trẻ trung của bác sĩ D.C. xuất hiện trước mắt tôi, tôi khàn khàn thốt lên, “Nguy kịch lắm sao?”. Dựa vào bầu không khí trong phòng, tôi hoàn toàn chắc chắn câu trả lời là phải.

Trái lại, bác sĩ D.C. nói, “Không, không nguy kịch lắm. Rất nghiêm trọng, nhưng không nguy kịch”. Ông giải thích cho tôi rằng ông đã cắt bỏ khối u thành công, nhưng ông tìm thấy một “khối di căn cỡ bằng hạt đậu” ở màng bụng gần khu vực bàng quang, đúng là phần di căn từ khối u chính. Tôi tự nhủ, Ừ, nghe cũng không đến nỗi nào – một khối di căn bằng hạt đậu cũng đã được cắt bỏ – vậy sao Josh lại suy sụp đến thế?

Tôi nằm đó trong trạng thái mơ màng vì thuốc, để những lời trò chuyện của mọi người cuốn qua tai khi cố gắng tỉnh táo hơn. Bác sĩ D.C. bảo tôi sẽ không nhớ nổi bất kỳ lời nào được nói ra trong tối hôm đó. Josh nói ông đừng quá đoan chắc như vậy. Tôi mỉm cười một mình. Nhiều năm bên cạnh tôi đã dạy Josh rằng tinh thần tôi giống như một chiếc bẫy thép, và dù đang lơ mơ vì thuốc hay không, tôi cũng chẳng quên bất cứ thứ gì (đặc biệt khi đó là thứ mà tôi có thể dùng để quật lại anh).

Thật ra, tôi nhớ được rất nhiều thứ trong buổi tối hôm đó. Bên cạnh việc cơ thể khó chịu vì mới vừa phẫu thuật xong, tôi nhớ mình đã nghĩ rằng phẫu thuật chắc hẳn diễn ra lâu hơn dự kiến hai tiếng rưỡi đồng hồ, vì bên ngoài trời đã nhá nhem tối. Tôi nhớ được anh và em họ tôi đã đến thăm tôi trong phòng bệnh. Tuy nhiên, trên hết, tôi nhớ mọi người cứ nói tới nói lui các con số. Một khối di căn. Giai đoạn IV. Sáu phần trăm, 8 phần trăm, 10 phần trăm, 15 phần trăm. Con số ba mươi.

Vì tôi có một khối di căn lan từ khối u chính sang phần khác trong cơ thể, bất chấp kích thước lây lan, tôi đã bị quẳng vào nhóm giai đoạn IV. Ung thư đại tràng giai đoạn IV gắn với tỷ lệ sống sót rất thấp, đâu đó trong tầm từ 6 đến 15 phần trăm. Bác sĩ D.C. lặp đi lặp lại với Josh trong tối đó rằng thống kê tỷ lệ sống sót vốn dựa trên một nghiên cứu cách đó ba mươi năm rồi, vì vậy không nên tin vào con số đó quá. Một khi tôi nắm được việc mọi người lo lắng về các con số, tôi hiểu ra tại sao Josh lại quá rối trí. Josh thích các con số. Anh ấy có thể thực hiện các phép tính phức tạp trong đầu. Lúc còn trong giai đoạn tìm hiểu nhau, vài lần anh ấy từng hỏi tôi rằng, “Em nghĩ tỷ lệ chúng ta lấy nhau là bao nhiêu?”. Anh ấy nhớ số điểm của từng trận Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ kể từ thời mới bắt đầu giải đấu. Anh ấy có thể nhớ được Roger Federer thua 5-3 trong hiệp hai vòng ba giải Wimbledon 2009. Đối với anh, cũng như đối với nhiều người khác, những con số tạo nên thứ tự trong một thế giới đầy hỗn loạn của sự ngẫu nhiên. Nên khi biết được vợ mình mắc ung thư đại tràng giai đoạn IV và thành thử khả năng sống có thể chỉ còn là con số lẻ năm năm, điều đó hiển nhiên thật quá tàn khốc.

Josh khóc nức nở đêm đó và sáng sớm hôm sau, khi anh tìm kiếm trên mạng hết lần này đến lần khác tỷ lệ sống sót của ung thư đại tràng giai đoạn IV trên chiếc ghế bố làm giường ngủ của anh. Màn hình iPad hắt lên mặt anh thứ ánh sáng ma quái trong bóng tối phòng bệnh. Anh không muốn thảo luận về các con số thống kê vì sợ chúng sẽ làm tôi buồn khổ, nhưng Josh không bao giờ có thể giấu tôi bất cứ điều gì – đó là một trong số các lý do mà tôi yêu anh nhiều đến vậy.

Và rồi anh cứ bán tín bán nghi khi thấy những con số thật sự không làm tôi khổ sở. “Thì sao nào?”, tôi nói. “Em không hiểu à?”, anh gặng hỏi, mong tôi hiểu được sự nghiêm trọng của tình hình.

Dù Josh yêu tôi nhiều như vậy, anh vẫn không thể thấu hiểu sự thật cơ bản về tôi, đơn giản vì anh không sống cuộc đời của tôi.

Anh không hiểu được sự tồn tại của tôi trên hành tinh này là bằng chứng cho thấy các con số ít ảnh hưởng đến tôi ra sao. Con số chẳng là cái đinh gì hết. Đêm đó tôi bảo anh thử quay về năm 1976, quay về cảnh hoang tàn và tuyệt vọng ngày đó, và thử tính tỷ lệ một bé gái mù may mắn sống sót qua cảnh nghèo đói không tưởng nổi, tỷ lệ cô bé ấy thoát khỏi vết nhơ vì mang trên mình một dị dạng cơ thể – thứ sẽ khiến cô bé không được bất kỳ người đàn ông nào yêu thương và không xứng đáng được làm mẹ của bất kỳ đứa trẻ nào, và tỷ lệ cô bé ấy chịu đựng được nỗi hổ thẹn khi biết rằng mình sẽ vĩnh viễn là gánh nặng của một gia đình đầy kiêu hãnh – những người sẽ phải chăm sóc cho cô như một kẻ tàn tật cả đời.

Tôi yêu cầu Josh thử tính tỷ lệ một cô bé sống sót trên biển rộng khi rất nhiều đàn ông trưởng thành đều bỏ mạng, tỷ lệ cô bé ấy giành được chút thị lực dù bị tổn thương thần kinh thị giác đã nhiều năm, tỷ lệ cô bé ấy đạt được thành công trong học vấn bất chấp kỳ vọng ít ỏi của gia đình bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết kiểu dân nhập cư, tỷ lệ cô bé ấy tốt nghiệp Trường Luật Harvard, tỷ lệ cô bé ấy gây dựng được sự nghiệp ngành luật của mình tại một trong những hãng luật đa quốc gia nổi tiếng nhất trên thế giới, và cuối cùng, tỷ lệ cô bé ấy cưới được một người đàn ông đẹp trai, tài giỏi đến từ miền Nam nước Mỹ và rồi có với anh ấy hai đứa con gái xinh đẹp. Đương nhiên, Josh không thể tính được những tỷ lệ này.

Josh bỏ ra hàng giờ để đọc các nghiên cứu y khoa, cố gắng tăng khả năng sống của tôi. Chỉ một chỗ di căn thay vì nhiều chỗ di căn sẽ tăng thêm phần trăm sống, cũng như tuổi tác và mức độ cân đối cơ thể, cũng như việc tôi được tiếp cận với hệ thống y tế tốt nhất trên thế giới, cũng như việc tôi có một hệ thống hỗ trợ tuyệt vời. Theo Josh, những yếu tố này tăng tỷ lệ sống vốn chỉ có năm năm của tôi lên đâu đó gần 60 phần trăm, mà đối với anh thế tốt hơn 6 phần trăm rất nhiều.

Thật lòng, với tôi 60 phần trăm nghe cũng chẳng to tát gì. Sự thật là bất cứ thứ gì thấp hơn 100 phần trăm đều chưa đầy đủ.

Song tất cả chúng ta đều biết, chẳng có gì trong cuộc sống là 100 phần trăm cả. Cơ hội một người phụ nữ dưới bốn mươi mắc phải ung thư trực tràng là 0,08 phần trăm theo công bố của tổ chức Mayo Clinic – Josh nói cho tôi biết chuyện này vì cá nhân tôi không tìm kiếm bất kỳ thứ gì trên mạng liên quan đến các con số thống kê. Con số này xem xét những phụ nữ mắc bệnh bởi cả hai nguyên nhân – do di truyền và không do di truyền. Khối u của tôi cho thấy không có dấu hiệu di truyền, nghĩa là khả năng tôi mắc phải ung thư đại tràng thậm chí còn thấp hơn 0,08 phần trăm. Vị bác sĩ nội khoa xuất chúng của tôi nói với tôi rằng trong ba mươi bảy năm hành nghề, ông chưa bao giờ gặp trường hợp người nào trẻ như tôi mắc ung thư đại tràng không do di truyền. Sao tôi không thấy rất đặc biệt nhỉ? Tôi có ít nhất 99,92 phần trăm cơ hội không mắc ung thư đại tràng tại giai đoạn này trong đời, song tôi lại dính phải.

Thế nên các con số chẳng có ý nghĩa gì. Chúng không đem đến sự bảo đảm, cũng không là nguồn cơn làm trầm trọng thêm vấn đề. Dĩ nhiên, sẽ tốt hơn nếu tôi ung thư giai đoạn I và không có di căn lây lan, song thậm chí khi tỷ lệ có lợi cho bạn, bạn vẫn có thể thua cuộc. Dù Josh vô cùng ám ảnh với tỷ lệ thống kê, anh ấy luôn kể tôi nghe khi đội đang lép vế thắng trận đấu bóng bầu dục hay bóng rổ và thách thức các tỷ lệ, “Đó là lý do chúng ta phải tiến hành trận đấu”.

Ờ thì, tôi ở đây để tiến hành trận đấu, và tôi chọn không sống và chết theo những gì mà những người lập nên tỷ lệ nói. Tôi chọn không đặt niềm tin vào số phần trăm của một số nhà nghiên cứu ẩn danh khi họ nhìn vào một đám số liệu khách quan. Thay vào đó, tôi chọn đặt niềm tin vào mình, vào cơ thể, trí tuệ và tinh thần của mình, vào những phần vốn đã nhuần nhuyễn trong nghệ thuật thách thức tỷ lệ của bản thân. Huấn luyện viên Taylor luôn nói với đội bóng bầu dục nghèo Panther trường Trung học Dillon của ông trong phim Ánh sáng đêm thứ Sáu (Friday Night Lights) rằng, “Mắt sáng, tâm đầy, không thể thua cuộc!”.

Tôi có mắt sáng và tâm đầy.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: cupofjo

Đọc bài viết

Trích đăng

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Published

on

By

Trích từ: Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo
Tác giả: Lee Ji-sung
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2020

-  Vì sao Khoa Y Đại học Harvard bãi bỏ việc giảng dạy truyền thống?
-  Vì sao tập đoàn tài chính Goldman Sachs sa thải 598 nhân viên tài giỏi nhất?
-  Lý do Google và NASA thành lập Đại học Singularity?
-  Lý do IBM tuyển chọn nhân viên có trải nghiệm văn hóa nhân loại học?

Từ năm 2030 đến cuối thế kỷ 21, hàng tỷ người trên thế giới sẽ bị Trí thông minh nhân tạo (AI) “cướp” công ăn việc làm. Những ngành nghề lâu nay được xã hội kính trọng và đánh giá cao như nghề bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, nhân viên văn phòng... sẽ là những nạn nhân đầu tiên.

Lúc đó, thế giới lao dộng sẽ gồm một nhóm nhỏ những người điều khiển AI và số còn lại sẽ bị AI điều khiển với tên gọi “vô sản bấp bênh”. Vũ khí nào giúp bạn làm chủ Trí thông minh nhân tạo? Bí mật nằm ở những năng lực chỉ riêng con người mới có.

Chúng là gì? Làm sao đánh thức và phát triển vượt bậc những năng lực đó thông qua giáo dục và tự đào tạo? Cuốn sách này là cẩm nang không thể thiếu nếu bạn muốn LÀM-CHỦ-TRÍ-THÔNG-MINH-NHÂN-TẠO.

Eight - Lee Ji-sung

*

Xin hỏi quý vị

Hiện nay các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Google, IBM đang ra sức đào tạo nhân tài làm chủ AI theo phương pháp “EIGHT”. Còn quý vị? Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng trên boong một con tàu đang bốc cháy dữ dội. Độ cao từ boong tàu tới mực nước biển là 50 mét, tương ứng với độ cao tầng 17 chung cư, nước biển phía dưới thì tối đen, lạnh lẽo, chuyển động dữ dội.

Quý vị sẽ làm gì?

Chạy lòng vòng trên boong tàu bốc cháy, bị lửa táp vào người rồi tử nạn? Hay can đảm nhảy từ boong tàu xuống biển?

Có lẽ quý vị sẽ trả lời thế này.

“Nếu là tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển. Tôi sẽ không mắc sai lầm ngu ngốc vì sợ biển mà ở lại boong tàu đâu.”

Tháng 7 năm 1988, Andy Mochan có mặt trên boong tàu khoan dầu xảy ra tai nạn cháy nổ. Từ nơi ban đầu xảy ra vụ nổ, lửa nhanh chóng lan ra toàn bộ con tàu. Trên boong, lửa và khói đen cũng bắt đầu bốc lên. Không chần chừ, Andy Mochan lao xuống biển Bắc, nơi có những ngọn sóng lạnh lẽo. Việc nhảy từ độ cao tương ứng với tầng 17 của chung cư xuống biển chẳng khác gì đánh cược tính mạng, nhưng Mochan cho rằng so với việc tiếp tục ở lại trên boong tàu đang bốc cháy thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. May thay anh ấy đã sống, được cứu hộ không lâu sau khi nhảy xuống biển.

Chuyện vẫn chưa hết. Trên boong con tàu khoan dầu không ngừng bốc cháy còn có hơn 168 người khác. Tuy nhiên, họ cứ chạy tứ tán trên boong đến giây phút cuối cùng của cuộc đời một cách đầy tiếc nuối.

Tôi xin hỏi lại.

Nếu có mặt trên boong tàu đang bốc cháy đó, quý vị sẽ hành động như thế nào? Đánh cược mạng sống, một mình nhảy xuống biển? Hay ở lại cùng với 168 con người kia?

Ngay lúc này đây, con tàu khổng lồ mang tên Đại Hàn Dân Quốc đang cháy và chìm dần xuống biển. Người dân chạy tứ tán trên boong tàu, thậm chí trên tàu đang xảy ra chuyện gì họ cũng không biết và cũng không buồn tìm hiểu.

Quý vị sẽ làm gì? Quý vị sẽ giống như những người làm ngơ không biết thế giới đã thay đổi như thế nào, để cuối cùng đón nhận cái kết đáng tiếc? Hay sẽ lao xuống biển là cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đại diện cho Trí thông minh nhân tạo?

Vì sao đến chết Steve Jobs vẫn không rời Trí thông minh nhân tạo?

Tôi cũng không nhớ rõ hôm ấy là khi nào. Hôm ấy, khi bước ra ngoài, tôi cảm thấy dường như xung quanh đã thay đổi. Tất cả mọi người đều cầm thứ gì đó bóng bẩy trên tay, nhưng lúc đó tôi không để tâm quan sát kỹ. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với Iphone. Và tôi bắt đầu tò mò về Steve Jobs.

Dĩ nhiên, tôi đã biết rõ về Jobs từ lâu. Tôi từng bị thu hút bởi câu nói của Jobs “Nếu được dùng bữa trưa cùng với Socrates, tôi sẽ kể cho ông ấy nghe hết mọi công nghệ mà Apple có được”. Tôi không ngừng đọc, suy ngẫm và hiểu ra câu nói trên chỉ là lối diễn đạt theo phong cách riêng của Jobs cho cái gọi là “Phương pháp kinh doanh kiểu Socrates” mà các đại diện tiêu biểu là Peter Drucker của Mỹ và Charles Handy của châu Âu. Ngoài ra, tôi cũng biết thêm rằng bảng phả hệ trong ngành Kinh doanh hiện đại được nối tiếp theo thứ tự “các triết gia trước Socrates ®Socrates®Platon®Aristole®Vua Alexander®trường Cao học Luật Harvard®trường Cao học Kinh doanh Harvard®George Marshall®Peter Drucker, Charles Handy”. Ở đây tôi cũng tìm ra lời đáp cho câu hỏi “Làm sao ứng dụng phương pháp đối thoại của Socrates vào kinh doanh?”. Tôi đã mang tất cả sự thật cùng với câu trả lời tìm được vào bản thảo đang viết dở. Về sau, bản thảo đó được xuất bản thành sách với tựa đề Hãy lãnh đạo bằng cách đọc.

Trở lại câu chuyện về Iphone. Sau khi nhìn thấy Iphone, đúng hơn là nhìn thấy những người tôn thờ Jobs như giáo chủ và nâng niu chiếc Iphone như một quyển kinh thánh, tôi thật sự tò mò về Jobs. Tò mò mọi thứ về ông ấy, như suy nghĩ, triết lý, cảm xúc... Tôi đến hiệu sách mua tất cả các sách liên quan đến Jobs và Apple. Tôi còn đến ba thư viện mượn tất cả sách về Jobs và Apple. Nhưng tôi không mua Iphone. Lee Kun Hee – nhà sáng lập và đưa Samsung từ một doanh nghiệp hạng 3 trở thành tập đoàn Samsung hùng mạnh của hiện tại – từng nói thế này:

“Nếu quý vị đi xe buýt mà không biết nó được chế tạo như thế nào thì đó không phải là quý vị đi xe buýt mà là bị chất lên xe.”

Tôi muốn biết suy nghĩ, triết lý và cảm giác của người đã tạo ra chiếc Iphone, rồi sau đó sở hữu nó cũng không muộn.

Tôi của thời điểm đó là người như vậy. Một người vô cùng kiểu cách trong tất cả mọi việc, một người luôn luôn đập vỡ một phần chiếc cầu, và sau khi xác nhận được nó là cầu đá thì mới đi qua. Dĩ nhiên tôi của hiện tại đã khác sau khi sinh được hai đứa con. Tôi cố gắng sống như một dòng nước chảy.

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Hãy lãnh đạo bằng cách đọc được xuất bản vào tháng 11 năm 2010 và tái bản năm 2016, dài 432 trang. Vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân văn học” ở Hàn Quốc đã được giới học thuật sử dụng. Nhưng tất cả mọi người đều thốt lên: “Một quyển sách dài 368 trang với chủ đề ‘phải nhân văn’ ư? Thật là điên rồ”. Họ đều tin rằng sách của tôi sẽ thất bại. Thế nhưng thật bất ngờ, ngay lần xuất bản đầu tiên nó đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất với số lượng bản in cực lớn. Mượn lời diễn đạt của truyền thông lúc đó (chính miệng tôi nói thì đâm ra gượng gạo): quyển sách này đã thắp lên ngọn đuốc dẫn đường cho nhân văn học ở Hàn Quốc.

Khoảng bốn tháng sau khi quyển sách được xuất bản, tháng 3 năm 2011, ngọn đuốc ấy được châm thêm dầu. Tại sân khấu công bố Ipad 2, Steve Jobs tuyên bố: “Apple sinh ra từ điểm giao thoa giữa nhân văn học với khoa học và công nghệ.” Ngay lập tức, tuyên bố này gây xôn xao trong giới doanh nghiệp. Họ rỉ tai nhau rằng, “Yếu tố dẫn tới thành công của Jobs là nhân văn học”, “Bây giờ chúng ta phải theo nhân văn học thôi”. Con đường phát triển của doanh nghiệp hướng đến giới học thuật, các học giả nhạy bén bắt đầu sản xuất ra các bài giảng nhân văn học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trường đại học, Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội... đều thay đổi theo sự thay đổi của doanh nghiệp, cuối cùng cả nước bắt đầu nhộn nhịp theo đuổi nhân văn học.

Bản thân tôi cũng rơi vào vòng xoáy của trào lưu đó. Tới lúc định thần lại, tôi phát hiện mình đang đứng lớp giảng về nhân văn học trước các nhà tài phiệt, CEO và chính trị gia. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy bất an. Chẳng phải tôi đã từng gánh món nợ bảo lãnh 2 tỷ won và sống trong căn phòng gác mái vốn là kho chứa đồ nhưng được sửa chữa trái phép sao? Lúc đó, tôi đã cầu nguyện rất nhiều để xin Chúa cứu giúp. Chỉ cần Chúa cho tôi thành công trong mảng viết lách thì tôi sẽ dành cả đời, cho đến chết, để sống vì những người gặp khó khăn như tôi lúc này.

Tôi rất thích được mời đến nơi nào đó sang trọng nhưng cũng rất đắn đo khi nghĩ đến lời cầu xin với Chúa lúc còn là một tác giả vô danh. Cũng may là sự rối rắm đó của tôi kéo dài không lâu. Một ngày nọ, tôi đoạn tuyệt mối quan hệ với xã hội thượng lưu. Dĩ nhiên, hiện tại tôi đã kết nối lại với một số người, nhưng nếu nghĩ lại tôi cũng không hiểu rốt cuộc tại sao mình lại đột ngột đưa ra phán quyết và hành động như thế.

Từ lúc đó, cùng với các thành viên trong hội Polle Polle (Fan Café), tôi bắt đầu công việc phổ cập giáo dục nhân văn học ở trung tâm thiếu nhi địa phương trong nước, giúp đỡ trẻ em nghèo cùng những người thoát ly khỏi Triều Tiên. Bên cạnh đó, tôi cũng bắt tay vào việc xây dựng trường học ở những nơi nghèo khó bên ngoài Hàn Quốc.

Tôi đặc biệt say mê dự án làng tị nạn ở nước ngoài. Từ Đông Nam Á, Ấn Độ qua Pakistan, Nga, Nam Mỹ đến những trại tị nạn ở Trung Đông, châu Phi và Syria đều thiếu trường học nên chúng tôi trực tiếp đến thăm và lưu lại khá lâu ở những nơi đó.

Cùng sinh hoạt với những người dân vốn khác nhau về ngôn ngữ, một ngày nọ tôi bắt đầu đọc sách và suy ngẫm.

Cả ngày ở một làng tị nạn tràn lan người bệnh vô gia cư và người ăn xin như Kolkata (Ấn Độ), tôi vừa đọc Kant vừa suy ngẫm về vấn đề “Làm triết học là gì?”.

Ở ngôi làng của tộc người Maasai châu Phi, nơi có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, không có điện cũng không có nước, tôi đọc Tham luận triết học luân lý của Ludwig Josef Johann Wittgenstein và nghĩ về “điều không thể nói”.

Khi qua đêm trong công-ten-nơ ở trại tị nạn Jordan Syria, nơi có đầy bom của IS, tôi đọc Tân Ước và suy ngẫm về ý nghĩa của hoang mạc mà Thánh Gioan Baotixita và Chúa Jesus từng trú ngụ. Ban ngày, tôi đã quan sát nơi này khi ngồi trên ô tô.

Chuyện xảy ra khi tôi hoạt động tình nguyện ở Tondo, Philippine, một trong ba thành phố nghèo nhất trên thế giới. Sau khi kết thúc lịch trình một ngày làm việc, tôi đi vào thành phố và ghé qua hiệu sách. Khắp nơi trong hiệu sách đều trưng bày quyển Steve Jobs (bản tiếng Anh) của Walter Isaacson, cuốn tiểu sử duy nhất được Steve Jobs công nhận. Tôi lật qua vài trang rồi rời khỏi hiệu sách trở về Tondo. Tuy nhiên, kỳ lạ là gương mặt của Steve Jobs được in lớn trên bìa sách cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đã bối rối trong chốc lát, nhưng ngay lập tức đưa ra quyết định:

“Tốt thôi! Mình sẽ chỉ nghĩ về Jobs cho đến khi ông ấy không còn xuất hiện trong tâm trí bất bình thường này nữa!”

Tôi bắt đầu cuộc chạm trán lạ lùng với Jobs. Khi đó bất chợt trong đầu tôi nảy ra câu hỏi.

“Mọi người đang nói về Jobs và nhân văn học, vậy nhân văn học mà Jobs nhắc đến là gì? Nhân văn học vốn dĩ được chia thành triết học – lịch sử – văn chương, trong đó riêng triết học đã bao gồm Triết học phương Tây, Triết học phương Đông, Triết học Ấn Độ,... Triết học phương Tây lại gồm Triết học cổ đại, Triết học trung đại, Triết học cận đại... Đâu chỉ có thế. Riêng Triết học cổ đại phương Tây thôi đã có nhiều triết gia rồi. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là triết học, lịch sử, văn chương của những ai, ở thời đại nào? Liệu có phải Socrates từng được nhắc tới ở đầu chương sách này? Không. Lúc đó Jobs có nói là ông dựa trên phương pháp kinh doanh của bản thân. Nhân văn học kết hợp với khoa học công nghệ của Apple có lẽ bắt nguồn cội rễ từ Socrates nhưng đó không phải là Socrates. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là gì?”

Vài ngày sau tôi trở về Hàn Quốc. Để có được lời đáp cho câu hỏi này, tôi đã tìm kiếm gần như tất cả các sách và bài giảng ở Hàn Quốc có nhắc tới Jobs, Apple và nhân văn học. Tôi còn gặp gỡ các học giả và chuyên gia ngành nhân văn có tiếng để thăm hỏi. Nhưng dù ở đâu, với ai, tôi cũng không tìm được câu trả lời. Tất cả đều hỏi tại sao tôi lại thắc mắc điều đó. Do vậy, tôi nghiên cứu về Jobs lại từ đầu. Tôi đọc và nghiền ngẫm lại toàn bộ các sách liên quan đến Jobs và Apple, chụp màn hình lưu lại các bài báo trong nước nói về Jobs. Những video nói về Jobs hay có Jobs xuất hiện tôi cũng tua đi tua lại để xem. Ví dụ như chương trình “Steve Jobs: Cuộc phỏng vấn bị đánh mất”, tôi tự tay bê toàn bộ phụ đề lưu vào laptop, đọc đi đọc lại hơn mười lần, hay mẩu quảng cáo “Think Different” huyền thoại của Apple phản ánh triết lý của Jobs tôi cũng xem đi xem lại hơn ba mươi lần.

Và cuối cùng tôi biết được sự thật: Nhân văn học của Jobs là triết học công cụ xuất hiện trong cuốn Tồn tại và Thời gian của triết gia Martin Heidegger; sự kết hợp giữa nhân văn học và khoa học công nghệ có nghĩa là tác nghiệp của Mark Weiser, người đứng đầu PARC (Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto); “Simple” (mẫu) là triết lý thiết kế của Trường dạy nghệ thuật Bauhaus ở Đức và triết lý thiết kế kiến trúc Mỹ được phát triển và kế thừa từ Louis Henry Sullivan ® Frank Lloyd Wright ® Joseph Eichler. Sau này, tôi nói rõ hơn về những điều này trong quyển Nhân văn học trong tôi.

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời. Nhiều người trên thế giới tiếc thương cho sự ra đi của Jobs. Làn sóng này cũng xảy ra ở Hàn Quốc. Bất chợt, tôi tò mò về sự ra đi của ông.

“Jobs đã làm gì trước khi chết? Lẽ nào ông lại không đóng góp một khoản tiền khổng lồ cho nơi nào đó, như bệnh viện ung bướu chẳng hạn? Và hẳn là ông đã dành trọn khoảng thời gian quý báu cuối cùng bên những người thân yêu?”

Khác với phỏng đoán của tôi, Jobs vẫn miệt mài nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo.

Năm 2003, Cơ quan Chỉ đạo Dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng Mỹ, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford (SRI International), xúc tiến dự án Trí thông minh nhân tạo CALO (Trợ lí nhận thức học và tổ chức) với mục đích nghiên cứu và phát triển Trí thông minh nhân tạo có khả năng học tập và suy luận đến có thể đối thoại với con người. Dự án huy động khoảng 300 chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo và được tiến hành trong 5 năm. Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford đã tách riêng một phần của dự án này và cho khởi nghiệp. Tháng 4 năm 2010, Jobs chi khoảng 2.260 tỷ won mua lại doanh nghiệp này. Jobs trực tiếp chỉ đạo dự án Trí thông minh nhân tạo Iphone, phát triển phần mềm Siri. Jobs qua đời sau hôm công bố Iphone 4S có tích hợp trợ lí nhận dạng giọng nói Siri.

Chính vì vậy, trong một năm rưỡi trước khi qua đời, Jobs bỏ ra một số tiền khổng lồ mua lại doanh nghiệp start-up về Trí thông minh nhân tạo, trực tiếp chỉ huy dự án Trí thông minh nhân tạo và ngừng thở vào hôm sau ngày dự án đó được hoàn thành. Nói đơn giản, Jobs đã dồn hết sức sống còn lại của mình cho Trí thông minh nhân tạo. Sẽ thế nào nếu Jobs không dồn hết tâm huyết vào Trí thông minh nhân tạo cho đến lúc cuối đời? Biết đâu ông ấy sẽ sống thêm được một thời gian. Không chừng bây giờ ông ấy vẫn còn sống.

Thông qua nhiều cách, tôi biết việc quan trọng nhất mà Jobs đã làm được trước khi chết, tôi bị sốc nặng, mặt nghệch ra. Tôi không hiểu “Jobs bị gì vậy?”, “rốt cuộc Trí thông minh nhân tạo là cái quái gì?”. Đương nhiên, từ năm 2004, tôi đã biết các doanh nghiệp IT lẫy lừng của Mỹ đều tập trung vào Trí thông minh nhân tạo, dựa vào câu nói của Bill Gates “Tôi sẽ dẹp hết mọi việc sang một bên và chạy ngay tới nếu nơi đó có thông tin liên quan đến Trí thông minh nhân tạo” trong quyển Buffett & Gates on Success (tạm dịch Buffett và Bill Gates nói về thành công) được dịch và xuất bản bằng tiếng Hàn. Thế nhưng, khi đó với tôi, Trí thông minh nhân tạo là thứ nằm giữa ranh giới của khoa học viễn tưởng và khoa học. Không, nó gần với khoa học viễn tưởng hơn. Tuy nhiên khi lần theo hành tung của Jobs trước khi mất, tôi nhận ra Trí thông minh nhân tạo hoàn toàn không phải là khoa học viễn tưởng. Từ lúc này tôi nghiêm túc đón nhận Trí thông minh nhân tạo, chính thức bắt đầu nghiên cứu về nó. Tháng 3 năm 2015, tôi mang một phần nội dung nghiên cứu được vào Nhân văn học trong tôi.

Không ai quan tâm

Nhân văn học trong tôi leo lên vị trí số 1 của thể loại sách tổng hợp bán chạy nhất sau khoảng 2 tháng xuất bản. Quỹ tin tức về Nhân văn học trong tôi mà tôi thực hiện cùng với Daum (trang thông tin điện tử) đạt hơn 100 triệu won và tạo ra một đề tài lớn. Trong thâm tâm, tôi đã kỳ vọng rằng “mối quan tâm về Trí thông minh nhân tạo sẽ bùng nổ ở Hàn Quốc ngay thôi”. Nhưng rốt cục, chỉ mình tôi đơn thương độc mã nghĩ như thế trên đất nước Kim Chi này. Thật đó, không ai quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo cả. Chán nản, tôi chọn cách quên nó đi.

Rồi một ngày nọ, theo tôi nhớ có thể là do AlphaGo, cả nước đã náo loạn. Tôi nhận được liên lạc từ nhà xuất bản. Họ bảo rằng một doanh nghiệp đề nghị tôi đến giảng cho họ về chủ đề “Trí thông minh nhân tạo và nhân văn học”. Thật thú vị. Và tôi đã đồng ý ngay.

Doanh nghiệp đó có khá nhiều nhân viên nên buổi thuyết giảng được chia thành hai lượt, sáng và chiều. Trong giờ ăn trưa hôm đó đã xảy ra một sự việc khiến tôi thay đổi ý nghĩ về Trí thông minh nhân tạo. Ngồi dùng cơm cùng Tổng giám đốc và ban lãnh đạo nhưng thật tình tôi không thể nuốt nổi cơm.

Lý do là vì sau lời mào đầu lê thê, ẩn ý sâu xa của ông Tổng: “Chắc nhà văn cũng quan sát thấy, công ty chúng tôi được nhiều người từ Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông và dĩ nhiên cả Mỹ và châu Âu thường xuyên lui tới. Thế nhưng, không biết từ bao giờ mọi người bắt đầu nói với nhau về Trí thông minh nhân tạo. Tôi tìm hiểu và biết rằng thế giới đang được tái cấu trúc, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm. Vì vậy, công ty chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo để nghe họ thuyết giảng. Nhưng tất cả đều chỉ trình bày đại loại như công nghệ Trí thông minh nhân tạo phát triển như thế này; trong tương lai do Trí thông minh nhân tạo mà thế giới sẽ thay đổi như thế này; Trí thông minh nhân tạo giống như SkyNet trong phim Kẻ hủy diệt, nó xuất hiện và biến nhân loại thành nô lệ của nó. Anh thử nghĩ xem, những chuyện đó liên quan gì đến chúng tôi? Việc quan trọng không phải là đưa ra đáp án cho câu hỏi “Chúng tôi cần chuẩn bị gì cho tương lai?” hay sao? Giờ đây chắc chắn sẽ sớm đến thời đại mà Trí thông minh nhân tạo vượt qua được con người. Vậy tóm lại lúc đó là khi nào, chúng tôi phải đào tạo, biến hóa bản thân như thế nào, nhân viên và con cái của nhân viên chúng tôi cũng phải học và chuẩn bị ra sao, họ phải cho chúng tôi biết những thứ đó chứ. May mắn là trong quyển Nhân văn học trong tôi của anh có thể hiện đôi chút nội dung như thế nên lần này chúng tôi đã mời anh. Cảm ơn nhà văn, dù bận rộn nhưng đã nhận lời đến đây”.

Từng thành viên ban lãnh đạo luân phiên đưa ra lời thắc mắc, người thì hỏi đứng trước thời đại Trí thông minh nhân tạo thì bản thân tôi phải chuẩn bị gì, người thì kể chi tiết con cái họ đang được cha mẹ chuẩn bị cho như thế nào và hỏi vậy định hướng và phương pháp của họ có đúng không, người khác lại hỏi tôi có thể cho họ lời khuyên không.

Tôi nhớ đó là bữa trưa khá mệt mỏi như cả ngày hôm đó, nhưng tôi nhận ra điều này:

“Ừ nhỉ, việc quan trọng là trả lời câu hỏi “Trong thời đại Trí thông minh nhân tạo thì tôi cần phải chuẩn bị gì?”. Đúng thế, việc cần thiết với tất cả mọi người chính là điều đó. Sau này mình phải nghiên cứu sâu hơn về nó.”

40.000 người đối đầu với 49.960.000 người

Buổi thuyết giảng ở doanh nghiệp đó có phải là bước ngoặt với tôi? Đột nhiên các lời đề nghị thuyết giảng về Trí thông minh nhân tạo bắt đầu ập tới xối xả. Ban đầu tôi từ chối “Ôi trời, tôi không phải là người nghiên cứu hay phát triển Trí thông minh nhân tạo gì cả, tôi chỉ là nhà văn thôi”. Trí thông minh nhân tạo không phải là chuyên môn của tôi nên tôi đã bối rối khi nhận được đề nghị thuyết giảng từ khắp cả nước chứ không phải một hai nơi.

Sự thực ở thời điểm đó tôi không hề có ý định sẽ viết quyển sách này. Bỗng một hôm khi đang đọc sách liên quan đến Trí thông minh nhân tạo ở thư viện, tôi vô tình biết được xã hội nhân loại tương lai sẽ chia thành “giai cấp ra chỉ thị cho Trí thông minh nhân tạo” và “giai cấp nhận chỉ thị của Trí thông minh nhân tạo”. Và cũng được biết chuyện các nước tiên tiến đã nỗ lực từ lâu để sản xuất ra nhiều nhất có thể các công dân phụ thuộc vào điện tử. Tôi đã sốc. Càng sốc hơn khi biết được sự thật tiếp theo. Hàn Quốc gần như không có người hiểu biết về lĩnh vực này. Truyền thông cũng không đả động đến.

Hỏng rồi. Tôi cảm thấy bất an, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ lặp lại lịch sử của thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc. Tôi bắt đầu tích lũy tài liệu để viết sách. Tôi gần như đã đọc hết các sách về Trí thông minh nhân tạo được xuất bản cũng như tất cả các tin tức liên quan mà truyền thông đã đăng. Bằng cách đó tôi đã thu thập tài liệu trong hơn một năm, và mất khoảng ba tháng để phân tích tài liệu.

Thế nhưng, thật khó để đặt bút viết. Trong suốt hai năm, tôi bận bịu với các bài giảng ở khắp nơi trên cả nước, đồng thời phải giải quyết nhiều công việc khác nên trong một tháng nhiều lắm chỉ viết được khoảng năm hay sáu lần. Tính bình quân mỗi lần giảng có khoảng 300 người nghe thì tất cả tôi đã giảng cho khoảng 40.000 người. Ngược lại, số người không được nghe giảng về Trí thông minh nhân tạo, số người được cho là không hề quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo chiếm khoảng 49.960.000 người.

Hơn nữa, môi trường chung của Hàn Quốc thì sao? Hãy nhìn vào nhóm 8 trường hàng đầu Gangnam gần như giữ vai trò dẫn đường cho giáo dục Hàn Quốc. Ngay lúc này, mọi người không thấp thỏm lo lắng là do giáo dục đã bớt chạy theo hướng nhồi nhét chăng? Tất cả các nước tiên tiến đều tuyên bố rằng trong tương lai chỉ số thông minh (IQ) của Trí thông minh nhân tạo sẽ vượt qua mức 10.000 nên kiểu giáo dục học thuộc lòng hoàn toàn không có ý nghĩa, họ đang nỗ lực để giúp trẻ em phát triển năng lực mà Trí thông minh nhân tạo tuyệt đối không thể có. Minh họa cho điều này, không khác gì việc súng đã được phát minh và tất cả mọi người đều trang bị súng, chỉ riêng chúng ta vẫn còn dạy cho trẻ con cách chế tạo mũi tên tốt hơn một chút. Hay chuyện con người đã phát minh ra điện và mọi người đang tạo ra nền văn minh từ điện nhưng chỉ mỗi chúng ta lại đang dạy cho trẻ con cách làm nến có thể cháy lâu hơn một chút.

Còn Chính phủ và Quốc hội thì sao? Trong khi các cơ quan nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước đang tranh nhau công bố các báo cáo về việc trong tương lai khoảng 10 năm tới thế giới sẽ thay đổi, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm, các nghề nghiệp mang tính chuyên môn và dĩ nhiên bao gồm cả nghề lao động đơn giản, thậm chí các công việc kỹ thuật sẽ bị thay thế bởi Trí thông minh nhân tạo thì ở Hàn Quốc, Chính phủ và Quốc hội lại không đưa ra được đối sách nào cả. Khoan nói tới chuyện ra đối sách thiết thực, ngay cả việc hướng dẫn người dân như Chính phủ và Quốc hội Nhật đã làm: “Khi xin việc hãy lựa chọn công việc mà về sau không bị Trí thông minh nhân tạo thay thế”, họ còn không thể làm được.

Thế còn vấn đề Triều Tiên? Không riêng Yuval Noah Harari, các nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng khuyến cáo Hàn Quốc có thể trở thành quốc gia phải đương đầu với mối nguy hiểm lớn nhất trong thời đại của Trí thông minh nhân tạo. Một người như Kim Jong-un sau này có thể xây dựng đội quân robot bằng Trí thông minh nhân tạo. Thực tế, hiện nay điều khiến binh lính khiếp sợ nhất trong lúc giao chiến không phải là lính con người mà là lính robot được chế tạo từ Trí thông minh nhân tạo. Tóm lại, chúng ta phải nhìn vấn đề Triều Tiên trên quan điểm của thời đại Trí thông minh nhân tạo. Sự uy hiếp từ đội quân robot Trí thông minh nhân tạo sẽ không biến mất cho dù chế độ Kim Jong-un sẽ chấm dứt ở Triều Tiên, 200.000 tù nhân chính trị bị bắt giam được trả tự do và nhân quyền được khôi phục, từ Bắc chí Nam được thống nhất theo chủ nghĩa tự do dân chủ với vai trò chủ đạo của Đại Hàn Dân Quốc.

Ngoài ra, xung quanh Hàn Quốc còn có Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, những quốc gia có tiềm năng quân sự hùng mạnh, có thể xây dựng quân đội robot Trí thông minh nhân tạo mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn cả Triều Tiên. Ba quốc gia này có bốn điểm chung như sau.

Thứ nhất, đã từng giao tranh với Hàn Quốc.

Thứ hai, giữa họ cũng từng xảy ra giao tranh.

Thứ ba, các nước láng giềng đều có kế hoạch triển khai quân đội đến bán đảo Triều Tiên trong tình huống khẩn cấp. Trung Quốc đã bố trí khoảng từ 500 đến 1.200 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hướng về bán đảo Triều Tiên; chưa hết, họ còn có đội quân chuyên biệt phụ trách bán đảo Triều Tiên từ trước; Nga cũng cho quân đội tập trận cùng với đội quân này của Trung Quốc; Nhật thì tuyên bố nếu nguy cấp họ bắt buộc phải triển khai quân tự vệ lên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, ngay thời điểm hiện tại họ đang đầu tư chi phí quân sự rất lớn để xây dựng quân đội vững mạnh.

Tóm lại Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều là những nước mạnh về kinh tế và quân sự. Ba quốc gia này liệu có ngồi yên trong thời đại Trí thông minh nhân tạo? Tuyệt đối là không rồi. Họ sẽ sản xuất ra đội quân robot Trí thông minh nhân tạo theo tiêu chuẩn hiện đại nhất của thế giới và đưa vào thực tiễn. Chúng ta phải nhìn thấy tương lai này và chuẩn bị đối phó với nó. Nếu không, chúng ta sẽ không bảo vệ được mình trong thời đại Trí thông minh nhân tạo.

Quốc gia đứng đầu thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người”

Toàn bộ tai ương về Trí thông minh nhân tạo do sự vô tri, vô năng của Chính phủ và Quốc hội gây ra sẽ trở thành gánh nặng cho người dân. Quý vị có biết quốc gia số 1 thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người” nằm ở đâu không? Chính là Hàn Quốc. Theo báo cáo do tổ chức Liên minh Robot thế giới (IFR) công bố, ở Hàn Quốc, cứ 10.000 người lao động thì có khoảng 462 đến 531 người bị robot thay thế, nhiều hơn mức trung bình 69 người của thế giới (số liệu năm 2016).

Sau này, nếu thời kỳ Trí thông minh nhân tạo chính thức bắt đầu thì Hàn Quốc có khả năng rất cao sẽ trở thành quốc gia số 1 trên thế giới tính theo tỷ lệ người bị Trí thông minh nhân tạo thay thế. Điều này có ý nghĩa gì? Có nghĩa là quý vị, người hiện đang đọc bài viết này có nhiều khả năng sẽ bị mất việc do Trí thông minh nhân tạo gây ra. Lỡ như tình huống đó xảy ra, quý vị và gia đình quý vị sẽ thế nào? Mới nghĩ thôi đã thấy kinh khủng. Có một việc còn kinh khủng hơn nữa. Quý vị hoàn toàn không biết về việc này, cũng như không hề có sự chuẩn bị nào để đối phó với nó.

Nhóm đặc quyền ở Hàn Quốc, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều kém năng lực, nhưng dù sao ở Hàn Quốc họ vẫn là tập thể chuẩn bị tốt nhất cho tương lai. Từ sau sự kiện AlphaGo, họ đều đặn tham dự các diễn đàn hay các buổi diễn thuyết, buổi thảo luận về vấn đề Trí thông minh nhân tạo, chăm chỉ cóp nhặt kiến thức liên quan. Nếu không tin, quý vị hãy thử gõ từ khóa đại loại như “diễn đàn Trí thông minh nhân tạo” hay “diễn thuyết Trí thông minh nhân tạo”, “thảo luận Trí thông minh nhân tạo” vào mục tìm kiếm tin tức trên mạng mà xem.

Dĩ nhiên việc học tập, nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo của nhóm đặc quyền chỉ dừng lại ở kiểu nhồi nhét. Thế nhưng thực tế họ là những người có nhiều hiểu biết nhất về Trí thông minh nhân tạo, có sự chuẩn bị tốt nhất cho thời đại Trí thông minh nhân tạo ở Hàn Quốc. Hơn nữa, ngoài tài sản và quyền lực, họ còn có cả mối quan hệ. Vì thế, dù thời đại Trí thông minh nhân tạo có xảy ra thì khả năng cao họ vẫn có thể sống tốt.

Nhưng đại đa số những người không có đặc quyền nào cả sẽ ra sao? Ở đây tôi sẽ nói cụ thể, đó là chuyện chúng ta sẽ mất việc làm, gia cảnh rơi vào khốn khó chỉ trong một buổi sáng và phải sống cuộc sống của kẻ nghèo khổ trong suốt phần đời còn lại.

Quý vị sẽ làm gì?

Cứ sống như hiện tại rồi một ngày nọ bị loại bỏ bởi Trí thông minh nhân tạo có tài năng vượt trội hơn quý vị?

Hay là ngay từ bây giờ quý vị sẽ biến mình thành người “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, tức là trở thành chủ nhân của Trí thông minh nhân tạo?

Tôi hy vọng quý vị sẽ lựa chọn ý thứ hai. Tôi hy vọng quý vị sẽ là một cá thể mạnh mẽ có thể bảo vệ cho những người thật sự quan trọng với quý vị và cả bản thân quý vị trong tương lai.

Nếu quý vị bắt đầu bước đi trên con đường trở thành “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, những người xung quanh quý vị cũng sẽ quan tâm đến con đường này. Và họ sẽ bắt đầu sánh bước cùng quý vị.

Chỉ khi người dân Hàn Quốc chuẩn bị cho tương lai theo cách như thế thì mới mở rộng được cánh cửa cường quốc Trí thông minh nhân tạo phía trước.

Tôi tin chắc là vậy.

Đây là lý do khiến tôi cầm bút sau hồi lâu lưỡng lự.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng