Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 2 “Lưỡng Giới” – Jeffrey Eugenides

“Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên?”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Lưỡng giới

Tác giả: Jeffrey Eugenides

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: tháng 7.2019

Đọc Chương 1.

MAI MỐI

Khi câu chuyện này được lan truyền ra cả thế giới, biết đâu tôi sẽ trở thành kẻ lưỡng tính nổi tiếng nhất trong lịch sử.

Trước tôi đã có nhiều người khác. Alexina Barbin học trường nội trú nữ ở Pháp trước khi trở thành Abel. Cô để lại cuốn tự truyện mà triết gia Michel Foucault phát hiện ra trong tài liệu lưu trữ của Ban Vệ sinh Công cộng Pháp. (Các tập hồi ký, kết thúc trước khi cô tự sát ít lâu, không khiến người đọc thấy thỏa mãn, và chính sau khi đọc xong chúng nhiều năm trước mà tôi nảy ra ý tưởng viết hồi ký.)1 Gottlieb Göttlich, sinh năm 1798, sống với tên Marie Rosine cho tới năm ba mươi ba tuổi. Một ngày do bị đau bụng Marie tới khám bác sĩ. Bác sĩ kiểm tra xem cô có bị thoát vị không thì phát hiện cô bị tinh hoàn ẩn2. Kể từ đó, Marie mặc quần áo đàn ông, lấy tên là Gottlieb, rồi kiếm bộn tiền bằng việc đi vòng quanh châu Âu cho các bác sĩ săm soi mình.

Cứ theo mấy ông bác sĩ thì tôi còn hay ho hơn Gottlieb nhiều. Xét dưới khía cạnh hoóc môn của bào thai ảnh hưởng lên hóa học thần kinh và mô học, não tôi là não đàn ông. Nhưng tôi được nuôi nấng theo kiểu con gái. Nếu bạn định làm thí nghiệm kiểm tra mức độ ảnh hưởng của tự nhiên so với môi trường nuôi dưỡng, đời tôi là một thử nghiệm hoàn hảo. Trong khoảng thời gian tôi ở Phòng khám gần ba thập kỷ trước, bác sĩ Luce cho tôi làm không biết bao nhiêu xét nghiệm. Tôi được cho làm Xét nghiệm Khả năng Ghi nhớ Hình ảnh Benton và Xét nghiệm Thị giác-Vận động Cấu trúc Hình thức Bender. Chỉ số IQ về mặt ngôn ngữ của tôi được đo, cùng vô số thứ khác nữa. Luce thậm chí còn phân tích kiểu viết văn của tôi để xem tôi viết thẳng mạch theo kiểu đàn ông, hay vòng vèo theo kiểu đàn bà.

Tất cả những gì tôi biết là thế này: mặc cho bộ não bị tràn ứ hoóc môn nam, vẫn có một sự lòng vòng nữ tính bẩm sinh trong câu chuyện mà tôi buộc phải kể. Trong bất cứ lịch sử nào về di truyền. Tôi là mệnh đề cuối trong một câu ghép có mệnh đề phụ đứng trước, mà cái câu đó bắt đầu từ lâu lắm rồi, trong một ngôn ngữ khác, nên bạn phải đọc từ đầu thì mới hiểu được đoạn cuối, chính là sự ra đời của tôi.

Thành thử giờ đây, khi đã được sinh ra, tôi sẽ tua ngược phim, để cái chăn màu hồng bay mất, cái cũi vút lại qua sàn nhà trong khi dây rốn được nối lại, và tôi gào lên trong khi bị hút ngược lại vào giữa hai chân bà bô. Bà lại béo ú. Rồi quay trở lại nữa khi cái thìa ngừng đong đưa và cặp nhiệt độ vào lại hộp nhung. Vệ tinh Sputnik đuổi theo luồng sáng sau đuôi về lại bệ bắn và bệnh bại liệt rình rập vùng đất này. Vụt qua hình ảnh ông bô tôi hồi hai mươi tuổi chơi kèn clarinet, thổi một bản nhạc của nghệ sĩ Artie Shaw3 vào điện thoại, rồi ông ở nhà thờ, lúc tám tuổi, choáng váng vì giá tiền nến thánh; tiếp theo là ông nội tôi giật tờ hóa đơn đầu tiên thanh toán bằng tiền đôla Mỹ ra khỏi máy tính tiền hồi năm 1931. Rồi ra khỏi nước Mỹ hoàn toàn; chúng ta ở giữa đại dương, nhạc phim nghe ngồ ngộ khi chơi ngược lại. Một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước xuất hiện, và trên boong tàu xuồng cứu hộ đang rung lắc rất kỳ quặc; nhưng rồi tàu về lại bến, đuôi tàu trước, và chúng ta lại lên đất liền, nơi bộ phim bắt đầu chiếu, từ đầu…

Cuối mùa hè năm 1922, bà Desdemona Stephanides của tôi không dự báo chuyện sinh nở mà chết chóc, cụ thể là cái chết của chính mình. Bà đang ở trong trại nuôi tằm, tít trên sườn núi Olympus ở Tiểu Á, thì tim bà, không hề cảnh báo trước, lỡ một nhịp. Cảm giác rất rõ rệt: bà thấy tim mình ngừng đập rồi co siết lại. Rồi khi bà sững cả người ra thì nó bèn hối hả phi, thình thịch trên sườn. Bà khẽ rên lên ngỡ ngàng. Hai mươi nghìn con tằm, nhạy cảm với cảm xúc con người, ngừng kéo kén. Nhíu mắt dưới ánh sáng mờ mờ, bà tôi nhìn xuống thấy vạt áo bay phấp phới; trong khoảnh khắc đó, khi nhận ra cú nổi loạn trong người, từ lúc đấy cho đến cuối đời, Desdemona trở thành người ốm dặt dẹo bị cầm tù trong một cơ thể khỏe mạnh. Tuy nhiên, không chịu tin mình chả bị làm sao, tim đã im ổn trở lại cũng mặc, bà bước ra khỏi trại tằm trông xuống lần cuối cùng cái thế giới mà bà sẽ không rời bỏ trong năm mươi tám năm tiếp theo.

Bên ngoài cảnh đẹp hùng vĩ. Cố đô Bursa của đế chế Ottoman nằm ba trăm mét bên dưới, như một bảng cờ thỏ cáo trải qua thung lũng xanh rờn. Những ô hình thoi đỏ của mái nhà gạch ăn khớp với những hình thoi trắng trên nền nước vôi tường trắng. Đây đó, mộ các sultan nhấp nhô như các quân chip đánh bạc màu rực rỡ. Cái hồi năm 1922, ôtô còn chưa làm tắc phố phường. Thang kéo dân trượt tuyết còn chưa cắt phạm vào rừng thông trên núi. Các thể loại nhà máy luyện kim và dệt không réo ầm cả thành phố, làm không khí mù khói. Trông Bursa – ít nhất từ trên cao ba trăm mét – hệt như xưa, sáu thế kỷ trước, một thành phố thiêng liêng, bãi tha ma của dân Thổ Ottoman và trung tâm giao thương lụa, những con phố yên ắng, thoai thoải ken dày tháp giáo đường với cây bách. Những viên ngói trên Thánh đường Green Mosque4 theo năm tháng càng xanh thẫm hơn, nhưng chỉ có thế thôi. Tuy vậy, đứng từ xa chầu rìa vào, Desdemona Stephanides nhìn xuống bàn cờ và thấy được thứ mà các cờ thủ đã bỏ qua.

Dùng phân tâm học mà đọc vị cái bệnh đánh trống ngực của bà tôi thì nó như thế này: đây là biểu hiện của nỗi đau buồn. Cha mẹ bà đã chết – bị giết trong cuộc chiến gần đây với quân Thổ. Quân đội Hy Lạp, được các nước Đồng minh khuyến khích, xâm chiếm phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1919, giành lại vùng lãnh thổ của Hy Lạp từ thời xa xưa ở Tiểu Á. Sau nhiều năm sống tách biệt mãi trên núi cao, người dân Bithynios, làng bà tôi, đã xuất đầu lộ diện trong vùng an toàn của Megale Idea – Tư tưởng Lớn, giấc mơ về một Đại Hy Lạp5. Quân đội Hy Lạp đóng chiếm Bursa vào thời điểm này. Cờ Hy Lạp bay phấp phới trên cung điện trước đây của Ottoman. Quân Thổ và thủ lĩnh, Mustafa Kemal6, rút về Angora ở phía Đông. Lần đầu tiên trong đời, dân Hy Lạp ở Tiểu Á thoát khỏi ách thống trị của quân Thổ. Những người không theo đạo Hồi (“những con chó ngoại đạo”) không còn bị cấm mặc quần áo sáng màu hay cưỡi ngựa hay dùng yên cương7. Không bao giờ còn chuyện như mấy thế kỷ qua, bọn quan lại Ottoman hằng năm vào làng bắt trai tráng khỏe mạnh nhất đi phục dịch trong quân đội Thổ. Giờ đây, khi đàn ông trong làng mang lụa đi bán ở chợ ở Bursa, họ là người Hy Lạp tự do, ở một thành phố Hy Lạp tự do.

Tuy vậy, Desdemona vì thương nhớ mẹ cha nên vẫn bị cầm tù trong quá khứ. Thế là bà đứng trên núi, nhìn xuống thành phố đã được giải phóng, và thấy như bị lừa bởi chả thấy sung sướng như mọi người. Nhiều năm sau, lúc góa bụa, khi đã trải qua một thập kỷ trên giường cố hết sức bình sinh để chết đi, cuối cùng bà cũng chịu thừa nhận rằng hai năm giữa chiến tranh nửa thế kỷ trước là thời gian đẹp đẽ duy nhất trong đời bà; nhưng đến lúc đó thì những ai bà quen biết đã chết sạch cả rồi và bà chỉ còn nói được điều này với cái tivi.

Gần một tiếng đồng hồ qua Desdemona cố làm việc trong trại tằm để bơ đi linh cảm của mình. Bà đi ra cửa sau nhà, qua giàn nho thơm ngọt, rồi băng qua mảnh sân vườn bậc thang đi vào túp lều thấp lợp rơm. Mùi ấu trùng hăng sè trong lều không làm bà khó chịu. Trại tằm là ốc đảo riêng bốc mùi nồng nặc của bà tôi. Khắp chung quanh bà, dưới một khoảnh trời, những chú tằm trắng mềm mại bám chặt vào những bó cành dâu con con. Desdemona ngó chúng dệt kén, đầu lúc lắc như theo điệu nhạc. Bà ngắm chúng mà quên đi cái thế giới đảo điên với bao biến động ngoài kia, với cái thứ âm nhạc mới kinh khủng (vài phút nữa thôi sẽ được xướng lên). Rồi bà nhớ lại lúc mẹ mình, Euphrosyne Stephanides, cũng đúng ở cái trại tằm này nhiều năm trước, tiết lộ bí mật về tằm – “Muốn được lụa tốt thì con phải tinh khiết,” bà thường bảo con gái. “Tằm nó biết cả đấy. Cứ nhìn chất lượng lụa của một người là biết ngay họ đã làm gì” – rồi cứ thế, Euphrosyne tuôn ra ví dụ – “Maria Poulos, cái con bạ thằng nào cũng giạng chân ấy? Con thấy kén tằm của nó chưa? Vết nhơ cho loài người. Lần tới nhìn thử mà xem” – lúc đó Desdemona mới mười một mười hai gì đó và tin sái cổ từng lời mẹ bảo, thành thử giờ đây, khi đã là một thiếu nữ hai mươi mốt tuổi, bà vẫn không tài nào bác bỏ sạch trơn những câu chuyện răn dạy đạo đức của mẹ, cứ săm soi các kén tằm tìm dấu hiệu ô uế của chính mình (những giấc mơ hằng đêm gần đây!). Bà cũng tìm xem ở chúng có gì khác nữa không, bởi mẹ bà cũng bảo rằng tằm phản ứng với những biến cố hung bạo trong lịch sử. Sau mỗi trận tàn sát, ngay cả một làng ở cách xa năm mươi dặm, tơ tằm đều biến thành màu đỏ máu hết – “Mẹ đã thấy chúng rỉ máu tựa như chính đôi chân Chúa Jesus đấy,” lại là lời Euphrosyne. Thế là nhiều năm sau con gái bà vẫn nhớ mà nhíu mắt dưới ánh đèn mờ để xem có kén tằm nào biến thành màu đỏ không. Bà kéo một khay tằm ra mà lắc lắc; bà lại kéo khay khác ra; đúng lúc đó bà thấy tim mình ngừng đập, siết chặt lại, rồi thoi vào bà từ bên trong. Bà làm rơi cái khay, nhìn vạt áo bay phấp phới do lực từ bên trong và hiểu rằng tim mình hoạt động theo chỉ dẫn của riêng nó, rằng bà không có quyền điều khiển nó, hay quả thực cũng không có quyền điều khiển bất cứ thứ gì khác.

Vậy là yia yia của tôi, bị căn bệnh tưởng đầu tiên, đứng dòm xuống Bursa như thể biết đâu tìm được một điểm hữu hình khẳng định cho nỗi sợ vô hình. Thế rồi điểm ấy đến dưới dạng âm thanh, từ trong nhà: em trai bà, Eleutherios (“Lefty8”) Stephanides, bắt đầu cất tiếng hát. Bằng một thứ tiếng Anh không hiểu nổi, phát âm sai be bét:

“Sáng sáng chiều chiều vui hem em ây,” Lefty hát, cứ chiều chiều đúng vào giờ này, đứng trước gương phòng ngủ, ông cài cổ áo bằng xen-lu-lô vào sơmi trắng mới, bóp chút sáp thơm (hương chanh) vào gan bàn tay rồi bôi lên mái tóc kiểu Valentino9 mới cắt. Đoạn hát tiếp: “Giờ này giờ nọ vui hem em ây.” Ông cũng chẳng hiểu lời bài hát, nhưng chỉ cần nhạc điệu là đủ. Nó kể với Lefty về thời đại nhạc jazz phóng túng, những món cốc tai rượu gin, về những em gái bán thuốc lá trong sòng bạc. Nó khiến ông vuốt ngược tóc rất kiểu cách… trong khi, ngoài sân, Desdemona nghe tiếng hát mà phản ứng khác hoàn toàn. Với bà, bài hát chỉ gợi đến những quán rượu tai tiếng em trai bà tạt vào khi xuống thành phố, những quán rượu nhỏ hút thuốc hasit nơi người ta chơi nhạc rebetiko với nhạc Mỹ và nơi bọn gái đĩ hát… khi Lefty mặc bộ vét kẻ sọc mới và gấp khăn mùi soa để túi màu đỏ tiệp với cà vạt đỏ… bà thấy chộn rộn trong người, nhất là ở bụng, cuộn lên bức bối vì đủ các thể loại xúc cảm phức tạp, buồn đau, giận dữ, và gì đó nữa bà không định rõ được nhưng lại làm lòng bà tan nát nhất. “Tiền nhà chưa trả, xe thì chưa tậu, cưng ây,” Lefty ngâm nga bằng giọng tenor ngọt ngào mà sau này tôi được thừa hưởng; còn dưới tiếng nhạc giờ đây Desdemona lại nghe thấy giọng mẹ mình, lời trăn trối của Euphrosyne Stephanides thốt ra ngay trước khi chết vì bị trúng đạn, “Săn sóc Lefty nhé. Hứa với mẹ đi. Tìm vợ cho nó!”… còn Desdemona, giàn giụa nước mắt trả lời, “Con hứa. Con hứa!”… tất cả những giọng này cùng một lúc cất lên trong đầu Desdemona khi bà băng qua sân vào nhà. Bà đi qua cái bếp tin hin nơi bà nấu bữa tối (cho một người) và tiến thẳng vào phòng ngủ dùng chung với thằng em. Ông vẫn đang hát – “Xèng thì chả mấy, nhưng cưng ây” – và cài măng séc, rẽ tóc; nhưng rồi ông ngước lên thấy chị gái mình – “Em ây có” – giờ thì rất khẽ – “vui” – rồi rơi vào im lặng.Trong một khoảnh khắc cái gương soi khuôn mặt hai người. Hai mươi mốt tuổi, rất lâu trước khi đeo hàm răng giả không khít mồm rồi lâm vào ốm đau bệnh tật do tự chuốc, bà tôi khá đẹp. Tóc đen dài tết bím bó lại dưới khăn trùm đầu. Những bím tóc này không mỏng mảnh như bé gái mà rất nặng và nữ tính, có sức mạnh tự nhiên, như đuôi hải ly. Bao năm tháng, bao mùa màng, bao loại thời tiết đã tích lũy vào những bím tóc này; tối tối khi tháo bím ra, tóc xõa xuống ngang hông bà. Lúc này, bím tóc được buộc bằng nơ lụa đen, nom càng ấn tượng hơn, nếu ta được nhìn thấy, mà trên thực tế thì không nhiều người lắm. Thứ dành cho người lạ thưởng lãm là khuôn mặt Desdemona: cặp mắt to âu sầu, nước da trắng hồng rạng rỡ. Tôi cũng nên nhắc tới, với chút đau nhói còn sót lại của đứa con gái từng có bộ ngực phẳng lỳ trước sau như một, cái thân hình đầy đặn khêu gợi của Desdemona. Cơ thể bà khiến bà xấu hổ không dứt. Nó lúc nào cũng phô bày bản thân theo cái lối mà bà không cho phép. Trong nhà thờ khi quỳ gối, trong sân khi đập thảm, dưới cây đào khi hái quả, những nét đàn bà của Desdemona thoát ra khỏi những câu thúc của những bộ quần áo nâu xám giản dị. Bên trên cái cơ thể cứ luôn nhún nhảy tưng tưng kia, khuôn mặt trùm khăn tách biệt hẳn ra, ngó xuống có phần khiếp đảm ý đồ của bọn hông với ngực.

Eleutherios thì lại cao với gầy hơn. Trong những bức ảnh chụp hồi đó trông ông giống mấy nhân vật giới đầu trộm đuôi cướp mà ông ngưỡng mộ, những tên trộm cướp với đánh bạc để một lớp ria mỏng tụ tập đầy những quán rượu ven biển ở Athens và Constaninople. Mũi khoằm, mắt sắc lẹm, toàn thể mặt ông nom tựa chim ưng. Tuy vậy, khi ông mỉm cười, ta thấy nét dịu dàng trong ánh mắt, khiến ta thấy rõ thực tình thì Lefty chả phải tay găngxtơ anh chị gì mà chỉ là cậu ấm mọt sách con nhà phong lưu được nuông chiều.

Cái buổi chiều mùa hè năm 1922 ấy, Desdemona không nhìn vào mặt em trai. Mắt bà lướt xuống cái áo vét, mái tóc bóng loáng, cái quần kẻ, khi bà cố tìm hiểu thằng em trong vài tháng qua trở chứng gì.

Lefty nhỏ hơn Desdemona một tuổi và bà thường tự hỏi làm thế nào mình sống qua mười hai tháng đầu tiên đó mà không có ông. Theo những gì bà còn nhớ được thì lúc nào ông cũng nằm bên kia cái chăn lông dê ngăn hai giường. Đằng sau tấm kelimi, ông biểu diễn múa rối, biến tay mình thành ông Karaghiozis10 lưng gù khôn ngoan luôn đánh lừa bọn Thổ. Trong bóng tối, ông bịa thơ thiếc rồi hát hò, nên một trong những lý do bà ghét cái thứ nhạc Mỹ mới lạ kia là vì ông chỉ hát cho mỗi mình ông nghe. Desdemona luôn yêu em với thứ tình yêu mà chỉ một cô chị gái từ bé đến lớn sống trên núi mới dành cho cậu em: ông là nguồn khuây khỏa duy nhất, bạn thân và người tâm tình, chiến hữu cùng khám phá ra những lối đi tắt và các am thầy tu. Hồi còn nhỏ, mối đồng cảm mà bà dành cho Lefty tuyệt đối đến nỗi đôi lúc bà quên mất họ là hai con người tách biệt. Lúc còn bé, họ lạch bạch đi bên sườn núi như một sinh vật hai đầu bốn chân. Bà quá quen mui bén mùi với cái bóng song sinh dính liền hắt lên ngôi nhà quét vôi trắng vào buổi tối, nên mỗi khi bắt gặp cái bóng lẻ loi của mình, bà cảm giác như nó đã bị cắt ra làm đôi vậy.

Thời bình dường như thay đổi mọi thứ. Lefty triệt để tận dụng những tự do mới mẻ. Riêng tháng rồi ông đã xuống Bursa tổng cộng mười bảy lần. Ông ngủ lại qua đêm đến ba lần ở quán trọ Kén Tằm đối diện Thánh đường Sultan Ouhan. Một sáng nọ ông ra khỏi nhà đi bốt, tất đến đầu gối, mặc quần ống túm, áo doulamas, với áo vét rồi tận tối hôm sau mới mò về nhà thì lại mặc bộ vét kẻ sọc, nơ lụa thắt ở cổ như ca sĩ opera còn đầu đội mũ quả dưa. Còn có những thay đổi khác nữa. Ông bắt đầu tự học tiếng Pháp từ cuốn sổ tay đàm thoại nhỏ màu mận. Ông nhiễm những điệu bộ giả tạo, đút tay vào túi lắc lắc tiền xu chẳng hạn, hay ngả mũ chào. Khi Desdemona giặt quần áo, bà tìm thấy nhiều mẩu giấy chi chít số má trong túi Lefty. Quần áo ông xộc mùi khói thuốc, xạ hương, thỉnh thoảng cả hương thơm nữa.

Lúc này đây trong gương, khuôn mặt sáp vào nhau của họ không thể che đậy được sự thật là họ đang tách dần nhau ra. Rồi bà tôi, nỗi âu sầu vỡ òa ra thành tiếng sấm rền trong tim, nhìn em trai như từng nhìn cái bóng mình mà thấy thiếu vắng một điều gì đó.

“Đi đâu mà diện thế?”

“Chị nghĩ em đi đâu chứ? Xuống Koza Han. Bán kén tằm.”

“Em vừa mới đi hôm qua còn gì.”

“Đang mùa mà.”

Cầm cái lược đồi mồi, Lefty rẽ tóc sang bên phải, thêm sáp thơm để bắt một lọn tóc cứng đầu phải ẹp xuống.

Desdemona lại gần hơn. Bà cầm sáp thơm lên hít hít. Quần áo ông không phải mùi này. “Ở dưới đó em còn làm những chuyện gì nữa?”

“Làm gì đâu.”

“Mấy lần liền em còn ở lại qua đêm.”

“Đường xa mà. Cuốc bộ xuống tới nơi trời tối mất rồi còn gì.”

“Em hút cái gì ở mấy quán rượu đó?”

“Trong ống shisha có gì thì hút cái đó. Chuyện tế nhị ai lại hỏi.”

“Bố mẹ mà biết em hút thuốc với uống rượu thế này…” lời bà truội dần đi.

“Bố mẹ đâu có biết được đâu?” Lefty nói. “Nên em chả việc gì nhá.” Cái giọng bông lơn cợt nhả của ông không đáng tin. Lefty cư xử như thể đã nguôi ngoai sau khi cha mẹ chết, nhưng Desdemona thì đi guốc trong bụng ông. Bà mỉm cười nghiêm nghị với em trai, rồi chả nói chả rằng mà giơ nắm tay ra. Vẫn ngắm mình trong gương, Lefty cũng tự động chìa nắm tay ra. Họ cùng đếm, “Oẳn tù tì ra cái gì ra cái… này!”

“Đá đập kéo. Chị thắng,” Desdemona nói. “Vậy kể chị nghe đi.”

“Chuyện gì?”

“Kể chị nghe dưới Bursa có gì hay ho thế.”

Lefty lại hất tóc tới trước rồi rẽ sang trái. Ông nhoài tới nhoài lui cái đầu trong gương. “Đằng nào đẹp hơn? Trái hay phải?”

“Để chị xem.” Desdemona cẩn thận giơ tay lên rồi vò nát tóc Lefty.

“Này!”

“Em muốn tìm gì ở dưới Bursa hả?”

“Để em yên.”

“Nói chị nghe đi!”

“Chị muốn biết à?” Lefty nói, bắt đầu cáu tiết với bà chị. “Chị nghĩ em muốn gì?” Bị dồn nén bấy lâu ông phun ra. “Em muốn một đứa con gái.”

Desdemona ôm lấy bụng, vỗ lên ngực mình. Bà lùi lại hai bước rồi đứng đó ngó thằng em bằng một ánh mắt khác. Trong đầu bà chưa bao giờ nảy ra cái ý nghĩ rằng Lefty, cặp mắt với đôi lông mày giống hệt bà kia, ngủ trên giường cạnh giường bà kia, lại bị một thứ dục vọng như thế ám ảnh. Mặc dù trưởng thành về mặt thể xác, Desdemona vẫn còn lạ lẫm với cơ thể mình. Đêm đêm trong phòng ngủ, bà từng thấy thằng em đang ngủ nằm ép sát vào nệm thừng như thể giận dữ với nó. Khi còn nhỏ, bà bắt gặp ông trong trại tằm, đang ngây thơ cọ cọ vào cái trụ gỗ. Nhưng những chuyện đó không để lại ấn tượng gì. “Em đang làm gì thế?” bà hỏi Lefty, hồi đó tám hay chín tuổi, đang siết chặt cái trụ, dịch đầu gối lên xuống. Bằng một giọng đều đều cương quyết, ông trả lời, “Em đang cố có cảm giác đó.”

“Cảm giác gì?”

“Chị biết mà” – càu nhàu, thở hắt ra, đầu gối đưa lên đưa xuống – “cái cảm giác đó.”

Nhưng bà không biết. Mãi nhiều năm sau này Desdemona khi đang cắt dưa chuột vô tình tựa vào góc bàn ăn, tựa mạnh hơn một chút, rồi sau đó vô thức đứng cái tư thế đó mỗi ngày, góc bàn ăn rúc giữa hai chân bà. Giờ đây lúc chuẩn bị bữa ăn cho em, thi thoảng bà lại thực thi thói quen cũ với cái bàn, nhưng không hề ý thức được. Chính cơ thể bà làm chuyện đó, với sự gian giảo và âm thầm của các cơ thể khắp thế gian.

Những chuyến đi xuống thành phố của em trai bà thì lại khác hẳn. Rõ ràng ông biết mình đang tìm kiếm cái gì; ông hiểu rất rõ cơ thể mình. Trí óc với cơ thể ông quyện thành một khối, suy nghĩ cùng một chuyện, chăm chăm một nỗi ám ảnh, và lần đầu tiên Desdemona không hiểu được suy nghĩ đó. Tất cả những gì bà biết là nó chẳng liên quan gì tới bà.

Nó khiến bà phát điên. Mà tôi ngờ cả hơi chút ghen tị nữa. Chẳng phải bà là bạn thân nhất của ông sao? Chẳng phải lúc nào họ cũng kể mọi thứ với nhau sao? Chẳng phải đích thân bà làm mọi thứ cho ông, nấu ăn, khâu vá, săn sóc nhà cửa như mẹ họ ngày xưa sao? Chẳng phải chính bà một tay đảm đương việc nuôi tằm để ông, đứa em nhỏ sáng dạ, được đi học đi hành tiếng Hy Lạp cổ chỗ linh mục đó ư? Chẳng phải chính bà bảo, “Sách vở học hành em lo đi, chị lo trại tằm cho. Em chỉ phải làm mỗi một việc là đem kén tằm đi chợ bán thôi.” Rồi khi ông bắt đầu la cà dưới thành phố, bà có càm ràm gì không? Bà có nhắc gì đến mấy mẩu giấy, hay đôi mắt đỏ ngầu, hay cái mùi xạ thơm ngòn ngọt trên quần áo ông không? Desdemona ngờ rằng thằng em mơ mộng đã trở thành con nghiện hasit. Nơi nào có nhạc rebetiko là y như rằng có hasit. Lefty đang chống chọi với cái chết của cha mẹ theo cách duy nhất ông biết, đó là ngụp lặn trong khói thuốc hasit mà nghe cái thứ nhạc sầu đời nhất hạng. Desdemona hiểu tất cả những chuyện này nên không càm ràm gì cả. Nhưng giờ đây khi bà thấy thằng em cố thoát khỏi nỗi buồn bằng cách mà bà không ngờ tới, thì bà không lặng thinh được nữa.

“Em muốn một đứa con gái á?” Desdemona hỏi giọng bàng hoàng. “Gái gì? Gái Thổ hả?”

Lefty chả nói chả rằng. Sau cơn bộc phát, ông bèn chải tóc tiếp.

“Chắc em muốn một đứa tì nữ. Phải không? Em tưởng chị không biết gì về bọn đĩ, mấy con poutane11 đó hả? Chị biết hết. Chị không ngu đến thế đâu. Em khoái một con phốp pháp lắc bụng vào mặt em chứ gì? Bụng béo núc ních có đeo khuyên chứ gì? Em muốn đứa như thế chứ gì? Để chị nói cho mà biết. Em có biết tại sao bọn gái Thổ lại phải đeo mạng che mặt không? Em tưởng vì tôn giáo hả? Không phải. Vì nếu không thì chả ai chịu nổi bản mặt bọn nó đâu!”

Lúc này bà quát tướng lên, “Nhục cái mặt, Eleutherios! Em bị làm sao thế hả? Sao em không kiếm một đứa ở làng mình?”

Đến lúc này thì Lefty, đang phủi bụi áo khoác, chỉ ra cho bà chị sự thật mà bà bỏ sót. “Chắc chị không nhận ra,” ông đáp, “nhưng ở cái làng này làm gì có đứa con gái nào.”

Quả tình có đúng như vậy thật. Bithynios chưa bao giờ là một làng lớn, nhưng hồi 1922 nó còn tin hin hơn bao giờ hết. Từ năm 1913, khi rệp vừng làm nho tàn lụi sạch, dân bắt đầu bỏ làng đi. Họ tiếp tục bỏ đi vào thời các cuộc chiến tranh Ban-căng12. Chị họ của Lefty và Desdemona, Sourmelina, đã đến Mỹ và giờ đây sống ở một nơi tên là Detroit. Dựng trên sườn núi thoai thoải, làng Bithynios không phải là một nơi chênh vênh trên đỉnh núi. Nó là một cụm những ngôi nhà trát vữa vàng mái đỏ tao nhã, hay ít nhất là hài hòa. Nhà to nhất, tổng cộng hai cái, có çikma – cửa sổ kính lớn xây trồi ra ngoài đường. Nhà nghèo nhất, loại này đầy, là loại chỉ có một phòng kiêm cả bếp. Rồi có những hộ như nhà của Desdemona với Lefty, có phòng khách nhét đầy đồ đạc, hai phòng ngủ, một bếp, và một vệ sinh ở sân sau có toilet kiểu châu Âu. Ở làng Bithynios không có cửa hàng, không bưu điện hay nhà băng, chỉ có một nhà thờ và một nhà hàng nhỏ. Muốn mua sắm thì phải xuống dưới Bursa, đầu tiên đi bộ, sau đó xe ngựa.

Hồi năm 1922 làng chỉ có khoảng một trăm người. Phụ nữ được gần non nửa. Trong bốn mươi bảy phụ nữ, hai mươi mốt là bà già. Hai mươi người nữa là bà nội trợ sồn sồn. Ba bà mẹ trẻ, đều có con gái còn quấn tã. Một là chị gái ông. Vậy là còn lại hai cô đến tuổi cập kê. Mà giờ đây Desdemona cuống quýt đề xuất.

“Không có con gái là sao? Cái Lucille Kafkalis đấy thôi? Nó ngoan phết. Hay cái Victoria Pappas đấy?”

“Con Lucille hôi bỏ xừ,” Lefty đáp nghe có lý. “Con đấy có khi cả năm nó tắm được một lần. Vào ngày tên thánh của nó. Còn con Victoria hả?” Ông đưa một ngón tay lên môi trên. “Ria mép con Victoria còn rậm hơn cả em. Em không muốn dùng chung dao cạo với vợ.” Nói đoạn, ông bỏ cây chổi phủi bụi quần áo xuống rồi choàng áo khoác vào. “Đừng thức đợi nhé,” ông nói rồi ra khỏi phòng ngủ. “Đi đi!” Desdemona gọi với theo sau. “Chị cần quái gì. Nhưng nhớ lấy. Khi con vợ Thổ cởi khăn ra, thì đừng có ba chân bốn cẳng mà dẫn xác về làng đấy!”

Nhưng Lefty đã bỏ đi. Tiếng bước chân của ông xa dần. Desdemona thấy thứ chất độc bí hiểm lại dâng lên trong máu. Bà không quan tâm. “Chị không thích ăn cơm một mình!” bà hét lên, với không một ai cả.

Gió từ thung lũng nổi lên, như mọi chiều. Nó thổi qua cửa sổ nhà mở toang. Nó làm cái then trên rương đựng đồ hồi môn và chuỗi hạt lo lắng13 của cha bà nằm trên đó kêu lạch xạch. Desdemona cầm chuỗi hạt lên. Bà bắt đầu lần từng hạt một qua từng ngón tay, hệt như cha bà, ông bà, và ông cố của bà từng làm, thể hiện tài lo âu chính xác bài bản và cặn kẽ đã ăn vào máu gia đình. Trong lúc các hạt va vào nhau, Desdemona mê mải ngẫm ngợi. Chúa bị làm sao ấy nhỉ? Sao Người lại mang cha mẹ đi mất để bà phải lo cho thằng em? Bà phải làm gì với nó đây? “Hút thuốc, uống rượu, giờ còn tệ hơn! Mà nó lấy tiền đâu ra cho hết thảy những trò ngu xuẩn đấy? Từ kén tằm của mình chứ đâu nữa!” Từng hạt lần qua tay là một nỗi căm giận được ghi lại rồi xả ra. Desdemona, với đôi mắt u sầu, khuôn mặt của đứa con gái buộc phải trưởng thành quá vội, lo lắng lần tràng hạt như cánh đàn ông nhà Stephanides trước và sau bà (tức là tôi cũng thế, nếu tính cả tôi vào).

Bà lại bên cửa sổ thò đầu ra ngoài, nghe gió thổi xào xạc qua hàng thông và bạch dương. Bà tiếp tục lần chuỗi hạt lo lắng rồi, từng chút một, nó làm nhiệm vụ của mình. Bà thấy dễ chịu hơn. Bà quyết định sống tiếp đời mình. Tối nay Lefty không về. Ai thèm quan tâm chứ? Ai mà cần nó chứ? Nó không bao giờ về nữa thì đời bà càng suôn sẻ hơn. Nhưng bà nợ mẹ cái trách nhiệm quản lý để thằng em không mắc thứ bệnh nhục nhã nào đó, hay tệ hơn, bỏ nhà trốn đi với một con Thổ. Các hạt tiếp tục rơi, từng hạt một, qua ngón tay Desdemona. Nhưng bà không còn đếm nỗi đau nữa. Mà giờ đây các hạt gợi đến trong đầu bà những hình ảnh trên một tạp chí được giấu kín trong cái bàn cũ của cha họ. Một hạt là kiểu tóc. Hạt tiếp theo là chiếc váy lót lụa. Hạt tiếp theo là cái coóc xê đen. Bà tôi khởi sự công tác mai mối.

Trong lúc đó, Lefty đeo túi kén tằm đang trên đường xuống núi. Khi tới thành phố, ông xuống Kapali Carsi Caddesi, rẽ ở Borse Sokak, đoạn băng qua cổng vòm vào sân chợ tằm Koza Han. Bên trong, chung quanh đài phun nước bằng đá màu xanh ngọc là hàng trăm những túi đựng kén tằm chật ních cao đến tận hông. Đàn ông tụ tập ở khắp nơi, người bán kẻ mua. Họ gào hét từ mười giờ sáng hôm đó lúc chuông mở chợ vang lên nên giọng đã khản đặc. “Giá hời đây! Hàng chất đây!” Lefty tay cầm túi len qua những lối hẹp giữa các kén tằm. Ông chưa bao giờ quan tâm đến chuyện làm ăn kiếm sống của gia đình. Ông không nhận biết được chất lượng kén tằm bằng cách ngửi hay sờ xem như chị gái. Lý do duy nhất ông mang kén tằm tới chợ là vì phụ nữ không được phép làm vậy. Phải chen lấn rồi xô đẩy bọn khuân hàng với cả bước tránh những túi kén làm ông căng thẳng. Ông nghĩ sẽ thật tuyệt biết bao nếu thiên hạ ngừng cử động một lúc, nếu họ đứng yên đó mà chiêm ngưỡng những kén tằm tỏa sáng trong bóng đêm; nhưng dĩ nhiên chẳng ai làm vậy. Họ tiếp tục gào hét rồi dí kén tằm vào mặt nhau rồi điêu toa rồi mặc cả. Cha Lefty ngày xưa rất mê buổi chợ ở Koza Han, nhưng cái máu buôn bán đó không truyền sang thằng con.

Gần dãy hành lang mái vòm Lefty gặp tay lái buôn quen. Ông giơ túi lên. Tay thương lái thọc tay vào lấy ra một cái kén. Lão nhúng vào bát nước kiểm tra. Đoạn nhúng tiếp vào cốc rượu.

“Tơ này phải xe hai lần. Chưa đủ độ dai.”

Lefty không tin nhận xét này. Tơ của Desdemona luôn là hàng hảo hạng. Ông biết lẽ ra phải quát lác, giả vờ bị xúc phạm, vờ mang hàng đi chỗ khác. Nhưng ông đến muộn; tiếng chuông đóng chợ sắp sửa vang lên rồi. Cha ông đã luôn dặn đừng có mang kén đi bán lúc cuối ngày vì như thế phải hạ giá. Lefty sởn hết cả da gà dưới bộ vét mới. Ông muốn buôn cho nhanh bán cho gọn. Lòng ông ngập tràn tủi hổ: tủi hổ cho loài người, bởi lúc nào cũng chỉ nghĩ tiền tiền, và ham lừa đảo. Không phản đối một lời ông đồng ý luôn giá lão kia ra. Ngay khi buôn bán xong xuôi, ông vội ra khỏi Koza Han lo chuyện riêng trong phố.

Đó không phải là chuyện Desdemona tưởng. Nhìn thật kỹ thì thấy Lefty, đội mũ quả dưa vẻ ngông nghênh, cuốc bộ xuống những con dốc của Bursa. Tuy vậy khi đi qua hàng cà phê, ông lại không tạt vào. Chủ quán gọi ông, nhưng Lefty chỉ vẫy tay. Ở con phố tiếp theo ông ngang qua một cửa sổ có giọng phụ nữ ới gọi, nhưng ông không hề đoái hoài, cứ thế đi tiếp qua những con phố ngoằn ngoèo, qua đám bán hoa quả và nhà hàng cho tới một con phố khác, tại đây ông bước vào nhà thờ. Chính xác hơn: một nhà thờ Hồi giáo cũ, với ngọn tháp bị đập bỏ và những câu kinh Koran khắc trên tường đã bị trát kín để tạo ra nền mới toanh cho người ta vẽ lên, ngay lúc này đây, các vị thánh Kitô giáo. Lefty đưa một đồng xu cho bà già bán nến thánh, thắp một ngọn rồi cắm thẳng xuống cát. Ông ngồi xuống một chỗ ở hàng ghế sau. Cũng giống hệt như bà bô tôi sau này cầu xin lời chỉ dẫn về việc thụ thai tôi, Lefty Stephanides, ông trẻ của tôi (kiêm cả những vai trò khác nữa) trông lên vị Chúa Ban Phước Lành đang vẽ dở trên trần nhà. Bài cầu nguyện bắt đầu bằng những lời ông học hồi bé, Kyrie eleison, Kyrie eleison14, con không xứng được tới trước ngôi Người, nhưng rồi chúng đổi dần, trở nên riêng tư hơn, con không hiểu tại sao lại cảm thấy như thế, nó không tự nhiên… rồi chuyển sang lời buộc tội nho nhỏ, cầu nguyện, Người làm con ra thế này, con đâu có cầu xin những thứ như vậy… nhưng cuối cùng thì trở nên khốn khổ, xin hãy cho con sức mạnh, Chúa ơi, đừng để con như thế này, nhỡ chị ấy mà biết được… mắt nhắm tịt, tay gập vành mũi quả dưa, những lời đó bay lên cùng khói hương trầm tới một đức Jesus-đang-vẽ-dở.

 Ông cầu nguyện năm phút. Đoạn ra ngoài, đội mũ lại lên đầu, lắc xu xủng xoẻng trong túi. Ông leo lên lại những con phố dốc thoai thoải, và lần này (trái tim được cởi bỏ gánh nặng), dừng lại ở tất cả những nơi ông đã cự tuyệt trên đường đi xuống. Ông vào quán uống cà phê rít hơi thuốc. Ông tạt vào nhà hàng làm tợp rượu ouzo. Những tay chơi cờ thỏ cáo hét gọi, “Êu, anh cắt đầu Valentino, làm ván chớ?” Ông để mình bị dụ vào chơi chỉ một ván, rồi thua thế là phải đặt gấp đôi hoặc không gì cả. (Những con tính mà Desdemona tìm thấy trong túi quần Lefty chính là nợ cá cược.) Đêm trôi đi. Rượu ouzo rót tràn trề. Nhạc công đến rồi nhạc rebetiko bắt đầu nổi lên. Họ chơi những bài hát về dục tình, cái chết, tù đày, và cuộc sống đường phố. “Ngày ngày anh ghé quán rượu ven biển hút hasit,” Lefty hát theo, “để xua đi nỗi buồn mù mịt mỗi sớm mai; Anh gặp hai em nô tì ngồi trên bãi cát; Hai nàng bé bỏng phê lòi cả thuốc, mà nom vẫn xinh đẹp lạ thường.” Trong lúc đó, shisha được nhồi đầy. Đến nửa đêm, Lefty bồng bà bồng bềnh quay ra phố.

Một con hẻm chạy xuống, rẽ, ngõ cụt. Cửa mở ra. Một khuôn mặt mỉm cười, cúi đầu chào. Chưa gì Lefty đã tọa luôn xuống xô pha cùng ba tên lính Hy Lạp, ngắm bảy cô em đẫy đà xức nước hoa ngồi trên hai chiếc xô pha đối diện. (Máy hát chạy cái bài nổi tiếng được bật khắp nơi: “Sáng sáng chiều chiều…”) Đến lúc này những lời cầu nguyện vừa rồi đã bốc hơi sạch sẽ bởi như mụ tú bà nói, “Bất kỳ em nào cưng thích, cưng à,” mắt Lefty lướt qua em người Circassia mắt xanh tóc vàng, rồi em người Armenia đang cắn quả đào lả lơi mời gọi, rồi em Mông Cổ để tóc mái; mắt ông đưa tiếp rồi dừng lại ở một em kín tiếng ngồi ở cuối xô pha, cô gái có cặp mắt âu sầu với làn da không tì vết và mái tóc đen tết bím. (“Gươm nào cũng có vỏ hết á,” tú bà nói tiếng Thổ còn bọn gái điếm cười phá lên.) Không ý thức được vì sao mình lại bị em này cuốn hút, Lefty đứng dậy, vuốt thẳng áo khoác, chìa tay ra về phía cô gái mình chọn… và chỉ khi em dẫn ông lên lầu thì một giọng trong đầu ông mới chỉ ra em này giống hệt như… mà chẳng phải nét mặt trông nghiêng rất giống… nhưng lúc này họ vào phòng với nào là ga giường bẩn thỉu, ngọn đèn dầu đỏ như máu, mùi nước hoa hồng và chân thối. Bị những giác quan tuổi trẻ làm cho mê muội, Lefty không để ý đến sự giống nhau tăng dần khi cô gái cởi bỏ quần áo. Mắt ông ngấu nghiến bộ ngực lớn, cái eo thon, mái tóc tuôn dài xuống cái xương cụt yếu đuối; nhưng Lefty không nhận thấy mối liên hệ nào. Cô gái nhồi thuốc vào shisha cho ông. Chẳng bao lâu sau ông mơ mơ màng màng, không còn nghe thấy giọng nói trong đầu nữa. Trong giấc mơ êm đềm do thuốc hasit kéo dài trong suốt nhiều giờ sau đó, ông không còn biết mình là ai, đang ở với ai. Chân tay em gái điếm trở thành chân tay một phụ nữ khác. Một vài lần ông gọi lớn một cái tên, nhưng khi đó ông phê quá không để ý. Chỉ mãi sau đó, khi tiễn ông về, em gái mới đưa ông quay lại hiện thực. “Mà này em tên là Irini nhé. Ở đây bọn em chả có ai tên Desdemona cả.”

Sáng hôm sau ông tỉnh dậy ở Quán trọ Kén tằm, ngập chìm trong những lời tự tố cáo. Ông rời khỏi thành phố, leo núi về lại làng Bithynios. Túi ông (rỗng không) không còn kêu xủng xoẻng. Đầu đau nhừ sau cơn say và ngây ngấy sốt, Lefty tự nhủ rằng chị gái mình nói đúng: đã đến lúc ông phải lập gia đình. Ông sẽ lấy quách con Lucille, hoặc con Victoria. Sinh con đẻ cái rồi thôi không đi xuống Bursa nữa rồi dần dà ông sẽ thay đổi; ông sẽ già đi; mọi thứ ông cảm thấy bây giờ sẽ tan biến thành hồi ức rồi thành hư không. Ông gật đầu; ông bèn chỉnh lại mũ.

Còn ở làng Bithynios, Desdemona đang dạy hai em bé mới vào nghề kia cách trang điểm. Trong khi Lefty vẫn đang ngủ vùi ở quán trọ Kén Tằm, bà mời Lucille Kafkalis với Victoria Pappas sang nhà chơi. Hai em này còn trẻ hơn Desdemona, vẫn ở cùng bố mẹ. Họ kính cẩn Desdemona vì bà làm chủ một gia đình. Ghen tị với sắc đẹp của bà, họ ngưỡng mộ ngắm nghía bà; hãnh diện vì được bà chú ý, họ tâm sự với bà; nên khi bà khuyên nhủ cách cải thiện vẻ ngoài, họ nghe như nuốt từng lời vàng ý ngọc. Bà bảo Lucille nên chăm tắm rửa hơn và gợi ý cô dùng giấm để khử mùi dưới cánh tay. Bà đưa Victoria đến chỗ một thím người Thổ chuyên tẩy vùng lông không mong muốn. Trong tuần tiếp theo, Desdemona dạy hai em mọi điều mà bà học được từ tạp chí sắc đẹp duy nhất mà bà từng đọc, một ca ta lô rách tơi tả tên là Đồ lót phụ nữ Paris15. Tập ca ta lô này vốn của cha bà. Nó gồm ba mươi hai trang ảnh người mẫu mặc coóc xê, xu chiêng, quần tất và dây nịt tất. Đêm đêm, khi cả nhà đã ngủ say, cha bà thường moi nó ra từ ngăn kéo bàn cuối cùng. Giờ đây Desdemona bí mật nghiên cứu tập ca ta lô, ghi nhớ những bức ảnh để sau đó tái tạo.

Bà bảo Lucille với Victoria chiều nào cũng sang chơi. Hai em bước vào nhà, đánh hông như được dạy, rồi lượn qua giàn nho nơi Lefty hay ngồi đọc sách. Mỗi lần đến họ đều mặc váy khác nhau. Hai em cũng đổi cả kiểu tóc, dáng đi, trang sức, lẫn điệu bộ. Dưới chỉ đạo của Desdemona, hai cô gái nhếch nhác tự nhân họ thành một thành phố nhỏ toàn phụ nữ, mỗi người đều có điệu cười riêng, viên đá quý riêng, bài hát yêu thích hay ngân nga. Sau hai tuần, chiều nọ Desdemona ra chỗ giàn nho hỏi em trai, “Sao lại ngồi đây? Sao không đi xuống Bursa? Chị tưởng em tìm được một em Thổ xinh xắn mà cưới rồi chứ. Hay bọn nó đứa nào cũng có ria mép như Victoria cả?”

“Kỳ quặc thật, chị nhắc đúng chuyện em đang nghĩ đấy,” Lefty nói. “Chị có để ý không? Cái Vicky sạch hết ria mép rồi. Mà chị biết gì nữa không?” giờ đứng dậy, mỉm cười – “ngay cả cái Lucille cũng bớt hôi rồi. Mỗi lần nó đến em lại ngửi thấy hương hoa thơm.” (Dĩ nhiên ông điêu. Ngoại hình hay mùi hương của hai em này chẳng hấp dẫn gì ông hơn trước kia. Tỏ ra hăng hái thế này chỉ là cách ông đầu hàng việc không thể tránh khỏi: một cuộc hôn nhân sắp đặt, đời sống gia đình, con cái – thảm họa toàn tập.) Ông lại gần Desdemona. “Chị nói chuẩn quá,” ông bảo. “Những cô gái xinh đẹp nhất trên thế gian ở ngay đây trong làng này rồi.”

Bà e thẹn nhìn lại vào mắt ông. “Thật vậy à?”

“Đôi khi ta không nhận ra thứ sờ sờ ngay trước mắt mình.”

Họ đứng đó chăm chắm ngó nhau, Desdemona bèn thấy lòng chộn rộn. Mà để giải thích cảm giác đó tôi lại phải kể cho bạn một câu chuyện khác. Trong bài diễn văn tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Khoa học Nghiên cứu Tính dục vào năm 1968 (năm đó được tổ chức ở Mazatlán giữa cơ man nào piñata16), bác sĩ Luce với tư cách chủ tịch giới thiệu khái niệm “cảm giác ngoại biên.” Bản thân từ này chả có nghĩa gì cả; Luce phịa ra để tránh mọi liên tưởng về từ nguyên. Tuy vậy, trạng thái cảm giác ngoại biên lại rất phổ biến. Nó chỉ cái lần xúc động đầu tiên trong quá trình bén duyên của đôi lứa. Nó gây ra váng vất, hân hoan, nhồn nhột ở thành ngực, ham muốn trèo lên ban công bằng sợi dây thừng kết từ tóc người yêu. Cảm giác ngoại biên chỉ cái lần đầu lên giường ngất ngây hạnh phúc như phê thuốc khi bạn hít ngửi người tình như bông hoa anh túc thơm ngát trong nhiều giờ liền. (Nó kéo dài, Luce giải thích, lên tới hai năm – là hết đát.) Dân Hy La cổ đại sẽ giải thích cảm giác mà Desdemona đang cảm thấy là do thần tình ái Eros. Hiện nay theo ý kiến chuyên gia đây là do hóa chất thần kinh và tiến hóa. Dẫu vậy, tôi phải khẳng định rằng: với Desdemona thì cảm giác ngoại biên như thể một cái hồ hơi ấm dâng lên từ bụng tràn qua ngực bà. Nó lan như cơn hồng thủy rượu 90 độ cồn, thứ rượu Phần Lan xanh bạc hà cay xè. Với sự bơm đẩy đầy hiệu quả của hai tuyến giáp ở cổ, nó làm mặt bà nóng bừng lên. Đoạn cái hơi ấm này nảy ra loạt ý tưởng khác, bèn tràn xuống những vùng mà một cô gái như Desdemona không cho phép nó đi tới, nên bà cụp mắt quay đi chỗ khác. Bà bước lại cửa sổ, để cảm giác ngoại biên lại phía sau, và gió từ thung lũng thổi lên làm bà mát dịu. “Chị sẽ đi nói chuyện với bố mẹ hai đứa ấy,” bà bảo, cố ra vẻ như mẹ mình. “Còn em thì xúc tiến tán tỉnh đi.”

Đêm hôm sau, mặt trăng hiện hình lưỡi liềm, như lá cờ tương lai của Thổ Nhĩ Kỳ. Dưới Bursa quân Hy Lạp lùng sục tìm thức ăn, nốc rượu, và bắn phá một nhà thờ Hồi giáo nữa. Ở Angora, Mustafa Kemal cho in trên báo tin ông sẽ tổ chức tiệc trà ở Chankaya nhưng trên thực tế di chuyển đến đại bản doanh ngoài chiến trường. Cùng chiến hữu, ông tợp ngụm rượu raki cuối cùng mà thề không đụng đến rượu cho tới khi trận chiến kết thúc. Dưới màn đêm bao phủ, quân Thổ không dịch chuyển về Eskişehir ở phía Bắc, như thiên hạ tưởng, mà về phía thành phố Afyon được phòng vệ cực kỳ cẩn thận ở phía Nam. Tại Eskişehir, quân Thổ đốt lửa trại để khuếch trương sức mạnh. Một lực lượng nghi binh nhỏ vờ tiến về phía Bắc Bursa.

Khi những vụ dàn quân này diễn ra, Lefty Stephanides cầm hai bó hoa con con, ra khỏi nhà tiến về phía nhà Victoria Pappas.

Sự kiện này trọng đại không kém gì việc trẻ con ra đời hay có người chết. Gần như ai trong số gần trăm dân làng Bithynios cũng đã nghe đến chuyến đi thăm sắp diễn ra của Lefty, thế là từ bà góa già, tới gái có chồng, đến các bà mẹ trẻ, cũng như các ông già, đều đang đợi xem ông sẽ chọn cô nào. Vì dân số ít ỏi, những phương thức tán tỉnh cổ xưa cơ hồ đã chấm dứt. Việc thiếu đối tượng yêu đương này làm nảy sinh một chu kỳ ác nghiệt. Không có ai để yêu thì không có tình yêu. Không có tình yêu thì không có trẻ em. Không có trẻ em thì không có ai để yêu.

Victoria Pappas đứng nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, bóng trên người cô giống hệt bức ảnh ở trang số 8 của ca ta lô Đồ lót phụ nữ Paris. Desdemona (chuyên viên phụ trách trang phục, kiêm bố trí sân khấu và kiêm luôn đạo diễn) búi tóc Victoria lên, cho mấy sợi tóc quăn rơi xuống trán và cảnh báo cô phải xoay cái mũi to vào trong bóng tối. Xức nước hoa, tẩy lông, bôi kem làm mềm da, đánh phấn côn quanh mắt, Victoria đứng yên cho Lefty ngắm nghía mình. Cô cảm nhận được ánh mắt nóng bỏng, nghe tiếng thở nặng nhọc của ông, nghe ông cố gắng cất tiếng hai lần – hai tiếng ré khe khẽ từ cổ họng khô khốc – rồi cô nghe tiếng chân ông tiến về phía mình, rồi cô quay lại, làm vẻ mặt mà Desdemona đã dạy; nhưng mải tập trung trề môi ra cho giống chị mẫu đồ lót người Pháp cô không nhận ra tiếng bước chân không phải tiến tới mà là thoái lui; khi cô quay lại thì thấy Lefty Stephanides, anh chàng độc thân duy nhất ở làng, đã bỏ về mất toi…

… Trong lúc đó, ở nhà, Desdemona mở rương quần áo. Bà thọc tay lấy cái coóc xê. Nhiều năm trước mẹ đã tặng nó cho bà để dành cho đêm tân hôn, mà nói, “Mẹ mong có ngày con sẽ mặc vừa.” Giờ đây, trước gương phòng ngủ, Desdemona giơ cái món đồ rắc rối, kỳ lạ lên ướm thử lên người. Bà cởi tất ra, cả đồ lót màu xám. Bà cởi luôn cái váy cạp cao, cùng cái áo cổ cao. Bà cởi khăn trùm đầu thả hết tóc ra cho rơi xuống đôi vai trần. Chiếc coóc xê làm bằng lụa trắng. Mặc vào rồi Desdemona cảm thấy như thể bà đang dệt cái kén của riêng mình, chờ đợi biến hình thành bướm.

Nhưng khi nhìn lại mình trong gương, bà chợt hiểu ra. Cái coóc xê sẽ chả dùng vào việc gì cả. Bà sẽ không bao giờ lấy chồng. Tối nay Lefty sẽ quay về khi chọn được cô dâu, rồi ông sẽ đưa con bé về nhà sống với họ. Desdemona sẽ vẫn như xưa, lần chuỗi hạt mà già đi hơn cả bà cảm thấy lúc này. Một con chó tru lên. Ai đó ở làng vấp phải bó củi chửi tướng lên. Còn bà tôi lặng lẽ khóc bởi bà sẽ sống hết năm tháng đời mình đếm những nỗi lo không bao giờ cạn…

… Trong lúc đó Lucille Kafkalis đang tạo tư thế đúng như được bảo, nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, đội mũ trắng có đính quả anh đào bằng thủy tinh, vai trần choàng khăn, diện váy cổ xẻ sâu màu xanh tươi, đi giày cao gót, mà cô không dám nhúc nhích vì sợ ngã. Bà mẹ béo của cô lạch bạch bước vào, cười toét mỏ hét toáng lên, “Thằng ấy đến kìa! Nó không chịu nổi con Victoria dù chỉ một phút!”…

… Chưa gì ông đã ngửi thấy mùi giấm. Lefty vừa mới đến chỗ khung cửa thấp nhà Kafkalis. Cha Lucille chào ông rồi nói, “Hai bác cho hai đứa được riêng tư. Để làm quen.” Phụ huynh bỏ đi. Phòng sáng lờ mờ. Lefty quay gót… đoạn vứt luôn bó hoa còn lại.

Điều mà Desdemona không hề ngờ tới là thằng em cũng đã nghiền ngẫm Đồ lót phụ nữ Paris. Thực ra, ông xem từ hồi mười hai cho tới khi sang mười bốn tuổi, khi phát hiện ra kho báu đích thực: mười tấm ảnh cỡ bưu thiếp, giấu trong vali cũ, chụp “Sermin, Thiếu nữ trong Thưởng lạc cung17,” một nàng hai lăm tuổi thân hình quả lê mặt ủ mày ê thực hiện đủ các loại tư thế trên mấy cái gối có quả tua rua trong một khuê phòng được dàn dựng. Tìm thấy nàng trong ngăn đựng vật dụng khi tắm rửa cứ như thể chà vào ngọn đèn thần. Nàng bay vút ra trong màn bụi sáng lấp lánh: trên người không có gì ngoài đôi hài thêu mũi cong trong truyện Ngàn lẻ một đêm với khăn thắt ở hông (tách); nằm trễ nải trên tấm da hổ, nghịch thanh mã tấu (tách); và tắm, ánh sáng đổ lên châu thân thành vệt carô, ở một nhà tắm lát đá cẩm thạch kiểu Thổ. Mười bức ảnh tông màu sepia nâu đỏ này chính là thứ đầu tiên khới dậy nỗi mê mẩn thành thị trong lòng Lefty. Nhưng ông nào quên được mối tình đầu ở Đồ lót phụ nữ Paris. Ông dễ dàng hình dung ra chúng rõ mồn một trong đầu. Khi thấy Victoria Pappas nom từa tựa như trang số 8, thứ làm Lefty kinh ngạc nhất chính là khoảng cách xa vời vợi giữa con này với cái hình mẫu thời niên thiếu. Ông thử tưởng tượng mình lấy Victoria, sống với nó, nhưng mỗi hình ảnh xuất hiện trong đầu đều có một khoảng trống toang hoác ngay chính giữa, chính là sự thiếu vắng người ông yêu hơn và hiểu hơn bất kỳ ai khác. Vì vậy ông chạy mất dép khỏi con Victoria Pappas chỉ để xuống phố gặp ngay con Lucille Kafkalis, thất vọng toàn tập, thua xa nàng ở trang số 22…

… Và giờ thì chuyện xảy ra. Desdemona, lệ tuôn lã chã, cởi coóc xê xong gấp lại rồi nhét vào rương. Bà lao lên giường, giường Lefty, rồi khóc vật ra. Chiếc gối thơm ngát hương chanh sáp bôi tóc của ông thế là bà hít lấy hít để, nức na nức nở…

… Cho đến khi, bị thuốc phiện của cơn khóc lóc làm cho đờ đẫn, bà ngủ thiếp đi. Bà mơ thấy chuyện gần đây thường xuất hiện. Trong chiêm bao mọi thứ lại như xưa. Bà với Lefty lại trở thành hai đứa trẻ (chỉ có điều trong cơ thể người lớn). Họ nằm chung giường (chỉ có điều giờ là giường bố mẹ). Họ gác chân tay lên nhau khi ngủ (cảm giác cực kỳ dễ chịu, khi gác lên nhau, còn cái giường thì ướt sũng)… Đúng lúc đó Desdemona tỉnh dậy, như mọi khi. Mặt bà nóng bừng. Bụng chộn rộn, và sâu thẳm trong lòng, bà cơ hồ nhận biết được cảm xúc đó là gì…

… Khi tôi ngồi đây trên ghế xoay, ngẫm ngợi theo chiều hướng mà nhà sinh vật học E. O. Wilson đã vạch ra18. Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên? Có lẽ cái gen cài sẵn một cơ chế đảm bảo cho quá trình biểu hiện gen giải thích được tại sao Desdemona lại khóc vật vã và tại sao Lefty lại chọn những cô điếm như thế; không phải do tình yêu mến, không phải đồng cảm; chỉ là vì để cho cái thứ mới lạ này bước vào thế gian thì cần thiết phải như vậy, để rồi lại đẻ ra những tỉ số đã dàn xếp của trái tim. Nhưng tôi không sao giải thích nổi, Desdemona với Lefty cũng không, cũng như mỗi người chúng ta, khi rơi vào lưới tình, không phân biệt nổi đâu là do hoóc môn đâu là cảm giác thiêng liêng tuyệt trần, mà biết đâu tôi bám vào cái lý lẽ mọi sự do ý trời cả là bởi vì chút lòng vị tha bẩm sinh để bảo vệ giống loài; tôi không chắc nữa. Bằng suy nghĩ, tôi cố quay lại cái thời trước khi có ngành nghiên cứu gen, trước khi động đến chuyện gì mọi người cũng ra rả, “Nằm trong gen hết đấy.” Cái thời trước tự do hiện tại của chúng ta, và tự do hơn chán vạn lần! Desdemona không hề biết chuyện gì đang xảy ra. Bà không hình dung nổi lòng mình lại có thể như một bộ mã máy tính khổng lồ, chỉ gồm 1 với 0, những chuỗi vô tận, bất cứ chuỗi nào cũng có khả năng xuất hiện lỗi lập trình. Giờ đây ta biết mình mang cái bản đồ gen của chính mình đi khắp mọi nơi. Ngay cả khi đứng trên góc phố nó cũng sai khiến số phận ta. Nó đem đến trên mặt cùng những nếp nhăn với vết đồi mồi giống cha mẹ ta. Nó khiến chúng ta có cái kiểu hít hít rất đặc trưng, nhìn là biết ngay giỏ nhà ai quai nhà ấy. Gen ăn sâu đến nỗi chúng điều khiển cả cơ mắt, vì thế chị em gái nháy mắt giống nhau, còn hai bé trai sinh đôi thì nhểu nước dãi cùng lúc. Thi thoảng, lúc bồn chồn tôi sờ sờ cái sụn mũi, hệt ông anh. Cổ họng với thanh quản của bọn tôi, được hình thành từ cùng chỉ dẫn, đẩy không khí ra theo cùng âm thanh và âm lượng. Mà điều này có thể ngoại suy ngược lại theo thời gian, thành thử khi tôi nói thì Desdemona cũng nói. Bà cũng đang viết chính những từ này. Desdemona, không hề biết trong người có cả đội quân, thực thi hàng triệu mệnh lệnh, mà cũng không hề biết có một thằng lính không tuân lệnh, đào ngũ…

… Te tái chạy như Lefty lao khỏi nhà cái Lucille Kafkalis về với chị gái. Bà nghe tiếng chân tất tả của ông khi đang kéo váy lên. Bà lấy khăn trùm đầu chùi mắt rồi mỉm cười khi ông đi qua cửa vào nhà.

“Thế em chọn đứa nào?”

Lefty không đáp gì mà chỉ nhìn dò chị gái. Ngủ cùng phòng với bà cả đời, chẳng lẽ ông không biết được lúc nào bà khóc hay sao. Tóc bà xõa ra, phủ gần hết mặt, nhưng cặp mắt nhìn ông thì ngập tràn cảm xúc. “Chả đứa nào cả,” ông nói.

Desdemona nghe mà hạnh phúc tràn trề. Nhưng bà lại nói, “Em bị làm sao thế? Em phải chọn.”

“Hai con đó trông như hàng ấy.”

“Lefty!”

“Thật mà.”

“Em không muốn lấy bọn nó à?”

“Không.”

“Em phải lấy.” Bà giơ nắm tay lên. “Nếu chị thắng, em lấy cái Lucille.”

Lefty, không bao giờ cưỡng được trò cá độ, cũng giơ nắm tay lên. “Oẳn tù tì, ra cái gì ra cái này!”

“Giấy bọc đá,” Lefty nói. “Em thắng.”

“Lần nữa,” Desdemona nói. “Lần này, nếu chị thắng, em lấy cái Vicky. Oẳn tù tì…”

“Kéo cắt giấy. Em lại thắng! Vĩnh biệt Vicky.”

“Thế em lấy ai?”

“Em không biết” – cầm lấy tay bà rồi nhìn bà. “Lấy chị nhé?”

“Đen ghê chị là chị em đấy.”

“Chị đâu phải chỉ là chị em. Chị còn là chị họ ba đời của em nữa. Anh em họ ba đời được phép lấy nhau mà.”

“Em điên hả Lefty.”

“Mình lấy nhau thì mọi thứ chả dễ dàng hơn nhiều à. Bọn mình sẽ không phải sửa lại nhà cửa.”

Nửa đùa nửa thật, Desdemona với Lefty ôm lấy nhau. Thoạt tiên họ chỉ ôm như bình thường, nhưng mười giây sau cái ôm dần thay đổi; vị trí của tay và những cái vuốt ve không còn là biểu hiện thông thường của tình chị em, và những cử chỉ này tạo ra thứ ngôn ngữ riêng, tuyên bố một thông điệp mới toanh trong căn phòng im ắng. Lefty đưa Desdemona lướt đi trong một điệu valse, kiểu Âu châu; ông dìu bà ra ngoài, qua sân, tới trại tằm, rồi quay lại dưới giàn nho, thế là bà bật cười giơ tay che miệng. “Nhảy giỏi đấy, em họ,” bà nói mà tim lại đập rộn lên, khiến bà nghĩ có khi mình chết ngay lúc đó trong vòng tay Lefty, nhưng dĩ nhiên bà không chết; họ nhảy tiếp. Xin đừng quên nơi họ đang nhảy, làng Bithynios, cái làng trên núi nơi anh em họ thỉnh thoảng lấy anh em họ ba đời và kiểu gì đó ai ai đều có họ với nhau; vậy là khi nhảy, họ ôm lấy nhau chặt hơn, thôi đùa cợt, rồi chỉ đơn thuần nhảy với nhau, như một người đàn ông và một người đàn bà vẫn thi thoảng làm trong những lúc cô đơn và tuyệt vọng.

Đúng lúc này, trước khi có bất cứ điều gì được nói thẳng ra hay bất cứ quyết định nào được đưa ra (trước khi lửa quyết định cho họ), thì ngay lúc đó giữa điệu valse, họ nghe có tiếng nổ xa xa, rồi dòm xuống thấy, trong ánh lửa, quân Hy Lạp đã rút chạy hoàn toàn.


Chú thích:

  1. Chính là cuốn Herculine Barbin: Being the Recently Discovered Memoirs of a Nineteenth-century French Hermaphrodite, bản dịch tiếng Anh của hồi ký viết hồi thế kỷ mười chín bằng tiếng Pháp của Barbin.
  2. Tinh hoàn nằm trong cơ thể chưa hạ xuống bìu.
  3. Nghệ sĩ, người sáng tác nhạc, trưởng nhóm nhạc, diễn viên người Mỹ (1910-2004), nổi tiếng nhất với bản ghi âm bài Begin the Beguine do Cole Porter sáng tác.
  4. Hay còn có tên Yeşil Camii, Thánh đường Hồi giáo Xanh là phức hợp có lăng mộ, nhà thờ, trường dòng… nằm ở phía Đông và là biểu tượng của Bursa, có màu xanh đặc trưng.
  5. Một khái niệm trong chủ nghĩa dân tộc Hy Lạp với mục tiêu thiết lập một quốc gia Hy Lạp lớn với tất cả các vùng đất có người Hy Lạp sinh sống, bao gồm những khu có người Hy Lạp dưới sự cai trị của quân Thổ Ottoman và các vùng thời cổ đại thuộc về Hy Lạp như vùng phía Nam bán đảo Ban-căng, đảo Síp.
  6. Sĩ quan quân đội và cũng là Tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ (1881-1938), nổi tiếng vì tài năng lãnh đạo quân đội kiệt xuất.
  7. Theo luật của quốc gia Hồi giáo, những người không theo đạo Hồi (mà theo đạo Kitô và Do Thái…) không được phép cưỡi ngựa và lạc đà, chỉ được phép cưỡi la hay lừa, không được phép dùng yên cương hay bàn đạp yên cương bằng sắt, mà phải dùng bộ yên thồ và bàn đạp bằng gỗ.
  8. Là biệt danh của người thuận tay trái, dịch giả xin chọn để nguyên tên là Lefty mà không dịch, vì đặc điểm cơ thể này không được triển khai thêm và không có ý nghĩa nhiều lắm trong cả câu chuyện.
  9. Tóc cắt theo diễn viên người Mỹ gốc Ý nổi tiếng Rudolph Valentino: ngắn, hất từ trái sang, phân chia khoảng 3/7, dùng nhiều keo vuốt ẹp xuống.
  10. Nhân vật rối bóng trong văn hóa dân gian Hy Lạp.
  11. Tiếng Hy Lạp: gái điếm, đĩ, gái lẳng lơ.
  12. Chỉ hai cuộc xung đột trên bán đảo Ban-căng ở Nam Âu năm 1912-1913.
  13. Một loại chuỗi hạt của người Hy Lạp, được dùng để giải tỏa căng thẳng và tiêu thời gian.
  14. Tiếng Hy Lạp: “Chúa rủ lòng thương, Chúa rủ lòng thương.” Câu cầu nguyện này có nguồn gốc từ nhiều đoạn khác nhau trong Tân Ước, chẳng hạn Mat-thêu 20:30-31 “[…] Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi! […]: Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi!”. (Bản dịch Kinh thánh của Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.)
  15. Lingerie Parisienne.
  16. Piñata được làm bằng giấy bồi cứng, có nhiều hình thù khác nhau, bên ngoài dán đủ màu sặc sỡ, bên trong rỗng ruột để cho kẹo hoặc đồ chơi vào. Trong các buổi tiệc tùng, sinh nhật người ta treo piñata lên cao, cho trẻ em đập ra lấy quà bánh.
  17. Là tòa lâu đài lớn do Hốt Tất Liệt xây trong bài thơ Kubla Khan (1797) của nhà thơ, nhà phê bình Samuel Taylor Coleridge, lấy ý tưởng từ Thượng Đô, hành cung mùa hè của Hốt Tất Liệt. Bài thơ được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học Lãng mạn Anh.
  18. Edward O. Wilson, nhà sinh vật học nổi tiếng với tác phẩm Về bản tính người, cho rằng hành vi xã hội của con người là do gen chi phối.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

1 Bình luận

1 Bình luận

  1. VKN

    Tháng Tám 12, 2019 at 2:24 chiều

    Uầy, nhiều chú thích ghê :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Tình bạn – Trích “Đời sống bí ẩn của cây”

“Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng?”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Đời sống bí ẩn của cây

Tác giả: Peter Wohlleben

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 8.2019

Tình bạn

Nhiều năm trước, tôi tình cờ thấy một bãi đá hình thù kỳ lạ phủ đầy rêu tại một trong số những khu bảo tồn dẻ gai cổ thụ mọc ở cánh rừng tôi quản lý. Ngẫm nghĩ lại, tôi nhận ra mình đã từng đi qua bãi đá này rất nhiều lần mà chẳng hề lưu tâm đến nó. Nhưng ngày hôm đó, tôi đã dừng lại và cúi xuống để nhìn thật kỹ. Các tảng đá có hình dạng khác thường: Chúng hơi cong và có nhiều vùng rỗng bên trong. Thật cẩn thận, tôi gạt rêu trên một trong những tảng đá ra. Thứ tôi thấy bên dưới lớp rêu là vỏ cây. Vậy hóa ra chúng chẳng phải là đá, mà là những khối gỗ già. Tôi đã ngạc nhiên trước độ cứng của những “viên đá” này, vì thường chỉ cần ít năm thôi là gỗ dẻ gai nằm trên nền đất ẩm đã phân hủy. Nhưng điều tôi ngạc nhiên nhất chính là việc tôi không thể nâng nổi khối gỗ lên. Rõ ràng là nó đã bám chặt vào đất bằng cách nào đó.

Tôi lấy con dao bỏ túi ra và cẩn thận cạo đi một ít vỏ cây cho đến khi chạm đến lớp có màu hơi lục. Lục ư? Màu này chỉ tìm được trong chất diệp lục – thứ tạo nên màu xanh của lá non; chất diệp lục cũng được trữ trong phần thân của những cây còn sống. Điều này có nghĩa là: Khúc gỗ này vẫn còn sống! Tôi đột nhiên chú ý thấy những “viên đá” còn lại tạo thành hình rõ rệt: Chúng xếp thành một vòng tròn với đường kính khoảng 5 feet (152,4 cm). Thứ mà tôi tình cờ tìm thấy lại là phần “xương xẩu” sót lại của một gốc cổ thụ khổng lồ. Tất cả những gì còn lại là vết tích của phần rìa ngoài cùng. Phần bên trong đã hoàn toàn mục rữa thành đất mùn từ rất lâu – dấu hiệu rõ ràng cho thấy cây có lẽ đã ngã xuống ít nhất bốn hay năm trăm năm trước đó. Nhưng làm thế nào mà phần còn sót lại này có thể tiếp tục sống lâu đến thế?

Tế bào sống cần có thức ăn dưới dạng đường, chúng phải thở, và phải phát triển thêm, ít nhất cũng phải lớn hơn được một chút. Nhưng không có lá – và vì vậy không có sự quang hợp – thì việc đó là không thể. Không sinh vật nào trên hành tinh của chúng ta có thể nhịn đói hàng thế kỷ, thậm chí tàn tích của một cái cây cũng chẳng thể, và chắc chắn một gốc cây càng không tồn tại được đến giờ nếu chỉ dựa vào mình nó. Rõ ràng là có điều gì khác đang xảy ra với gốc cây này. Chắc hẳn nó đã nhận được sự giúp đỡ từ những cây sống xung quanh, cụ thể là từ rễ của chúng. Các nhà khoa học nghiên cứu những tình huống tương tự đã phát hiện sự giúp đỡ có thể đến từ rất xa thông qua hệ thống nấm nằm quanh các đầu rễ – thứ tạo điều kiện cho việc trao đổi dưỡng chất giữa các cây – hoặc có thể đến từ chính sự liên kết giữa các sợi rễ của chúng. Trong trường hợp của gốc cây mà tôi tình cờ bắt gặp, tôi không thể khám phá được điều gì đang diễn ra, vì tôi không muốn làm gốc cây già bị thương khi đào xới xung quanh nó, nhưng có một điều rõ ràng rằng: Những cây dẻ gai xung quanh đã bơm đường cho gốc cây này để giữ nó sống sót.

Nếu nhìn vào những bờ đắp bên đường, bạn có lẽ sẽ thấy được cách mà cây cối kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Ở những độ dốc này, mưa thường rửa trôi đất, khiến mạng lưới rễ ngầm dưới đất lộ ra. Các nhà khoa học tại dãy núi Harz ở Đức đã khám phá ra rằng điều này thực sự là minh chứng cho cách sống phụ thuộc lẫn nhau, và hầu hết các cá thể cây cùng loài mọc ở cùng vị trí sẽ kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Dường như việc trao đổi dưỡng chất và trợ giúp hàng xóm khi cần chính là luật lệ, điều này dẫn đến kết luận rằng rừng là xã hội hữu cơ có kết nối nội bộ rất giống với tổ kiến.

Tất nhiên, rất hợp lý nếu hỏi rằng liệu có thể rễ cây chỉ đơn giản lang thang lòng vòng không mục đích dưới mặt đất rồi kết nối lại khi chúng tình cờ gặp được rễ cây khác cùng loài hay không? Một khi đã kết nối, chúng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc trao đổi dưỡng chất. Chúng tạo nên thứ giống như mạng xã hội, nhưng điều chúng trải qua chỉ đơn thuần là tình cờ cho và nhận. Trong trường hợp này, sự gặp gỡ tình cờ thay thế cho hình ảnh đầy cảm động về việc chủ động hỗ trợ, mà dù chỉ gặp gỡ tình cờ thì vẫn đem lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái khu rừng. Nhưng thiên nhiên phức tạp hơn thế nhiều. Theo Massimo Maffei của Đại học Turin, thực vật – bao gồm cây – có khả năng tuyệt vời trong việc phân biệt rễ của bản thân chúng với rễ của những loài khác, và thậm chí với rễ của những cá thể cùng họ.

Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng? Nguyên nhân cũng tương tự như cộng đồng loài người: Làm việc cùng nhau có lợi hơn. Một cây làm chẳng nên rừng. Chỉ một mình, cây không thể thiết lập khí hậu khu vực phù hợp. Nó sẽ phải phó thân cho gió và thời tiết. Nhưng cùng nhau, nhiều cây sẽ tạo thành một hệ sinh thái giúp làm dịu cái nóng cực độ hay cái lạnh buốt xương, giúp lưu giữ thật nhiều nước, và sản sinh thật nhiều hơi ẩm. Trong môi trường được bảo vệ này, cây có thể sống mãi đến khi thành cổ thụ. Để sống được đến đó, cộng đồng cây phải còn nguyên vẹn dù bất cứ giá nào. Nếu mỗi cây đều chỉ biết tự lo thân mình, thì khá nhiều trong số chúng sẽ chẳng bao giờ có thể thành cổ thụ. Nhiều cây chết thường xuyên sẽ tạo ra những khoảng trống lớn trên tán rừng khiến bão có thể dễ dàng lọt vào trong và làm bật rễ nhiều cây hơn. Cái nóng của mùa hè cũng sẽ tràn xuống nền rừng và khiến nó bị khô hạn. Tất cả cây trong rừng đều sẽ chịu tổn thất.

Mỗi cây, vì vậy, đều có giá trị đối với cộng đồng và đáng được giữ lại càng lâu càng tốt. Đây là lý do vì sao ngay cả những cây bị bệnh cũng được hỗ trợ và nuôi dưỡng cho đến khi chúng bình phục. Lần sau, có lẽ sẽ ngược lại: Cây từng hỗ trợ cây khác có thể trở thành cây cần được giúp đỡ. Khi những cây dẻ gai rậm rạp màu xám bạc này cư xử như vậy, chúng làm tôi nhớ đến đàn voi. Cũng như đàn voi, chúng biết tự chăm sóc bản thân và giúp đỡ những thành viên bị bệnh hoặc yếu sức hồi phục. Chúng thậm chí rất miễn cưỡng khi phải bỏ lại thành viên đã chết.

Tuy mỗi cây là một thành viên của cộng đồng, nhưng lại có nhiều hạng thành viên khác nhau. Ví dụ, hầu hết các gốc cây đều sẽ mục rữa thành đất mùn và biến mất trong vòng vài trăm năm (đây chẳng phải là thời gian quá dài đối với cây). Chỉ có một số ít duy trì được sự sống qua hàng thế kỷ, giống như những “viên đá” phủ đầy rêu mà tôi vừa mô tả. Vậy sự khác nhau là gì? Không lẽ xã hội của cây cũng có công dân hạng hai như xã hội loài người? Có vẻ là vậy, mặc dù khái niệm “thứ hạng” chưa thực sự phù hợp lắm. Đúng hơn là mức độ kết nối – hay thậm chí có lẽ là tình cảm – mới là thứ quyết định một cây xanh nhận được bao nhiêu giúp đỡ từ các “cộng sự” của mình.

Bạn có thể tự kiểm tra điều này đơn giản bằng cách nhìn lên tán rừng. Một cây bình thường sẽ cứ mọc cành ra cho đến khi chạm phải đầu cành của cây hàng xóm có cùng chiều cao. Nó không xòe rộng ra nữa vì không khí và ánh sáng tốt hơn trong không gian này đã bị lấy đi. Tuy nhiên, nó lại “gia cố” thật kỹ những cành đã vươn dài, do đó bạn sẽ cảm thấy trên tán rừng như có một trận “so tài” chen lấn. Nhưng một đôi bạn thật sự sẽ cẩn thận ngay từ đầu không đâm những cành quá rậm rạp về phía nhau. Cây không muốn lấy đi bất cứ thứ gì từ bạn mình, nên chúng chỉ phát triển các cành cứng chắc ở rìa ngoài tán lá, nghĩa là, hướng về phía những cây “không phải bạn bè”. Những đôi bạn thế này thường có rễ liên kết rất chặt và thỉnh thoảng chúng thậm chí chết cùng nhau.

Thông thường, tình bạn sâu nặng đến mức phần gốc trơ lại vẫn được chăm sóc có thể chỉ hình thành trong những khu rừng chưa bị khai phá. Cũng có thể tất cả loài cây đều làm điều này chứ không chỉ riêng gì loài dẻ gai. Tôi từng tự mình quan sát phần gốc cây sồi, lãnh sam, vân sam và linh sam Douglas còn sống sót rất lâu sau khi bị chặt. Cây trong các khu rừng được trồng – hầu hết là các rừng cây lá kim ở Trung Âu, cư xử giống như “những đứa trẻ đường phố” mà tôi mô tả trong chương 27. Do rễ bị tổn thương không thể phục hồi lúc được trồng, nên chúng dường như không có khả năng tạo ra mạng lưới kết nối với nhau. Thông thường, cây trong những khu rừng được trồng như thế cư xử giống những kẻ cô độc và chịu tổn thương vì sự cô lập này. Và kiểu gì thì hầu hết chúng cũng chẳng bao giờ có cơ hội trở thành cổ thụ. Dựa theo chủng loài, những cây này sẽ được đánh giá là sẵn sàng để thu hoạch khi chúng chỉ khoảng một trăm tuổi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chiến tranh trong tình yêu – Chương 1 “Tình yêu hạnh phúc có tồn tại?”

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Tình yêu hạnh phúc có tồn tại

Tác giả: Guy Corneau

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 7.2019

Giới thiệu:

Làm thế nào sự hờ hững của người cha tạo nên những “người đàn bà yêu quá nhiều” và sự ân cần quá đáng của người mẹ tạo nên những “người đàn ông sợ tình yêu”?

Làm thế nào cuộc sống của chúng ta lại tràn đầy xung đột, đặc biệt với người mình yêu thương nhất, trong khi mỗi người chúng ta đều thiết tha đi tìm hạnh phúc? Cuộc chiến đó nhằm mục đích gì? Ai là người gây chiến? Phần thưởng cho người chiến thắng là gì? Và câu hỏi nhức nhối nhất: làm thế nào để chấm dứt nó?

Chàng và nàng trên ghế sofa

Nàng

Chàng vừa đi làm về, và vừa ngồi xuống ghế sofa trong phòng khách, vẻ mệt mỏi nhưng hài lòng. Chàng ngáp và vươn vai sau khi cởi giầy. Chàng có thật nhiều điều muốn kể với nàng, chàng nói liên tục ngay cả khi nàng vào bếp lấy mấy cái ly và chai rượu. Chàng đang mặc cái áo sơ mi mà nàng rất thích (cái áo đó chính nàng đã chọn) vì nó làm chàng trông lém lỉnh và nhẹ nhàng, xua bớt vẻ trịnh trọng của chàng. Nàng thích giây phút này, khi chàng hơi mệt mỏi nên có vẻ buông thả, và chịu nói chuyện dông dài với nàng. Câu chuyện chàng nói không có gì đặc biệt hấp dẫn, nhưng chí ít chàng cũng chịu nói chuyện. Chàng nói trong khi nàng từ từ tiến tới ghế sofa, và nàng bỗng muốn hôn chàng, chẳng vì lý do gì, chỉ để hoan nghênh giây phút này. Lần này nàng sẽ chủ động. Đây là một điều nàng ít làm (và chàng cũng thường trách cứ nàng điều này). Thế là nàng tiến gần lại, vẻ lả lơi khiêu gợi.

Chàng nhìn thấy nàng tiến tới, mỉm cười, đặt cái ly lên bàn, hôn trả lại cái hôn đầu tiên của nàng với sự thích thú rõ ràng. Nhưng nàng càng tiếp tục, mọi chuyện càng tồi tệ đi. Nàng cảm thấy sự không thoải mái hiển nhiên của chàng. Nàng cảm thấy thân hình chàng trở nên cứng đờ, nụ cười vẫn còn đó nhưng gương mặt chàng có vẻ đông cứng lại. Chàng ngừng nói chuyện và lại cầm lấy cái ly.

Rõ ràng chàng khó chịu, và nàng không hiểu gì cả. Ừ, thật ra thì nàng hiểu, nhưng không muốn hiểu. Mỗi khi nàng chủ động, mọi chuyện sẽ không đi xa được, lúc nào cũng là chọn nhầm lúc, chẳng hạn như chàng sẽ viện cớ đang nhức đầu. Cứ như thể… như thể chàng là đứa con nít sợ mẹ. Ồ không, nàng không phải mẹ chàng. Nàng chẳng dính dáng gì tới mẹ chàng cả, và bây giờ nàng những muốn đóng gói chàng gửi ngược lại cho mẹ chàng trong cái thùng với dòng chữ: hàng bị lỗi.

Chàng

Nàng đã về nhà trước chàng, mùi hương nàng đã tỏa đầy khắp căn hộ, cùng ánh nắng tràn trề rọi qua cửa sổ. Nàng hỏi chàng có muốn uống một cốc rượu vang không, và chàng nói tại sao lại không nhỉ. Chàng rất thích nàng phục vụ chàng một thứ thức ăn hay thức uống gì đó, khi nàng đang vui và ân cần. Những lúc như vậy, chàng cảm thấy được cưng chiều và cuộc đời thật đẹp. Chàng kể lể một vài điều linh tinh để làm nàng cười, vì chàng biết nàng thích nghe chàng nói chuyện. Chàng cứ nói, cứ nói và đột nhiên, chàng cảm thấy muốn làm tình với nàng. A, giá như nàng chủ động nhỉ, hầu như nàng chẳng làm thế bao giờ. Ồ nếu nàng làm thế, chàng sẽ nhai sống nàng ngay.

Nhưng đúng lúc ấy, nàng chủ động thật, nàng đang tiến về phía chàng với vẻ khiêu gợi. Mong đợi thành hiện thực. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Là vẻ say đắm trong ánh mắt nàng, sự khát khao trong cử chỉ của nàng, cứ như thể cuộc sống của nàng phụ thuộc vào đó. Cứ như thể nhu cầu tình cảm của nàng lớn đến nỗi không người đàn ông nào có thể đáp ứng nổi.

Nàng đặt cái ly xuống bàn, ôm hôn chàng, xiết chặt người nàng và người chàng. Lúc này đây, nàng đang muốn nghe chàng nói “anh yêu em”. Không chứ, mọi chuyện lại bắt đầu rồi. Nàng muốn nghe chàng nói “anh yêu em” từ sáng đến tối, mọi lúc mọi nơi. Cái câu “anh yêu em” đó, chắc chàng phải thâu băng lại cho nàng có thể nghe mỗi khi nàng thích. Chàng bắt đầu thấy bực mình rồi. Ở đâu ra cái nhu cầu tình cảm lớn đến vậy, cứ như cái hang sâu hút mà chàng tránh đến gần, sợ nhỡ sảy chân rơi xuống thì hỏng. Chắc chắn nàng sẽ lặp lại câu “em thiếu tình thương của cha mà”. Thiếu tình thương của cha! Cứ làm như chàng được cha thương yêu lắm không bằng.

Sau cái hôn thứ tư, chàng chộp lấy ly rượu. Chàng hy vọng nàng không nhận ra sự khó chịu trong lòng mình. Nhưng nhạy cảm như nàng, dĩ nhiên là nàng đã thấy. Chỉ còn cách là chàng làm đổ một ít rượu xuống thảm và vì thế có thể chạy vào nhà vệ sinh, để tâm trạng bình thường trở lại.

Nàng

Vậy đó, lại thêm một lần nữa chàng chạy biến mất. Nhưng lần này, nàng thề sẽ không chạy theo đuôi chàng đâu nhé. Nàng ngán tới tận cổ thứ đàn ông lãnh cảm này rồi. Nàng đã chán ngấy việc đóng vai cô gái dễ thương rồi. Nàng đã chán phải chuẩn bị các món ăn ngon cho chàng, phải chiều những trò chơi chàng ham thích trên giường, với hy vọng đổi lại sự trìu mến dịu dàng không bao giờ đến. Nàng giận thật rồi, nhưng nàng sẽ nổi giận trong yên lặng, vì những gì nàng muốn nói bây giờ có vẻ thô lỗ, độc địa quá. Mới năm phút trước đây thôi nàng còn muốn hôn chàng, nhưng giờ nàng chỉ muốn tìm cách trả đũa. Chàng mà thò đầu ra khỏi nhà vệ sinh xem…

Chàng

Chàng tự trách phản ứng của mình. Nói cho cùng, nàng làm điều đó chỉ cốt khiến cho chàng vui lòng. Nếu chàng chiều theo sự chủ động của nàng lần này, nếu chàng
cho nàng sự âu yếm lãng mạn mà nàng mong đợi, có thể trận chiến bắt đầu từ vài ngày nay sẽ kết thúc. Thế là chàng trở lại phòng khách, lòng đầy dự định tốt lành.

Chàng nhìn thấy nàng lúc đó trông xa lạ, lạnh lẽo, đanh đá, ngồi lùi sát một góc sofa. Những dự định tốt lành bay biến hết. Nàng muốn chiến tranh chứ gì, nàng sẽ có chiến tranh! Chàng không để bị áp đảo được. Nhất là từ khi nàng bắt đầu đi tư vấn tâm lý và bắt đầu học khẳng định mình, nàng không bỏ sót một dịp gây hấn nào, mọi chuyện ngày càng tồi tệ hơn. Rồi thì nàng bắt đầu bản trường thoại của nàng về cuộc sống hai người và những hiệp ước, máu chàng bắt đầu sôi lên. Chàng nuốt một ngụm rượu, nhưng rượu lúc này có vị chua như giấm. Cái gì nàng động đến cũng chua như giấm. Buổi tối nay thế là hỏng bét. Chàng chỉ còn muốn mỗi một điều là bỏ đi khỏi nhà. Đang định mở miệng nói, nàng đã chặn trước: “Tôi cá rằng anh lại muốn bỏ đi. Anh thấy tôi quá phiền chứ gì? Anh tưởng rằng đàn bà khác sẽ chịu được anh và xử sự khác tôi sao? Có thật anh nghĩ một ngày anh sẽ tìm được người đàn bà lý tưởng? Nhìn lại mình đi, cưng à!!”

Sức nặng của giấc mơ

Vậy là bắt đầu điệu vũ của những lời chê bai và kết tội. Cả hai sẽ ngày càng lớn tiếng, sẽ dẫn đến vài cú sấm sét theo kiểu đóng sập cửa, bỏ đi và trở lại… Sẽ có vài tiếng la hét, nước mắt, cay đắng ở cả hai phía, hối hận, hôn nhau, và nếu là một tối may mắn, sẽ kết thúc bằng một pha làm tình. Và vài ngày sau mọi chuyện lại tiếp diễn.

Tôi biết, bạn nghĩ rằng chuyện này chỉ xảy ra trong nhà bạn. Xin lỗi phải làm bạn thất vọng, chuyện này xảy ra ở khắp nơi. Dĩ nhiên bạn có thể thêm thắt vào vài điểm nhấn cá nhân, có khi câu chuyện xảy ra giữa hai người đàn ông, hoặc hai người đàn bà, có khi nàng là người lãnh cảm không muốn chàng lại gần, có khi cuộc cãi vã dẫn đến ẩu đả… Nhưng nói chung kịch bản không thay đổi nhiều lắm, đến nỗi chúng ta có cảm giác là chuyện tình cảm của con người diễn ra theo một chương trình đã định sẵn.

Nàng tự thấy mình đã sẵn sàng và đi tìm một người đàn ông có ý muốn ổn định và quyết định ràng buộc. Nàng muốn được ấm áp và an toàn, từ xưa đến giờ nàng chưa có được cảm giác đó, cha đã không cho nàng. Nhưng sức nặng của sự chờ đợi như thế làm chàng phát sợ. Hơn nữa, chàng không hiểu chút gì về cái gọi là quan hệ hòa hợp thấu hiểu giữa hai giới, chàng còn không hiểu chính mình nữa là. Chàng biết cái gì là quyền lực, là chiến thắng, là cơ khí, là vận dụng đầu óc. Nhưng những gì liên quan tới tình cảm lại là chuyện khác. Hình như chàng thiếu hiểu biết về thứ gia vị gì đó để nấu món ăn tình yêu, mà nàng tự cho rằng mình biết. Bỗng nhiên chàng thấy mình thật không ra gì trên lĩnh vực tình cảm. Chàng thấy có lỗi vì không thể thỏa mãn giấc mơ mà nàng tha thiết đến thế, có lẽ chàng không thích hợp để giúp nàng điều này. Nàng cảm thấy đau khổ vì không đủ khả năng làm cho chàng hạnh phúc. Vậy mà nàng đã cố gắng bao nhiêu để giúp chàng trở thành mẫu hoàng tử mà nàng mong muốn. Chàng thì cảm thấy bị kiểm soát, dắt mũi, ép uổng thành mẫu người không phải bản chất chàng. Cảm giác khó chịu này giống như khi chàng đứng trước mặt mẹ. Bà cũng thế, bà lúc nào cũng chỉ muốn ép chàng thành hoàng tử bé. Cùng một dạng áp lực, nàng đè nặng lên chàng mà không hay biết.

Nàng không nhận ra sức nặng của giấc mơ. Chàng không nhận thấy sức nặng của sự khó tính, hờ hững nơi mình. Chàng không nhận thấy mình muốn nàng phải trả giá, phải nhận bài học vì cái giấc mơ hoang đường ấy của nàng. Và cứ thế, sự tình dần trở nên khó chấp nhận. Nàng, chờ đợi và theo chàng. Chàng, im lặng và lẩn trốn. Bằng những cử chỉ của mình, mỗi người tiết lộ điều mình mong đợi ở người kia, và lần lượt khiến cho nhau thất vọng. Hai người duy trì tình trạng này ngày này sang ngày khác như thể để xem sức chịu đựng của mình và người kia tới đâu, để xem người kia thất vọng và để tang giấc mơ ấy như thế nào. Họ tiếp tục quen nhau vì nhu nhược. Cho đến một ngày, nhận ra mình đã bị dắt mũi quá lâu, đã dậm chân tại chỗ quá lâu, họ chia tay trong chán chường. Nàng thấy mình đã bị lừa. Còn chàng thấy mình bị sập bẫy. Và cả hai đều đau khổ khi chấm dứt cuộc tình.

Điệu vũ của những tiếng thở dài từ hai phía không phải mới, chúng ta quan sát thấy nhiều từ hơn một phần tư thế kỷ nay. Chúng ta cần một cuộc khủng hoảng tận gốc để mong thay đổi nó.

Khi cuộc sống lứa đôi là chiến trường

Chế độ phụ hệ mất thăng bằng

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế. Trong hoàn cảnh đó, câu nói: “Yêu nhau, hai người trở thành một” là không rõ. Phải trả lời thêm câu hỏi: Nhưng một đó là ai, đàn ông hay đàn bà? Và với một cặp đôi cổ điển, sự hòa hợp trong gia đình chủ yếu dựa trên sự khuất phục, hy sinh của người phụ nữ. Hai người hòa hợp để xây dựng mái ấm của người đàn ông, mái ấm sẽ tuân theo các chỉ dụ của chế độ phụ hệ. Người đàn bà thường phải chối bỏ cá tính của mình, nghĩa là chối bỏ những sở thích, tham vọng, tính sáng tạo của mình để tập trung vào việc nuôi dạy con cái.

Ngày người phụ nữ bắt đầu không chấp nhận tình trạng trên, lứa đôi dĩ nhiên sẽ lâm vào khủng hoảng, vì chúng ta không biết, không có hình mẫu nào trong lịch sử dạy ta biết phải làm gì để chung sống hòa hợp mà vẫn là hai con người toàn diện và tự chủ.

Chế độ phụ hệ là hệ thống tư tưởng chi phối tâm lý của mọi người đàn ông và đàn bà. Ý thức hệ này đặt vị trí của người đàn bà là phục tùng đàn ông, dựa trên các thành kiến là những gì người đàn ông thực hiện, sản xuất thì hiển nhiên quan trọng hơn những gì người đàn bà thực hiện, cảm thấy… Thành kiến này cũng khiến những gì liên quan đến nữ tính, tình cảm, nội trợ… bị đánh giá thấp. Chính vì thế, ý thức phụ hệ bị khủng hoảng khi ngày càng nhiều phụ nữ khẳng định mình là con người toàn diện. Cuộc chiến nổ ra dưới mỗi mái nhà, trong mỗi gia đình. Một câu hỏi giản dị được đặt ra: ai phục vụ, và ai được phục vụ. Chúng ta có thể xem phụ nữ như các mật thám của sự hiện đại hóa xã hội. Tuy từ xưa, thời nào cũng có tấm gương phụ nữ đứng lên đòi sự công bằng và tôn trọng cho phái nữ, nhưng hiện tượng này chỉ phổ biến gần đây, cùng với thuốc ngừa thai, đến làn sóng phụ nữ bươn chải làm việc để kiếm sống sau Thế chiến II. Phụ nữ thoát khỏi việc làm mẹ không chủ động và lệ thuộc về kinh tế. Phong trào nữ quyền tích cực bắt đầu từ năm 1968 đến nay đã chứng kiến sự tham gia tích cực của phái nữ trên mọi lĩnh vực hoạt động.

Biến chuyển này dĩ nhiên ảnh hưởng sâu đậm đến quan hệ lứa đôi. Và như thế, cuộc sống lứa đôi hiện đại đã trở thành bãi chiến trường, nơi chế độ phụ hệ bị đe dọa, nơi hai nền tư tưởng nam tính và nữ tính đụng độ nảy lửa trong cuộc sống ngày thường, trong nhà bếp, trong phòng ngủ…

Chế độ phụ hệ nằm trong tâm tưởng mỗi chúng ta

Trong cuộc tranh chấp này, muốn phân biệt kẻ tốt người xấu, kẻ đúng người sai chỉ là ảo tưởng. Bởi chế độ phụ hệ không chỉ đàn áp và làm khổ phụ nữ, nó cũng cắt mất người đàn ông khỏi phần quan trọng của anh ta bằng cách đưa ra kiểu mẫu người đàn ông anh hùng, cứng nhắc, không biểu hiện cảm xúc, đến nỗi nhiều người đàn bà cứ tưởng đàn ông không có tình cảm gì, không biết tổ chức gia đình hay dạy dỗ con cái. Đó là phần ngược lại của thành kiến đặt trên phái kia, cho rằng đàn bà thì không biết suy nghĩ.

Tiếp tục duy trì những tư tưởng kiểu trên là một cách để duy trì mãi chế độ phụ hệ. Tốt hơn chúng ta nên nhìn đàn ông và đàn bà là hai phe hiện đang đoàn kết, từng cùng chịu bi kịch lịch sử, và cả hai đều có cả đao phủ lẫn nạn nhân. Hai phái nên bước ra khỏi vị trí xác định sẵn cho họ trong tiềm thức. Chúng ta từng thấy nhiều phụ nữ trong dòng chảy chung cố gắng học lấy sự cứng rắn để tìm chỗ đứng trong lĩnh vực của đàn ông. Những luật lệ khắc nghiệt của chế độ phụ hệ đã thấm sâu trong mỗi người: “dù là đàn ông hay đàn bà, muốn sống sót chúng ta phải cứng rắn, không có chỗ đứng cho sự yếu mềm tình cảm”.

Một đôi lứa thấu hiểu hòa hợp là không thể có được trong bối cảnh hiện nay, khi ý thức hệ như thế còn ngự trị trong xã hội. Nam tính được quan niệm như cắt rời khỏi cơ thể và trái tim, đồng nghĩa với trấn áp sự nhạy cảm và cảm xúc, và dựa trên sự phong tỏa các biểu hiện của cảm xúc. Mọi đau khổ đều được đề nghị chữa trị bằng lý trí thống trị, bằng các nguyên tắc trừu tượng. Chúng ta đưa công việc lên trước vui chơi, nghĩa vụ lên trước quyền lợi, lý trí lên trước tình cảm. Sự tham gia của mỗi người, đàn ông lẫn đàn bà, vào niềm tin hoang đường tập thể này đã khiến hai giới ngày càng cách biệt. Vì chế độ phụ hệ không chỉ là một hệ thống tổ chức xã hội và chính trị, nó hiện hữu trong mỗi người. Cũng chính vì lý do đó, công cuộc xây dựng mối quan hệ thấu hiểu sâu sắc giữa nam và nữ, trong công bằng và hỗ trợ, là liều thuốc duy nhất có thể cứu ta khỏi những đau khổ này.

Đi tìm sự thấu hiểu thực sự

Sự thấu hiểu giữa đàn ông và đàn bà dường như chưa từng hiện hữu. Cũng gần đây thôi, chúng ta bắt đầu lấy nhau vì tình yêu, và mới hơn nữa, chúng ta cố gắng không chia tay vì tình yêu. Trong khi trước đó, hôn nhân chủ yếu để tồn tại về kinh tế, để thăng tiến trong xã hội, để giữ gìn hoặc tăng thêm của cải… Những cặp vợ chồng thế hệ trước thường cố gắng ở bên nhau để họ hàng, nhà thờ, người quen khỏi đàm tiếu. Đối với họ, sự thấu hiểu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái không nằm trong danh sách các nhiệm vụ phải thực hiện. Với họ, vai trò của người cha, người mẹ, cũng tức là người chồng, người vợ đã được xác định từ trước. Và quan niệm tĩnh lặng này dần dần làm khô héo cuộc sống.

Đó là lý do tại sao, ngày nay tất cả đều bùng nổ. Vai trò của cha mẹ, chồng vợ không còn rõ ràng như trước. Chúng ta đặt câu hỏi ngay cả thế nào là một người đàn ông, thế nào là một người đàn bà… Những câu hỏi tầm cỡ này, trên diện rộng như thế này chưa nền văn minh nào có cơ hội để đặt ra. Cuộc khủng hoảng này chưa từng có, và nó cho chúng ta cơ hội tiến hóa không gì so sánh được. Và cũng vì thế, thời đại này vừa quyến rũ, kích thích, vừa khiến chúng ta bối rối.

Trước sự bi quan, nhiều người sẽ cảm thấy trước cuộc tàn sát này, nhà báo và nhà tâm lý học Ariane Émond trả lời: chưa bao giờ quan hệ giữa đàn ông và đàn bà lại tốt hơn bây giờ, vì lần đầu tiên trong lịch sử, hai giới bắt đầu vượt khỏi những vai trò quy định sẵn để đối thoại thực sự với nhau.

Với những hình mẫu đàn ông và đàn bà của chế độ phụ hệ, một “đôi” hạnh phúc có thể nói là không thể tồn tại. Cuộc phiêu lưu mới này đầy thách thức và kích thích. Cái được thua trong cuộc chiến này không còn là ai sẽ phải hy sinh cho ai, mà là: làm thế nào để sống hòa hợp làm một trong khi mỗi người vẫn là chính mình.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Dazai Osamu: Thư gửi Kawabata Yasunari – Trích “Trăng cười”

“Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân.”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Trăng cười – Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Nhật Bản

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 2.2016

Mối ân oán giữa hai văn hào Kawabata và Dazai Osamu bắt nguồn từ việc chọn tác giả để trao giải thưởng văn học Akutagawa lần đầu tiên vào năm 1935. Dazai Osamu rất kỳ vọng vào tác phẩm “Hoa hề” của mình nhưng giải thưởng lại được trao cho Ishikawa Tatsuzo 石川 達三 (1905-1985). Kawabata phê phán Dazai là “ Tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”( 作者目下の生活に厭な雲ありて、才能の 素直に発せざる憾みあった ) làm cho Dazai nổi trận lôi đình. Dazai lập tức viết bài phản kích đăng trên tạp chí “Văn nghệ thông tín” ( 文藝通信 ) tháng mười năm đó rằng: “Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân…” ( 小鳥を飼い、舞 踏を見るのがそんなに立派な生活なのか。刺す。そうも思った。大悪党だと思った ) phê phán lại cách sống của Kawabata qua tác phẩm “Cầm thú” và “Cô vũ nữ xứ Izu”.

Chúng tôi dịch nguyên văn bức thư của Dazai gửi Kawabata để chúng ta thấy được cá tính mạnh mẽ của Dazai và phần nào sự phức tạp của làng văn nghệ Nhật Bản. Bản dịch chúng tôi dựa trên nguyên tác “Thư gửi Kawabata” ( 川端康成へ ) trên trang mạng kho sách ngoài trời Aozora:

http://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/1607_13766.html


Trên tạp chí “Văn nghệ xuân thu” (文藝春秋) số tháng 9, ông đã viết về tôi với những lời ác ý “…Quả thực, tác phẩm “Hoa hề” (道化の華) chứa đầy quan niệm văn học và cuộc sống của tác giả. Thế nhưng theo ý kiến của tôi, tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”.

Chúng ta đừng nói ra những lời dối trá tệ hại nữa. Khi đọc bài viết của ông ở nhà sách, tôi cực kỳ khó chịu. Những lời này khiến tôi nghĩ dường như ông đã tự mình quyết định giải thưởng Akutagawa nhưng đây không phải là văn chương của ông. Chắc chắn đây là thứ văn chương được viết bởi một người nào khác. Thậm chí ông còn nỗ lực để thể hiện ra điều đó.

“Hoa hề” là tác phẩm tôi viết cách đây ba năm vào mùa hè năm tôi hai mươi bốn tuổi. Chủ đề của tác phẩm là viết về biển. Tôi đã đưa cho bạn mình là Konkan Ichi, Ima Uhei đọc, khi ấy bản thảo hãy còn rất sơ sài so với bây giờ, hoàn toàn không có lời độc thoại của chàng trai là “tôi” trong đó. Tác phẩm thuần túy chỉ là một bản tóm lược mà thôi. Mùa thu năm đó, tôi mượn được quyển “Luận về Dostoyevsky” của Gide từ nhà thơ Akamatsu Gessen gần nhà để đọc. Quyển sách này gợi cho tôi nhiều suy nghĩ nên tôi đã mang tác phẩm “Biển” nguyên sơ chân chất đó chia nhỏ ra, để cho nhân vật nam là “tôi” xuất hiện tùy chỗ trong tác phẩm và ra uy với bạn bè rằng đây là tác phẩm Nhật Bản chưa từng có. Các bạn tôi như Nakamura Chihei, Kubo Ryuichiro rồi ngay cả tiên sinh Ibuse đều đọc qua tác phẩm và nhận xét rất hay. Ðược tiếp thêm sinh lực, tôi tiếp tục sửa chữa, xóa bỏ rồi viết thêm, viết lại sạch đẹp đến lần thứ năm tôi mới cẩn thận bỏ vào trong túi giấy cất cẩn thận nơi chỗ để chăn đệm. Vào dịp Tết năm nay bạn tôi là Dan Kazuo đọc được mới nói: “Cậu này, đây là kiệt tác đấy, thử mang gửi cho tạp chí văn học nào hay là mang thử đến chỗ ngài Kawabata Yasunari xem sao”. Cậu ấy nói nếu là ngài Kawabata chắc chắn sẽ hiểu được tác phẩm này đấy.

Lúc đó tôi đang bế tắc trong việc viết truyện, có thể nói là một cuộc hành trình với tâm thế sẵn sàng phơi thây ngoài nội cỏ vậy. Thế nên lời khích lệ đó làm tôi hơi phấn chấn.

Dù cho anh tôi la mắng thế nào mặc kệ, tôi chỉ muốn mượn năm trăm yên. Rồi quay trở về Tokyo với tâm niệm thử làm lại một lần nữa xem sao. Cũng nhờ bạn bè tận lực mà từ lúc này trở đi tôi nhận được của anh mình năm mươi yên mỗi tháng trong khoảng 2, đến 3 năm tới. Trong khi tôi cuống cuồng tìm nhà thuê thì cơn viêm ruột thừa phát tác phải nhập viện Shinohara ở Asahaya. Mủ tràn ra thành ruột, suýt chút nữa thì tiêu đời nhà ma. Tôi nhập viện vào ngày 4 tháng 4 năm nay. Nhà văn Nakatani Takao đến thăm nói tôi gia nhập trường phái lãng mạn Nhật Bản đi rồi thì hãy xuất bản “Hoa hề” như một món quà lưu niệm.

Chuyện là như thế. “Hoa hề” đến tay Dan Kazuo. Dan chủ trương là nên mang đến chỗ ngài Kawabata xem thử. Tôi đau đớn vì bụng mới mổ xong, không thể nhúc nhích được chút nào. Phổi tôi lại yếu đi. Tôi trải qua những ngày không tỉnh táo. Sau này vợ tôi nói lại với tôi là bác sĩ cũng không thể đảm đương trách nhiệm nữa rồi. Tôi nằm li bì trong bệnh viện cả tháng trời, ngay cả việc ngẩng đầu lên cũng phải gắng sức lắm mới được. Vào tháng năm tôi được chuyển sang bệnh viện nội khoa ở Kyodo, khu Setagaya. Tôi nằm ở đó hai tháng. Vào ngày một tháng bảy, cơ cấu bệnh viện thay đổi, toàn thể bác sĩ y tá bị thay thế, tất cả bệnh nhân phải rời đi. Anh tôi cùng với một người quen làm nghề thợ may tên là Kita Hoshiro bàn bạc và quyết định đưa tôi về Funabashi, tỉnh Chiba. Cả ngày tôi nằm dài mà ngủ trên chiếc ghế mây, buổi sáng và chiều thì đi dạo một chút. Cứ một tuần thì có bác sĩ từ Tokyo xuống khám một lần. Tình trạng đó kéo dài hai tháng, và đến cuối tháng 8 tôi đọc được tạp chí “Văn nghệ xuân thu” ở nhà sách, trong đó có bài viết của ông. Bài viết có những câu như “Tác giả phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng và vân vân…”. Sự thật là tôi vô cùng phẫn nộ. Mấy đêm liền không thể nào ngủ ngon giấc được cả.

Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân. Nhưng lúc đó từ sâu thẳm trong mình tôi không ngừng cảm thấy một thứ tình yêu mạnh mẽ nóng bỏng mà cũ kỹ già nua của ông dành cho tôi như thể Nellie trong “Những kẻ tủi nhục” của Dostoyevski vậy. Không phải đâu. Không phải. Tôi lắc đầu. Tuy nhiên cái thứ tình ái quá khích và thác loạn kiểu Dostoyevski dù bên ngoài tỏ ra lạnh lùng của ông thiêu đốt cơ thể tôi. Và ông chẳng mảy may biết gì về điều đó.

Bây giờ tôi không muốn so sánh trí tuệ với ông làm gì. Trong bài viết của ông tôi cảm nhận được thế nào là “thế gian” và đã ngửi thấy cái mùi đau đớn của “quan hệ kim tiền”. Tôi chỉ muốn thông báo điều này cho hai, ba độc giả nhiệt thành mà thôi. Ðó là điều tôi phải nói. Chúng ta bắt đầu nghi ngờ vẻ đẹp đạo đức của sự nhẫn nhục phục tùng rồi nhỉ.

Tôi nghĩ đến quang cảnh Kikuchi Kan vừa mỉm cười nói “Thôi thế cũng tốt. Bình an vô sự là hay rồi” vừa lấy khăn tay mà lau mồ hôi trán mà cũng mỉm cười chơi thôi. Mọi chuyện như vậy biết đâu lại hay, tôi nghĩ thế. Tôi cũng cảm thấy hơi tội nghiệp cho Akutagawa Ryunosuke nhưng gì nhỉ, đây cũng là “thế gian”. Ông Ishikawa thì có cuộc sống nghiêm túc đàng hoàng rồi. Về điểm đó thì ông ta nỗ lực rất nghiêm túc và bền bỉ.

Chỉ có điều tôi cảm thấy đáng tiếc mà thôi. Kawabata đã cố gắng hết sức che đậy sự dối trá vô tình của mình nhưng vẫn bị phát hiện. Ðó là điều tôi không ngừng cảm thấy đáng tiếc. Cũng chẳng cần phải làm thế. Chắc chắn chẳng cần phải làm thế. Ông cần phải ý thức rõ ràng hơn nữa (trong cách cư xử) rằng một tác gia luôn luôn sống giữa sự ngu ngốc và bất toàn.

Hết.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!