Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 2 “Lưỡng Giới” – Jeffrey Eugenides

“Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên?”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Lưỡng giới

Tác giả: Jeffrey Eugenides

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: tháng 7.2019

Đọc Chương 1.

MAI MỐI

Khi câu chuyện này được lan truyền ra cả thế giới, biết đâu tôi sẽ trở thành kẻ lưỡng tính nổi tiếng nhất trong lịch sử.

Trước tôi đã có nhiều người khác. Alexina Barbin học trường nội trú nữ ở Pháp trước khi trở thành Abel. Cô để lại cuốn tự truyện mà triết gia Michel Foucault phát hiện ra trong tài liệu lưu trữ của Ban Vệ sinh Công cộng Pháp. (Các tập hồi ký, kết thúc trước khi cô tự sát ít lâu, không khiến người đọc thấy thỏa mãn, và chính sau khi đọc xong chúng nhiều năm trước mà tôi nảy ra ý tưởng viết hồi ký.)1 Gottlieb Göttlich, sinh năm 1798, sống với tên Marie Rosine cho tới năm ba mươi ba tuổi. Một ngày do bị đau bụng Marie tới khám bác sĩ. Bác sĩ kiểm tra xem cô có bị thoát vị không thì phát hiện cô bị tinh hoàn ẩn2. Kể từ đó, Marie mặc quần áo đàn ông, lấy tên là Gottlieb, rồi kiếm bộn tiền bằng việc đi vòng quanh châu Âu cho các bác sĩ săm soi mình.

Cứ theo mấy ông bác sĩ thì tôi còn hay ho hơn Gottlieb nhiều. Xét dưới khía cạnh hoóc môn của bào thai ảnh hưởng lên hóa học thần kinh và mô học, não tôi là não đàn ông. Nhưng tôi được nuôi nấng theo kiểu con gái. Nếu bạn định làm thí nghiệm kiểm tra mức độ ảnh hưởng của tự nhiên so với môi trường nuôi dưỡng, đời tôi là một thử nghiệm hoàn hảo. Trong khoảng thời gian tôi ở Phòng khám gần ba thập kỷ trước, bác sĩ Luce cho tôi làm không biết bao nhiêu xét nghiệm. Tôi được cho làm Xét nghiệm Khả năng Ghi nhớ Hình ảnh Benton và Xét nghiệm Thị giác-Vận động Cấu trúc Hình thức Bender. Chỉ số IQ về mặt ngôn ngữ của tôi được đo, cùng vô số thứ khác nữa. Luce thậm chí còn phân tích kiểu viết văn của tôi để xem tôi viết thẳng mạch theo kiểu đàn ông, hay vòng vèo theo kiểu đàn bà.

Tất cả những gì tôi biết là thế này: mặc cho bộ não bị tràn ứ hoóc môn nam, vẫn có một sự lòng vòng nữ tính bẩm sinh trong câu chuyện mà tôi buộc phải kể. Trong bất cứ lịch sử nào về di truyền. Tôi là mệnh đề cuối trong một câu ghép có mệnh đề phụ đứng trước, mà cái câu đó bắt đầu từ lâu lắm rồi, trong một ngôn ngữ khác, nên bạn phải đọc từ đầu thì mới hiểu được đoạn cuối, chính là sự ra đời của tôi.

Thành thử giờ đây, khi đã được sinh ra, tôi sẽ tua ngược phim, để cái chăn màu hồng bay mất, cái cũi vút lại qua sàn nhà trong khi dây rốn được nối lại, và tôi gào lên trong khi bị hút ngược lại vào giữa hai chân bà bô. Bà lại béo ú. Rồi quay trở lại nữa khi cái thìa ngừng đong đưa và cặp nhiệt độ vào lại hộp nhung. Vệ tinh Sputnik đuổi theo luồng sáng sau đuôi về lại bệ bắn và bệnh bại liệt rình rập vùng đất này. Vụt qua hình ảnh ông bô tôi hồi hai mươi tuổi chơi kèn clarinet, thổi một bản nhạc của nghệ sĩ Artie Shaw3 vào điện thoại, rồi ông ở nhà thờ, lúc tám tuổi, choáng váng vì giá tiền nến thánh; tiếp theo là ông nội tôi giật tờ hóa đơn đầu tiên thanh toán bằng tiền đôla Mỹ ra khỏi máy tính tiền hồi năm 1931. Rồi ra khỏi nước Mỹ hoàn toàn; chúng ta ở giữa đại dương, nhạc phim nghe ngồ ngộ khi chơi ngược lại. Một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước xuất hiện, và trên boong tàu xuồng cứu hộ đang rung lắc rất kỳ quặc; nhưng rồi tàu về lại bến, đuôi tàu trước, và chúng ta lại lên đất liền, nơi bộ phim bắt đầu chiếu, từ đầu…

Cuối mùa hè năm 1922, bà Desdemona Stephanides của tôi không dự báo chuyện sinh nở mà chết chóc, cụ thể là cái chết của chính mình. Bà đang ở trong trại nuôi tằm, tít trên sườn núi Olympus ở Tiểu Á, thì tim bà, không hề cảnh báo trước, lỡ một nhịp. Cảm giác rất rõ rệt: bà thấy tim mình ngừng đập rồi co siết lại. Rồi khi bà sững cả người ra thì nó bèn hối hả phi, thình thịch trên sườn. Bà khẽ rên lên ngỡ ngàng. Hai mươi nghìn con tằm, nhạy cảm với cảm xúc con người, ngừng kéo kén. Nhíu mắt dưới ánh sáng mờ mờ, bà tôi nhìn xuống thấy vạt áo bay phấp phới; trong khoảnh khắc đó, khi nhận ra cú nổi loạn trong người, từ lúc đấy cho đến cuối đời, Desdemona trở thành người ốm dặt dẹo bị cầm tù trong một cơ thể khỏe mạnh. Tuy nhiên, không chịu tin mình chả bị làm sao, tim đã im ổn trở lại cũng mặc, bà bước ra khỏi trại tằm trông xuống lần cuối cùng cái thế giới mà bà sẽ không rời bỏ trong năm mươi tám năm tiếp theo.

Bên ngoài cảnh đẹp hùng vĩ. Cố đô Bursa của đế chế Ottoman nằm ba trăm mét bên dưới, như một bảng cờ thỏ cáo trải qua thung lũng xanh rờn. Những ô hình thoi đỏ của mái nhà gạch ăn khớp với những hình thoi trắng trên nền nước vôi tường trắng. Đây đó, mộ các sultan nhấp nhô như các quân chip đánh bạc màu rực rỡ. Cái hồi năm 1922, ôtô còn chưa làm tắc phố phường. Thang kéo dân trượt tuyết còn chưa cắt phạm vào rừng thông trên núi. Các thể loại nhà máy luyện kim và dệt không réo ầm cả thành phố, làm không khí mù khói. Trông Bursa – ít nhất từ trên cao ba trăm mét – hệt như xưa, sáu thế kỷ trước, một thành phố thiêng liêng, bãi tha ma của dân Thổ Ottoman và trung tâm giao thương lụa, những con phố yên ắng, thoai thoải ken dày tháp giáo đường với cây bách. Những viên ngói trên Thánh đường Green Mosque4 theo năm tháng càng xanh thẫm hơn, nhưng chỉ có thế thôi. Tuy vậy, đứng từ xa chầu rìa vào, Desdemona Stephanides nhìn xuống bàn cờ và thấy được thứ mà các cờ thủ đã bỏ qua.

Dùng phân tâm học mà đọc vị cái bệnh đánh trống ngực của bà tôi thì nó như thế này: đây là biểu hiện của nỗi đau buồn. Cha mẹ bà đã chết – bị giết trong cuộc chiến gần đây với quân Thổ. Quân đội Hy Lạp, được các nước Đồng minh khuyến khích, xâm chiếm phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1919, giành lại vùng lãnh thổ của Hy Lạp từ thời xa xưa ở Tiểu Á. Sau nhiều năm sống tách biệt mãi trên núi cao, người dân Bithynios, làng bà tôi, đã xuất đầu lộ diện trong vùng an toàn của Megale Idea – Tư tưởng Lớn, giấc mơ về một Đại Hy Lạp5. Quân đội Hy Lạp đóng chiếm Bursa vào thời điểm này. Cờ Hy Lạp bay phấp phới trên cung điện trước đây của Ottoman. Quân Thổ và thủ lĩnh, Mustafa Kemal6, rút về Angora ở phía Đông. Lần đầu tiên trong đời, dân Hy Lạp ở Tiểu Á thoát khỏi ách thống trị của quân Thổ. Những người không theo đạo Hồi (“những con chó ngoại đạo”) không còn bị cấm mặc quần áo sáng màu hay cưỡi ngựa hay dùng yên cương7. Không bao giờ còn chuyện như mấy thế kỷ qua, bọn quan lại Ottoman hằng năm vào làng bắt trai tráng khỏe mạnh nhất đi phục dịch trong quân đội Thổ. Giờ đây, khi đàn ông trong làng mang lụa đi bán ở chợ ở Bursa, họ là người Hy Lạp tự do, ở một thành phố Hy Lạp tự do.

Tuy vậy, Desdemona vì thương nhớ mẹ cha nên vẫn bị cầm tù trong quá khứ. Thế là bà đứng trên núi, nhìn xuống thành phố đã được giải phóng, và thấy như bị lừa bởi chả thấy sung sướng như mọi người. Nhiều năm sau, lúc góa bụa, khi đã trải qua một thập kỷ trên giường cố hết sức bình sinh để chết đi, cuối cùng bà cũng chịu thừa nhận rằng hai năm giữa chiến tranh nửa thế kỷ trước là thời gian đẹp đẽ duy nhất trong đời bà; nhưng đến lúc đó thì những ai bà quen biết đã chết sạch cả rồi và bà chỉ còn nói được điều này với cái tivi.

Gần một tiếng đồng hồ qua Desdemona cố làm việc trong trại tằm để bơ đi linh cảm của mình. Bà đi ra cửa sau nhà, qua giàn nho thơm ngọt, rồi băng qua mảnh sân vườn bậc thang đi vào túp lều thấp lợp rơm. Mùi ấu trùng hăng sè trong lều không làm bà khó chịu. Trại tằm là ốc đảo riêng bốc mùi nồng nặc của bà tôi. Khắp chung quanh bà, dưới một khoảnh trời, những chú tằm trắng mềm mại bám chặt vào những bó cành dâu con con. Desdemona ngó chúng dệt kén, đầu lúc lắc như theo điệu nhạc. Bà ngắm chúng mà quên đi cái thế giới đảo điên với bao biến động ngoài kia, với cái thứ âm nhạc mới kinh khủng (vài phút nữa thôi sẽ được xướng lên). Rồi bà nhớ lại lúc mẹ mình, Euphrosyne Stephanides, cũng đúng ở cái trại tằm này nhiều năm trước, tiết lộ bí mật về tằm – “Muốn được lụa tốt thì con phải tinh khiết,” bà thường bảo con gái. “Tằm nó biết cả đấy. Cứ nhìn chất lượng lụa của một người là biết ngay họ đã làm gì” – rồi cứ thế, Euphrosyne tuôn ra ví dụ – “Maria Poulos, cái con bạ thằng nào cũng giạng chân ấy? Con thấy kén tằm của nó chưa? Vết nhơ cho loài người. Lần tới nhìn thử mà xem” – lúc đó Desdemona mới mười một mười hai gì đó và tin sái cổ từng lời mẹ bảo, thành thử giờ đây, khi đã là một thiếu nữ hai mươi mốt tuổi, bà vẫn không tài nào bác bỏ sạch trơn những câu chuyện răn dạy đạo đức của mẹ, cứ săm soi các kén tằm tìm dấu hiệu ô uế của chính mình (những giấc mơ hằng đêm gần đây!). Bà cũng tìm xem ở chúng có gì khác nữa không, bởi mẹ bà cũng bảo rằng tằm phản ứng với những biến cố hung bạo trong lịch sử. Sau mỗi trận tàn sát, ngay cả một làng ở cách xa năm mươi dặm, tơ tằm đều biến thành màu đỏ máu hết – “Mẹ đã thấy chúng rỉ máu tựa như chính đôi chân Chúa Jesus đấy,” lại là lời Euphrosyne. Thế là nhiều năm sau con gái bà vẫn nhớ mà nhíu mắt dưới ánh đèn mờ để xem có kén tằm nào biến thành màu đỏ không. Bà kéo một khay tằm ra mà lắc lắc; bà lại kéo khay khác ra; đúng lúc đó bà thấy tim mình ngừng đập, siết chặt lại, rồi thoi vào bà từ bên trong. Bà làm rơi cái khay, nhìn vạt áo bay phấp phới do lực từ bên trong và hiểu rằng tim mình hoạt động theo chỉ dẫn của riêng nó, rằng bà không có quyền điều khiển nó, hay quả thực cũng không có quyền điều khiển bất cứ thứ gì khác.

Vậy là yia yia của tôi, bị căn bệnh tưởng đầu tiên, đứng dòm xuống Bursa như thể biết đâu tìm được một điểm hữu hình khẳng định cho nỗi sợ vô hình. Thế rồi điểm ấy đến dưới dạng âm thanh, từ trong nhà: em trai bà, Eleutherios (“Lefty8”) Stephanides, bắt đầu cất tiếng hát. Bằng một thứ tiếng Anh không hiểu nổi, phát âm sai be bét:

“Sáng sáng chiều chiều vui hem em ây,” Lefty hát, cứ chiều chiều đúng vào giờ này, đứng trước gương phòng ngủ, ông cài cổ áo bằng xen-lu-lô vào sơmi trắng mới, bóp chút sáp thơm (hương chanh) vào gan bàn tay rồi bôi lên mái tóc kiểu Valentino9 mới cắt. Đoạn hát tiếp: “Giờ này giờ nọ vui hem em ây.” Ông cũng chẳng hiểu lời bài hát, nhưng chỉ cần nhạc điệu là đủ. Nó kể với Lefty về thời đại nhạc jazz phóng túng, những món cốc tai rượu gin, về những em gái bán thuốc lá trong sòng bạc. Nó khiến ông vuốt ngược tóc rất kiểu cách… trong khi, ngoài sân, Desdemona nghe tiếng hát mà phản ứng khác hoàn toàn. Với bà, bài hát chỉ gợi đến những quán rượu tai tiếng em trai bà tạt vào khi xuống thành phố, những quán rượu nhỏ hút thuốc hasit nơi người ta chơi nhạc rebetiko với nhạc Mỹ và nơi bọn gái đĩ hát… khi Lefty mặc bộ vét kẻ sọc mới và gấp khăn mùi soa để túi màu đỏ tiệp với cà vạt đỏ… bà thấy chộn rộn trong người, nhất là ở bụng, cuộn lên bức bối vì đủ các thể loại xúc cảm phức tạp, buồn đau, giận dữ, và gì đó nữa bà không định rõ được nhưng lại làm lòng bà tan nát nhất. “Tiền nhà chưa trả, xe thì chưa tậu, cưng ây,” Lefty ngâm nga bằng giọng tenor ngọt ngào mà sau này tôi được thừa hưởng; còn dưới tiếng nhạc giờ đây Desdemona lại nghe thấy giọng mẹ mình, lời trăn trối của Euphrosyne Stephanides thốt ra ngay trước khi chết vì bị trúng đạn, “Săn sóc Lefty nhé. Hứa với mẹ đi. Tìm vợ cho nó!”… còn Desdemona, giàn giụa nước mắt trả lời, “Con hứa. Con hứa!”… tất cả những giọng này cùng một lúc cất lên trong đầu Desdemona khi bà băng qua sân vào nhà. Bà đi qua cái bếp tin hin nơi bà nấu bữa tối (cho một người) và tiến thẳng vào phòng ngủ dùng chung với thằng em. Ông vẫn đang hát – “Xèng thì chả mấy, nhưng cưng ây” – và cài măng séc, rẽ tóc; nhưng rồi ông ngước lên thấy chị gái mình – “Em ây có” – giờ thì rất khẽ – “vui” – rồi rơi vào im lặng.Trong một khoảnh khắc cái gương soi khuôn mặt hai người. Hai mươi mốt tuổi, rất lâu trước khi đeo hàm răng giả không khít mồm rồi lâm vào ốm đau bệnh tật do tự chuốc, bà tôi khá đẹp. Tóc đen dài tết bím bó lại dưới khăn trùm đầu. Những bím tóc này không mỏng mảnh như bé gái mà rất nặng và nữ tính, có sức mạnh tự nhiên, như đuôi hải ly. Bao năm tháng, bao mùa màng, bao loại thời tiết đã tích lũy vào những bím tóc này; tối tối khi tháo bím ra, tóc xõa xuống ngang hông bà. Lúc này, bím tóc được buộc bằng nơ lụa đen, nom càng ấn tượng hơn, nếu ta được nhìn thấy, mà trên thực tế thì không nhiều người lắm. Thứ dành cho người lạ thưởng lãm là khuôn mặt Desdemona: cặp mắt to âu sầu, nước da trắng hồng rạng rỡ. Tôi cũng nên nhắc tới, với chút đau nhói còn sót lại của đứa con gái từng có bộ ngực phẳng lỳ trước sau như một, cái thân hình đầy đặn khêu gợi của Desdemona. Cơ thể bà khiến bà xấu hổ không dứt. Nó lúc nào cũng phô bày bản thân theo cái lối mà bà không cho phép. Trong nhà thờ khi quỳ gối, trong sân khi đập thảm, dưới cây đào khi hái quả, những nét đàn bà của Desdemona thoát ra khỏi những câu thúc của những bộ quần áo nâu xám giản dị. Bên trên cái cơ thể cứ luôn nhún nhảy tưng tưng kia, khuôn mặt trùm khăn tách biệt hẳn ra, ngó xuống có phần khiếp đảm ý đồ của bọn hông với ngực.

Eleutherios thì lại cao với gầy hơn. Trong những bức ảnh chụp hồi đó trông ông giống mấy nhân vật giới đầu trộm đuôi cướp mà ông ngưỡng mộ, những tên trộm cướp với đánh bạc để một lớp ria mỏng tụ tập đầy những quán rượu ven biển ở Athens và Constaninople. Mũi khoằm, mắt sắc lẹm, toàn thể mặt ông nom tựa chim ưng. Tuy vậy, khi ông mỉm cười, ta thấy nét dịu dàng trong ánh mắt, khiến ta thấy rõ thực tình thì Lefty chả phải tay găngxtơ anh chị gì mà chỉ là cậu ấm mọt sách con nhà phong lưu được nuông chiều.

Cái buổi chiều mùa hè năm 1922 ấy, Desdemona không nhìn vào mặt em trai. Mắt bà lướt xuống cái áo vét, mái tóc bóng loáng, cái quần kẻ, khi bà cố tìm hiểu thằng em trong vài tháng qua trở chứng gì.

Lefty nhỏ hơn Desdemona một tuổi và bà thường tự hỏi làm thế nào mình sống qua mười hai tháng đầu tiên đó mà không có ông. Theo những gì bà còn nhớ được thì lúc nào ông cũng nằm bên kia cái chăn lông dê ngăn hai giường. Đằng sau tấm kelimi, ông biểu diễn múa rối, biến tay mình thành ông Karaghiozis10 lưng gù khôn ngoan luôn đánh lừa bọn Thổ. Trong bóng tối, ông bịa thơ thiếc rồi hát hò, nên một trong những lý do bà ghét cái thứ nhạc Mỹ mới lạ kia là vì ông chỉ hát cho mỗi mình ông nghe. Desdemona luôn yêu em với thứ tình yêu mà chỉ một cô chị gái từ bé đến lớn sống trên núi mới dành cho cậu em: ông là nguồn khuây khỏa duy nhất, bạn thân và người tâm tình, chiến hữu cùng khám phá ra những lối đi tắt và các am thầy tu. Hồi còn nhỏ, mối đồng cảm mà bà dành cho Lefty tuyệt đối đến nỗi đôi lúc bà quên mất họ là hai con người tách biệt. Lúc còn bé, họ lạch bạch đi bên sườn núi như một sinh vật hai đầu bốn chân. Bà quá quen mui bén mùi với cái bóng song sinh dính liền hắt lên ngôi nhà quét vôi trắng vào buổi tối, nên mỗi khi bắt gặp cái bóng lẻ loi của mình, bà cảm giác như nó đã bị cắt ra làm đôi vậy.

Thời bình dường như thay đổi mọi thứ. Lefty triệt để tận dụng những tự do mới mẻ. Riêng tháng rồi ông đã xuống Bursa tổng cộng mười bảy lần. Ông ngủ lại qua đêm đến ba lần ở quán trọ Kén Tằm đối diện Thánh đường Sultan Ouhan. Một sáng nọ ông ra khỏi nhà đi bốt, tất đến đầu gối, mặc quần ống túm, áo doulamas, với áo vét rồi tận tối hôm sau mới mò về nhà thì lại mặc bộ vét kẻ sọc, nơ lụa thắt ở cổ như ca sĩ opera còn đầu đội mũ quả dưa. Còn có những thay đổi khác nữa. Ông bắt đầu tự học tiếng Pháp từ cuốn sổ tay đàm thoại nhỏ màu mận. Ông nhiễm những điệu bộ giả tạo, đút tay vào túi lắc lắc tiền xu chẳng hạn, hay ngả mũ chào. Khi Desdemona giặt quần áo, bà tìm thấy nhiều mẩu giấy chi chít số má trong túi Lefty. Quần áo ông xộc mùi khói thuốc, xạ hương, thỉnh thoảng cả hương thơm nữa.

Lúc này đây trong gương, khuôn mặt sáp vào nhau của họ không thể che đậy được sự thật là họ đang tách dần nhau ra. Rồi bà tôi, nỗi âu sầu vỡ òa ra thành tiếng sấm rền trong tim, nhìn em trai như từng nhìn cái bóng mình mà thấy thiếu vắng một điều gì đó.

“Đi đâu mà diện thế?”

“Chị nghĩ em đi đâu chứ? Xuống Koza Han. Bán kén tằm.”

“Em vừa mới đi hôm qua còn gì.”

“Đang mùa mà.”

Cầm cái lược đồi mồi, Lefty rẽ tóc sang bên phải, thêm sáp thơm để bắt một lọn tóc cứng đầu phải ẹp xuống.

Desdemona lại gần hơn. Bà cầm sáp thơm lên hít hít. Quần áo ông không phải mùi này. “Ở dưới đó em còn làm những chuyện gì nữa?”

“Làm gì đâu.”

“Mấy lần liền em còn ở lại qua đêm.”

“Đường xa mà. Cuốc bộ xuống tới nơi trời tối mất rồi còn gì.”

“Em hút cái gì ở mấy quán rượu đó?”

“Trong ống shisha có gì thì hút cái đó. Chuyện tế nhị ai lại hỏi.”

“Bố mẹ mà biết em hút thuốc với uống rượu thế này…” lời bà truội dần đi.

“Bố mẹ đâu có biết được đâu?” Lefty nói. “Nên em chả việc gì nhá.” Cái giọng bông lơn cợt nhả của ông không đáng tin. Lefty cư xử như thể đã nguôi ngoai sau khi cha mẹ chết, nhưng Desdemona thì đi guốc trong bụng ông. Bà mỉm cười nghiêm nghị với em trai, rồi chả nói chả rằng mà giơ nắm tay ra. Vẫn ngắm mình trong gương, Lefty cũng tự động chìa nắm tay ra. Họ cùng đếm, “Oẳn tù tì ra cái gì ra cái… này!”

“Đá đập kéo. Chị thắng,” Desdemona nói. “Vậy kể chị nghe đi.”

“Chuyện gì?”

“Kể chị nghe dưới Bursa có gì hay ho thế.”

Lefty lại hất tóc tới trước rồi rẽ sang trái. Ông nhoài tới nhoài lui cái đầu trong gương. “Đằng nào đẹp hơn? Trái hay phải?”

“Để chị xem.” Desdemona cẩn thận giơ tay lên rồi vò nát tóc Lefty.

“Này!”

“Em muốn tìm gì ở dưới Bursa hả?”

“Để em yên.”

“Nói chị nghe đi!”

“Chị muốn biết à?” Lefty nói, bắt đầu cáu tiết với bà chị. “Chị nghĩ em muốn gì?” Bị dồn nén bấy lâu ông phun ra. “Em muốn một đứa con gái.”

Desdemona ôm lấy bụng, vỗ lên ngực mình. Bà lùi lại hai bước rồi đứng đó ngó thằng em bằng một ánh mắt khác. Trong đầu bà chưa bao giờ nảy ra cái ý nghĩ rằng Lefty, cặp mắt với đôi lông mày giống hệt bà kia, ngủ trên giường cạnh giường bà kia, lại bị một thứ dục vọng như thế ám ảnh. Mặc dù trưởng thành về mặt thể xác, Desdemona vẫn còn lạ lẫm với cơ thể mình. Đêm đêm trong phòng ngủ, bà từng thấy thằng em đang ngủ nằm ép sát vào nệm thừng như thể giận dữ với nó. Khi còn nhỏ, bà bắt gặp ông trong trại tằm, đang ngây thơ cọ cọ vào cái trụ gỗ. Nhưng những chuyện đó không để lại ấn tượng gì. “Em đang làm gì thế?” bà hỏi Lefty, hồi đó tám hay chín tuổi, đang siết chặt cái trụ, dịch đầu gối lên xuống. Bằng một giọng đều đều cương quyết, ông trả lời, “Em đang cố có cảm giác đó.”

“Cảm giác gì?”

“Chị biết mà” – càu nhàu, thở hắt ra, đầu gối đưa lên đưa xuống – “cái cảm giác đó.”

Nhưng bà không biết. Mãi nhiều năm sau này Desdemona khi đang cắt dưa chuột vô tình tựa vào góc bàn ăn, tựa mạnh hơn một chút, rồi sau đó vô thức đứng cái tư thế đó mỗi ngày, góc bàn ăn rúc giữa hai chân bà. Giờ đây lúc chuẩn bị bữa ăn cho em, thi thoảng bà lại thực thi thói quen cũ với cái bàn, nhưng không hề ý thức được. Chính cơ thể bà làm chuyện đó, với sự gian giảo và âm thầm của các cơ thể khắp thế gian.

Những chuyến đi xuống thành phố của em trai bà thì lại khác hẳn. Rõ ràng ông biết mình đang tìm kiếm cái gì; ông hiểu rất rõ cơ thể mình. Trí óc với cơ thể ông quyện thành một khối, suy nghĩ cùng một chuyện, chăm chăm một nỗi ám ảnh, và lần đầu tiên Desdemona không hiểu được suy nghĩ đó. Tất cả những gì bà biết là nó chẳng liên quan gì tới bà.

Nó khiến bà phát điên. Mà tôi ngờ cả hơi chút ghen tị nữa. Chẳng phải bà là bạn thân nhất của ông sao? Chẳng phải lúc nào họ cũng kể mọi thứ với nhau sao? Chẳng phải đích thân bà làm mọi thứ cho ông, nấu ăn, khâu vá, săn sóc nhà cửa như mẹ họ ngày xưa sao? Chẳng phải chính bà một tay đảm đương việc nuôi tằm để ông, đứa em nhỏ sáng dạ, được đi học đi hành tiếng Hy Lạp cổ chỗ linh mục đó ư? Chẳng phải chính bà bảo, “Sách vở học hành em lo đi, chị lo trại tằm cho. Em chỉ phải làm mỗi một việc là đem kén tằm đi chợ bán thôi.” Rồi khi ông bắt đầu la cà dưới thành phố, bà có càm ràm gì không? Bà có nhắc gì đến mấy mẩu giấy, hay đôi mắt đỏ ngầu, hay cái mùi xạ thơm ngòn ngọt trên quần áo ông không? Desdemona ngờ rằng thằng em mơ mộng đã trở thành con nghiện hasit. Nơi nào có nhạc rebetiko là y như rằng có hasit. Lefty đang chống chọi với cái chết của cha mẹ theo cách duy nhất ông biết, đó là ngụp lặn trong khói thuốc hasit mà nghe cái thứ nhạc sầu đời nhất hạng. Desdemona hiểu tất cả những chuyện này nên không càm ràm gì cả. Nhưng giờ đây khi bà thấy thằng em cố thoát khỏi nỗi buồn bằng cách mà bà không ngờ tới, thì bà không lặng thinh được nữa.

“Em muốn một đứa con gái á?” Desdemona hỏi giọng bàng hoàng. “Gái gì? Gái Thổ hả?”

Lefty chả nói chả rằng. Sau cơn bộc phát, ông bèn chải tóc tiếp.

“Chắc em muốn một đứa tì nữ. Phải không? Em tưởng chị không biết gì về bọn đĩ, mấy con poutane11 đó hả? Chị biết hết. Chị không ngu đến thế đâu. Em khoái một con phốp pháp lắc bụng vào mặt em chứ gì? Bụng béo núc ních có đeo khuyên chứ gì? Em muốn đứa như thế chứ gì? Để chị nói cho mà biết. Em có biết tại sao bọn gái Thổ lại phải đeo mạng che mặt không? Em tưởng vì tôn giáo hả? Không phải. Vì nếu không thì chả ai chịu nổi bản mặt bọn nó đâu!”

Lúc này bà quát tướng lên, “Nhục cái mặt, Eleutherios! Em bị làm sao thế hả? Sao em không kiếm một đứa ở làng mình?”

Đến lúc này thì Lefty, đang phủi bụi áo khoác, chỉ ra cho bà chị sự thật mà bà bỏ sót. “Chắc chị không nhận ra,” ông đáp, “nhưng ở cái làng này làm gì có đứa con gái nào.”

Quả tình có đúng như vậy thật. Bithynios chưa bao giờ là một làng lớn, nhưng hồi 1922 nó còn tin hin hơn bao giờ hết. Từ năm 1913, khi rệp vừng làm nho tàn lụi sạch, dân bắt đầu bỏ làng đi. Họ tiếp tục bỏ đi vào thời các cuộc chiến tranh Ban-căng12. Chị họ của Lefty và Desdemona, Sourmelina, đã đến Mỹ và giờ đây sống ở một nơi tên là Detroit. Dựng trên sườn núi thoai thoải, làng Bithynios không phải là một nơi chênh vênh trên đỉnh núi. Nó là một cụm những ngôi nhà trát vữa vàng mái đỏ tao nhã, hay ít nhất là hài hòa. Nhà to nhất, tổng cộng hai cái, có çikma – cửa sổ kính lớn xây trồi ra ngoài đường. Nhà nghèo nhất, loại này đầy, là loại chỉ có một phòng kiêm cả bếp. Rồi có những hộ như nhà của Desdemona với Lefty, có phòng khách nhét đầy đồ đạc, hai phòng ngủ, một bếp, và một vệ sinh ở sân sau có toilet kiểu châu Âu. Ở làng Bithynios không có cửa hàng, không bưu điện hay nhà băng, chỉ có một nhà thờ và một nhà hàng nhỏ. Muốn mua sắm thì phải xuống dưới Bursa, đầu tiên đi bộ, sau đó xe ngựa.

Hồi năm 1922 làng chỉ có khoảng một trăm người. Phụ nữ được gần non nửa. Trong bốn mươi bảy phụ nữ, hai mươi mốt là bà già. Hai mươi người nữa là bà nội trợ sồn sồn. Ba bà mẹ trẻ, đều có con gái còn quấn tã. Một là chị gái ông. Vậy là còn lại hai cô đến tuổi cập kê. Mà giờ đây Desdemona cuống quýt đề xuất.

“Không có con gái là sao? Cái Lucille Kafkalis đấy thôi? Nó ngoan phết. Hay cái Victoria Pappas đấy?”

“Con Lucille hôi bỏ xừ,” Lefty đáp nghe có lý. “Con đấy có khi cả năm nó tắm được một lần. Vào ngày tên thánh của nó. Còn con Victoria hả?” Ông đưa một ngón tay lên môi trên. “Ria mép con Victoria còn rậm hơn cả em. Em không muốn dùng chung dao cạo với vợ.” Nói đoạn, ông bỏ cây chổi phủi bụi quần áo xuống rồi choàng áo khoác vào. “Đừng thức đợi nhé,” ông nói rồi ra khỏi phòng ngủ. “Đi đi!” Desdemona gọi với theo sau. “Chị cần quái gì. Nhưng nhớ lấy. Khi con vợ Thổ cởi khăn ra, thì đừng có ba chân bốn cẳng mà dẫn xác về làng đấy!”

Nhưng Lefty đã bỏ đi. Tiếng bước chân của ông xa dần. Desdemona thấy thứ chất độc bí hiểm lại dâng lên trong máu. Bà không quan tâm. “Chị không thích ăn cơm một mình!” bà hét lên, với không một ai cả.

Gió từ thung lũng nổi lên, như mọi chiều. Nó thổi qua cửa sổ nhà mở toang. Nó làm cái then trên rương đựng đồ hồi môn và chuỗi hạt lo lắng13 của cha bà nằm trên đó kêu lạch xạch. Desdemona cầm chuỗi hạt lên. Bà bắt đầu lần từng hạt một qua từng ngón tay, hệt như cha bà, ông bà, và ông cố của bà từng làm, thể hiện tài lo âu chính xác bài bản và cặn kẽ đã ăn vào máu gia đình. Trong lúc các hạt va vào nhau, Desdemona mê mải ngẫm ngợi. Chúa bị làm sao ấy nhỉ? Sao Người lại mang cha mẹ đi mất để bà phải lo cho thằng em? Bà phải làm gì với nó đây? “Hút thuốc, uống rượu, giờ còn tệ hơn! Mà nó lấy tiền đâu ra cho hết thảy những trò ngu xuẩn đấy? Từ kén tằm của mình chứ đâu nữa!” Từng hạt lần qua tay là một nỗi căm giận được ghi lại rồi xả ra. Desdemona, với đôi mắt u sầu, khuôn mặt của đứa con gái buộc phải trưởng thành quá vội, lo lắng lần tràng hạt như cánh đàn ông nhà Stephanides trước và sau bà (tức là tôi cũng thế, nếu tính cả tôi vào).

Bà lại bên cửa sổ thò đầu ra ngoài, nghe gió thổi xào xạc qua hàng thông và bạch dương. Bà tiếp tục lần chuỗi hạt lo lắng rồi, từng chút một, nó làm nhiệm vụ của mình. Bà thấy dễ chịu hơn. Bà quyết định sống tiếp đời mình. Tối nay Lefty không về. Ai thèm quan tâm chứ? Ai mà cần nó chứ? Nó không bao giờ về nữa thì đời bà càng suôn sẻ hơn. Nhưng bà nợ mẹ cái trách nhiệm quản lý để thằng em không mắc thứ bệnh nhục nhã nào đó, hay tệ hơn, bỏ nhà trốn đi với một con Thổ. Các hạt tiếp tục rơi, từng hạt một, qua ngón tay Desdemona. Nhưng bà không còn đếm nỗi đau nữa. Mà giờ đây các hạt gợi đến trong đầu bà những hình ảnh trên một tạp chí được giấu kín trong cái bàn cũ của cha họ. Một hạt là kiểu tóc. Hạt tiếp theo là chiếc váy lót lụa. Hạt tiếp theo là cái coóc xê đen. Bà tôi khởi sự công tác mai mối.

Trong lúc đó, Lefty đeo túi kén tằm đang trên đường xuống núi. Khi tới thành phố, ông xuống Kapali Carsi Caddesi, rẽ ở Borse Sokak, đoạn băng qua cổng vòm vào sân chợ tằm Koza Han. Bên trong, chung quanh đài phun nước bằng đá màu xanh ngọc là hàng trăm những túi đựng kén tằm chật ních cao đến tận hông. Đàn ông tụ tập ở khắp nơi, người bán kẻ mua. Họ gào hét từ mười giờ sáng hôm đó lúc chuông mở chợ vang lên nên giọng đã khản đặc. “Giá hời đây! Hàng chất đây!” Lefty tay cầm túi len qua những lối hẹp giữa các kén tằm. Ông chưa bao giờ quan tâm đến chuyện làm ăn kiếm sống của gia đình. Ông không nhận biết được chất lượng kén tằm bằng cách ngửi hay sờ xem như chị gái. Lý do duy nhất ông mang kén tằm tới chợ là vì phụ nữ không được phép làm vậy. Phải chen lấn rồi xô đẩy bọn khuân hàng với cả bước tránh những túi kén làm ông căng thẳng. Ông nghĩ sẽ thật tuyệt biết bao nếu thiên hạ ngừng cử động một lúc, nếu họ đứng yên đó mà chiêm ngưỡng những kén tằm tỏa sáng trong bóng đêm; nhưng dĩ nhiên chẳng ai làm vậy. Họ tiếp tục gào hét rồi dí kén tằm vào mặt nhau rồi điêu toa rồi mặc cả. Cha Lefty ngày xưa rất mê buổi chợ ở Koza Han, nhưng cái máu buôn bán đó không truyền sang thằng con.

Gần dãy hành lang mái vòm Lefty gặp tay lái buôn quen. Ông giơ túi lên. Tay thương lái thọc tay vào lấy ra một cái kén. Lão nhúng vào bát nước kiểm tra. Đoạn nhúng tiếp vào cốc rượu.

“Tơ này phải xe hai lần. Chưa đủ độ dai.”

Lefty không tin nhận xét này. Tơ của Desdemona luôn là hàng hảo hạng. Ông biết lẽ ra phải quát lác, giả vờ bị xúc phạm, vờ mang hàng đi chỗ khác. Nhưng ông đến muộn; tiếng chuông đóng chợ sắp sửa vang lên rồi. Cha ông đã luôn dặn đừng có mang kén đi bán lúc cuối ngày vì như thế phải hạ giá. Lefty sởn hết cả da gà dưới bộ vét mới. Ông muốn buôn cho nhanh bán cho gọn. Lòng ông ngập tràn tủi hổ: tủi hổ cho loài người, bởi lúc nào cũng chỉ nghĩ tiền tiền, và ham lừa đảo. Không phản đối một lời ông đồng ý luôn giá lão kia ra. Ngay khi buôn bán xong xuôi, ông vội ra khỏi Koza Han lo chuyện riêng trong phố.

Đó không phải là chuyện Desdemona tưởng. Nhìn thật kỹ thì thấy Lefty, đội mũ quả dưa vẻ ngông nghênh, cuốc bộ xuống những con dốc của Bursa. Tuy vậy khi đi qua hàng cà phê, ông lại không tạt vào. Chủ quán gọi ông, nhưng Lefty chỉ vẫy tay. Ở con phố tiếp theo ông ngang qua một cửa sổ có giọng phụ nữ ới gọi, nhưng ông không hề đoái hoài, cứ thế đi tiếp qua những con phố ngoằn ngoèo, qua đám bán hoa quả và nhà hàng cho tới một con phố khác, tại đây ông bước vào nhà thờ. Chính xác hơn: một nhà thờ Hồi giáo cũ, với ngọn tháp bị đập bỏ và những câu kinh Koran khắc trên tường đã bị trát kín để tạo ra nền mới toanh cho người ta vẽ lên, ngay lúc này đây, các vị thánh Kitô giáo. Lefty đưa một đồng xu cho bà già bán nến thánh, thắp một ngọn rồi cắm thẳng xuống cát. Ông ngồi xuống một chỗ ở hàng ghế sau. Cũng giống hệt như bà bô tôi sau này cầu xin lời chỉ dẫn về việc thụ thai tôi, Lefty Stephanides, ông trẻ của tôi (kiêm cả những vai trò khác nữa) trông lên vị Chúa Ban Phước Lành đang vẽ dở trên trần nhà. Bài cầu nguyện bắt đầu bằng những lời ông học hồi bé, Kyrie eleison, Kyrie eleison14, con không xứng được tới trước ngôi Người, nhưng rồi chúng đổi dần, trở nên riêng tư hơn, con không hiểu tại sao lại cảm thấy như thế, nó không tự nhiên… rồi chuyển sang lời buộc tội nho nhỏ, cầu nguyện, Người làm con ra thế này, con đâu có cầu xin những thứ như vậy… nhưng cuối cùng thì trở nên khốn khổ, xin hãy cho con sức mạnh, Chúa ơi, đừng để con như thế này, nhỡ chị ấy mà biết được… mắt nhắm tịt, tay gập vành mũi quả dưa, những lời đó bay lên cùng khói hương trầm tới một đức Jesus-đang-vẽ-dở.

 Ông cầu nguyện năm phút. Đoạn ra ngoài, đội mũ lại lên đầu, lắc xu xủng xoẻng trong túi. Ông leo lên lại những con phố dốc thoai thoải, và lần này (trái tim được cởi bỏ gánh nặng), dừng lại ở tất cả những nơi ông đã cự tuyệt trên đường đi xuống. Ông vào quán uống cà phê rít hơi thuốc. Ông tạt vào nhà hàng làm tợp rượu ouzo. Những tay chơi cờ thỏ cáo hét gọi, “Êu, anh cắt đầu Valentino, làm ván chớ?” Ông để mình bị dụ vào chơi chỉ một ván, rồi thua thế là phải đặt gấp đôi hoặc không gì cả. (Những con tính mà Desdemona tìm thấy trong túi quần Lefty chính là nợ cá cược.) Đêm trôi đi. Rượu ouzo rót tràn trề. Nhạc công đến rồi nhạc rebetiko bắt đầu nổi lên. Họ chơi những bài hát về dục tình, cái chết, tù đày, và cuộc sống đường phố. “Ngày ngày anh ghé quán rượu ven biển hút hasit,” Lefty hát theo, “để xua đi nỗi buồn mù mịt mỗi sớm mai; Anh gặp hai em nô tì ngồi trên bãi cát; Hai nàng bé bỏng phê lòi cả thuốc, mà nom vẫn xinh đẹp lạ thường.” Trong lúc đó, shisha được nhồi đầy. Đến nửa đêm, Lefty bồng bà bồng bềnh quay ra phố.

Một con hẻm chạy xuống, rẽ, ngõ cụt. Cửa mở ra. Một khuôn mặt mỉm cười, cúi đầu chào. Chưa gì Lefty đã tọa luôn xuống xô pha cùng ba tên lính Hy Lạp, ngắm bảy cô em đẫy đà xức nước hoa ngồi trên hai chiếc xô pha đối diện. (Máy hát chạy cái bài nổi tiếng được bật khắp nơi: “Sáng sáng chiều chiều…”) Đến lúc này những lời cầu nguyện vừa rồi đã bốc hơi sạch sẽ bởi như mụ tú bà nói, “Bất kỳ em nào cưng thích, cưng à,” mắt Lefty lướt qua em người Circassia mắt xanh tóc vàng, rồi em người Armenia đang cắn quả đào lả lơi mời gọi, rồi em Mông Cổ để tóc mái; mắt ông đưa tiếp rồi dừng lại ở một em kín tiếng ngồi ở cuối xô pha, cô gái có cặp mắt âu sầu với làn da không tì vết và mái tóc đen tết bím. (“Gươm nào cũng có vỏ hết á,” tú bà nói tiếng Thổ còn bọn gái điếm cười phá lên.) Không ý thức được vì sao mình lại bị em này cuốn hút, Lefty đứng dậy, vuốt thẳng áo khoác, chìa tay ra về phía cô gái mình chọn… và chỉ khi em dẫn ông lên lầu thì một giọng trong đầu ông mới chỉ ra em này giống hệt như… mà chẳng phải nét mặt trông nghiêng rất giống… nhưng lúc này họ vào phòng với nào là ga giường bẩn thỉu, ngọn đèn dầu đỏ như máu, mùi nước hoa hồng và chân thối. Bị những giác quan tuổi trẻ làm cho mê muội, Lefty không để ý đến sự giống nhau tăng dần khi cô gái cởi bỏ quần áo. Mắt ông ngấu nghiến bộ ngực lớn, cái eo thon, mái tóc tuôn dài xuống cái xương cụt yếu đuối; nhưng Lefty không nhận thấy mối liên hệ nào. Cô gái nhồi thuốc vào shisha cho ông. Chẳng bao lâu sau ông mơ mơ màng màng, không còn nghe thấy giọng nói trong đầu nữa. Trong giấc mơ êm đềm do thuốc hasit kéo dài trong suốt nhiều giờ sau đó, ông không còn biết mình là ai, đang ở với ai. Chân tay em gái điếm trở thành chân tay một phụ nữ khác. Một vài lần ông gọi lớn một cái tên, nhưng khi đó ông phê quá không để ý. Chỉ mãi sau đó, khi tiễn ông về, em gái mới đưa ông quay lại hiện thực. “Mà này em tên là Irini nhé. Ở đây bọn em chả có ai tên Desdemona cả.”

Sáng hôm sau ông tỉnh dậy ở Quán trọ Kén tằm, ngập chìm trong những lời tự tố cáo. Ông rời khỏi thành phố, leo núi về lại làng Bithynios. Túi ông (rỗng không) không còn kêu xủng xoẻng. Đầu đau nhừ sau cơn say và ngây ngấy sốt, Lefty tự nhủ rằng chị gái mình nói đúng: đã đến lúc ông phải lập gia đình. Ông sẽ lấy quách con Lucille, hoặc con Victoria. Sinh con đẻ cái rồi thôi không đi xuống Bursa nữa rồi dần dà ông sẽ thay đổi; ông sẽ già đi; mọi thứ ông cảm thấy bây giờ sẽ tan biến thành hồi ức rồi thành hư không. Ông gật đầu; ông bèn chỉnh lại mũ.

Còn ở làng Bithynios, Desdemona đang dạy hai em bé mới vào nghề kia cách trang điểm. Trong khi Lefty vẫn đang ngủ vùi ở quán trọ Kén Tằm, bà mời Lucille Kafkalis với Victoria Pappas sang nhà chơi. Hai em này còn trẻ hơn Desdemona, vẫn ở cùng bố mẹ. Họ kính cẩn Desdemona vì bà làm chủ một gia đình. Ghen tị với sắc đẹp của bà, họ ngưỡng mộ ngắm nghía bà; hãnh diện vì được bà chú ý, họ tâm sự với bà; nên khi bà khuyên nhủ cách cải thiện vẻ ngoài, họ nghe như nuốt từng lời vàng ý ngọc. Bà bảo Lucille nên chăm tắm rửa hơn và gợi ý cô dùng giấm để khử mùi dưới cánh tay. Bà đưa Victoria đến chỗ một thím người Thổ chuyên tẩy vùng lông không mong muốn. Trong tuần tiếp theo, Desdemona dạy hai em mọi điều mà bà học được từ tạp chí sắc đẹp duy nhất mà bà từng đọc, một ca ta lô rách tơi tả tên là Đồ lót phụ nữ Paris15. Tập ca ta lô này vốn của cha bà. Nó gồm ba mươi hai trang ảnh người mẫu mặc coóc xê, xu chiêng, quần tất và dây nịt tất. Đêm đêm, khi cả nhà đã ngủ say, cha bà thường moi nó ra từ ngăn kéo bàn cuối cùng. Giờ đây Desdemona bí mật nghiên cứu tập ca ta lô, ghi nhớ những bức ảnh để sau đó tái tạo.

Bà bảo Lucille với Victoria chiều nào cũng sang chơi. Hai em bước vào nhà, đánh hông như được dạy, rồi lượn qua giàn nho nơi Lefty hay ngồi đọc sách. Mỗi lần đến họ đều mặc váy khác nhau. Hai em cũng đổi cả kiểu tóc, dáng đi, trang sức, lẫn điệu bộ. Dưới chỉ đạo của Desdemona, hai cô gái nhếch nhác tự nhân họ thành một thành phố nhỏ toàn phụ nữ, mỗi người đều có điệu cười riêng, viên đá quý riêng, bài hát yêu thích hay ngân nga. Sau hai tuần, chiều nọ Desdemona ra chỗ giàn nho hỏi em trai, “Sao lại ngồi đây? Sao không đi xuống Bursa? Chị tưởng em tìm được một em Thổ xinh xắn mà cưới rồi chứ. Hay bọn nó đứa nào cũng có ria mép như Victoria cả?”

“Kỳ quặc thật, chị nhắc đúng chuyện em đang nghĩ đấy,” Lefty nói. “Chị có để ý không? Cái Vicky sạch hết ria mép rồi. Mà chị biết gì nữa không?” giờ đứng dậy, mỉm cười – “ngay cả cái Lucille cũng bớt hôi rồi. Mỗi lần nó đến em lại ngửi thấy hương hoa thơm.” (Dĩ nhiên ông điêu. Ngoại hình hay mùi hương của hai em này chẳng hấp dẫn gì ông hơn trước kia. Tỏ ra hăng hái thế này chỉ là cách ông đầu hàng việc không thể tránh khỏi: một cuộc hôn nhân sắp đặt, đời sống gia đình, con cái – thảm họa toàn tập.) Ông lại gần Desdemona. “Chị nói chuẩn quá,” ông bảo. “Những cô gái xinh đẹp nhất trên thế gian ở ngay đây trong làng này rồi.”

Bà e thẹn nhìn lại vào mắt ông. “Thật vậy à?”

“Đôi khi ta không nhận ra thứ sờ sờ ngay trước mắt mình.”

Họ đứng đó chăm chắm ngó nhau, Desdemona bèn thấy lòng chộn rộn. Mà để giải thích cảm giác đó tôi lại phải kể cho bạn một câu chuyện khác. Trong bài diễn văn tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Khoa học Nghiên cứu Tính dục vào năm 1968 (năm đó được tổ chức ở Mazatlán giữa cơ man nào piñata16), bác sĩ Luce với tư cách chủ tịch giới thiệu khái niệm “cảm giác ngoại biên.” Bản thân từ này chả có nghĩa gì cả; Luce phịa ra để tránh mọi liên tưởng về từ nguyên. Tuy vậy, trạng thái cảm giác ngoại biên lại rất phổ biến. Nó chỉ cái lần xúc động đầu tiên trong quá trình bén duyên của đôi lứa. Nó gây ra váng vất, hân hoan, nhồn nhột ở thành ngực, ham muốn trèo lên ban công bằng sợi dây thừng kết từ tóc người yêu. Cảm giác ngoại biên chỉ cái lần đầu lên giường ngất ngây hạnh phúc như phê thuốc khi bạn hít ngửi người tình như bông hoa anh túc thơm ngát trong nhiều giờ liền. (Nó kéo dài, Luce giải thích, lên tới hai năm – là hết đát.) Dân Hy La cổ đại sẽ giải thích cảm giác mà Desdemona đang cảm thấy là do thần tình ái Eros. Hiện nay theo ý kiến chuyên gia đây là do hóa chất thần kinh và tiến hóa. Dẫu vậy, tôi phải khẳng định rằng: với Desdemona thì cảm giác ngoại biên như thể một cái hồ hơi ấm dâng lên từ bụng tràn qua ngực bà. Nó lan như cơn hồng thủy rượu 90 độ cồn, thứ rượu Phần Lan xanh bạc hà cay xè. Với sự bơm đẩy đầy hiệu quả của hai tuyến giáp ở cổ, nó làm mặt bà nóng bừng lên. Đoạn cái hơi ấm này nảy ra loạt ý tưởng khác, bèn tràn xuống những vùng mà một cô gái như Desdemona không cho phép nó đi tới, nên bà cụp mắt quay đi chỗ khác. Bà bước lại cửa sổ, để cảm giác ngoại biên lại phía sau, và gió từ thung lũng thổi lên làm bà mát dịu. “Chị sẽ đi nói chuyện với bố mẹ hai đứa ấy,” bà bảo, cố ra vẻ như mẹ mình. “Còn em thì xúc tiến tán tỉnh đi.”

Đêm hôm sau, mặt trăng hiện hình lưỡi liềm, như lá cờ tương lai của Thổ Nhĩ Kỳ. Dưới Bursa quân Hy Lạp lùng sục tìm thức ăn, nốc rượu, và bắn phá một nhà thờ Hồi giáo nữa. Ở Angora, Mustafa Kemal cho in trên báo tin ông sẽ tổ chức tiệc trà ở Chankaya nhưng trên thực tế di chuyển đến đại bản doanh ngoài chiến trường. Cùng chiến hữu, ông tợp ngụm rượu raki cuối cùng mà thề không đụng đến rượu cho tới khi trận chiến kết thúc. Dưới màn đêm bao phủ, quân Thổ không dịch chuyển về Eskişehir ở phía Bắc, như thiên hạ tưởng, mà về phía thành phố Afyon được phòng vệ cực kỳ cẩn thận ở phía Nam. Tại Eskişehir, quân Thổ đốt lửa trại để khuếch trương sức mạnh. Một lực lượng nghi binh nhỏ vờ tiến về phía Bắc Bursa.

Khi những vụ dàn quân này diễn ra, Lefty Stephanides cầm hai bó hoa con con, ra khỏi nhà tiến về phía nhà Victoria Pappas.

Sự kiện này trọng đại không kém gì việc trẻ con ra đời hay có người chết. Gần như ai trong số gần trăm dân làng Bithynios cũng đã nghe đến chuyến đi thăm sắp diễn ra của Lefty, thế là từ bà góa già, tới gái có chồng, đến các bà mẹ trẻ, cũng như các ông già, đều đang đợi xem ông sẽ chọn cô nào. Vì dân số ít ỏi, những phương thức tán tỉnh cổ xưa cơ hồ đã chấm dứt. Việc thiếu đối tượng yêu đương này làm nảy sinh một chu kỳ ác nghiệt. Không có ai để yêu thì không có tình yêu. Không có tình yêu thì không có trẻ em. Không có trẻ em thì không có ai để yêu.

Victoria Pappas đứng nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, bóng trên người cô giống hệt bức ảnh ở trang số 8 của ca ta lô Đồ lót phụ nữ Paris. Desdemona (chuyên viên phụ trách trang phục, kiêm bố trí sân khấu và kiêm luôn đạo diễn) búi tóc Victoria lên, cho mấy sợi tóc quăn rơi xuống trán và cảnh báo cô phải xoay cái mũi to vào trong bóng tối. Xức nước hoa, tẩy lông, bôi kem làm mềm da, đánh phấn côn quanh mắt, Victoria đứng yên cho Lefty ngắm nghía mình. Cô cảm nhận được ánh mắt nóng bỏng, nghe tiếng thở nặng nhọc của ông, nghe ông cố gắng cất tiếng hai lần – hai tiếng ré khe khẽ từ cổ họng khô khốc – rồi cô nghe tiếng chân ông tiến về phía mình, rồi cô quay lại, làm vẻ mặt mà Desdemona đã dạy; nhưng mải tập trung trề môi ra cho giống chị mẫu đồ lót người Pháp cô không nhận ra tiếng bước chân không phải tiến tới mà là thoái lui; khi cô quay lại thì thấy Lefty Stephanides, anh chàng độc thân duy nhất ở làng, đã bỏ về mất toi…

… Trong lúc đó, ở nhà, Desdemona mở rương quần áo. Bà thọc tay lấy cái coóc xê. Nhiều năm trước mẹ đã tặng nó cho bà để dành cho đêm tân hôn, mà nói, “Mẹ mong có ngày con sẽ mặc vừa.” Giờ đây, trước gương phòng ngủ, Desdemona giơ cái món đồ rắc rối, kỳ lạ lên ướm thử lên người. Bà cởi tất ra, cả đồ lót màu xám. Bà cởi luôn cái váy cạp cao, cùng cái áo cổ cao. Bà cởi khăn trùm đầu thả hết tóc ra cho rơi xuống đôi vai trần. Chiếc coóc xê làm bằng lụa trắng. Mặc vào rồi Desdemona cảm thấy như thể bà đang dệt cái kén của riêng mình, chờ đợi biến hình thành bướm.

Nhưng khi nhìn lại mình trong gương, bà chợt hiểu ra. Cái coóc xê sẽ chả dùng vào việc gì cả. Bà sẽ không bao giờ lấy chồng. Tối nay Lefty sẽ quay về khi chọn được cô dâu, rồi ông sẽ đưa con bé về nhà sống với họ. Desdemona sẽ vẫn như xưa, lần chuỗi hạt mà già đi hơn cả bà cảm thấy lúc này. Một con chó tru lên. Ai đó ở làng vấp phải bó củi chửi tướng lên. Còn bà tôi lặng lẽ khóc bởi bà sẽ sống hết năm tháng đời mình đếm những nỗi lo không bao giờ cạn…

… Trong lúc đó Lucille Kafkalis đang tạo tư thế đúng như được bảo, nửa trong bóng tối nửa ngoài ánh sáng, đội mũ trắng có đính quả anh đào bằng thủy tinh, vai trần choàng khăn, diện váy cổ xẻ sâu màu xanh tươi, đi giày cao gót, mà cô không dám nhúc nhích vì sợ ngã. Bà mẹ béo của cô lạch bạch bước vào, cười toét mỏ hét toáng lên, “Thằng ấy đến kìa! Nó không chịu nổi con Victoria dù chỉ một phút!”…

… Chưa gì ông đã ngửi thấy mùi giấm. Lefty vừa mới đến chỗ khung cửa thấp nhà Kafkalis. Cha Lucille chào ông rồi nói, “Hai bác cho hai đứa được riêng tư. Để làm quen.” Phụ huynh bỏ đi. Phòng sáng lờ mờ. Lefty quay gót… đoạn vứt luôn bó hoa còn lại.

Điều mà Desdemona không hề ngờ tới là thằng em cũng đã nghiền ngẫm Đồ lót phụ nữ Paris. Thực ra, ông xem từ hồi mười hai cho tới khi sang mười bốn tuổi, khi phát hiện ra kho báu đích thực: mười tấm ảnh cỡ bưu thiếp, giấu trong vali cũ, chụp “Sermin, Thiếu nữ trong Thưởng lạc cung17,” một nàng hai lăm tuổi thân hình quả lê mặt ủ mày ê thực hiện đủ các loại tư thế trên mấy cái gối có quả tua rua trong một khuê phòng được dàn dựng. Tìm thấy nàng trong ngăn đựng vật dụng khi tắm rửa cứ như thể chà vào ngọn đèn thần. Nàng bay vút ra trong màn bụi sáng lấp lánh: trên người không có gì ngoài đôi hài thêu mũi cong trong truyện Ngàn lẻ một đêm với khăn thắt ở hông (tách); nằm trễ nải trên tấm da hổ, nghịch thanh mã tấu (tách); và tắm, ánh sáng đổ lên châu thân thành vệt carô, ở một nhà tắm lát đá cẩm thạch kiểu Thổ. Mười bức ảnh tông màu sepia nâu đỏ này chính là thứ đầu tiên khới dậy nỗi mê mẩn thành thị trong lòng Lefty. Nhưng ông nào quên được mối tình đầu ở Đồ lót phụ nữ Paris. Ông dễ dàng hình dung ra chúng rõ mồn một trong đầu. Khi thấy Victoria Pappas nom từa tựa như trang số 8, thứ làm Lefty kinh ngạc nhất chính là khoảng cách xa vời vợi giữa con này với cái hình mẫu thời niên thiếu. Ông thử tưởng tượng mình lấy Victoria, sống với nó, nhưng mỗi hình ảnh xuất hiện trong đầu đều có một khoảng trống toang hoác ngay chính giữa, chính là sự thiếu vắng người ông yêu hơn và hiểu hơn bất kỳ ai khác. Vì vậy ông chạy mất dép khỏi con Victoria Pappas chỉ để xuống phố gặp ngay con Lucille Kafkalis, thất vọng toàn tập, thua xa nàng ở trang số 22…

… Và giờ thì chuyện xảy ra. Desdemona, lệ tuôn lã chã, cởi coóc xê xong gấp lại rồi nhét vào rương. Bà lao lên giường, giường Lefty, rồi khóc vật ra. Chiếc gối thơm ngát hương chanh sáp bôi tóc của ông thế là bà hít lấy hít để, nức na nức nở…

… Cho đến khi, bị thuốc phiện của cơn khóc lóc làm cho đờ đẫn, bà ngủ thiếp đi. Bà mơ thấy chuyện gần đây thường xuất hiện. Trong chiêm bao mọi thứ lại như xưa. Bà với Lefty lại trở thành hai đứa trẻ (chỉ có điều trong cơ thể người lớn). Họ nằm chung giường (chỉ có điều giờ là giường bố mẹ). Họ gác chân tay lên nhau khi ngủ (cảm giác cực kỳ dễ chịu, khi gác lên nhau, còn cái giường thì ướt sũng)… Đúng lúc đó Desdemona tỉnh dậy, như mọi khi. Mặt bà nóng bừng. Bụng chộn rộn, và sâu thẳm trong lòng, bà cơ hồ nhận biết được cảm xúc đó là gì…

… Khi tôi ngồi đây trên ghế xoay, ngẫm ngợi theo chiều hướng mà nhà sinh vật học E. O. Wilson đã vạch ra18. Đó là do tình yêu hay bản năng sinh sản? Tình cờ hay định mệnh? Tội ác hay sản phẩm của tự nhiên? Có lẽ cái gen cài sẵn một cơ chế đảm bảo cho quá trình biểu hiện gen giải thích được tại sao Desdemona lại khóc vật vã và tại sao Lefty lại chọn những cô điếm như thế; không phải do tình yêu mến, không phải đồng cảm; chỉ là vì để cho cái thứ mới lạ này bước vào thế gian thì cần thiết phải như vậy, để rồi lại đẻ ra những tỉ số đã dàn xếp của trái tim. Nhưng tôi không sao giải thích nổi, Desdemona với Lefty cũng không, cũng như mỗi người chúng ta, khi rơi vào lưới tình, không phân biệt nổi đâu là do hoóc môn đâu là cảm giác thiêng liêng tuyệt trần, mà biết đâu tôi bám vào cái lý lẽ mọi sự do ý trời cả là bởi vì chút lòng vị tha bẩm sinh để bảo vệ giống loài; tôi không chắc nữa. Bằng suy nghĩ, tôi cố quay lại cái thời trước khi có ngành nghiên cứu gen, trước khi động đến chuyện gì mọi người cũng ra rả, “Nằm trong gen hết đấy.” Cái thời trước tự do hiện tại của chúng ta, và tự do hơn chán vạn lần! Desdemona không hề biết chuyện gì đang xảy ra. Bà không hình dung nổi lòng mình lại có thể như một bộ mã máy tính khổng lồ, chỉ gồm 1 với 0, những chuỗi vô tận, bất cứ chuỗi nào cũng có khả năng xuất hiện lỗi lập trình. Giờ đây ta biết mình mang cái bản đồ gen của chính mình đi khắp mọi nơi. Ngay cả khi đứng trên góc phố nó cũng sai khiến số phận ta. Nó đem đến trên mặt cùng những nếp nhăn với vết đồi mồi giống cha mẹ ta. Nó khiến chúng ta có cái kiểu hít hít rất đặc trưng, nhìn là biết ngay giỏ nhà ai quai nhà ấy. Gen ăn sâu đến nỗi chúng điều khiển cả cơ mắt, vì thế chị em gái nháy mắt giống nhau, còn hai bé trai sinh đôi thì nhểu nước dãi cùng lúc. Thi thoảng, lúc bồn chồn tôi sờ sờ cái sụn mũi, hệt ông anh. Cổ họng với thanh quản của bọn tôi, được hình thành từ cùng chỉ dẫn, đẩy không khí ra theo cùng âm thanh và âm lượng. Mà điều này có thể ngoại suy ngược lại theo thời gian, thành thử khi tôi nói thì Desdemona cũng nói. Bà cũng đang viết chính những từ này. Desdemona, không hề biết trong người có cả đội quân, thực thi hàng triệu mệnh lệnh, mà cũng không hề biết có một thằng lính không tuân lệnh, đào ngũ…

… Te tái chạy như Lefty lao khỏi nhà cái Lucille Kafkalis về với chị gái. Bà nghe tiếng chân tất tả của ông khi đang kéo váy lên. Bà lấy khăn trùm đầu chùi mắt rồi mỉm cười khi ông đi qua cửa vào nhà.

“Thế em chọn đứa nào?”

Lefty không đáp gì mà chỉ nhìn dò chị gái. Ngủ cùng phòng với bà cả đời, chẳng lẽ ông không biết được lúc nào bà khóc hay sao. Tóc bà xõa ra, phủ gần hết mặt, nhưng cặp mắt nhìn ông thì ngập tràn cảm xúc. “Chả đứa nào cả,” ông nói.

Desdemona nghe mà hạnh phúc tràn trề. Nhưng bà lại nói, “Em bị làm sao thế? Em phải chọn.”

“Hai con đó trông như hàng ấy.”

“Lefty!”

“Thật mà.”

“Em không muốn lấy bọn nó à?”

“Không.”

“Em phải lấy.” Bà giơ nắm tay lên. “Nếu chị thắng, em lấy cái Lucille.”

Lefty, không bao giờ cưỡng được trò cá độ, cũng giơ nắm tay lên. “Oẳn tù tì, ra cái gì ra cái này!”

“Giấy bọc đá,” Lefty nói. “Em thắng.”

“Lần nữa,” Desdemona nói. “Lần này, nếu chị thắng, em lấy cái Vicky. Oẳn tù tì…”

“Kéo cắt giấy. Em lại thắng! Vĩnh biệt Vicky.”

“Thế em lấy ai?”

“Em không biết” – cầm lấy tay bà rồi nhìn bà. “Lấy chị nhé?”

“Đen ghê chị là chị em đấy.”

“Chị đâu phải chỉ là chị em. Chị còn là chị họ ba đời của em nữa. Anh em họ ba đời được phép lấy nhau mà.”

“Em điên hả Lefty.”

“Mình lấy nhau thì mọi thứ chả dễ dàng hơn nhiều à. Bọn mình sẽ không phải sửa lại nhà cửa.”

Nửa đùa nửa thật, Desdemona với Lefty ôm lấy nhau. Thoạt tiên họ chỉ ôm như bình thường, nhưng mười giây sau cái ôm dần thay đổi; vị trí của tay và những cái vuốt ve không còn là biểu hiện thông thường của tình chị em, và những cử chỉ này tạo ra thứ ngôn ngữ riêng, tuyên bố một thông điệp mới toanh trong căn phòng im ắng. Lefty đưa Desdemona lướt đi trong một điệu valse, kiểu Âu châu; ông dìu bà ra ngoài, qua sân, tới trại tằm, rồi quay lại dưới giàn nho, thế là bà bật cười giơ tay che miệng. “Nhảy giỏi đấy, em họ,” bà nói mà tim lại đập rộn lên, khiến bà nghĩ có khi mình chết ngay lúc đó trong vòng tay Lefty, nhưng dĩ nhiên bà không chết; họ nhảy tiếp. Xin đừng quên nơi họ đang nhảy, làng Bithynios, cái làng trên núi nơi anh em họ thỉnh thoảng lấy anh em họ ba đời và kiểu gì đó ai ai đều có họ với nhau; vậy là khi nhảy, họ ôm lấy nhau chặt hơn, thôi đùa cợt, rồi chỉ đơn thuần nhảy với nhau, như một người đàn ông và một người đàn bà vẫn thi thoảng làm trong những lúc cô đơn và tuyệt vọng.

Đúng lúc này, trước khi có bất cứ điều gì được nói thẳng ra hay bất cứ quyết định nào được đưa ra (trước khi lửa quyết định cho họ), thì ngay lúc đó giữa điệu valse, họ nghe có tiếng nổ xa xa, rồi dòm xuống thấy, trong ánh lửa, quân Hy Lạp đã rút chạy hoàn toàn.


Chú thích:

  1. Chính là cuốn Herculine Barbin: Being the Recently Discovered Memoirs of a Nineteenth-century French Hermaphrodite, bản dịch tiếng Anh của hồi ký viết hồi thế kỷ mười chín bằng tiếng Pháp của Barbin.
  2. Tinh hoàn nằm trong cơ thể chưa hạ xuống bìu.
  3. Nghệ sĩ, người sáng tác nhạc, trưởng nhóm nhạc, diễn viên người Mỹ (1910-2004), nổi tiếng nhất với bản ghi âm bài Begin the Beguine do Cole Porter sáng tác.
  4. Hay còn có tên Yeşil Camii, Thánh đường Hồi giáo Xanh là phức hợp có lăng mộ, nhà thờ, trường dòng… nằm ở phía Đông và là biểu tượng của Bursa, có màu xanh đặc trưng.
  5. Một khái niệm trong chủ nghĩa dân tộc Hy Lạp với mục tiêu thiết lập một quốc gia Hy Lạp lớn với tất cả các vùng đất có người Hy Lạp sinh sống, bao gồm những khu có người Hy Lạp dưới sự cai trị của quân Thổ Ottoman và các vùng thời cổ đại thuộc về Hy Lạp như vùng phía Nam bán đảo Ban-căng, đảo Síp.
  6. Sĩ quan quân đội và cũng là Tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ (1881-1938), nổi tiếng vì tài năng lãnh đạo quân đội kiệt xuất.
  7. Theo luật của quốc gia Hồi giáo, những người không theo đạo Hồi (mà theo đạo Kitô và Do Thái…) không được phép cưỡi ngựa và lạc đà, chỉ được phép cưỡi la hay lừa, không được phép dùng yên cương hay bàn đạp yên cương bằng sắt, mà phải dùng bộ yên thồ và bàn đạp bằng gỗ.
  8. Là biệt danh của người thuận tay trái, dịch giả xin chọn để nguyên tên là Lefty mà không dịch, vì đặc điểm cơ thể này không được triển khai thêm và không có ý nghĩa nhiều lắm trong cả câu chuyện.
  9. Tóc cắt theo diễn viên người Mỹ gốc Ý nổi tiếng Rudolph Valentino: ngắn, hất từ trái sang, phân chia khoảng 3/7, dùng nhiều keo vuốt ẹp xuống.
  10. Nhân vật rối bóng trong văn hóa dân gian Hy Lạp.
  11. Tiếng Hy Lạp: gái điếm, đĩ, gái lẳng lơ.
  12. Chỉ hai cuộc xung đột trên bán đảo Ban-căng ở Nam Âu năm 1912-1913.
  13. Một loại chuỗi hạt của người Hy Lạp, được dùng để giải tỏa căng thẳng và tiêu thời gian.
  14. Tiếng Hy Lạp: “Chúa rủ lòng thương, Chúa rủ lòng thương.” Câu cầu nguyện này có nguồn gốc từ nhiều đoạn khác nhau trong Tân Ước, chẳng hạn Mat-thêu 20:30-31 “[…] Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi! […]: Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi!”. (Bản dịch Kinh thánh của Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.)
  15. Lingerie Parisienne.
  16. Piñata được làm bằng giấy bồi cứng, có nhiều hình thù khác nhau, bên ngoài dán đủ màu sặc sỡ, bên trong rỗng ruột để cho kẹo hoặc đồ chơi vào. Trong các buổi tiệc tùng, sinh nhật người ta treo piñata lên cao, cho trẻ em đập ra lấy quà bánh.
  17. Là tòa lâu đài lớn do Hốt Tất Liệt xây trong bài thơ Kubla Khan (1797) của nhà thơ, nhà phê bình Samuel Taylor Coleridge, lấy ý tưởng từ Thượng Đô, hành cung mùa hè của Hốt Tất Liệt. Bài thơ được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học Lãng mạn Anh.
  18. Edward O. Wilson, nhà sinh vật học nổi tiếng với tác phẩm Về bản tính người, cho rằng hành vi xã hội của con người là do gen chi phối.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

1 Bình luận

1 Bình luận

  1. VKN

    Tháng Tám 12, 2019 at 2:24 chiều

    Uầy, nhiều chú thích ghê :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Tháng Giêng tuyết tan – Trích “Niên lịch miền gió cát”

Chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Niên lịch miền gió cát

Tác giả: Aldo Leopold

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Lời tựa

Trong cuộc sống, những gì thuộc về tự nhiên có thể không cần thiết với người này, nhưng lại hoàn toàn thiết yếu cho sự tồn tại của người khác. Những tiểu luận này chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Như gió và hoàng hôn, chúng ta luôn coi những gì hoang dã là nghiễm nhiên có được trong tay, cho đến ngày công cuộc phát triển dẹp bỏ chúng đi. Giờ đây, chúng ta phải đối diện với câu hỏi rằng liệu một mức sống “ngày càng cao” có đáng để đánh đổi những điều tự do và hoang dã hay không. Với nhóm thiểu số chúng tôi, cơ hội ngắm nhìn một đàn ngỗng còn quan trọng hơn xem ti-vi, và việc tìm thấy một bông hoa đồng nội là một quyền lợi không thể chối cãi như quyền tự do ngôn luận vậy.

Những thứ hoang dã này, tôi công nhận, chứa đựng rất ít giá trị con người cho tới khi máy móc cơ giới đảm bảo cho chúng ta bữa ăn sáng thịnh soạn, và cho tới khi khoa học bóc tách mổ xẻ câu chuyện về nguồn gốc cũng như cách sống của chúng.

Mâu thuẫn giữa hai phe đa số và thiểu số vì thế tóm gọn lại trong câu hỏi về mức độ. Nhóm thiểu số chúng tôi nhận thấy một quy luật: giá trị nhận lại đang ngày càng giảm, còn nhóm đối kháng với chúng tôi thì không.

Chúng ta luôn phải học cách liệu cơm gắp mắm. Những bài viết được gộp thành ba phần này là nỗ lực thực hiện điều đó của tôi.

Phần I kể về những gì gia đình tôi thấy và làm trong những buổi cuối tuần đi trốn khỏi thế giới hiện đại ngột ngạt bủa vây, khi chúng tôi lánh tới “túp lều”. Tại trang trại trên miền gió cát này ở Wisconsin, mới đầu là một nơi xập xệ bị xã hội quên lãng, chúng tôi đã cố gắng gầy dựng lại, với xẻng và cưa, những gì chúng tôi đã đánh mất ở các nơi khác. Chính tại nơi đây chúng tôi tìm kiếm, đến giờ vẫn tìm, nguồn lương thực từ Chúa trời.

Những bài viết này được sắp xếp theo tháng thành một “Niên lịch Miền gió cát”.

Phần II, “Những phác họa đó đây”, hồi tưởng lại những trải nghiệm trong đời đã khiến tôi dần dần nhận ra một cách chua xót rằng xã hội của chúng ta đang ngày càng đi lệch quỹ đạo. Những hành trình trải rộng khắp châu lục qua bốn mươi năm này đại diện cho các vấn đề nằm cùng dưới một cái nhãn mang tên bảo tồn.

Phần III, “Buổi yến tiệc”, bày biện theo trình tự lô-gích một vài ý tưởng mà nhóm thiểu số chúng tôi dùng để minh chứng cho ý kiến bất đồng của mình. Chỉ có những người đọc với sự đồng cảm sâu sắc mới muốn thử thách mình bằng những câu hỏi triết lý ở phần III. Tôi nghĩ rằng những bài viết trong phần này sẽ gợi dẫn cho chúng ta cách để đưa xã hội quay trở về quỹ đạo.

Việc bảo tồn đang không đi đến đâu vì nó không ăn nhập gì với khái niệm của chúng ta về đất đai từ thời ông tổ Abraham. Chúng ta lạm dụng đất đai vì chúng ta coi nó như một thứ của cải thuộc về mình. Chỉ khi nào chúng ta nhìn nhận đất đai như một phần cộng đồng chúng ta thuộc về, khi đó chúng ta mới có thể bắt đầu sử dụng nó một cách yêu thương trân trọng. Sẽ không có cách nào khác để đất đai tiếp tục chịu đựng ảnh hưởng của xã hội cơ giới hóa, hay để chúng ta tiếp tục gặt hái những mùa màng bội thu và giá trị văn hóa từ đất đai.

Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương trân trọng lại là phần mở rộng của đạo đức. Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời, nhưng gần đây hầu như đã rơi vào quên lãng.

Các tiểu luận sau đây sẽ cố gắng khơi lại ba suy niệm trên.

Cách hiểu như vậy về đất và người hẳn nhiên phụ thuộc rất nhiều vào lớp lang trải nghiệm và định kiến cá nhân. Nhưng dẫu cho sự thật nằm ở đâu thì ta cũng nhận thấy một điều hiển nhiên, rằng xã hội ngày càng “phồn vinh” của chúng ta giờ đây chẳng khác gì một kẻ mắc bệnh tưởng, ám ảnh về sức khỏe kinh tế của mình đến độ hoàn toàn mất đi khả năng đề kháng. Cả thế giới phát cuồng lên sản xuất bồn tắm hàng loạt đến độ chúng ta mất đi thế cân bằng để sản xuất, hay thậm chí là để tắt vòi nước. Giờ đây, không có điều gì đáng tuyên dương hơn là một chút khinh thường gờn gợn với những núi vật chất ngồn ngộn này.

Có lẽ sự thay đổi trong hệ giá trị đó có thể đạt được nếu chúng ta nhìn nhận lại những gì phi tự nhiên, đã thuần hóa và trói buộc qua lăng kính của những gì tự nhiên, hoang dã và tự do.

*

PHẦN I – NIÊN LỊCH MIỀN GIÓ CÁT

Tháng Giêng tuyết tan

Hàng năm, sau những cơn bão tuyết giữa kỳ đông chí, sẽ có một buổi tối mà khắp đất trời tí tách vang lên tiếng những giọt tuyết tan chảy khi vạn vật chuyển mình rã đông. Thời khắc này không chỉ làm xao động tâm hồn các giống loài đang say ngủ, mà còn đánh động cả những loài đã ngủ vùi trong suốt mùa đông. Con chồn hôi ngủ đông, lúc này đang cuộn tròn sâu bên trong ổ, duỗi mình và bước ra thăm thú sục sạo thế giới ẩm ướt bên ngoài, kéo lê cái bụng trên lớp tuyết. Dấu vết mà nó để lại sẽ đánh dấu một trong những mốc sự kiện sớm nhất trong cái chu kỳ của khởi nguồn và kết thúc mà chúng ta vẫn gọi là một năm.

Vết chân con chồn ít khi thể hiện một mối bận tâm đến những diễn biến đời thường hiếm gặp trong các mùa khác; nó cứ băng băng chạy thẳng qua miền đồng quê, như thể chủ nhân của con đường tự tạo này đã buông dây cương cỗ xe của mình và để cho nó cứ thế bám đuôi một vì tinh tú. Tôi lần theo dấu chân con chồn, lòng không khỏi tò mò muốn luận ra suy tư cũng như tập tính ăn uống của con vật, hay cả đích đến nếu có trong đầu nó.

*

Các tháng trong năm, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, là một chuỗi tịnh tiến theo cấp số nhân của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Vào tháng Giêng, ta có thể lần theo vết chân loài chồn hôi, hay tìm kiếm bầy chim bạc má, hay quan sát xem lũ hươu đang nhấm nháp những nhánh thông non nào, hay lùng xem những cái tổ chuột xạ hương mới đắp. Trong những cuộc thăm thú tháng Giêng lãng đãng và dung dị như sương tuyết, dàn trải như cái lạnh cuối đông, chỉ thỉnh thoảng thì tâm trí ta mới xao nhãng và sa đà vào việc khác. Thời gian dư dả cho phép ta không chỉ mục sở thị loài nào đã làm những gì, mà còn ngẫm ngợi về lý do đằng sau của chúng.

*

Một con chuột đồng, giật mình khi nghe tiếng chân tôi bước lại gần, phóng ngang qua vệt đường ướt nước mà con chồn hôi để lại. Tại sao nó lại hiện hữu ngay giữa ban ngày như thế? Có lẽ nó đang lấy làm phiền lòng vì mùa tuyết tan. Hôm nay, mê lộ mà nó đã dày công gặm nhấm tạo lối trong đám cỏ bết chôn vùi dưới tuyết không còn là những đường hầm bí mật nữa, mà chỉ còn là những tuyến đường lộ thiên phơi bày ra cho thiên hạ soi mói chế nhạo. Quả thực, ánh nắng sưởi ấm của mặt trời đã giễu cợt nơi trú thân căn bản trong hệ thống sinh hoạt loài chuột!

Con chuột đồng như một công dân thức thời hiểu rằng cỏ mọc sẽ giúp nó tích trữ những bó rơm làm đường, và tuyết rơi sẽ tạo điều kiện cho nó dùng từng bó rơm đó để xây nên những đường hầm: một trật tự cung – cầu và vận chuyển hết sức chặt chẽ.

Với con chuột, tuyết rơi đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Một con diều hâu chân xù đang từ trên trời sà xuống phía cánh đồng trước mặt. Lúc thì nó dừng lại, có lúc lại chao liệng như một con bói cá, rồi bổ nhào xuống đồng cỏ ngập nước như một trái bom phủ lông. Nó không bay lên sau đó nữa, nên tôi dám chắc rằng nó đã bắt được mồi, và giờ thì đang xé thịt một kỹ sư chuột đồng nào đó không đủ kiên nhẫn để đợi trời tối trước khi mò ra xem xét những chỗ sập lở trong cái thế giới ngăn nắp mà mình tạo ra.

Con diều hâu không màng gì đến chuyện tại sao cỏ lại mọc, nhưng nó nhận thức rõ rệt rằng tuyết tan sẽ giúp cho diều hâu có thể tiếp tục bắt chuột. Và nó đã bay xuống đây từ Bắc cực lạnh giá với hy vọng sẽ gặp đúng mùa tuyết tan, vì tuyết tan đối với loài diều hâu đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Vết chân con chồn dẫn vào trong khu rừng, cắt ngang một trảng rừng thưa nơi những con thỏ đã kịp để lại vết chân của mình cùng những vệt nước tiểu lấm tấm hồng trên nền tuyết trắng. Những mầm cây sồi mới nhú chào đón mùa tuyết tan bằng những chồi non vừa tẽ vỏ. Các búi lông thỏ rơi vãi đánh dấu những cuộc tranh giành mở màn giữa mấy con đực rạo rực men tình. Đi sâu hơn nữa, tôi tìm thấy một vũng máu nhỏ, viền xung quanh là vòng cung sải cánh của loài cú. Với con đực xấu số này, mùa tuyết tan mang lại sự tự do ham muốn, nhưng đồng thời cũng khiến con vật liều mạng quên đi nỗi sợ bản năng. Và con cú đã nhắc nhở nó rằng mùa xuân về không đồng nghĩa với việc ta được phép lơ là bất cẩn.

*

Con chồn vẫn tiếp tục để lại những vết chân, dường như tâm trí nó lúc này không dành cho việc kiếm tìm thức ăn, mà cũng chẳng màng đến những chuyện hỉ nộ ái ố của các bên hàng xóm. Tôi băn khoăn trong đầu nó đang suy nghĩ điều gì; cái gì đã đưa chân nó ra khỏi ổ? Liệu có phải anh chàng cũng đang kéo lê cái bụng bự trên nền tuyết bùn nhão nhoét để tìm nơi thỏa chí yêu đương? Sau cùng thì vết chân đi vào trong một đám cành củi trôi dạt và không thấy trở ra. Tôi lắng tai nghe tiếng những giọt nước chảy tong tỏng qua những thân củi, và tôi đồ rằng con chồn hẳn cũng nghe thấy. Tôi quay bước về nhà, lòng vẫn miên man tự hỏi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Tội ác và hình phạt” (Fyodor Dostoevsky)

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Tội ác và hình phạt

Tác giả: Fyodor Dostoevsky

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Chi tiết tác phẩm

PHẦN THỨ NHẤT

Vào một ngày đầu tháng Bảy oi bức lạ thường, lúc xế chiều có một người trẻ tuổi rời gian gác xép thuê lại trong ngõ S., bước ra phố và chậm rãi đi về phía cầu K., dáng như tần ngần do dự. Khi xuống thang gác, chàng đã may mắn tránh mặt được bà chủ trọ. Căn buồng xép của chàng kê sát dưới mái một tòa nhà cao năm tầng và trông giống một cái tủ hơn là một gian phòng ở. Còn bà chủ – người cho chàng trọ, dọn cơm tháng và cho chàng mượn cả người dọn buồng – thì ở một căn nhà riêng phía dưới, cách buồng chàng một cầu thang, và mỗi lần ra phố thế nào chàng cũng phải đi ngang cánh cửa gian nhà bếp của bà chủ luôn luôn mở toang nhìn ra thang gác. Cứ mỗi lần đi ngang cánh cửa ấy, người trẻ tuổi lại có một cảm giác sợ sệt bệnh tật khiến chàng xấu hổ và cau mặt. Chàng mắc nợ bà chủ trọ lút đầu lút cổ và sợ gặp mặt bà ta lắm.

Cũng chẳng phải chàng hèn nhát và khiếp nhược đến thế, trái lại nữa là đằng khác, nhưng ít lâu nay tâm thần chàng kích động và căng thẳng khác thường, gần như mắc chứng u uất. Chàng sống cô độc rụt sâu vào nội tâm và xa lánh mọi người, đến nỗi gặp ai chàng cũng sợ chứ chẳng riêng gì bà chủ trọ. Chàng bị cảnh nghèo khó vùi dập, nhưng gần đây ngay cả tình cảnh túng bấn cũng không còn đè nén chàng nữa. Chàng đã bỏ hẳn mọi công việc và cũng chẳng buồn làm ăn gì cả. Thật ra chàng chẳng sợ mụ chủ nào hết, dù mụ có mưu mô gì để hại, chàng cũng mặc. Nhưng dừng chân trên thang gác, nghe những câu nói lải nhải đã nhàm tai về những chuyện vặt vãnh thường ngày chẳng có lý thú gì đối với mình, những câu đòi nợ dai dẳng, những lời dọa dẫm, than phiền, rồi chính mình lại phải kiếm cớ khất lần, xin lỗi, dối quanh, – không! Thà tìm cách lủi đi như một con mèo, rón rén xuống thang gác và chuồn thẳng một mạch, đừng để ai trông thấy.

Vả chăng lần này, khi bước ra phố chàng lại còn lấy làm lạ không hiểu sao mình lại sợ gặp cái mụ chủ nợ ấy đến thế.

“Ta đang mưu đồ một việc như vậy, mà đồng thời lại sợ những chuyện nhảm ấy ư?” – Chàng nghĩ thầm, môi nở một nụ cười kỳ dị. – “Thì… phải… tất cả đều nằm trong tay con người, thế mà nó cứ bỏ lỡ cơ hội, chỉ vì hèn nhát… thật hiển nhiên quá đi rồi. Kể cũng lạ không biết người ta sợ cái gì nhất nhỉ? Bước một bước mới, nói lên một lời mới do chính mình nghĩ ra đấy, họ sợ cái ấy hơn cả… Nhưng mà mình nói nhiều quá! Mình không làm gì chính cũng vì nói nhiều. Mà cũng có lẽ mình nói nhiều bởi vì mình chẳng làm gì cả. Chẳng qua tháng vừa rồi mình đâm ra nói nhiều vì cứ nằm lì suốt đêm ngày trong xó mà nghĩ đến… chuyện trên trời dưới đất. Nhưng bây giờ mình đi thế này để làm gì? Chả nhẽ mình có thể làm việc ấy sao? Việc ấy liệu có phải là chuyện nghiêm chỉnh không? Chẳng nghiêm chỉnh gì đâu. Thế thôi, chẳng qua mình tưởng tượng ra để tự tiêu khiển: chuyện đùa ấy mà. Phải, có lẽ chỉ là chuyện đùa thôi cũng nên?”.

Ngoài đường phố nóng như thiêu đốt, không khí ngột ngạt, người qua lại xô đẩy, chen chúc nhau, đâu đâu cũng thấy ngổn ngang những vôi, gạch, gỗ xây nhà, bụi bặm, và phảng phất cái mùi hôi hám của mùa hè rất quen thuộc đối với những người dân Petersburg nào không thuê nổi một ngôi biệt thự ở ngoại thành. Thần kinh của người trẻ tuổi đã khích động sẵn, lại thêm tất cả những thứ đó dồn dập vào một lúc, nên càng thêm nhức nhối khó chịu. Mùi xú uế xông ra nồng nặc từ các tiệm rượu nhan nhản ở khu phố này, và những gã say rượu gặp nhan nhản trên hè phố tuy đang giờ làm việc, càng tô cho màu sắc ảm đạm và dơ dáy của bức tranh thêm đậm đà. Một cảm giác ghê tởm đến cùng cực thoáng hiện một khoảnh khắc trên nét mặt thanh tú của người trẻ tuổi. Chàng rất khôi ngô, có đôi mắt thẫm màu rất đẹp, tóc hung đậm, vóc người trên trung bình, mảnh dẻ và cân đối. Nhưng phút chốc chàng dường như đã ngập sâu vào tâm trạng đăm chiêu, hay nói cho đúng hơn, một trạng thái hầu như mê muội, và chàng bước đi, không còn trông thấy gì xung quanh nữa, mà cũng chẳng buồn để ý đến cái gì hết. Chỉ thấy chàng chốc chốc lại lẩm bẩm câu gì trong miệng, theo cái thói quen nói một mình mà chàng vừa tự thú nhận. Lúc ấy chàng cũng nhận thấy ý nghĩ của chàng đôi khi rối loạn và thể chất chàng đã suy nhược lắm rồi: đã hai ngày nay chàng hầu như không có miếng gì lót dạ.

Chàng ăn mặc tồi tàn đến nỗi giá phải người khác, dù đã dạn dày chăng nữa, cũng phải thấy ngượng khi bước ra phố giữa ban ngày trong những tấm giẻ rách như vậy. Song ở khu phố này thì dù có ăn mặc thế nào cũng khó lòng mà khiến ai ngạc nhiên. Ở đây rất gần khu Chợ Hàng Rơm, lại có nhiều tiệm rượu, dân cư phần lớn là thợ thuyền, chen chúc trong những phố xá và ngõ hẻm ở khu vực trung tâm Petersburg này, cho nên quang cảnh chung nhiều khi được tô điểm bằng những mẫu người lắm hình lắm vẻ đến nỗi khó có thể ngạc nhiên khi gặp một bóng dáng quá kỳ quặc. Nhưng lòng người trẻ tuổi đã chứa chất một sự khinh miệt hằn học đến nỗi mặc dầu chàng vốn có một tính cả thẹn và tự ái đôi khi rất ngây thơ, chàng cũng chẳng thấy ngượng nghịu chút nào khi phải phô bày những mảnh giẻ rách của mình trên đường phố. Còn như gặp người quen hay bạn học cũ thì đó lại là chuyện khác; nói chung chàng không thích gặp những người này… Vừa lúc ấy, có một gã say rượu chẳng hiểu tại sao và đi đâu mà lại ngất ngưởng trên một chiếc xe giàn to tướng thắng một con ngựa tải to tướng đang chạy qua phố; khi xe đến ngang tầm người trẻ tuổi, gã say rượu bỗng quát: “Ê, thằng cha đội mũ Đức kia?” – rồi giơ tay chỉ chàng ngoác mồm cười rống lên. Người trẻ tuổi dừng phắt lại và lập cập đưa tay lên nắm lấy mũ. Chiếc mũ chàng đội là một chiếc mũ dạ hiệu Zimmermann1 đã sờn hết tuyết và bạc phếch, loang lổ những vết bẩn và chi chít những lỗ thủng, vành mòn gần sát, méo xệch sang một bên, trông không còn ra cái hình thù gì nữa. Nhưng lúc bấy giờ chàng choáng người đi không phải vì xấu hổ mà vì một cảm giác gì khác hẳn, giống như kinh hãi.

– Mình đã biết mà. – Chàng lẩm bẩm trong cơn bối rối. – Chính mình cũng đã nghĩ từ trước! Cái ấy mới tệ hại hơn cả! Chính những cái không đâu như thế, những cái vặt vãnh ngu xuẩn, tầm thường như thế lại có thể phá hỏng cả một ý đồ! Phải, cái mũ này dễ bị chú ý quá! Nó lố lăng, cho nên dễ bị chú ý… ăn mặc rách rưới thế này thì nhất định phải đội mũ lưỡi trai, một cái mũ khổ nào đấy cũng được, chứ không thể đội cái vật quái gở này. Chẳng thấy ai đội thứ mũ này cả, cách xa một dặm người ta cũng chú ý ngay, họ sẽ nhớ… Cái chính là về sau họ sẽ nhớ, thế là thành một tang vật. Lúc này, phải cố sao đừng để ai chú ý mới được. Những cái vặt vãnh, những cái vặt vãnh lại chính là cái chủ yếu!… Chính những cái vặt vãnh này bao giờ cũng làm hỏng hết mọi việc.

Chàng không phải đi xa lắm. Chàng lại còn biết rõ từ cổng nhà trọ đến đấy bao nhiêu bước: đúng bảy trăm ba mươi bước. Trước kia trong khi mơ tưởng mông lung chàng đã có lần đếm. Dạo ấy chính chàng cũng chưa tin là thật và chỉ dùng những mộng tưởng liều lĩnh quái gở nhưng đầy sức cám dỗ ấy để tự làm cho mình nôn nao, day dứt. Nhưng từ dạo ấy đến nay đã được một tháng, chàng đã bắt đầu có một cách nhìn khác, và tuy những khi nói chuyện một mình chàng vẫn tự đay nghiến là bất lực và thiếu quả quyết, chàng dần dần quen xem cái mộng tưởng “quái gở” kia như một mưu đồ thật sự, mặc dầu trong thâm tâm chàng vẫn chưa dám tự tin. Bây giờ chàng đang đi “duyệt thử lại” việc đã mưu đồ, và cứ mỗi bước tâm trạng bứt rứt của chàng lại càng tăng thêm.

Tim như ngừng đập chân tay run lẩy bẩy, chàng đến gần tòa nhà cao lớn một mặt trông ra con kênh đào, một mặt trông ra phố X…. Tòa nhà ngăn ra nhiều gian nhỏ làm nơi trú ngụ cho đủ các hạng người: thợ may, thợ khóa, đầu bếp; ở đấy có những người Đức thuộc đủ các loại, những cô gái mãi dâm, những viên thư lại… Qua hai cái cổng dẫn vào hai khoảng sân trước và sau nhà, người ra kẻ vào tấp nập. Trong nhà có ba hay bốn người gác cổng trông nom. Người trẻ tuổi rất hài lòng vì đã không chạm trán phải người nào trong bọn họ. Vừa lọt vào cổng, chàng liền rẽ ngoặt sang phải, lấm lét bước lên cầu thang. Thang gác phụ này chật hẹp và tối tăm, nhưng chàng đã biết rõ và đã nghiên cứu cặn kẽ hết những điều đó, nên rất hài lòng: “Tối thế này thì dù có con mắt tò mò nào dòm dõi cũng không ngại. Bây giờ mà mình còn sợ sệt thế này, thì giả sử khi đến đây để làm việc ấy thật, cơ sự còn sẽ ra sao?” – Chàng bất giác nghĩ thầm khi bước lên tầng thứ tư. Đến đây chàng phải dừng lại vì gặp phải mấy người cựu binh làm nghề khuân vác đang khiêng bàn ghế đồ đạc trong một gian nhà ra ngoài.

Chàng biết đây là gian của một gia đình công chức người Đức. “Thế nghĩa là lão người Đức kia dọn nhà đi và như vậy trong một thời gian nào đấy ở tầng thứ tư này, cuối thang gác này, chỉ có gian của mụ già là còn người ở. Như thế rất tốt, nhỡ khi có cần đến…” – Chàng lại nghĩ thầm, rồi đến giật chuông trước cửa nhà mụ già. Cái chuông nhỏ khẽ rung lên rè rè, nghe như tiếng sắt tây chứ không phải tiếng động. Trong những gian phòng chật chội của loại nhà này hầu như bao giờ cũng dùng rặt một loại chuông ấy. Chàng đã quên bẵng cái âm thanh rè rè của chiếc chuông, và bây giờ cái âm thanh đặc biệt ấy bỗng như nhắc chàng nhớ lại một điều gì mà chàng chợt thấy hiện rõ mồn một trước mắt… Chàng bỗng rùng mình, vì lần này thần kinh chàng đã quá bạc nhược.

Một lát sau, cánh cửa mở hé ra thành một khe hở rất nhỏ; mụ già dòm khách qua khe hở với một vẻ nghi kị rõ rệt, chỉ thấy đôi mắt mụ long lanh trong bóng tối. Nhưng thấy ngoài hành lang đông người, mụ dạn dĩ lên và mở hẳn cửa ra. Người trẻ tuổi bước qua ngưỡng cửa, đặt chân vào gian phòng ngoài tối mờ mờ có một bức vách mỏng ngăn cách với một gian bếp chật chội.

Mụ già lặng lẽ đứng trước mặt chàng và nhìn chàng như dò hỏi. Đó là một mụ già khô đét, người bé loắt choắt, tuổi trạc sáu mươi, đôi mắt sắc và ác, cái mũi nhọn hoắt. Đầu mụ để trần, mớ tóc màu gai hơi bạc xức dầu trơn nhầy nhụa. Trên cái cổ mảnh và cao, trông như cái cẳng gà, quấn một thứ giẻ bằng nỉ mỏng, và tuy tiết trời nồng nực, trên vai mụ cũng vắt vẻo một chiếc khăn choàng bằng lông thú xơ xác đã ngả sang màu vàng. Mụ già ho khục khặc và đằng hắng luôn mồm. Trong khóe mắt của người trẻ tuổi khi nhìn mụ chắc phải có một cái gì khác thường, vì thấy mắt mụ lại thoáng lộ vẻ nghi kị như cũ.

– Tôi là Raxcolnicov, sinh viên. Tháng trước tôi có đến nhà bà một lần. – Người trẻ tuổi vội nói lắp bắp và khẽ nghiêng mình chào.

Chàng vừa sực nhớ ra rằng mình cần phải nhã nhặn.

– Tôi nhớ cậu ạ, tôi nhớ rõ là cậu đã có lần đến đây. – Mụ già nói rõ từng tiếng, đôi mắt dò hỏi vẫn nhìn chàng soi mói.

– Thưa bà… lần này tôi đến cũng vì việc ấy… – Raxcolnicov nói tiếp, hơi lúng túng và ngạc nhiên vì cái vẻ nghi kị của mụ già.

“Chắc mụ ta bao giờ cũng vẫn thế, chẳng qua lần trước mình không để ý đấy thôi”. – Chàng nghĩ thầm với một cảm giác khó chịu.

Mụ già im lặng một lát như suy nghĩ điều gì, rồi tránh sang một bên nhường lối cho khách và chỉ cửa buồng nói:

– Mời cậu vào nhà.

Người trẻ tuổi bước vào một gian phòng nhỏ hẹp, tường dán giấy vàng, cửa sổ có chăng màn nhiễu, trên bậu đặt mấy chậu hoa dương hải đường. Ánh mặt trời lặn chiếu vào phòng sáng rực. “Thế nghĩa là đến lúc ấy ánh nắng cũng sẽ chiếu sáng như thế này…” – Ý nghĩ ấy bất giác vụt qua óc Raxcolnicov. Chàng đưa mắt rất nhanh nhìn khắp gian phòng một lượt để xem xét và ghi nhớ thật kĩ cách bày biện. Nhưng trong phòng chẳng có gì đặc biệt. Đồ đạc đều làm bằng gỗ màu vàng và đã cũ lắm, gồm một chiếc đi-văng lưng rất rộng bằng gỗ uốn, một cái bàn hình bầu dục đặt trước đi-văng, một chiếc bàn trang điểm với một tấm gương móc lên khoảng tường giữa hai khung cửa sổ mấy chiếc ghế đặt dọc tường và vài ba bức tranh rẻ tiền đóng khung gỗ vàng, vẽ những cô gái Đức cho chim đậu trên tay, đồ đạc trong phòng chỉ có thế. Ở một góc phòng, trước một bức tượng thánh nhỏ, leo lét một ngọn đèn thờ. Mọi vật đều sạch sẽ tinh tươm, bàn ghế và sàn nhà đều được đánh xi bóng lộn. “Bàn tay mụ Lizaveta đây”. – Người trẻ tuổi nghĩ thầm. Khắp gian nhà không tìm đâu lấy được một hạt bụi. “Chỉ có mấy mụ đàn bà góa già nua và độc ác mới có cái nề nếp sạch sẽ như thế này” – Chàng tự nhủ tiếp và tò mò liếc mắt về phía bức màn vải hoa trên khung cửa dẫn vào căn buồng nhỏ thứ hai, nơi đặt giường ngủ của hai mụ già và một chiếc tủ ngăn. Chàng chưa lần nào ghé mắt vào đấy. Cả gian nhà ở chỉ có hai căn buồng này.

– Cậu cần hỏi việc gì? – Mụ già nói, giọng nghiêm nghị, trong khi bước vào phòng đứng trước mặt chàng như lúc nãy, để có thể nhìn thẳng vào mặt chàng.

– Tôi mang cái này lại cầm. Đây ạ! – Và chàng móc túi lấy ra một chiếc đồng hồ quả quýt mỏng bằng bạc, mặt sau có chạm một quả địa cầu. Dây chuyền đeo đồng hồ đánh bằng thép.

– Nhưng chuyến cầm lần trước đã hết hạn rồi. Cậu hẹn một tháng, đến nay đã quá mất ba ngày.

– Tôi sẽ trả thêm cho bà một tháng lãi nữa. Bà nán đợi cho ít lâu.

– Cái đó còn tùy tôi, cậu ạ, nán đợi hay đem bán ngay bây giờ là tùy tôi.

– Cái đồng hồ này liệu có được nhiều tiền không, bà Aliona Ivanovna?

– Cậu cứ đem đến đây rặt những của rẻ thối không đáng giá một xu. Lần trước cậu đem cầm chiếc nhẫn tôi đưa cậu hai tờ2, chứ thật ra đến hàng thợ bạc mà mua thì dễ chỉ đến một rúp rưỡi.

– Bà ứng cho tôi bốn rúp, tôi sẽ chuộc lại, chả đấy là vật kỷ niệm của cha tôi. Tôi sắp lĩnh được món tiền.

– Một rúp rưỡi, tiền lãi trừ trước, cậu không ưng thì thôi vậy.

– Một rúp rưỡi? – Người trẻ tuổi thốt lên.

– Tùy cậu đấy. – Mụ già nói đoạn trao trả chiếc đồng hồ lại. Người trẻ tuổi cầm lấy, lòng căm uất đến nỗi toan bỏ đi ngay. Nhưng chàng chợt nghĩ lại, sực nhớ rằng mình chẳng còn biết đi đâu nữa; vả chăng chàng đến đây còn có mục đích khác.

– Bà đưa tiền đây. – Người trẻ tuổi nói, giọng cộc cằn.

Mụ già lục túi tìm chùm chìa khóa và đi sang buồng bên, sau bức màn. Đứng lại một mình giữa căn phòng, người trẻ tuổi tò mò lắng tai nghe ngóng và nhẩm suy tính. Bên kia có tiếng mụ già mở tủ ngăn. “Chắc là ngăn trên cùng” – chàng phỏng đoán. – “Mụ ta bỏ chìa khóa ở túi bên phải… Mấy chiếc đều móc vào cái khâu bằng thép thành một chùm. Có một chiếc to gấp ba mấy chiếc kia, đầu khóa răng cưa, chắc hẳn không phải chìa khóa mở tủ ngăn… Thế nghĩa là còn có một cái tráp hay một cái rương gì đấy… kể cũng lạ. Chìa khóa rương đều như thế cả… Nhưng sao ta lại có những ý nghĩ hèn hạ đến thế…” – Mụ già trở ra.

– Đây cậu ạ: Mỗi tháng trừ lãi mỗi rúp một hào, tôi trừ trước một tháng lãi, vị chi mỗi rúp rưỡi trừ một hào rưỡi. Thế với lại trừ thêm vào chỗ hai rúp tháng trước của cậu hai hào nữa, vị chi cả thảy là ba hào rưỡi. Vậy bây giờ tôi đưa cậu một rúp mười lăm cô-pếch tiền cầm đồng hồ. Đấy cậu cầm lấy!

– Ơ! Thế ra bây giờ chỉ còn một rúp mười lăm cô-pếch thôi ư?

– Đúng thế đấy ạ.

Người trẻ tuổi không cãi lại, lẳng lặng cầm lấy tiền. Chàng nhìn mụ già và chần chừ chưa đi vội, như còn muốn nói gì hay làm gì nữa, nhưng cụ thể là cái gì thì dường như chàng cũng không rõ.

– Bà Aliona Ivanovna ạ, có lẽ nay mai tôi sẽ mang lại một cái nữa… bằng bạc… đẹp lắm… một chiếc hộp đựng thuốc lá… khi nào tôi lấy ở bạn tôi về… – Chàng đâm luống cuống và im bặt.

– Thôi đến lúc ấy hẵng hay cậu ạ.

– Chào bà… Thế bà lúc nào cũng ở nhà một mình à? Bà em đi vắng à? – Chàng cố lấy giọng thật ung dung hỏi mụ già khi bước ra phòng ngoài.

– Cậu hỏi mụ em nhà tôi có việc gì thế?

– Thì… cũng chẳng có gì đâu. Tôi chỉ hỏi thế thôi. Chắc bà lại tưởng… Thôi chào bà Aliona Ivanovna.

Raxcolnicov ra về, tâm thần mỗi lúc một thêm bối rối. Khi xuống thang gác, chàng còn dừng lại mấy lần như chợt có điều gì làm cho chàng choáng cả người đi. Và cuối cùng, khi đã ra phố chàng thốt lên:  “Trời ơi! Ghê tởm quá! Mà có lẽ nào, lẽ nào ta lại không, chỉ là chuyện nhảm, phi lý hết sức?” – Chàng ngần ngừ nói thêm. – “Chả nhẽ một việc khủng khiếp như vậy mà ta có thể nghĩ đến? Lòng ta có thể chứa đựng những điều nhơ nhuốc như thế ư? Tệ hơn cả là nó bẩn thỉu, xấu xa, kinh tởm hết sức!… Thế mà suốt một tháng ròng ta có thể… “- Nhưng những lời nói, những tiếng kêu chàng thốt ra không sao biểu lộ hết nỗi xúc động trong lòng chàng. Cái cảm giác ghê tởm cùng cực đã bắt đầu đè nén, giày vò chàng ngay từ khi đang đi đến nhà mụ già, bây giờ đã mãnh liệt và rõ ràng đến nỗi chàng không còn biết trốn vào đâu cho thoát cơn ám ảnh này. Chàng bước trên vỉa hè như người say rượu, không trông thấy người qua đường và cứ xô phải họ, mãi đến phố sau chàng mới định thần lại. Đưa mắt nhìn quanh, chàng nhận thấy mình đang đứng trước một tiệm rượu dọn trong một gian nhà hầm có mấy bậc thang từ trên vỉa hè dẫn xuống cửa ra vào. Vừa lúc ấy có hai gã say rượu từ trong tiệm dìu nhau bước ra, mồm chửi bới lảm nhảm. Raxcolnicov không nghĩ ngợi gì lâu. Chàng lập tức bước xuống mấy bậc thềm. Xưa nay chàng chưa lần nào vào quán rượu, nhưng bây giờ chàng thấy chóng mặt và thêm vào đấy lại khát bỏng cả họng. Chàng đang thèm uống một cốc bia lạnh, và hơn nữa chàng chợt có ý nghĩ rằng mình đột nhiên bạc nhược hẳn đi như thế này là vì đói. Chàng đến ngồi ở một góc tối và bẩn, cạnh một cái bàn nhớp nháp, gọi bia và khao khát nốc cạn cốc thứ nhất. Lập tức mọi vật đều sáng tỏ ra, và trí óc chàng cũng trở nên minh mẫn. “Tất cả những cái đó đều là chuyện nhảm” – chàng nói, lòng khấp khởi hy vọng – “chẳng việc gì mình phải bứt rứt! Chẳng qua là một sự rối loạn về cơ thể. Chỉ cần uống cốc bia, cắn miếng bánh, thế là trong một thoáng trí óc đã lại minh mẫn, ý định đã lại vững vàng! Xì! Toàn chuyện không đâu!”. Nhưng tuy chàng nhổ nước bọt một cách khinh bỉ như vậy, khóe mắt chàng cũng đã vui hẳn lên, dường như chàng vừa đột nhiên thoát khỏi một ách gì khủng khiếp. Chàng đưa mắt thân mật nhìn những người ngồi trong tiệm. Nhưng ngay trong phút ấy chàng cũng mơ hồ cảm thấy tâm trạng lạc quan này có một cái gì bệnh tật. Bấy giờ trong tiệm rượu chỉ còn lác đác mấy người khách. Ngoài hai người say rượu chàng đã gặp trên bậc thang, sau họ còn có cả một tốp khoảng năm người ra về, lôi theo một cô gái điếm, vừa đi vừa kéo phong cầm – họ đi khuất, quán rượu im lặng và rộng rãi hẳn ra. Chỉ còn lại một người hơi ngà ngà say ngồi trước mặt cốc bia, dáng dấp như một người tiểu thương, bạn hắn là một người to béo phục phịch mặc áo xibirca dài, để bộ râu hoa râm; say túy lúy, hắn nằm ngủ trên chiếc ghế dài và thỉnh thoảng, như chợt tỉnh giấc, lại bẻ ngón tay kêu răng rắc, vươn vai và nhấc lưng lên dây mấy cái, nhưng vẫn không ngồi dậy, mồm khẽ ê a hát một bài nhảm nhí nào đấy, vừa ngâm nga vừa cố nhớ lại những câu thơ như:

Suốt năm hú hí với nhà tôi
Suốt năm hú… hú… h…í hí…

Hoặc sau một lát lại sực tỉnh, hát:

Đang đi trên phố Podiatsexkaya
Tôi bỗng gặp người năm xưa…

Nhưng chẳng ai buồn chia sẻ hạnh phúc của hắn, thậm chí bạn hắn còn tỏ thái độ thù địch và nghi ngờ đối với những cơn cảm hứng này. Trong tiệm còn có một người trông vẻ như một viên công chức về hưu. Hắn ngồi riêng ra một xó, trước mặt để một be rượu, chốc chốc lại nhấp từng ngụm nhỏ và dạo mắt nhìn quanh. Hình như hắn cũng đang có chuyện gì bứt rứt.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Zimmermann, một hiệu mũ dạ nổi tiếng của Đức.
  2. Ý nói hai đồng rúp tiền giấy.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Trích “Người thầy của tỉnh thức & thương yêu”: Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong mắt người Tây phương

Với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước, từ lâu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một trong số ít những vị lãnh tụ tinh thần nổi tiếng nhất thế giới. Người Phương Tây thường gọi ông một cách giản dị và kính trọng là “Thầy”, với hàm nghĩa Thiền sư là người thầy tâm linh, trong khi người Việt Nam lại trìu mến, thân thương gọi ông là “Sư Ông Làng Mai”. Rất nhiều Phật tử coi ông như một vị Bụt sống.

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Người thầy của tỉnh thức & thương yêu

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2020

Chi tiết tác phẩm

Đây là tập hợp một số bài báo trong hàng vạn bài viết về Thiền sư Thích Nhất Hạnh của các cây bút nổi tiếng trên thế giới. Có thể xem cuốn sách này như một tập chân dung về Thiền sư Thích Nhất Hạnh được “ký họa” ở nhiều góc độ khác nhau, dưới con mắt quan sát, qua “cái thấy” của người nước ngoài.

Một điều thú vị là qua những bài viết ở đây, chúng ta phát hiện ra, người phương Tây tìm đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh không chỉ để giãi bày, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, tìm lại niềm vui sống giữa đời mà họ còn tìm cầu tuệ giác của ông trong việc làm thế nào để điều hành doanh nghiệp tốt hơn, giảm bớt stress, căng thẳng, phát huy nhiều hơn nữa sự sáng tạo, trên cơ sở đó để tăng lợi nhuận. Họ là những CEO của các tập đoàn kinh tế khổng lồ như Google, Yahoo, Ngân hàng Thế giới (World Bank). Họ còn là những thượng nghị sĩ Mỹ, những ngôi sao Hollywood nổi tiếng, những chính khách lừng danh… Qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chỉ bày cho họ hướng đi tâm linh trong đời sống, trong sự nghiệp cùng những phương pháp thực hành rất cụ thể. Tu tập theo ông, người ta sẽ thấy trí tuệ và lòng từ bi tăng trưởng, nhờ thế mà an lạc thân tâm.

Vị “anh hùng ẩn danh”  đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

Jo Confino

(Đăng trên The Huffington Post ngày 22.01.2016)

Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.

Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua bởi 196 quốc gia.

Bà Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh.)

Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.

“Tôi cần có một cái gì đó ngay trong tầm tay để nương vào, nếu không thì tôi chẳng thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy”Bà Figueres chia sẻ với phóng viên của The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sĩ.

Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?

Bà Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbröl, Đức. Nơi đây từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân và biến nơi này thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).

Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.

“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim dành cho một bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”– bà Figueres chia sẻ tiếp.

“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”

Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.

Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay tăng thân đã tới, tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin hộ trì cho tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbröl mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”

Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.

Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy – vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.

Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Thung lũng Silicon và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, Giám đốc Điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.

Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do đề cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/ thich-nhat-hanh-paris-climate-agreement_ us_56a24b7ae4b076aadcc64321

*

Ta hạnh phúc liền giây phút này

Claudio Gallo

Ngày 10.9.2014, nhật báo La Stampa – một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý – có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Claudio Gallo – Biên tập viên phụ trách chuyên mục Văn hóa (Culture Editor) của tờ báo đã tham dự trọn vẹn khóa tu dành cho người Ý được tổ chức tại Làng Mai trong tuần lễ cuối của tháng 8, và anh đã tự mình trải nghiệm được cái gọi là “hiện pháp lạc trú”. Sau đây là bài tường thuật của anh với tựa đề “Happiness is Now” đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Có một cái gì thật dịu ngọt mà cũng thật hùng tráng tỏa ra từ những ruộng nho, những cánh rừng, những đồng cỏ xanh mướt trải dài nối đuôi nhau lướt qua ô cửa sổ của chuyến tàu đi về miền quê nước Pháp, từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sự nhẹ nhàng đầy hùng lực mà ta có thể tìm thấy trong những lời giảng của Thầy Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt, Thầy sống với tăng thân của mình tại Làng Mai, một trung tâm tu học tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi Thầy một cách giản dị là “Thầy” (nghĩa là “một vị thầy tâm linh”).

Thầy đã 88 tuổi, gương mặt trông có vẻ nghiêm khắc nhưng có thể bất ngờ nở một nụ cười trẻ thơ khiến cho ai nhìn thấy cũng phải mỉm cười theo. Năm 1973, Thầy bị chính quyền miền Nam Việt Nam buộc phải lưu vong và Thầy đã chọn Tây phương nơi mà Thầy được Mục sư Martin Luther King và Linh mục Thomas Merton vô cùng trân quý. Ở Mỹ, Thầy cũng được biết đến thông qua các chuyến đi vận động hòa bình cho Việt Nam.

Là tác giả của trên 100 cuốn sách, Thầy đã đem đến cho người Tây phương một phương pháp thực tập dựa trên giáo lý căn bản của đạo Bụt, đó là phương pháp thực tập chánh niệm – sự thực tập tỉnh thức và có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong Phật giáo, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy có lẽ là vị thầy nổi tiếng nhất trên thế giới với rất nhiều trung tâm tu học ở khắp các châu lục và có số người theo tu học lên đến hàng trăm nghìn người. Điều đáng chú ý là Thầy không đòi hỏi các đệ tử Tây phương phải từ bỏ đạo gốc của mình. Rất nhiều người trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 vừa qua tại Làng Mai là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Thưa Thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay – thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào internet?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.

Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho thân tâm ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.

Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.

Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình, ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác. Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh. Đạo Bụt gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).

Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Bụt đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.

Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình. Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn. Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người mà ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: Không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.

Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: Đám mây có thể chết không? Đám mây có thể từ mà trở thành không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Bụt cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực. Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi ta có khả năng dừng lại, ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nguồn: http://plumvillage.org/news/an-italian- journalist-reports-from-plum-village/

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!