Nối kết với chúng tôi

Book trailer

Chỉ ngu ngơ mới biết cười: Lời châm biếm xã hội thượng lưu từ kiều nữ nước Mỹ Edith Wharton

“Đó là một số phận đáng căm hận – nhưng làm sao để thoát khỏi nó? Cô có lựa chọn nào chăng?”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

“Tâm kẻ khôn ngoan ở chốn phiền muộn,
tâm kẻ ngu ngơ ở chốn nô cười.”

– Ecclesiastes 7:4

Câu trích này trong Kinh Cựu Ước chính là nguồn gốc cho tiêu đề tiểu thuyết thứ tư Chỉ ngu ngơ mới biết cười (The House of Mirth, 1905) của Edith Wharton – một trong những nữ tiểu thuyết gia quan trọng nhất đầu thế kỷ 20. Bằng con mắt quan sát nhạy bén và bề dày am hiểu xã hội, nữ nhà văn một lần nữa đã để lại ấn tượng khó phai mờ với bức tranh toàn cảnh về “chốn nô cười” tức giới thượng lưu xứ cờ hoa, đang chuyển mình ở ngã rẽ thế kỷ nơi đời sống vật chất hưởng lạc dần biến mỗi cá nhân thành những món hàng phi nhân tính.

Edith Wharton là người phụ nữ đầu tiên vinh dự nhận giải Pulitzer cho Văn học năm 1921. Bàn về sức ảnh hưởng của Wharton, nhà phê bình nghệ thuật John Updike từng nói: “Nếu có một nữ tác gia người Mỹ nào của thế kỷ 20 được đánh giá cao hơn Edith Wharton thì trong đầu tôi không còn nảy ra một cái tên nào khác.” Sinh ra và lớn lên trong một gia đình New York giàu có, giữa những tập tục khuôn cứng mà bà thường phản kháng, có thể nói Edith Wharton là một trường hợp đặc biệt tuy nằm trong lòng xã hội thượng lưu nhưng sở hữu tầm nhìn sắc sảo của người đứng từ trên cao nhìn xuống. Hơn 40 tác phẩm lớn nhỏ trong 40 năm hành văn của bà là tiếng nói phê phán chính môi trường bà đang sống, là vũ khí tấn công xã hội hào nhoáng nhưng ô trọc, nơi đạo đức băng hoại, nhân bản lung lay. Trong đó, tiểu thuyết Chỉ ngu ngơ mới biết cười ra đời năm 1905 được đánh giá là một trong những tác phẩm châm biếm xã hội xuất sắc nhất và nổi tiếng nhất của Edith Wharton.

Tác phẩm lần đầu tiên ra mắt công chúng trong hình thức ấn bản nhiều kỳ trên tạp chí Scribner’s Magazine và đã bán được 140,000 bản trong năm đầu tiên phát hành. Chỉ ngu ngơ mới biết cười đã củng cố một vị trí vững chắc cho Edith Wharton trên văn đàn, mở đường cho những tiểu thuyết sau này của bà bao gồm cả tác phẩm The Age of Innocence (Thời thơ ngây) giúp mang về cho bà giải Pulitzer cho Văn học năm 1921. Chỉ ngu ngơ mới biết cười cũng là tác phẩm tiên phong cho dòng sách “tiểu thuyết tập tục” (Novel of Manners), trong đó người viết cố gắng tái hiện một hệ thống xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định với những phong tục, tập quán, giá trị, quan niệm được miêu tả cặn kẽ, thường là thuộc về giai tầng đặc quyền đặc lợi. Qua các tác phẩm xuất sắc của mình và đặc biệt là Chỉ ngu ngơ mới biết cười, Edith Wharton đã sánh ngang với những tên tuổi lớn như Jane Austen, Henry James, Evenlyn Waugh trong việc đặt nền móng cho thể loại nói trên. Tiểu thuyết này cũng trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho môn nghệ thuật thứ bảy với ba lần được chuyển thể thành phim, hai lần vào năm 1918 và một lần năm 2000. Trong đó phiên bản điện ảnh sau này đã chiếm được đông đảo cảm tình từ phía công chúng và thậm chí thu về nhiều giải thưởng cùng đề cử danh giá với sự xuất hiện của kiều nữ Gillian Anderson – ngôi sao của loạt phim truyền hình đình đám Hồ sơ tuyệt mật (The X-Files) – trong vai nữ chính Lily Bart.

Lily Bart của Chỉ ngu ngơ mới biết cười  là nhân vật thường xuyên xuất hiện trong danh sách những nữ chính tiểu thuyết có sức ảnh hưởng nhất trong lịch sử văn chương hiện đại. Là con nhà trâm anh thế phiệt nhưng sớm táng gia bại sản, Lily Bart mất cả cha mẹ lẫn mọi vinh hoa phú quý đã vây bọc cuộc sống của cô từ rất sớm. Dưới sự cưu mang của người bác, cùng “một túi tiền eo hẹp đến khó tin”, Lily Bart nuôi quyết tâm phải sống một cuộc sống sung sướng an nhàn và cách duy nhất cô tin mình có thể đạt được điều đó là cưới một vị hôn phu giàu có để củng cố vị trí trong giới thượng lưu. Tuy nhiên, cuốn theo những sòng bài, những vũ hội thâu đêm suốt sáng, cô trở nên túng thiếu và chính từ khoảnh khắc Lily Bart vướng vào mối quan hệ làm ăn mờ ám với chồng của người bạn thân mà cô bắt đầu trượt dốc không phanh, va đập vào từng thanh chắn trên đường lăn xuống khỏi nấc thang xã hội. Edith Wharton đã miêu tả số phận bi thảm của nàng Lily Bart xinh đẹp với sự chính xác đầy chua chát, ban đầu bị “bạn thân” phản bội, rồi gia đình quay lưng, giới thượng lưu ghẻ lạnh… cứ thế cho đến khi cuối cùng cô rớt xuống tầng lớp lao động và chìm vào nghiện ngập, thậm chí may mắn lắm mới không sảy chân làm gái bán hoa. Mọi nỗ lực vươn dậy từ cú vấp ngã dường như chỉ càng làm viễn cảnh của cô trầm trọng hơn. Chuỗi những ứng viên cô có thể lấy làm chồng cũng dường như ngày càng thu hẹp lại đáng ghê tởm và thật bi kịch khi Lawrence Selden, người đàn ông duy nhất thực sự có thể cứu vớt cô khỏi số phận thê thảm này đã tới trễ một bước.

Ở Lily Bart ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Becky Sharp trong Hội chợ phù hoa (Vanity Fair, 1848), Scarlett O’Hara trong Cuốn theo chiều gió (Gone With The Wind, 1939), những người phụ nữ cô đơn gần như không bạn bè, chỉ biết lợi dụng nhan sắc và sự khôn ngoan để chuyên tâm đeo đuổi mục đích duy nhất là sống một đời hưởng thụ. Ta cũng thấy cả hình ảnh của Anna Karenina (Anna Karenina, 1877), quý cô St. Petersburg yêu kiều mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân tù túng và vướng vào mối quan hệ ngoài luồng cấm kỵ với Nam tước trẻ trung Vronsky. Giống như Lily Bart, Anna Karenina cũng bất lực trước guồng quay phi nhân tính của giới thượng lưu và cuối cùng đã chết chẹt dưới bánh xe tàu hỏa như để hoàn thiện cho ẩn dụ đó.

Từng có một nhà phê bình người Chicago phê phán Edith Wharton cùng tiểu thuyết Chỉ ngu ngơ mới biết cười rằng bà đã quá chìm đắm trong việc miêu tả “sự suy đồi của cái bị gọi sai lệch là ‘tầng lớp cao quý’ hay ‘giai cấp được ưu tiên.’” Thực chất thì xã hội mà Wharton khắc họa đúng là không có gì cao quý, dù nó ăn vận đủ thứ ngọc ngà châu báu xa xỉ: đó đúng là một xã hội nhỏ nhen, mờ ám, rỗng tuếch, và thậm chí thô kệch trong bản chất “tiền trao cháo múc”. Dưới vòm trời đó người phụ nữ được nuôi dạy với tư tưởng rằng cô ta suốt đời chỉ có chức năng làm vật trang trí và là công cụ tiến thân cho người chồng (nên là) giàu có của mình. “Đó là một số phận đáng căm hận – nhưng làm sao để thoát khỏi nó? Cô có lựa chọn nào chăng?” Lily Bart đã chua chát nhận xét như thế vào một đêm cô đánh bạc thua trắng. Là sản phẩm của nền văn minh sinh ra cô lẫn cha mẹ cô, Lily thiếu sót mọi kiến thức kinh tế xã hội thật chất lẫn những kỹ năng sinh tồn thiết yếu giúp cô tự nuôi sống bản thân. Làm sao có thể đổ lỗi cho Lily Bart khi cô không thể chống lại “những xu hướng được kế thừa kết hợp với những luyện tập từ sớm”, để rồi bị nhào nặn thành “một sinh vật bất lực khi ra ngoài phạm vi nhỏ hẹp của nó như loài hải quỳ bị đứt lìa ra khỏi đá. Cô được tạo tác để trang trí và làm người khác vui sướng; thiên nhiên làm tròn đầy lá hoa hồng và sơn màu cho ngực chim ruồi còn vì mục đích gì nữa?” Lily không tìm thấy niềm hạnh phúc nào trong con đường đã vạch sẵn cho cô, nhưng cô cũng không nhìn thấy một lối rẽ nào khác; cô không thể chạy thoát, không biết cách chạy thoát, không biết chạy thoát đi đâu. Lily Bart đơn giản chưa từng có được một cơ hội.

“Một xã hội phù phiếm chỉ có thể sở hữu tầm quan trọng mạnh mẽ thông qua những gì mà tính phù phiếm của nó hủy diệt,” khi viết như vậy Edith Wharton đã phát biểu ý nghĩa của toàn bộ sự nghiệp văn chương đời bà: từ trong lòng “chốn nô cười” bà nắm bắt được chính tầm quan trọng này và cống hiến gần như cả cuộc đời để khắc họa những con người phù phiếm bất hạnh ấy. Thông qua bức tranh thượng lưu mà nạn nhân chính là Lily Bart trong Chỉ ngu ngơ mới biết cười, Edith Wharton một lần nữa hoàn thành sứ mạng của mình: lên án một xã hội tôn thờ kim tiền và danh vọng, chỉ biết hủy hoại những thứ xinh đẹp và trinh bạch phía trong. Có lẽ chính vì thế mà tuy được sáng tác cách đây hơn một thế kỷ, tiểu thuyết vẫn vẹn nguyên những giá trị cốt lõi và tiếp tục cuốn hút bao thế hệ người đọc.

Hết.

Vĩnh Ngân

Book trailer

Chú bé Thất Sơn: Tấm postcard gửi cho những ước mơ bị chôn vùi

Chú bé Thất Sơn được tác giả, nhà báo Phạm Công Luận viết năm 1991, lần tái bản này đánh dấu 30 năm kể từ khi quyển sách ra đời.

Published

on

By

chu be that son featured

Quyển sách 30 tuổi trong sự sống mới

Chú bé Thất Sơn xuất bản lần đầu năm 1993, đoạt giải C cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ nhất. Phương Nam Book tái bản sách với bìa mới, 88 trang in màu và hình minh họa sinh động, dễ thương.

Sách kể về chuyến nghỉ "hè sớm" về thăm quê ngoại đã cho hai chị em Nam gặp Siêng - "thổ địa" nhỏ của vùng Thất Sơn.

Theo bước chân Siêng, Nam được khám phá một thế giới mới thú vị. Nơi ấy có đồng ruộng bao la, có dòng kinh Vĩnh Tế mát lành, có vị cá nướng trui thơm lừng, có món khoai mì rẫy ngọt bùi,... Và còn biết bao nhiêu chuyện ly kỳ của vùng Bảy Núi.

Chú bé Siêng ấy, gia cảnh mồ côi, tối ngủ nhờ chòi vịt, ngày chăn trâu kiếm từng bữa cơm. Nhưng Siêng vẫn cố bám trường bám lớp, theo đuổi lớp học bổ túc hàng đêm. Ngay cả khi số phận tiếp tục thử thách, Siêng làm mất trâu, bị đánh đập, bị chèn ép và cả bị bắt, chú bé vẫn cố gắng từng chút nhích về tương lai.

"Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tân ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày, loại nào ngon cơm. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo,... Không còn ai phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới sình mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng."

Chú bé Thất Sơn - Phạm Công Luận

Thông điệp vượt thời gian

Tròn 30 tuổi, quyển sách Chú bé Thất Sơn truyền đi thông điệp chưa bao giờ cũ: đừng bao giờ ngừng ước mơ chỉ vì hoàn cảnh.“Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ”. Nhưng chẳng thể buộc chặt những giấc mơ.

Siêng có cha mẹ là thầy cô giáo bị giặc Pôn Pốt giết, mồ côi. Nhưng với lòng quyết tâm học tập, đêm đêm Siêng vẫn đi đò qua sông học bổ túc văn hóa. Trong cảnh khốn cùng, Siêng phải tham gia vô đoàn người "đai" thuốc lá lậu qua biên giới và bị bắt. Được tha về, Siêng lấy vé số ra chợ bán nhưng rồi nó cũng không được yên thân....

Cậu bé Siêng ham học, không đầu hàng nghịch cảnh, vượt qua mọi nghịch cảnh để vươn lên, chạm đến ước mơ.

Ngôn ngữ mộc mạc

Những món ăn dân dã hay câu ca dao - dân ca xuất hiện nhiều trong Chú bé Thất Sơn. Những tư liệu làng quê được tác giả Phạm Công Luận sử dụng nhuần nhuyễn, chân thực. Qua ngòi bút tác giả, người đọc theo bước chân 2 chị em Thảo – Nam và cậu bé Siêng, được đến khám phá vùng đồng quê miền Nam bạt ngàn, tươi đẹp.

Nguồn cảm hứng được tác giả Phạm Công Luận lấy từ những chất liệu thực. “Cách đây đúng 30 năm, tôi lần đầu đặt chân đến thị xã Châu Đốc và được nghe kể về một em bé bị đuối nước dưới dòng kinh xanh. Về TP.HCM, hình bóng những em bé lội bộ trên cánh đồng xanh khiến tôi không khỏi ngẫm nghĩ. Trong vòng một tháng sau chuyến đi, tôi ngồi vào bàn và viết cuốn truyện nhỏ Chú bé Thất Sơn”, tác giả Phạm Công Luận chia sẻ.

"Không rành về vùng đất này, tôi phải đọc sách về Châu Đốc, vùng Thất Sơn và vẽ cả bản đồ có thị xã, ngôi trường, cánh đồng Vĩnh Ngươn, con kinh có các nhân vật qua lại trong truyện.

Sách được ra năm 1993, với một giải thưởng. Đây là cuốn sách hư cấu duy nhất tôi viết. Và chắc có những vụng về của cuốn sách đầu tay."

Chú bé Thất Sơn mang đậm vẻ mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, truyện có cô bé Thảo với bài tập nghiên cứu và tìm hiểu về những câu ca dao – dân ca xưa, thể hiện niềm mong mỏi gìn giữ văn hóa của tác giả Phạm Công Luận.

Năm 2021, Chú bé Thất Sơn “tái ngộ” bạn đọc với 88 trang in màu cùng hình minh họa đặc sắc. Sách tặng kèm tấm postcard với ý nghĩa: gửi đi cho chính đứa trẻ trong bạn với những ước mơ đã bị chôn vùi vì hoàn cảnh.

Quyển sách chắc chắn sẽ trở thành món quà tặng ý nghĩa dành cho các bé và cả quý phụ huynh trong dịp hè này.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Cafe sáng