Book trailer

Chỉ ngu ngơ mới biết cười: Lời châm biếm xã hội thượng lưu từ kiều nữ nước Mỹ Edith Wharton

“Đó là một số phận đáng căm hận – nhưng làm sao để thoát khỏi nó? Cô có lựa chọn nào chăng?”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

“Tâm kẻ khôn ngoan ở chốn phiền muộn,
tâm kẻ ngu ngơ ở chốn nô cười.”

– Ecclesiastes 7:4

Câu trích này trong Kinh Cựu Ước chính là nguồn gốc cho tiêu đề tiểu thuyết thứ tư Chỉ ngu ngơ mới biết cười (The House of Mirth, 1905) của Edith Wharton – một trong những nữ tiểu thuyết gia quan trọng nhất đầu thế kỷ 20. Bằng con mắt quan sát nhạy bén và bề dày am hiểu xã hội, nữ nhà văn một lần nữa đã để lại ấn tượng khó phai mờ với bức tranh toàn cảnh về “chốn nô cười” tức giới thượng lưu xứ cờ hoa, đang chuyển mình ở ngã rẽ thế kỷ nơi đời sống vật chất hưởng lạc dần biến mỗi cá nhân thành những món hàng phi nhân tính.

Edith Wharton là người phụ nữ đầu tiên vinh dự nhận giải Pulitzer cho Văn học năm 1921. Bàn về sức ảnh hưởng của Wharton, nhà phê bình nghệ thuật John Updike từng nói: “Nếu có một nữ tác gia người Mỹ nào của thế kỷ 20 được đánh giá cao hơn Edith Wharton thì trong đầu tôi không còn nảy ra một cái tên nào khác.” Sinh ra và lớn lên trong một gia đình New York giàu có, giữa những tập tục khuôn cứng mà bà thường phản kháng, có thể nói Edith Wharton là một trường hợp đặc biệt tuy nằm trong lòng xã hội thượng lưu nhưng sở hữu tầm nhìn sắc sảo của người đứng từ trên cao nhìn xuống. Hơn 40 tác phẩm lớn nhỏ trong 40 năm hành văn của bà là tiếng nói phê phán chính môi trường bà đang sống, là vũ khí tấn công xã hội hào nhoáng nhưng ô trọc, nơi đạo đức băng hoại, nhân bản lung lay. Trong đó, tiểu thuyết Chỉ ngu ngơ mới biết cười ra đời năm 1905 được đánh giá là một trong những tác phẩm châm biếm xã hội xuất sắc nhất và nổi tiếng nhất của Edith Wharton.

Tác phẩm lần đầu tiên ra mắt công chúng trong hình thức ấn bản nhiều kỳ trên tạp chí Scribner’s Magazine và đã bán được 140,000 bản trong năm đầu tiên phát hành. Chỉ ngu ngơ mới biết cười đã củng cố một vị trí vững chắc cho Edith Wharton trên văn đàn, mở đường cho những tiểu thuyết sau này của bà bao gồm cả tác phẩm The Age of Innocence (Thời thơ ngây) giúp mang về cho bà giải Pulitzer cho Văn học năm 1921. Chỉ ngu ngơ mới biết cười cũng là tác phẩm tiên phong cho dòng sách “tiểu thuyết tập tục” (Novel of Manners), trong đó người viết cố gắng tái hiện một hệ thống xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định với những phong tục, tập quán, giá trị, quan niệm được miêu tả cặn kẽ, thường là thuộc về giai tầng đặc quyền đặc lợi. Qua các tác phẩm xuất sắc của mình và đặc biệt là Chỉ ngu ngơ mới biết cười, Edith Wharton đã sánh ngang với những tên tuổi lớn như Jane Austen, Henry James, Evenlyn Waugh trong việc đặt nền móng cho thể loại nói trên. Tiểu thuyết này cũng trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho môn nghệ thuật thứ bảy với ba lần được chuyển thể thành phim, hai lần vào năm 1918 và một lần năm 2000. Trong đó phiên bản điện ảnh sau này đã chiếm được đông đảo cảm tình từ phía công chúng và thậm chí thu về nhiều giải thưởng cùng đề cử danh giá với sự xuất hiện của kiều nữ Gillian Anderson – ngôi sao của loạt phim truyền hình đình đám Hồ sơ tuyệt mật (The X-Files) – trong vai nữ chính Lily Bart.

Lily Bart của Chỉ ngu ngơ mới biết cười  là nhân vật thường xuyên xuất hiện trong danh sách những nữ chính tiểu thuyết có sức ảnh hưởng nhất trong lịch sử văn chương hiện đại. Là con nhà trâm anh thế phiệt nhưng sớm táng gia bại sản, Lily Bart mất cả cha mẹ lẫn mọi vinh hoa phú quý đã vây bọc cuộc sống của cô từ rất sớm. Dưới sự cưu mang của người bác, cùng “một túi tiền eo hẹp đến khó tin”, Lily Bart nuôi quyết tâm phải sống một cuộc sống sung sướng an nhàn và cách duy nhất cô tin mình có thể đạt được điều đó là cưới một vị hôn phu giàu có để củng cố vị trí trong giới thượng lưu. Tuy nhiên, cuốn theo những sòng bài, những vũ hội thâu đêm suốt sáng, cô trở nên túng thiếu và chính từ khoảnh khắc Lily Bart vướng vào mối quan hệ làm ăn mờ ám với chồng của người bạn thân mà cô bắt đầu trượt dốc không phanh, va đập vào từng thanh chắn trên đường lăn xuống khỏi nấc thang xã hội. Edith Wharton đã miêu tả số phận bi thảm của nàng Lily Bart xinh đẹp với sự chính xác đầy chua chát, ban đầu bị “bạn thân” phản bội, rồi gia đình quay lưng, giới thượng lưu ghẻ lạnh… cứ thế cho đến khi cuối cùng cô rớt xuống tầng lớp lao động và chìm vào nghiện ngập, thậm chí may mắn lắm mới không sảy chân làm gái bán hoa. Mọi nỗ lực vươn dậy từ cú vấp ngã dường như chỉ càng làm viễn cảnh của cô trầm trọng hơn. Chuỗi những ứng viên cô có thể lấy làm chồng cũng dường như ngày càng thu hẹp lại đáng ghê tởm và thật bi kịch khi Lawrence Selden, người đàn ông duy nhất thực sự có thể cứu vớt cô khỏi số phận thê thảm này đã tới trễ một bước.

Ở Lily Bart ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Becky Sharp trong Hội chợ phù hoa (Vanity Fair, 1848), Scarlett O’Hara trong Cuốn theo chiều gió (Gone With The Wind, 1939), những người phụ nữ cô đơn gần như không bạn bè, chỉ biết lợi dụng nhan sắc và sự khôn ngoan để chuyên tâm đeo đuổi mục đích duy nhất là sống một đời hưởng thụ. Ta cũng thấy cả hình ảnh của Anna Karenina (Anna Karenina, 1877), quý cô St. Petersburg yêu kiều mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân tù túng và vướng vào mối quan hệ ngoài luồng cấm kỵ với Nam tước trẻ trung Vronsky. Giống như Lily Bart, Anna Karenina cũng bất lực trước guồng quay phi nhân tính của giới thượng lưu và cuối cùng đã chết chẹt dưới bánh xe tàu hỏa như để hoàn thiện cho ẩn dụ đó.

Từng có một nhà phê bình người Chicago phê phán Edith Wharton cùng tiểu thuyết Chỉ ngu ngơ mới biết cười rằng bà đã quá chìm đắm trong việc miêu tả “sự suy đồi của cái bị gọi sai lệch là ‘tầng lớp cao quý’ hay ‘giai cấp được ưu tiên.’” Thực chất thì xã hội mà Wharton khắc họa đúng là không có gì cao quý, dù nó ăn vận đủ thứ ngọc ngà châu báu xa xỉ: đó đúng là một xã hội nhỏ nhen, mờ ám, rỗng tuếch, và thậm chí thô kệch trong bản chất “tiền trao cháo múc”. Dưới vòm trời đó người phụ nữ được nuôi dạy với tư tưởng rằng cô ta suốt đời chỉ có chức năng làm vật trang trí và là công cụ tiến thân cho người chồng (nên là) giàu có của mình. “Đó là một số phận đáng căm hận – nhưng làm sao để thoát khỏi nó? Cô có lựa chọn nào chăng?” Lily Bart đã chua chát nhận xét như thế vào một đêm cô đánh bạc thua trắng. Là sản phẩm của nền văn minh sinh ra cô lẫn cha mẹ cô, Lily thiếu sót mọi kiến thức kinh tế xã hội thật chất lẫn những kỹ năng sinh tồn thiết yếu giúp cô tự nuôi sống bản thân. Làm sao có thể đổ lỗi cho Lily Bart khi cô không thể chống lại “những xu hướng được kế thừa kết hợp với những luyện tập từ sớm”, để rồi bị nhào nặn thành “một sinh vật bất lực khi ra ngoài phạm vi nhỏ hẹp của nó như loài hải quỳ bị đứt lìa ra khỏi đá. Cô được tạo tác để trang trí và làm người khác vui sướng; thiên nhiên làm tròn đầy lá hoa hồng và sơn màu cho ngực chim ruồi còn vì mục đích gì nữa?” Lily không tìm thấy niềm hạnh phúc nào trong con đường đã vạch sẵn cho cô, nhưng cô cũng không nhìn thấy một lối rẽ nào khác; cô không thể chạy thoát, không biết cách chạy thoát, không biết chạy thoát đi đâu. Lily Bart đơn giản chưa từng có được một cơ hội.

“Một xã hội phù phiếm chỉ có thể sở hữu tầm quan trọng mạnh mẽ thông qua những gì mà tính phù phiếm của nó hủy diệt,” khi viết như vậy Edith Wharton đã phát biểu ý nghĩa của toàn bộ sự nghiệp văn chương đời bà: từ trong lòng “chốn nô cười” bà nắm bắt được chính tầm quan trọng này và cống hiến gần như cả cuộc đời để khắc họa những con người phù phiếm bất hạnh ấy. Thông qua bức tranh thượng lưu mà nạn nhân chính là Lily Bart trong Chỉ ngu ngơ mới biết cười, Edith Wharton một lần nữa hoàn thành sứ mạng của mình: lên án một xã hội tôn thờ kim tiền và danh vọng, chỉ biết hủy hoại những thứ xinh đẹp và trinh bạch phía trong. Có lẽ chính vì thế mà tuy được sáng tác cách đây hơn một thế kỷ, tiểu thuyết vẫn vẹn nguyên những giá trị cốt lõi và tiếp tục cuốn hút bao thế hệ người đọc.

Hết.

Vĩnh Ngân

Giới thiệu sách

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng – Ngọt ngào sao những thi vị này

Published

on

By

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy, gồm 2 phần là tản văn và truyện ngắn. Xuất bản lần đầu năm 2012, tác phẩm ngay lập tức được đón nhận và đã tái bản rất nhiều lần. Ở lần tái bản này, cuốn sách được in ấn với hình thức bìa độc đáo.

Nhẹ nhàng mở những trang sách Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng giữa lòng phố thị xô bồ, bạn sẽ bước vào một khoảng trời chứa đầy ký ức của tác giả, dù rất riêng nhưng sao thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để nhớ, để thương. Giản dị, mộc mạc, từng lời văn như thấm vào trái tim độc giả, để lại những cảm xúc đầy luyến lưu, xao xuyến. Cuốn sách mang đến cảm giác dễ chịu, khiến người ta mỉm cười, thấy ấm áp giữa những ngày mưa lạnh ướt át.

Phần tản văn kể về thuở ấu thơ của tác giả, đan xen những bài học, chiêm nghiệm mà tác giả nhận ra khi nhìn lại các kỷ niệm sau ngần ấy năm. Phần truyện ngắn xoay quanh các nhân vật do tác giả sáng tạo, chứa đựng tình yêu chớm nở trong những năm tháng đầy hoa mộng. Chúng ta như nhìn thấy hai Đặng Nguyễn Đông Vy với những nét tính cách khác biệt. Cả hai đều trong sáng và bay bổng, nhưng một bên là hồn nhiên, nghịch ngợm, một bên lại phảng phất những nỗi niềm man mác. Tuy nhiên, cả hai phần này không tách biệt, mà là một mạch cảm xúc nối liền theo quá trình trưởng thành nơi tâm hồn tác giả.

Hồi ức yên bình tuổi thơ ngây qua những dòng tản văn

Phần tản văn gồm 22 câu chuyện, phần lớn đều đan xen những kỷ niệm thuở ấu thơ của tác giả. Những câu văn mượt mà, mộc mạc, đầy xúc cảm trong trẻo, hồn nhiên, đưa ta quay lại những ngày còn bé bỏng, khi cả gia đình – ông bà, cha mẹ, anh chị em vẫn quây quần trong căn nhà cửa gỗ sơn xanh, tường tróc sơn loang lổ. Qua đôi mắt của tác giả, ta như nhìn thấy người ông móm mém, yêu thích mãng cầu bơ, người bà phúc hậu, ngồi xỏ mành ốc gạo với cháu gái nhỏ, người mẹ chăm chỉ sắp xếp đá trang trí trong vườn nhà, người cha cặm cụi quấy bột sắn thành hồ dán cho con làm thủ công.

Ta như nhìn thấy những người bạn chơi cùng lúc bé nghịch ngợm, nô đùa cùng nhau, rồi xích mích, dỗi hờn. Ta như nhìn thấy góc trường tiểu học với lũ trẻ ồn ào nhốn nháo, tranh nhau xem phim cổ tích trong chiếc hộp gỗ của ông lão hàng rong. Ta như nhìn thấy những mùa thu hoạch khoai mì rộn rã cả miền quê, những mùa Giáng Sinh tưng bừng nơi xóm đạo. Đó là những ký ức rất riêng tư của tác giả, nhưng sao lại gần gũi với tất cả chúng ta đến lạ thường.

Tác giả thổ lộ những điều thoạt đầu nghe hết sức lạ lùng, chẳng hạn như ngày bé tác giả thích nhất chính là… đi chăn bò. Tuy nhiên, khi theo từng câu chữ của cô, đặt chân lên hành trình mơ mộng đầy ắp niềm vui khi lùa bò đi ăn, ta dần ngộ ra thích đi chăn bò là điều vô cùng hợp lý. Làm sao không thích cho được khi bao bọc xung quanh là một thiên nhiên phong phú, đầy chất thơ: dế cồ than nấp dưới hòn đá, chuồn chuồn kim đậu trên ngọn cây, châu chấu hối hả nhảy khỏi mõm của lũ bò, lũ cá rô lượn lờ dưới dòng nước trong… Những ngọn gió thổi qua lớp cỏ xanh mơn mởn trên bờ đê mấp mô, những đồng lúa chín vàng trĩu hạt, những đám mạ non mướt mát… mang theo hơi thở của rơm rạ, hương sen và bùn đất. Linh hồn ta chợt như thoát khỏi thực tại, đến với đồng cỏ điểm xuyết hoa dại nhỏ xinh, hạnh phúc lao nhanh giữa đất trời với đôi bàn chân trần nóng bỏng.

Giữa những kỷ niệm ấm áp, bình yên bên gia đình, bạn bè, và những khung cảnh hồi ức vừa chân thực, vừa mơ mộng, tác giả lồng ghép vào những bài học nhân văn một cách rất tự nhiên. Đó là trận đòn đau vào mùa khoai mì năm ấy, khi ba tác giả tức giận quất roi con vì tội giễu nhại người tàn tật. Đó là chiều ba mươi tết bà nội cùng tác giả dắt nhau ghé thăm từng hộ gia đình khó khăn nằm sâu trong phía núi, tặng cả người lớn lẫn trẻ con những đòn bánh tét xinh xinh. Đó là tinh thần làm ăn chăm chỉ, sáng tạo, cần cù của ông nội, thứ giúp ông từng gây dựng được cả cơ đồ. Đó là ánh mắt buồn bã đến xót lòng của người mẹ khi nghe tác giả thốt lên rằng “Mẹ đúng là chẳng có gì để ngưỡng mộ cả.”

Có những bài học mà mãi đến lớn, sau bao nhiêu thăng trầm, tác giả mới đột nhiên nhận ra. Chiếc hộp con đựng bản di chúc cùng những gì quý giá nhất năm tám tuổi, vốn chỉ là một trò chơi, nhưng giờ nhìn lại, tác giả bỗng hiểu ra rằng nên “làm cho những người khác biết mình yêu thương họ ngay lúc này tốt hơn là ấp ủ tình yêu đó cho tới khi ta không còn cơ hội để trao nó cho họ nữa.” Ngôi nhà ông nội hì hục một mình đào móng, trộn vữa, đặt từng viên gạch… trên mảnh đất tự ông khai phá luôn mở rộng cửa và đầy ắp yêu thương. Nó đón nhận bao lượt khách lỡ đường mà chẳng hề tính phí, giúp đỡ một người đàn bà xa lạ suýt đẻ rớt bình yên hạ sinh con mình, rộng mở vòng tay để một ông lão hành khất xa lạ tá túc. Tác giả nhận ra, qua bao năm, từng lượt người cứ đến rồi đi, ngôi nhà năm xưa vẫn cứ y như cũ, chỉ có những câu chuyện về lòng hào hiệp và nhân hậu mãi chất đầy…

Những bản tình ca dang dở nhưng thi vị trong phần truyện ngắn

Nếu phần tản văn toát lên tình thân, tình bạn và tình người, thì tinh thần chính trong phần truyện ngắn lại là tình yêu đôi lứa. 11 câu chuyện là 11 sắc màu tình yêu, có khi là những rung động mông lung tuổi học trò, có khi là nỗi khắc khoải của người bị bỏ lại nơi dương thế, có khi là giọt nước mắt của mối tình chưa nở đã tàn phai. Đơn giản, không hoa mỹ, nhưng từng câu văn lại thấm vào lòng người đến lạ thường. Ta thấy mình như hóa thân thành nhân vật, cũng cảm nhận được “một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả” khi nhìn thấy hoa tường vi ố vàng trong bụi bặm của đời thực, cũng thấy “quay quắt nhớ” về ai đó với câu tỏ tình dễ thương.

Lồng trong những câu chuyện là đủ sắc màu, đủ âm thanh, đủ mùi vị. Một vườn pensée khoe sắc thắm khẽ lay động trong làn gió nhẹ tựa như tình yêu chân thành ở tuổi sắp xế chiều của một góa phụ mất chồng từ lâu. Một ly tonic “đăng đắng, mằn mặn, lạnh ngắt, và vị ngọt đọng đâu đó, không phải trên môi, không phải trên đầu lưỡi mơ hồ” khiến ta nhận ra tình yêu có thể bắt đầu từ nỗi nhớ, không phải chính con người ấy, mà là khoảng không gian, những cảm xúc bao quanh mỗi khi ta ở bên người ấy. Tiếng chuông nhà thờ đổ vang vang đêm giao thừa nơi Đà Lạt đầy sương lạnh, tràn ngập nỗi lạc lõng của một cô bé mười sáu tuổi lần đầu lang thang giữa nơi xa lạ vào đêm ba mươi. Chúng được miêu tả sống động, như thể ta đang ở ngay đó, nhìn tận mắt, nếm tận miệng, nghe tận tai vậy.

Phần lớn tình yêu trong phần truyện ngắn này đều bỏ ngõ, dở dang. Mỗi câu chuyện đều có gì đó man mác buồn, chứa nhiều nỗi niềm da diết, khắc khoải. Nhưng dù mối tình trong truyện đã vĩnh viễn khép lại, hay vẫn còn lấp lánh chút hy vọng cho ngày sau, thì mối tình ấy vẫn đi vào lòng người đọc, vẫn khiến ta thấy tình yêu, tuy muôn hình vạn trạng, tuy hạnh phúc lẫn đau đớn, vẫn thật đẹp làm sao.

Hình thức bìa sách độc đáo như một bức bình phong

Lần tái bản này, sách ra mắt ở cả hai hình thức bìa mềm lẫn bìa cứng, đều có kích thước nhỏ xinh tựa một quyển sổ tay, dễ dàng bỏ túi mang theo đến bất kỳ nơi đâu. Bản bìa mềm tiện dụng, được in đổi chiều hai nửa nội dung – một tản văn, một truyện ngắn. Trong khi đó, bản bìa cứng là hai quyển sách có bìa nối liền nhau, khi bung mở toàn bộ sẽ tạo cảm giác như đang kéo ra bức bình phong tuyệt đẹp.

Trong mùa dịch vừa rồi, họa sĩ t. hờ đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết để thiết kế bìa sách đầy tính đột phá, sáng tạo này. Khi đọc tác phẩm, anh cảm giác như có hai chị Vy khác nhau, một chị Vy nhỏ và một chị Vy lớn. Vì vậy, anh đã suy nghĩ làm sao vừa phân biệt hai phần tản văn và truyện ngắn, vừa ghép được chúng dính liền với nhau để không làm mất mối liên kết giữa hai chị Vy trong sách. Kết quả là thiết kế phá cách, ngộ nghĩnh dành cho cả hai phiên bản bìa cứng và bìa mềm đã ra đời. 

Có lẽ chất trong trẻo, êm dịu trong từng câu văn của Đặng Nguyễn Đông Vy đã thấm vào lòng của họa sĩ t. hờ, nên từng hình vẽ trong sách, từ ảnh bìa đến ảnh mình họa, đều toát lên vẻ đẹp bay bổng, đầy nghệ thuật. Nếu phần bìa tản văn có màu chủ đạo là xanh lá, với hình ảnh “chị Vy nhỏ” nằm giữa cánh đồng hoa bướm vờn quanh, thì phần bìa truyện ngắn lại mang màu xanh đen huyền bí của bầu trời đêm, điểm xuyết những ngôi sao vàng trên dải ngân hà lam biếc.

Về tác giả

Đặng Nguyễn Đông Vy, sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, là một cây bút quen thuộc trên các tờ báo hướng đến độ tuổi mới lớn như Hoa Học Trò, Báo Sinh viên Việt Nam... Chị vừa làm báo, vừa viết văn, và đã xuất bản rất nhiều tác phẩm sâu lắng, thú vị như Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn, Những Lối Về Ấu Thơ…

Đọc bài viết

Book trailer

‘Đũa – Chuyện linh dị’ khám phá những truyền thuyết rùng rợn về đôi đũa

Published

on

By

Nỗi ám ảnh từ đôi đũa

Đũa là một vật dụng rất đỗi thường mọn trong đời sống hằng ngày nhưng với văn hóa Á Đông, đũa lại mang một sức mạnh tâm linh bí ẩn, hàm chứa vô số những điều cấm kỵ truyền miệng suốt ngàn đời nay.

Lấy cảm hứng từ điều đó, năm tác giả đến từ Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan đã cùng nhau phỏng tác những tục lệ dân gian huyền bí cũng như những truyền thuyết về bùa ngải, ma thuật xoay quanh vật phẩm bé nhỏ này qua một loạt vụ án liên tiếp trải dài từ quá khứ đến hiện đại trong tác phẩm.

Những vụ án này có thể bắt đầu từ hàng loạt cái chết bi thảm khó lý giải, hình ảnh oan hồn cô dâu ma bên đầm Tân Nương, hay sự xuất hiện bí ẩn của những kẻ mang ấn ký hình cá đỏ…

Tất cả mọi manh mối đều dẫn đến một vật hết sức mơ hồ – đũa. Và cũng từ đó những lời đồn thổi về nghi lễ cổ quái xa xưa lại một lần nữa trỗi dậy, rằng chỉ cần qua tám mươi tư ngày tham gia nghi lễ ấy, mọi ước vọng của nhân gian dẫu ngông cuồng đến đâu cũng đều có thể xoay chuyển càn khôn trở thành hiện thực. Nhưng trong cơn cuồng say dục vọng, không ai có thể ngờ rằng một khi dấn bước vào nghi lễ kỳ bí ấy tức là họ đã tự trói buộc mình vào lời nguyền truyền kiếp và cái giá phải trả sẽ tột cùng kinh hoàng.

Một “nghi lễ” vượt biên giới của các nhà văn

Đũa – Chuyện linh dị là dự án đánh dấu sự hợp tác của 5 cây bút đến từ Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản, nhưng đây hoàn toàn không phải một tập truyện ngắn theo cách hiểu thông thường.

Với đề tài chính là “đũa”, các nhà văn có thể tự do sáng tạo mạch truyện theo cách riêng, nhưng để giữ cho tập sách có sự thống nhất, ba tác giả đầu tiên sẽ xây dựng những tình tiết nền móng, hai tác giả cuối cùng dựa trên manh mối từ ba truyện trước để khép lại câu chuyện theo cách diễn giải của mình.

Đũa – Chuyện linh dị thuộc thể loại tiểu thuyết hợp tác (collaborative fiction), thường gồm hai hoặc một số nhà văn thay phiên nhau viết từng phần câu chuyện và chuyển cho người tiếp theo, nhưng vẫn chú ý đến nhân vật, tình tiết của đối tác để triển khai mạch truyện sao cho logic, chặt chẽ.  

Thể loại này đặc biệt phù hợp với đề tài tác phẩm, vốn xoay quanh các nghi lễ ma quái nhằm triệu hồi một thế lực thần bí, tương tự như quá trình sáng tác Đũa – Chuyện Linh Dị đã kết nối năm cây bút độc lập đến từ những vùng đất khác nhau, đưa họ đến một mục đích chung.

Chính vì thế, tác giả Tiêu Tương Thần cho rằng những yếu tố bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các tác giả chính là điểm hấp dẫn của dòng tiểu thuyết hợp tác. Người này nhận xét:

“Như thể có một bàn tay lớn hơn ẩn đằng sau các tác giả, âm thầm thêu dệt truyện. Câu chuyện rời khỏi tay tác giả, lần lượt phản bội tác giả, khiến tác giả trở thành một phần của câu chuyện, phải chăng có một thế lực nào lớn hơn đang ở phía sau chúng tôi?”.

Sức hấp dẫn không thể chối từ của dòng truyện “linh dị”

Dòng truyện linh dị là những tác phẩm xoay quanh tập tục dân gian cổ xưa, tà đạo, thuật phong thủy, hoặc những thế lực siêu nhiên như vong hồn, oán chú,… đặc trưng trong văn hóa Á Đông.

Truyện linh dị thường khiến người đọc rợn tóc gáy vì khả năng truyền tải nỗi sợ qua những vật dụng gần gũi trong đời sống thường ngày; hay như những câu chuyện truyền miệng qua lời kể của ông bà, cha mẹ; những lời đồn đại của bạn bè trong lớp học; hoặc đôi khi chỉ đơn giản là những phỏng đoán xung quanh một địa điểm hay một vụ án bí ẩn không lời giải.

Khác với dòng truyện nặng tính kinh dị (horror) đến từ phương Tây, tiểu thuyết linh dị Á Đông dễ dàng hớp hồn độc giả Việt Nam nhờ sự tương cận, gần gũi về văn hóa. Nhiều độc giả có lẽ đã dần biết đến dòng tiểu thuyết linh dị thông qua văn học mạng hay các tác phẩm của Quỷ Cổ Nữ.

Đến với Đũa – Chuyện linh dị, người đọc không những được trải nghiệm một câu chuyện hấp dẫn, rùng rợn xoay quanh đũa và những tập tục cổ xưa, mà còn có dịp làm quen với dạng thức tiểu thuyết hợp tác – một thể loại vẫn còn mới mẻ với nhiều độc giả Việt Nam.

Bìa sách Đũa bản nước ngoài

Trích đoạn

Dưới ánh trăng, tôi cắm một chiếc đũa vào hũ gạo, chiếc kia xếp ngang phía trên thành hình chữ T. Tôi quỳ xuống thắp một nén nhang, đầu nhang đỏ rực như đom đóm, hương thơm quyện vào trong gió.

Sau đó tôi lầm rầm câu chú.

Lần cuối cùng tôi đọc câu chú này là hơn bốn mươi năm trước, nhưng lòng tôi bây giờ so với khi đó đã hoàn toàn khác.

Trong những mảnh vỡ của cuộc đời tôi, luôn lấp lóa tia sáng đỏ rực của cái đêm kinh hoàng bên bờ suối, khiến tôi thấy mình vẫn như đang đắm mình trong làn nước lạnh giá để khâu lại những tấm da mỏng manh, những đứa trẻ bị đẩy vào bóng tối với cặp mắt mở trừng trừng…

(trích đoạn Đũa – Chuyện linh dị)

Về tác giả

Mitsuda Shinzo: tiểu thuyết gia dòng kinh dị kỳ ảo người Nhật Bản, nổi tiếng với series truyện Tojio GenyaLike a Sinking Water Demon (giải thưởng Honkaku Mystery Award)…

Tiết Tây Ti (Xerxes): tiểu thuyết gia dòng võ thuật, kỳ ảo người Đài Loan, nổi tiếng với các tác phẩm tiêu biểu: H.A, Phoenix, Lotus Reborn (giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013)…

Tiêu Tương Thần: tiểu thuyết gia kiêm nhà sản xuất game nổi tiếng người Đài Loan, tác phẩm đầu tay của anh - Taipei Scrolls - đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2012 và King Car Fantasy Fiction Prize năm 2014.

Je Tau Zi: tiểu thuyết gia trinh thám kiêm nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng người Hồng Kông, tác phẩm tiêu biểu The Spirit of the Word của cô từng đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013.

Chan Ho Kei: tiểu thuyết gia kiêm kỹ sư phần mềm, nhà thiết kế trò chơi và biên tập viên tạp chí truyện tranh người Hồng Kông. Các tác phẩm tiêu biểu của anh gồm có: The Case of Jack and the Beanstalk, The Locked Room of Bluebeard, The Man Who Sold the World (Soji Shimada Mystery Award 2011)... Tại Việt Nam, tác phẩm trinh thám Người trong lưới13.67 của anh cũng được độc giả nhiệt liệt đón nhận.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Bức thư tình gửi đến Việt Nam từ một nhà thơ người Mỹ

Published

on

By

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tuyển tập bút ký điền dã của một nhà thơ, nhà báo người Mỹ viết về Sài Gòn, được xuất bản dưới dạng sách song ngữ. Tuyển tập gồm 8 đoản khúc, xoay quanh những điều bình dị như cây chò nâu, tiệm tạp hóa, lục bình, sở thú… cho đến những chủ đề “khó nhằn” như tục thờ cá Ông, đồn điền cao su, nghề nấu rượu… Tất cả được viết bằng giọng văn vừa dí dỏm, khoa học nhưng không kém phần thơ mộng.

Việt Nam qua góc nhìn của thi sĩ Mỹ

Nhà thơ Paul Christiansen sinh năm 1986, quốc tịch Mỹ, tốt nghiệp cử nhân Đại học St Olaf và có bằng thạc sĩ nghệ thuật Đại học Quốc tế Florida (Mỹ).

Nhận học bổng chương trình Fulbright, anh sang Quy Nhơn năm 2015 rồi sau đó chuyển hẳn đến Việt Nam làm việc. Anh hiện là Giám đốc Nội dung của tạp chí Saigoneer và đang miệt mài chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Thơ của Paul Christiansen đã xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật uy tín như Atlanta Review, Pleiades, Quarter After Eight, Threepenny Review, Zone Three và đã đoạt hai giải thưởng thi ca của Viện Hàn Lâm Thi Ca Mỹ.

Tài năng của Trần Thị NgH trong vai trò dịch giả

Chịu trách nhiệm chuyển ngữ tập bút ký của Christiansen là Trần Thị NgH - nữ văn sĩ từng gây tiếng vang với những truyện ngắn được viết trước 1975. Năm 2012, nhiều truyện ngắn của Trần Thị NgH được tập hợp lại thành sách và giới thiệu với độc giả trong nước, như Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn, Nhăn Rúm và các truyện ngắn khác. Vào năm 2018, tác phẩm gần đây nhất của bà là Ác tính được xuất bản, gây xôn xao văn đàn. 

Vắng bóng một thời gian trong tư cách người cầm bút, Trần Thị NgH bất ngờ trở lại với cuốn sách Dưới Tán Chò Nâu, nhưng trong một vai trò mới: dịch giả.

Đọc qua phần mục lục, ta có thể thấy tài năng của Trần Thị NgH qua việc chuyển ngữ những tiêu đề tiếng Anh sang tiếng Việt rất mượt mà:

  • SỞ THÚ SÀI GÒN – Vẫn yêu dù có thế nào (On Loving the Saigon Zoo Despite Its Flaws)
  • LỤC BÌNH: Người đẹp thủy sinh, kẻ phá hoại đáng ghét, quân xâm lược xấu xa (An Invasive, Destructive, Beautiful Aquatic Villain)

Bà cũng là người biên dịch nhiều tác phẩm của John Steinbeck, Anton Chekhov, Paolo Giordano, Franck Thilliez, Guillaume Musso,...

Về việc dịch tác phẩm này, bà cho biết: “Thách thức trong khi dịch Paul Christiansen không chỉ đòi hỏi nỗ lực Việt hóa tác phẩm sao cho không còn là văn dịch đồng thời đảm bảo trung thực ý nghĩa từng câu chữ so với bản gốc, mà còn phải làm thế nào để giữ cho được cái giọng châm biếm ở nhiều ngữ cảnh của tác phẩm, đặc biệt giọng văn rất thơ của tác giả”.

Tập bút ký điền dã với nhiều suy tư sâu sắc

Vốn là người yêu thiên nhiên và thơ ca, dễ thấy rằng Paul Christiansen đặc biệt quan tâm đến những điều tạo nên nét đẹp mộc mạc, bình dị của mảnh đất hình chữ S. Tác giả tìm thấy cảm hứng từ việc đi dạo dưới bóng cây râm mát của sở thú, trăn trở về cá voi ngoài đại dương lẫn những con thú bị nhốt trong chuồng, thích thú ngắm nhìn lục bình trôi và những quả chò nâu xoay vòng trong gió…

Những bài viết của Paul Christiansen độc đáo ở chỗ có sự đan xen giữa óc quan sát tinh tế của một nhà thơ và góc nhìn chuyên sâu của một nhà nghiên cứu về những cảnh quan, nghi lễ, sự thật lịch sử vẫn còn bị dân bản địa thờ ơ.

Hai bài viết đầu tiên, Sở thú Sài Gòn, Tạp hóa và cửa hàng tiện lợi, đưa người đọc tái khám phá những địa điểm quen thuộc dưới một lăng kính mới. Trong mắt nhà thơ người Mỹ, ngay cả những dây dầu gội, sữa tắm treo trước các tiệm tạp hóa trông thật lạ lẫm, được anh ví như “rêu bằng nhôm mọc trên cây hay những tấm màn bằng xâu chuỗi để che hậu cảnh”.

Nhưng Paul Christiansen không chỉ khám phá Việt Nam qua những điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nghề nấu rượu, Tục thờ cá Ông, Đồn điền cao su Việt Nam… khai thác những chủ đề tưởng chừng khô khan, khó nhằn thậm chí đối với người bản địa.

Nghề nấu rượu xoay quanh món rượu gạo truyền thống của Việt Nam và những thăng trầm mà người làm rượu theo cách thủ công phải trải qua trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ.

Tục thờ cá Ông viết về tín ngưỡng thờ cúng cá voi ở các làng chài Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời cũng là nỗi băn khoăn của tác giả trước thực tế cá voi đang dần tuyệt chủng.

Đồn điền cao su điểm lại một trang sử bi thương của người Việt Nam, nhìn thẳng vào hệ quả hậu thuộc địa mà các nước thực dân gây ra.

Bảo tàng Địa chất, Lục bình, Chò nâu Sài Gòn viết về những vật, những người vẫn luôn ở đó nhưng dễ bị lãng quên giữa guồng quay cuộc sống: một bảo tàng khiêm tốn nằm ở góc quận 1, thảm xanh lục bình trôi trên sông, hay vẻ đẹp của cây chò nâu mọc ven đường…

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tập bút ký dành cho người yêu Sài Gòn, yêu Việt Nam, và cả những người muốn yêu lại từ đầu với thành phố, với mảnh đất này…

Trích đoạn

“Trong khi tản bộ xuống đường Nguyễn Đình Chiểu, tôi chợt thấy một thác chò đổ tuôn sau cơn gió hè. Những quả khô bay vòng vèo xuống rồi đáp bất lực trên nền bê tông. Vô phương bám rễ, những đôi cánh xụi lơ, giống như vây cá voi sát thủ yếu quặt vì bị giam cầm. Có một thứ gì đó trong tôi cũng tả tơi như thế.”

(trích Chò nâu Sài Gòn)

“… tôi đến viếng bàn thờ cá Ông và thắp một nén nhang cầu xin cho cá voi được trường tồn, cho làng chài được sung túc và cho những ao ước riêng tư của mình thành hiện thực – những khát vọng này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau. Khói nhang bay tỏa lên không trung, giống như tiếng hát cá voi vang vọng vào cõi tĩnh lặng lúc nó ngoi lên từ vực nước thẳm sâu”.

(trích Tục thờ cá Ông)

Nhận xét

Paul Christiansen thích đi bộ để thấy và nghe. Anh lắng nghe tâm tình của động vật và cây cỏ trong Thảo Cầm Viên, ngồi ngắm lục bình trôi trên sông Sài Gòn, mua nhu yếu phẩm từ tiệm tạp hóa góc phố, uống rượu gạo với dân làng chài, thắp nhang vái lạy trước bàn thờ cá Ông làng Phước Hải, băn khoăn về những dòng máu trắng chảy trong rừng cao su thời thuộc địa, ray rứt với từng viên thạch anh trưng bày ở Bảo tàng Địa chất, ngắm nhìn cánh chò xoay xoay trong gió…

– Dịch giả Trần Thị NgH

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng