Trà chiều

Từ Sách đến Phim: Bên nhau trọn đời – Trong dáng em cúi đầu

Tôi tình cờ biết em vào những ngày giữa tháng Một năm nay. Những ngày đó tôi đã bị dìm trong nỗi buồn như đang ở dưới đáy nước sâu bơ vơ không điểm tựa.

Published

on

Tôi muốn đọc Dostoevsky ngay tức khắc để thực hiện điều đã tự hứa với chính bản thân mình cách đây bốn năm. Tôi muốn đọc Dostoevsky để đỡ tủi hờn. Tôi muốn đọc Dostoevsky để tiến gần hơn đến điểm ảo ảnh không thể chạm vào được nữa. Tôi muốn Dostoevsky cho tôi câu trả lời của bốn năm vừa qua, của những gì tôi đang phải trải qua… Nhưng tôi không có sức lực để đọc Dostoevsky. Vẫn là những lí do như bốn năm trước: độ dài, cảm giác sợ hãi khi chạm phải một điều gì đó quá nặng nề, quá sâu… và giờ đây còn có thêm lí do nữa là sợ chạm phải vết thương ngày cũ. Thế là vào tháng Một, tôi vẫn chưa đọc Dostoevsky. Tôi chỉ biết lang thang trên News Feed của Facebook suốt ngày nhìn cuộc sống sinh động của mọi người trôi qua trước mắt. Và rồi tôi bắt gặp em. Tôi không nhớ hình ảnh đầu tiên của em mà mình nhìn thấy nhưng tôi nhớ được cảm giác lúc đó. Khi đang lướt trang vùn vụt qua những hình ảnh, tin tức, status, note… ngón tay lướt chuột của tôi đã dừng lại khi thấy hình em. Tôi dừng một lúc lâu để ngắm nhìn em. Rồi tôi lại click vào hình để có thể nhìn em gần hơn một chút, kĩ hơn một chút. Khuôn mặt khả ái này dường như có gì đó vừa thân quen lại vừa xa lạ. Em trông giống một người tôi đã biết từ lâu. Suy nghĩ một lúc, tôi mới nhận ra em có nét giống Gakky những lúc mặt cúi nghiêng hoặc cười mỉm. Tôi muốn xem phim em đóng để kiểm nghiệm điều này nhưng Bên nhau trọn đời là một phim truyền hình được chuyển thể từ tiểu thuyết ngôn tình mà tôi thì lại không mặn mà lắm với thể loại này. Chẳng lẽ chỉ vì muốn kiểm nghiệm một điều như thế mà mất thời gian xem hết 34 tập phim. Thế là sau khi phim chiếu, tôi chần chừ mãi hơn một tuần vẫn không xem. Tôi cố gắng dành thời gian đó để đọc sách nhưng rồi tôi phát hiện chữ không thể trôi vào đầu mình được nữa. Trong khi đó, hình ảnh em vẫn hiện trên News Feed của tôi, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến em, đến ánh mắt buồn da diết đó… Vì sao ánh mắt ấy lại buồn như thế? Tôi bị cuốn hút bởi khuôn mặt buồn của em còn hơn cả khuôn mặt tươi cười.

Đến một ngày, khi không thể nào kiềm chế được nữa, tôi bắt đầu xem Bên nhau trọn đời tập 1. Tôi nghĩ rằng cứ thử xem tập 1 như thế nào và có thể là chỉ xem tập 1 thôi. Nhưng chỉ trong tập 1, tôi lại bắt gặp ánh mắt đó. Tôi cứ xem đi xem lại nhiều lần phân cảnh Mặc Sênh tình cờ gặp Dĩ Thâm ở siêu thị, ánh mắt em nhìn Dĩ Thâm lúc đó chứa thật nhiều cảm xúc: sững sờ, hoang mang, buồn bã, có chút gì đó chờ đợi, có chút gì đó sợ sệt vì lo lắng người ấy sẽ lạnh nhạt với mình, đồng thời cũng có chút gì đó là niềm vui nhỏ bé thoáng qua khi gặp lại người xưa. Tôi không biết làm sao em có thể diễn được ánh mắt như thế nếu như em không thật sự sống với nhân vật? Trong phim, có rất nhiều cảnh Mặc Sênh buồn bã; ở những phân đoạn như thế, ánh mắt buồn của em có thể giống nhau, có thể không giống nhau nhưng ánh mắt Mặc Sênh nhìn Dĩ Thâm trong lần đầu tiên gặp gỡ sau bảy năm xa cách thì tuyệt nhiên không giống với bất cứ ánh mắt buồn nào của Mặc Sênh sau này. Chính điều đó mà ánh mắt ấy càng quí giá, càng đáng trân trọng, là cảm xúc duy nhất thuộc về khoảnh khắc ấy. Và tôi có thể hiểu rằng em đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình vì quả thực đó chính là một cảnh quan trọng trong câu chuyện này, một khoảnh khắc đáng nhớ với cả hai nhân vật. Đó là lần đầu tiên, tôi thấy đầu em khẽ cúi xuống một chút. Khi Dĩ Thâm lạnh lùng lướt qua em, em không biết làm gì khác ngoài việc đó. Chỉ một cử chỉ nhỏ ấy thôi cũng cho tôi biết rằng em cô đơn, em buồn bã, em tự ti về bản thân mình đến nhường nào.

Và sau đó, tôi đã thấy em cúi đầu rất nhiều lần: những khi em gặp trắc trở trong công việc, những khi em bị sếp hay đồng nghiệp chỉ trích, những khi em bị Dĩ Thâm nạt… Không hiểu sao mỗi khi nhìn em cúi đầu tôi lại thấy… rất thích. Tôi chưa bao giờ thích nhìn thấy ai cúi đầu như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ mình sẽ thích nhìn bất cứ ai cúi đầu. Nói rằng mình luôn muốn nhìn thấy mọi người tươi cười, hạnh phúc thì nghe có vẻ giả tạo nhưng nếu xét đến việc thích nhìn thấy một cảm xúc tiêu cực nào đó thì trước đây, tôi nghĩ rằng mình thích nhìn thấy ai đó khóc. Tôi thích việc ấy không phải vì tôi thích khi nhìn ai đó buồn mà vì tôi thích khi biết người đó không cần phải kiềm chế cảm xúc lúc ở bên cạnh tôi, vì người đó đã tin tưởng cho tôi thấy lúc bản thân yếu đuối nhất, vì khi có thể nhìn thấy một ai đó khóc và đặc biệt là lúc thường người đó lại tỏ ra rất mạnh mẽ thì nghĩa là mối quan hệ giữa tôi và người đó đã trở nên thân thiết hơn. Vì những điều đó mà tôi thích khi có thể nhìn thấy một người khóc trước mặt tôi. Còn cúi đầu thì tôi đã từng nghĩ mình sẽ không thích. Đơn giản vì khi một ai đó cúi đầu nghĩa là người đó đang rất sợ hãi, rất tự ti, rất e dè, cũng có thể là rất buồn… Nhưng nỗi buồn khi cúi đầu rất khác với nỗi buồn khi khóc. Khi cúi đầu, dường như người ta đang muốn thu mình lại, muốn trốn tránh người đối diện, không muốn cho người đối diện thấy những cảm xúc của mình; trong khi khóc thì lại phơi bày hết tất cả nỗi buồn cho đối phương biết. Vậy nên, tôi không thích khi nhìn thấy người khác cúi đầu với mình những lúc buồn. Điều đó nghĩa là họ đang trốn tránh tôi hoặc tôi không thể cho họ cảm giác thoải mái để bộc lộ bản thân. Nhưng vì sao mỗi lần nhìn em cúi đầu, tôi lại cảm thấy thích đến như thế? Dường như dáng vẻ ấy đã chạm đến một điều gì đó sâu trong tâm trí tôi. Cách em cúi đầu dù với nguyên do gì, trong bất cứ trạng huống nào cũng đều không hề cho tôi cảm giác em là người yếu đuối. Có thể em đang là người yếu thế trước mặt mọi người do sự tự ti và cô độc nhưng yếu đuối thì không. Một chút cũng không. Ngược lại, tôi cảm nhận được sự mạnh mẽ sau chính cử chỉ có lẽ dễ bị đánh giá là yếu đuối ấy. Thực tế, tôi khá bất ngờ trước những hành động của em. Với kinh nghiệm xem phim thần tượng từ khoảng mười năm trước, tôi nhận thấy nhân vật nữ chính thường là những cô gái hiền lành, ngây thơ, vô tư, thẳng thắn. Những cô gái ấy nếu đặt trong hoàn cảnh của em thường sẽ phản ánh bằng cách nói thẳng những suy nghĩ của mình, những uất ức của mình mà không chút e dè sẽ làm mất lòng đối phương; nhờ chính sự vô tư đó, chẳng những đối phương không ghét mà ngược lại còn yêu mến. Đó là cách các cô gái ấy thu phục lòng người trong những bộ phim đó. Lúc đầu, trong dáng vẻ em cúi nhìn ấy, tôi đã lầm tưởng em cũng giống các cô gái ấy. Nhưng dần dần tôi phát hiện ra em không hề giống những cô gái ấy. Trong công việc, khi đồng nghiệp hay sếp chỉ trích em, bất kể là em đúng hay em sai, người ta có hiểu lầm hay không, phản ứng đầu tiên của em cũng đều là cúi đầu im lặng, không giải thích nhiều. Dáng vẻ đó không hoàn toàn là dáng vẻ của người yếu thế, tôi cảm nhận đó còn là dáng vẻ của người có trách nhiệm, người sẵn sàng nhận lỗi trong phạm vi công việc của mình cho dù lỗi ấy có thể đến từ nguyên nhân khách quan. Và quả thực, em đúng là như thế. Em không thẳng thắn nói ra những suy nghĩ của mình hay cố gắng tranh cãi lí lẽ khi bị chỉ trích nhưng em lặng lẽ tìm những giải pháp và làm nốt các phần việc còn thiếu sót. Tôi thật sự thích hình ảnh em những lúc đó. Quả thực, đó chính là hình ảnh của người trưởng thành đã trải qua nhiều mất mát trong cuộc đời: dù có những mặc cảm nhất định về bản thân nhưng lại là người điềm tĩnh, có thể kiểm soát tốt cảm xúc của mình, không tranh chấp lí lẽ những chuyện không đáng, biết nhu biết cương.

Dáng vẻ em cúi đầu trước bạn bè hay đồng nghiệp trong công ty cũng khác với dáng vẻ em cúi đầu trước Dĩ Thâm. Khi bị Dĩ Thâm nạt, em sẽ giật mình, có khi run bắn cả người lên và lúc cúi đầu thì hai vai sẽ so lại nhiều hơn, đầu cũng cúi sâu hơn. Nếu như dáng vẻ em cúi đầu trước đồng nghiệp giống như dáng vẻ của người trưởng thành sẵn sàng nhận lỗi, không thèm tranh chấp thì dáng vẻ em cúi đầu trước Dĩ Thâm lại giống dáng vẻ của một đứa trẻ sợ hãi khi biết mình đã phạm phải lỗi lầm rất lớn và đồng thời cũng có dáng vẻ cam chịu của người phụ nữ khi đứng trước người đàn ông mình yêu. Hai dáng vẻ cúi đầu đó rõ ràng khác nhau. Vì vậy, tôi không hề thấy nhàm chán khi nhìn em cúi đầu.

Em biết không, những ngày này tôi lại nhớ đến mùa hè cách đây mười mấy năm, mùa hè khi tôi học lớp 8. Tôi nhớ da diết mùa hè năm đó. Bây giờ, nếu có thể quay ngược thời gian thì tôi sẽ chọn mùa hè năm đó. Lúc ấy, tôi còn nhỏ, tôi còn khỏe mạnh, tràn đầy sức sống, không chút bệnh tật, dù có một nỗi buồn rất lớn luôn đeo bám mỗi ngày nhưng tôi biết mình muốn làm điều gì và tôi say mê làm theo điều ấy mà chẳng hề bận tâm kết quả sẽ ra sao. Mùa hè năm ấy tôi đã học tiếng Trung cùng chị tôi trong một ngôi trường nằm cạnh nhà thờ. Tôi không bao giờ muốn quên không khí những buổi tối đi học đầu tiên, những bài giảng đầu tiên, những khái niệm đầu tiên về tiếng Quan Thoại, những nét bút đầu tiên tôi say sưa tập viết chữ Hán… Ở thời điểm đó, việc học tiếng Trung đã cứu rỗi tôi rất nhiều: mùa hè của tôi trở nên sinh động hơn, có gì đó để yêu da diết, có gì đó làm động lực để cố gắng. Tôi còn nhớ mỗi lần tập viết xong một trang giấy, tôi đều ngừng lại ngắm nhìn một chút trước khi qua trang mới và nghĩ rằng chữ Hán thật đẹp. Dù chỉ là ba tháng hè ngắn ngủi, tôi còn nhớ ngày đó mình đã yêu chữ Hán giống như một người bạn, một người tình, một người quan trọng mà chỉ cần mỗi ngày tôi có thể biết thêm chút gì về người đó là tôi rất vui, mỗi lần học thêm được chữ mới là tôi lại phấn khích vô cùng. Chữ Hán thật đẹp em nhỉ… Có lẽ cũng nhờ ba tháng hè chăm chỉ học tiếng Trung ấy mà sau này nhiều năm, khi bắt đầu học tiếng Nhật, tôi không quá bỡ ngỡ khi bắt đầu học những chữ Hán người Nhật sử dụng. Ngược lại, càng học tôi càng nhớ tiếng Trung vô cùng. Lúc bắt đầu học, mỗi lần bắt gặp một chữ quen thuộc tôi luôn nghĩ từ này trong tiếng Trung đọc như thế này, tại sao người Nhật lại đọc thành như thế này? Tôi mang tâm trạng đó khoảng một năm đầu tiên khi học tiếng Nhật và sau đó thì dần dần tôi mới hết tâm trạng này. Nguyên nhân tôi chỉ học tiếng Trung ba tháng là vì khi vào lại năm lớp 9, mẹ muốn tôi nghỉ học để tập trung ôn thi tốt nghiệp. Tôi đã luôn tự nhủ khi tốt nghiệp cấp 2, việc đầu tiên mình làm sẽ là tiếp tục học tiếng Trung. Nhưng rốt cuộc, tôi đã dừng lại cho đến bây giờ. Và ba tháng ngắn ngủi đó trở thành ba tháng duy nhất tôi học tiếng Trung. Cũng vì hối tiếc sự dở dang đó mà khi bắt đầu học tiếng Nhật, tôi đã quyết tâm phải học đến nơi đến chốn, không thể để có thêm một sự dang dở nào nữa.

Quay lại mùa hè năm nay.

Bây giờ, tôi đã khác với tôi của mùa hè năm lớp 8 rất nhiều. Tôi yếu đuối hơn, sức khỏe kém hơn, bệnh nhiều hơn, ngủ nhiều hơn, làm việc ít hơn, động não suy nghĩ cũng ít hơn, buồn nhiều hơn, tự ti nhiều hơn. Vậy nên, tôi cần nhiều nguồn năng lượng hơn, cần nhiều niềm an ủi hơn, cần nhiều sự ấm áp hơn. Và tôi đã tìm được em giữa tháng Một năm nay lúc tôi đang tuyệt vọng nhất. Khi xem phim của em, tôi đã phần nào có được điều tôi cần. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra nhờ ngắm nhìn em vào tháng Một, tôi đã có năng lượng để bắt đầu đọc Dostoevsky suốt từ tháng Hai đến tháng Năm: Lũ người quỉ ám, Là bóng hay là hình, Bút kí dưới hầm, Tội ác & Trừng phạt… Tôi đã muốn đọc nốt Anh em nhà Karamazov…, đọc hết tất cả những tác phẩm của Dostoevsky mà tôi có thể đọc bằng tiếng Việt trước sinh nhật năm nay. Nhưng cuối cùng, tôi đã không thực hiện được điều đó. Vẫn còn hai tác phẩm của Dostoevsky tôi chưa đọc. Tháng Sáu, tháng Bảy tôi đã mệt nhoài. Tôi đọc những quyển sách khác. Và tháng Tám thì tôi đổ gục hoàn toàn. Không còn một chút năng lượng để đọc sách nữa dù lòng rất muốn. Tôi lại nhớ đến em. Không chịu nổi nữa. Và tôi lại tự dễ dãi cho phép bản thân mình giải trí. Tôi biết rằng một khi tôi quyết định xem phim truyền hình giải trí, tôi sẽ trải qua những tâm trạng như thư giãn, say mê rồi sau đó là buồn bã, hối tiếc giá như mình đã dành thời gian đó để đọc sách hoặc nếu có xem phim thì cũng phải xem phim điện ảnh nghệ thuật cho đỡ tiếc. Nhưng trải qua tháng Một gian khó năm nay và tháng Hai đến tháng Năm miệt mài đọc Dostoevsky, tôi biết rằng có thể tôi sẽ chẳng học được gì khi xem một phim truyền hình giải trí nhưng tôi sẽ có được sự ấm áp, nguồn năng lượng tôi cần phải có để tiếp tục những điều tôi muốn làm. Có lẽ đó cũng là giá trị của một tác phẩm giải trí: nó khiến ta hoàn toàn thư giãn. Nhưng tôi sẽ cố gắng để bản thân mình không lún sâu vào sự dễ dãi như lúc trước nữa. Chỉ là mệt quá dừng chân nghỉ lại một lúc thôi. Nó là những trạm dừng của tôi, không phải bến đỗ. Tôi phải luôn ghi nhớ điều này. Và tôi sẽ lại đọc sách vào tháng Chín, những cuốn sách tôi đã muốn đọc từ lâu, những cuốn sách không phải cho tôi sự giải trí, thư giãn, cảm xúc mà là suy nghĩ, tra vấn, học hỏi. Chúng ta sẽ lại tạm chia tay nhau. Và năm sau chúng ta gặp lại.

Những ngày hè cuối cùng của năm nay đã gần kết thúc.

Trong dáng em cúi đầu, tôi thấy một nỗi buồn ấm áp, một hạnh phúc nhỏ bé đang khẽ rơi vào lòng mình.

Đường Đường… cảm ơn em vì đã đến.

Hết.

Freegene


Bài viết cùng chủ đề



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng