Trà chiều

Từ bức ảnh lưu lại khuôn mặt cái chết của Marcel Proust

Tôi vẫn sẽ lưu giữ khuôn mặt ông khoảnh khắc rời xa trần thế đó mãi mãi. Chỉ là bây giờ, tôi cần phải sống. Sống thật trọn vẹn.

Published

on

Tôi đã 24 tuổi được 8 ngày.

Lẽ ra tôi phải viết những dòng này cách đây 8 ngày. Rốt cuộc, vì quá nhiều việc xảy đến mà bây giờ tôi mới viết được.

Bắt đầu từ năm tôi 16 tuổi, mỗi năm vào sinh nhật mình, tôi luôn tự viết cho bản thân mình vài dòng. Tùy mỗi năm mà mục đích mỗi khác nhau: có năm viết là nhớ lại những sự kiện bao giờ muốn quên trong tuổi ấy, có năm viết là để tự an ủi bản thân, có năm viết như lời nhắn nhủ gửi đến người thân yêu, cũng có năm viết là để hoạch định các việc muốn làm trong một tuổi mới… Nhưng năm nay, có lẽ tôi sẽ dành những dòng trong sinh nhật của mình để suy nghĩ về cái chết.

Trước sinh nhật tôi 5 ngày, cụ thể là ngày 10.7, hôm ấy là sinh nhật Marcel Proust. Tôi vẫn chưa kịp đọc dòng nào cuốn Đi tìm thời gian đã mất của ông nhưng lần đầu tiên, chỉ nghe mỗi cái tên ấy thôi đã gợi trong lòng tôi biết bao hoài niệm, sự đồng cảm. Một cảm giác mơ hồ nào đó rằng mình đồng chất với người này. Rồi khi biết Proust sinh ngày 10.7 cũng là Cự Giải – tôi vỡ òa ra vì hiểu nguyên nhân nào khiến tôi có cảm giác vô hình được kết nối với ông. Tôi đã hân hoan đến mức chỉ nhớ 10.7 là sinh nhật ông mà quên mất ngày ấy cũng là sinh nhật của Alice Munro. Ồ, trước đây tôi luôn tự ti vì mình là Cự Giải. Bây giờ vẫn thế. Nhưng nếu có một chút gì thuộc về Cự Giải khiến cho tôi cảm thấy tự hào thì chính là việc có rất nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc cung Cự Giải. Tôi chỉ mới phát hiện điều đó vào năm ngoái. Tôi có thể kể những cái tên như: Hermann Hesse, Wislawa Szymborska, Pablo Neruda, Hemingway, Marcel Proust, Franz Kafka, Alice Munro, Pearl. S Buck, Henry David Thoreau, George Orwell, Yann Martel, Amelie Nothomb, Jean Cocteau, Antoine de Saint-Exupéry, Erich Maria Remarque, E.B White, Jacques Derrida… Họa sĩ thì có Frida Kahlo, Gustav Klimt, Marc Chagall. Những người truyền cảm hứng thì có Hellen Keller, Kito Aya… Với danh sách cũng khá dài như thế thì chẳng có gì khiến tôi phải tự ti cả. Cự Giải có thể không nhiều nhân tài như những cung khác hấu như tất cả nhân tài Cự Giải đều tập trung vào lĩnh vực văn chương. Lẽ ra, tôi nên vững tâm một chút vào sự lựa chọn của mình khi có hậu thuẫn niềm tin từ việc cùng cung hoàng đạo với họ. Cách đây một năm, tôi đã rất hồ hởi, vui vẻ, phấn khởi khi nhìn danh sách này. Nhưng bây giờ, điều này chẳng còn quan trọng và ý nghĩa gì với tôi nữa. Họ là họ. Tôi là tôi. Tìm kiếm sự an ủi trong những việc linh tinh như thế này chỉ làm hư bản thân thêm thôi. Tôi phải nhớ mục tiêu sơ khởi của mình, ước mơ tối thượng của mình, không bao giờ được quên nó, không bao giờ được nản lòng, phải thật cố gắng và kiên tâm.

Tôi lại tiếp tục đi một đường vòng với lối nói chuyện dông dài của mình. Quay về sinh nhật Marcel Proust. Vâng, hôm sinh nhật Proust tôi đã tìm hình của ông, trong đó tôi tìm được hình ông nằm nhắm mắt ngay khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời. Nếu không có dòng chú thích, tôi đã không nghĩ đó là bức hình chụp một người đã chết. Lúc ấy, tôi cứ nghĩ đó là hình ảnh của ông khi nằm ngủ thôi, một giấc ngủ bình thường, không mộng mị. Trông khuôn mặt ông thật yên bình, thanh thản làm sao… Nhưng rồi nhìn vào đôi mắt có vệt thâm quầng ấy, tôi thấy được sự mệt mỏi. Trong sự thanh thản vẫn có vương một chút gì đó sự mệt mỏi. Cả hai trạng thái đó đều nằm trên khuôn mặt của ông lúc ấy thoáng ẩn thoáng hiện hệt như một biển hiệu quảng cáo hễ xoay chiều thì nhìn ra một bức khác vậy. Có khi tôi nhìn thấy sự mệt mỏi và chỉ mỗi sự mệt mỏi. Có khi tôi nhìn thấy sự thanh thản và chỉ mỗi sự thanh thản. Có khi tôi nhìn thấy cả hai thứ cùng một lúc… Nhưng không chỉ có ba trạng thái này. Nó chỉ là ba điểm mốc cơ bản trong chuỗi trạng thái biến thiên những cảm xúc của tôi khi nhìn bức hình ấy. Và vì thế mà tôi mê mẩn. Tôi lưu hình ông chết vào điện thoại và ngắm mỗi tối trước khi ngủ để mong tìm được giấc ngủ bình yên cũng như ông vậy. Tôi biết ông có một đời sống đau khổ, ông chết khá trẻ. Nhưng dù sao khi ông chết, khuôn mặt ông đã có sự thanh thản, an yên, không vướng chút gì sự đau khổ, dằn vặt của những năm tháng dài tuổi trẻ trước đó cả. Chỉ một chút sự mệt mỏi nhẹ nhàng thoáng qua mà thôi. Nhưng ấy là sự mệt mỏi có thể chữa lành. Tôi muốn sau này mình cũng có thể có một giấc ngủ bình yên như thế. Bây giờ, mỗi khi ngủ, hầu như lúc nào tôi cũng nằm mơ. Việc đó mang lại cho tôi nhiều cảm hứng nhưng đồng thời cũng làm đầu óc tôi mệt mỏi mỗi khi tỉnh dậy.

Tôi cứ nghĩ việc mình ngắm hình Marcel Proust chết trước khi ngủ sẽ kéo dài mãi.

Nhưng rồi cách đây vài ngày, tôi đã xóa hết hình ông chết trong điện thoại.

Không phải vì tôi không còn yêu mến hình ảnh ấy nữa. Tôi vẫn sẽ lưu giữ khuôn mặt ông khoảnh khắc rời xa trần thế đó mãi mãi. Chỉ là bây giờ, tôi cần phải sống. Sống thật trọn vẹn. Không như vài năm trước, tôi chẳng ép mình phải cố gắng sống tích cực nữa. Cũng không như một số năm, tôi hài lòng với việc đắm chìm trong vũng bùn ngập ngụa sự tiêu cực của mình. Bây giờ, chỉ đơn giản là tôi muốn sống thật trọn vẹn một ngày, những điều đã xảy ra trong một ngày tôi muốn thu nhận nó thật trọn vẹn: nếu là buồn thì phải thật buồn trong khoảnh khắc ấy, lặn xuống thật sâu trong lòng để xem hình dáng nỗi buồn của mình như thế nào; nếu là vui, phải thật sự tận hưởng khoảnh khắc ấy hết mình, không một chút đắn đo, hoài nghi, nhớ về quá khứ, so sánh… làm tỉ thứ khác khiến niềm vui bị cản trở. Đơn giản là thế thôi.

Bởi vì, vào ngày 15.7 ấy – cái ngày mà tôi chỉ biết nó là sinh nhật mình, hi vọng nó sẽ trôi qua tốt đẹp… tôi đã không biết được rằng đó là ngày cuối cùng người thầy kính yêu của tôi còn làm việc tại cơ quan. Ngày hôm sau, thầy xin nghỉ phép để vào bệnh viện điều trị. Và ngày hôm sau nữa…thầy đã ra đi. Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn chưa thể chấp nhận việc này. Một người tốt và tử tế đến thế như thầy… tại sao cuộc đời lại bất công vậy? Ngày cuối cùng tôi còn được trò chuyện với thầy là vào khoảng cuối tháng 3, lúc đó thầy đã biết mình bị bệnh, lúc đó có lẽ thầy đang rất đau, vậy mà tôi đã không nhận ra, không một chút mảy may nhận ra điều gì… Sao tôi có thể vô tâm như thế chứ? Tôi giận bản thân mình lắm. Ở cuộc gặp cuối cùng ấy, thầy vẫn như mọi khi, hiền hòa, chia sẻ, hỏi những câu gợi ý để tôi nói và rồi lắng nghe tôi, và rồi dịu dàng mỉm cười… vẫn như rất nhiều lần trước đây. Thầy hỏi tôi gần đây nhất đề tài quan tâm mà tôi đã viết là gì. Tôi nói là cung hoàng đạo. Nhưng bây giờ, tôi đã không còn quan tâm về cung hoàng đạo, tôi không muốn mình quá dễ dãi khi viết, dự án sắp tới của tôi sẽ là một đề tài khác. Thầy vẫn mỉm cười lắng nghe. Ấy thế mà tôi vẫn quan tâm cung hoàng đạo nên sẵn dịp vội hỏi thầy:“Thầy ơi, thầy sinh ngày mấy?” “Em hỏi để coi bói cho thầy hả?” “Không phải đâu thầy. Em rất muốn biết cung hoàng đạo của thầy nhưng em cũng muốn biết sinh nhật của thầy để sau này chúc mừng sinh nhật thầy nữa. Năm nào thầy cũng chúc mừng sinh nhật em, vậy mà đến giờ em vẫn chưa biết sinh nhật thầy…” “Em không cần biết đâu. Điều đó không cần thiết. Thầy cũng không tin vào cái gọi là số mệnh. Vậy nên thầy chẳng tin tử vi phương Đông lẫn tử vi phương Tây.”

Khi thầy mất, tôi đọc bản tin cáo phó thông báo và biết được ngày sinh nhật của thầy. Nhưng điều đó quá muộn màng rồi, có còn ý nghĩa gì nữa vào lúc ấy đâu. Khoảnh khắc đó, khi hỏi sinh nhật thầy, tôi thật sự muốn biết con người quá đỗi tuyệt vời ấy chào đời vào ngày mấy, tôi thật sự tin rằng chỉ cần thầy nói một lần là tôi sẽ nhớ mãi và cứ hằng năm đến sinh nhật thầy, tôi sẽ chúc mừng thầy, sẽ cho thầy biết rằng tôi nhớ đến thầy vào ngày thầy sinh ra đời. Tôi thật sự muốn làm điều đó với thầy. Bởi vì thầy đã nhớ sinh nhật tôi, thầy đã luôn động viên, khuyến khích tôi viết, sáng tạo; thầy giúp tôi nhiều đến mức tôi cảm thấy cần phải cố gắng phấn đấu hơn nữa để không phụ lòng thầy; mỗi lúc buồn và nghĩ mình viết thật tệ, tôi lại tìm về đọc những bức thư của thầy, suy nghĩ về những điều thầy gửi gắm để đừng bao giờ bỏ cuộc… thầy đã đem lại cho tôi một nguồn khích lệ lớn đủ để tôi biết mình chẳng thể từ bỏ việc viết. Tôi khao khát một ngày nào đó những thứ tôi viết không chỉ khiến thầy hài lòng mà còn tự hào nữa. Tôi thật sự rất muốn chúc mừng sinh nhật thầy. Tôi đã nghĩ thầy sẽ dễ dàng cho tôi biết ngày sinh nhật như bao người khác; tuy nhiên hôm đó, dù thầy vẫn nói rất nhẹ nhàng nhưng cũng đủ khiến tôi có cảm giác cố gặng hỏi thêm thầy cũng sẽ không nói. Và tôi đã không thể ngờ rằng có ngày tôi cũng biết được sinh nhật thầy nhưng lại trong hoàn cảnh như thế này, hoàn cảnh oái oăm hoàn toàn không có trong đầu tôi. Nhớ lại cuộc nói chuyện ngày hôm ấy, tôi đã buồn và hiểu vì sao thầy nói thế. Thầy không tin vào số mệnh. Khoảnh khắc khi thầy nói điều ấy, tôi cảm giác thầy tràn đầy sức sống, thầy sẵn sàng làm tất cả mọi điều mình muốn, thầy mạnh mẽ làm sao… Nhưng tôi đã không biết được, chính giây phút ấy, mầm bệnh trong cơ thể thầy vẫn đang dần lan rộng làm cơ thể thầy suy yếu từng chút một mỗi ngày… Tôi sẽ chẳng bao giờ còn được chúc thầy sinh nhật vui vẻ nữa… Tôi vẫn không thể tin mình sẽ chẳng còn thể gặp được thầy dù chỉ một lần nào nữa trong cuộc đời này. Tôi vẫn luôn hình dung thầy còn ở đó, thầy ngồi trong văn phòng xung quanh toàn sách, thầy sẽ rất chậm rãi hỏi tình hình của tôi dạo này thế nào, thầy sẽ cười mỉm thật hiền, thầy sẽ phân tích rồi gợi ý cho tôi biết đâu là những điều tôi nên làm, thầy sẽ chỉ cho tôi biết những thói quen cần phải duy trì để viết tốt hơn, thầy luôn dặn tôi phải cẩn trọng với những gì mình viết, viết xong phải đọc sửa đi sửa lại nhiều lần, phải chờ một khoảng thời gian lâu, khi mình đã dần quên văn bản rồi đọc lại một lần nữa để thấy điểm nào không ổn, thầy sẽ nói rằng cần phải đọc thật nhiều và tập viết mỗi ngày, thầy sẽ hỏi tôi thích đọc sách nào, thầy sẽ lục tìm trong những cuốn sách vây quanh thầy cuốn nào tôi cần rồi đưa cho tôi, thầy sẽ nói nếu sau này cần thêm sách để đọc nữa mà không có tiền mua thì cứ đến tìm thầy, thầy sẽ nói nếu rảnh rỗi thi hôm nào mình sẽ nói chuyện nhiều hơn… Vậy mà bây giờ, tất cả những điều đó sẽ không bao giờ lặp lại nữa. Tôi chỉ còn có thể tái lập nó bằng cách nhớ lại. Nhưng tất cả cũng không bằng nụ cười trên khuôn mặt thầy.

Ngày ông ngoại tôi mất vì ung thư, tôi đã không khóc. Đám tang ông tôi cũng không khóc. Tôi đã nghĩ mình không thể khóc khi thấy quá nhiều người khóc. Tại đám tang của thầy, tôi cũng không khóc. Tôi vẫn nghĩ mình sẽ không khóc. Nhưng vừa vào nhà vệ sinh, có khoảng riêng tư cho mình, tôi đã khóc một chút. Rồi thì về đến nhà, tôi vừa ăn trưa vừa khóc. Không thể nào kìm nén nổi những giọt nước mắt để ăn cho tròn chén cơm qua bữa. Ăn xong tôi về phòng và khóc nhiều hơn, không cần phải kìm nén nữa, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc cho đến khi mệt rồi ngủ.

Thầy không còn nữa, tôi mới biết việc thực sự mãi mãi không được gặp một người mình yêu mến nó kinh khủng thế nào. Vậy mà tôi lại nỡ nào nói câu đó với một người rất đặc biệt trong lòng tôi. Tuổi trẻ của chúng ta có nhiều hoang mang, lầm lỡ, những đổ vỡ và khi chia tay với người ta yêu, vì sự tổn thương, tự trọng, cả suy nghĩ muốn tốt cho tương lai nữa mà ta hay nói: “Chúng mình đừng bao giờ gặp nhau nữa.” Lẽ ra, đó là một câu không nên nói cho dẫu trong tình huống như thế. Bởi việc không bao giờ gặp lại một người nào đó, nó thật sự kinh khủng. Việc có thể sống trên đời này, có cơ duyên gặp nhau trong kiếp người hữu hạn này là một điều rất đỗi quí giá, cần phải trân trọng. Cho dẫu, có lẽ không còn cùng người ấy đi đoạn đường dài phía trước nữa thì cũng không nên nói điều đó. Chia tay có lẽ chỉ cần một nụ cười tạm biệt nhẹ nhàng và chúc nhau sống tốt là đủ.

Thầy ra đi, trong nỗi buồn mất thầy, tôi lại nhớ người ấy. Nhớ da diết. Và rồi lòng tôi nhẹ nhàng vì người ấy vẫn còn sống, vẫn còn tồn tại trên cuộc đời này. Tôi lại nhớ đến câu hát trong bài Your song của Elton John: “How wonderful life is, now you’re in the world.” Phải rồi, chỉ mỗi việc người ấy vẫn đang sống cũng đủ khiến cho cuộc đời này vẫn còn tươi đẹp. Dù không còn được gặp người ấy nữa nhưng chỉ cần nghĩ đến việc ở đâu đó người ấy vẫn đang sống, vẫn đang cố gắng mỗi ngày… điều ấy cũng đã khiến tôi cảm thấy ấm áp. Tôi mong những nguồn năng lượng sống sẽ luôn căng tràn trong người ấy để mỗi ngày với người đều là một ngày mới để sáng tạo, sáng tạo ra những phần cuộc đời khiến người thấy hạnh phúc khi sống trong nó. Và tôi vẫn muốn nói một lần nữa: “Ich liebe dich, meine schöne Wassermann.” Cảm ơn cuộc đời vì đã cho tôi gặp người ấy.

Tôi sẽ mãi nhớ đến thầy. Tôi biết điều đó.

Và trong tuổi 24 này, dù không liệt kê ra danh sách cụ thể những việc cần làm như năm trước nhưng tôi muốn dù mình có làm điều gì đi chăng nữa thì cũng đừng bao giờ đánh mất sự nghiêm túc, đừng bao giờ dễ dãi. Tôi muốn mình sẽ luôn nhớ những điều tâm huyết mà thầy đã dạy cho tôi. Tôi muốn một ngày nào đó mình có thể mỉm cười vì đã không đi chệch lí tưởng, ước mơ mà bản thân mình đặt ra. Tôi muốn ở tuổi này tôi sẽ bình tâm lại không viết gì nữa mà dành thời gian để đọc, đọc thật nhiều hết mức có thể. Và học nữa. Cố sức thu nhặt lấy những kiến thức mà tôi nghĩ là cần thiết, những kiến thức giúp tôi sẽ không phải cô đơn dù ở một mình.

“Chỉ cần thực lòng yêu một người, cuộc đời sẽ được cứu rỗi.”

Tôi cứ lặp đi lặp lại mãi câu nói ấy của Aomame. Và tôi thực sự tin tưởng điều ấy. Chỉ cần trong lòng luôn có hình bóng một người, rồi cố gắng, cố gắng… chắc chắc cuộc đời sẽ ổn.

Cố gắng lên nhé tôi!

Phải đọc thật nhiều hơn nữa.

Happy belated birthday, myself.

Hết.

K

1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng