Trà chiều

Từ bức ảnh lưu lại khuôn mặt cái chết của Marcel Proust

Tôi vẫn sẽ lưu giữ khuôn mặt ông khoảnh khắc rời xa trần thế đó mãi mãi. Chỉ là bây giờ, tôi cần phải sống. Sống thật trọn vẹn.

Published

on

Tôi đã 24 tuổi được 8 ngày.

Lẽ ra tôi phải viết những dòng này cách đây 8 ngày. Rốt cuộc, vì quá nhiều việc xảy đến mà bây giờ tôi mới viết được.

Bắt đầu từ năm tôi 16 tuổi, mỗi năm vào sinh nhật mình, tôi luôn tự viết cho bản thân mình vài dòng. Tùy mỗi năm mà mục đích mỗi khác nhau: có năm viết là nhớ lại những sự kiện bao giờ muốn quên trong tuổi ấy, có năm viết là để tự an ủi bản thân, có năm viết như lời nhắn nhủ gửi đến người thân yêu, cũng có năm viết là để hoạch định các việc muốn làm trong một tuổi mới… Nhưng năm nay, có lẽ tôi sẽ dành những dòng trong sinh nhật của mình để suy nghĩ về cái chết.

Trước sinh nhật tôi 5 ngày, cụ thể là ngày 10.7, hôm ấy là sinh nhật Marcel Proust. Tôi vẫn chưa kịp đọc dòng nào cuốn Đi tìm thời gian đã mất của ông nhưng lần đầu tiên, chỉ nghe mỗi cái tên ấy thôi đã gợi trong lòng tôi biết bao hoài niệm, sự đồng cảm. Một cảm giác mơ hồ nào đó rằng mình đồng chất với người này. Rồi khi biết Proust sinh ngày 10.7 cũng là Cự Giải – tôi vỡ òa ra vì hiểu nguyên nhân nào khiến tôi có cảm giác vô hình được kết nối với ông. Tôi đã hân hoan đến mức chỉ nhớ 10.7 là sinh nhật ông mà quên mất ngày ấy cũng là sinh nhật của Alice Munro. Ồ, trước đây tôi luôn tự ti vì mình là Cự Giải. Bây giờ vẫn thế. Nhưng nếu có một chút gì thuộc về Cự Giải khiến cho tôi cảm thấy tự hào thì chính là việc có rất nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc cung Cự Giải. Tôi chỉ mới phát hiện điều đó vào năm ngoái. Tôi có thể kể những cái tên như: Hermann Hesse, Wislawa Szymborska, Pablo Neruda, Hemingway, Marcel Proust, Franz Kafka, Alice Munro, Pearl. S Buck, Henry David Thoreau, George Orwell, Yann Martel, Amelie Nothomb, Jean Cocteau, Antoine de Saint-Exupéry, Erich Maria Remarque, E.B White, Jacques Derrida… Họa sĩ thì có Frida Kahlo, Gustav Klimt, Marc Chagall. Những người truyền cảm hứng thì có Hellen Keller, Kito Aya… Với danh sách cũng khá dài như thế thì chẳng có gì khiến tôi phải tự ti cả. Cự Giải có thể không nhiều nhân tài như những cung khác hấu như tất cả nhân tài Cự Giải đều tập trung vào lĩnh vực văn chương. Lẽ ra, tôi nên vững tâm một chút vào sự lựa chọn của mình khi có hậu thuẫn niềm tin từ việc cùng cung hoàng đạo với họ. Cách đây một năm, tôi đã rất hồ hởi, vui vẻ, phấn khởi khi nhìn danh sách này. Nhưng bây giờ, điều này chẳng còn quan trọng và ý nghĩa gì với tôi nữa. Họ là họ. Tôi là tôi. Tìm kiếm sự an ủi trong những việc linh tinh như thế này chỉ làm hư bản thân thêm thôi. Tôi phải nhớ mục tiêu sơ khởi của mình, ước mơ tối thượng của mình, không bao giờ được quên nó, không bao giờ được nản lòng, phải thật cố gắng và kiên tâm.

Tôi lại tiếp tục đi một đường vòng với lối nói chuyện dông dài của mình. Quay về sinh nhật Marcel Proust. Vâng, hôm sinh nhật Proust tôi đã tìm hình của ông, trong đó tôi tìm được hình ông nằm nhắm mắt ngay khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời. Nếu không có dòng chú thích, tôi đã không nghĩ đó là bức hình chụp một người đã chết. Lúc ấy, tôi cứ nghĩ đó là hình ảnh của ông khi nằm ngủ thôi, một giấc ngủ bình thường, không mộng mị. Trông khuôn mặt ông thật yên bình, thanh thản làm sao… Nhưng rồi nhìn vào đôi mắt có vệt thâm quầng ấy, tôi thấy được sự mệt mỏi. Trong sự thanh thản vẫn có vương một chút gì đó sự mệt mỏi. Cả hai trạng thái đó đều nằm trên khuôn mặt của ông lúc ấy thoáng ẩn thoáng hiện hệt như một biển hiệu quảng cáo hễ xoay chiều thì nhìn ra một bức khác vậy. Có khi tôi nhìn thấy sự mệt mỏi và chỉ mỗi sự mệt mỏi. Có khi tôi nhìn thấy sự thanh thản và chỉ mỗi sự thanh thản. Có khi tôi nhìn thấy cả hai thứ cùng một lúc… Nhưng không chỉ có ba trạng thái này. Nó chỉ là ba điểm mốc cơ bản trong chuỗi trạng thái biến thiên những cảm xúc của tôi khi nhìn bức hình ấy. Và vì thế mà tôi mê mẩn. Tôi lưu hình ông chết vào điện thoại và ngắm mỗi tối trước khi ngủ để mong tìm được giấc ngủ bình yên cũng như ông vậy. Tôi biết ông có một đời sống đau khổ, ông chết khá trẻ. Nhưng dù sao khi ông chết, khuôn mặt ông đã có sự thanh thản, an yên, không vướng chút gì sự đau khổ, dằn vặt của những năm tháng dài tuổi trẻ trước đó cả. Chỉ một chút sự mệt mỏi nhẹ nhàng thoáng qua mà thôi. Nhưng ấy là sự mệt mỏi có thể chữa lành. Tôi muốn sau này mình cũng có thể có một giấc ngủ bình yên như thế. Bây giờ, mỗi khi ngủ, hầu như lúc nào tôi cũng nằm mơ. Việc đó mang lại cho tôi nhiều cảm hứng nhưng đồng thời cũng làm đầu óc tôi mệt mỏi mỗi khi tỉnh dậy.

Tôi cứ nghĩ việc mình ngắm hình Marcel Proust chết trước khi ngủ sẽ kéo dài mãi.

Nhưng rồi cách đây vài ngày, tôi đã xóa hết hình ông chết trong điện thoại.

Không phải vì tôi không còn yêu mến hình ảnh ấy nữa. Tôi vẫn sẽ lưu giữ khuôn mặt ông khoảnh khắc rời xa trần thế đó mãi mãi. Chỉ là bây giờ, tôi cần phải sống. Sống thật trọn vẹn. Không như vài năm trước, tôi chẳng ép mình phải cố gắng sống tích cực nữa. Cũng không như một số năm, tôi hài lòng với việc đắm chìm trong vũng bùn ngập ngụa sự tiêu cực của mình. Bây giờ, chỉ đơn giản là tôi muốn sống thật trọn vẹn một ngày, những điều đã xảy ra trong một ngày tôi muốn thu nhận nó thật trọn vẹn: nếu là buồn thì phải thật buồn trong khoảnh khắc ấy, lặn xuống thật sâu trong lòng để xem hình dáng nỗi buồn của mình như thế nào; nếu là vui, phải thật sự tận hưởng khoảnh khắc ấy hết mình, không một chút đắn đo, hoài nghi, nhớ về quá khứ, so sánh… làm tỉ thứ khác khiến niềm vui bị cản trở. Đơn giản là thế thôi.

Bởi vì, vào ngày 15.7 ấy – cái ngày mà tôi chỉ biết nó là sinh nhật mình, hi vọng nó sẽ trôi qua tốt đẹp… tôi đã không biết được rằng đó là ngày cuối cùng người thầy kính yêu của tôi còn làm việc tại cơ quan. Ngày hôm sau, thầy xin nghỉ phép để vào bệnh viện điều trị. Và ngày hôm sau nữa…thầy đã ra đi. Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn chưa thể chấp nhận việc này. Một người tốt và tử tế đến thế như thầy… tại sao cuộc đời lại bất công vậy? Ngày cuối cùng tôi còn được trò chuyện với thầy là vào khoảng cuối tháng 3, lúc đó thầy đã biết mình bị bệnh, lúc đó có lẽ thầy đang rất đau, vậy mà tôi đã không nhận ra, không một chút mảy may nhận ra điều gì… Sao tôi có thể vô tâm như thế chứ? Tôi giận bản thân mình lắm. Ở cuộc gặp cuối cùng ấy, thầy vẫn như mọi khi, hiền hòa, chia sẻ, hỏi những câu gợi ý để tôi nói và rồi lắng nghe tôi, và rồi dịu dàng mỉm cười… vẫn như rất nhiều lần trước đây. Thầy hỏi tôi gần đây nhất đề tài quan tâm mà tôi đã viết là gì. Tôi nói là cung hoàng đạo. Nhưng bây giờ, tôi đã không còn quan tâm về cung hoàng đạo, tôi không muốn mình quá dễ dãi khi viết, dự án sắp tới của tôi sẽ là một đề tài khác. Thầy vẫn mỉm cười lắng nghe. Ấy thế mà tôi vẫn quan tâm cung hoàng đạo nên sẵn dịp vội hỏi thầy:“Thầy ơi, thầy sinh ngày mấy?” “Em hỏi để coi bói cho thầy hả?” “Không phải đâu thầy. Em rất muốn biết cung hoàng đạo của thầy nhưng em cũng muốn biết sinh nhật của thầy để sau này chúc mừng sinh nhật thầy nữa. Năm nào thầy cũng chúc mừng sinh nhật em, vậy mà đến giờ em vẫn chưa biết sinh nhật thầy…” “Em không cần biết đâu. Điều đó không cần thiết. Thầy cũng không tin vào cái gọi là số mệnh. Vậy nên thầy chẳng tin tử vi phương Đông lẫn tử vi phương Tây.”

Khi thầy mất, tôi đọc bản tin cáo phó thông báo và biết được ngày sinh nhật của thầy. Nhưng điều đó quá muộn màng rồi, có còn ý nghĩa gì nữa vào lúc ấy đâu. Khoảnh khắc đó, khi hỏi sinh nhật thầy, tôi thật sự muốn biết con người quá đỗi tuyệt vời ấy chào đời vào ngày mấy, tôi thật sự tin rằng chỉ cần thầy nói một lần là tôi sẽ nhớ mãi và cứ hằng năm đến sinh nhật thầy, tôi sẽ chúc mừng thầy, sẽ cho thầy biết rằng tôi nhớ đến thầy vào ngày thầy sinh ra đời. Tôi thật sự muốn làm điều đó với thầy. Bởi vì thầy đã nhớ sinh nhật tôi, thầy đã luôn động viên, khuyến khích tôi viết, sáng tạo; thầy giúp tôi nhiều đến mức tôi cảm thấy cần phải cố gắng phấn đấu hơn nữa để không phụ lòng thầy; mỗi lúc buồn và nghĩ mình viết thật tệ, tôi lại tìm về đọc những bức thư của thầy, suy nghĩ về những điều thầy gửi gắm để đừng bao giờ bỏ cuộc… thầy đã đem lại cho tôi một nguồn khích lệ lớn đủ để tôi biết mình chẳng thể từ bỏ việc viết. Tôi khao khát một ngày nào đó những thứ tôi viết không chỉ khiến thầy hài lòng mà còn tự hào nữa. Tôi thật sự rất muốn chúc mừng sinh nhật thầy. Tôi đã nghĩ thầy sẽ dễ dàng cho tôi biết ngày sinh nhật như bao người khác; tuy nhiên hôm đó, dù thầy vẫn nói rất nhẹ nhàng nhưng cũng đủ khiến tôi có cảm giác cố gặng hỏi thêm thầy cũng sẽ không nói. Và tôi đã không thể ngờ rằng có ngày tôi cũng biết được sinh nhật thầy nhưng lại trong hoàn cảnh như thế này, hoàn cảnh oái oăm hoàn toàn không có trong đầu tôi. Nhớ lại cuộc nói chuyện ngày hôm ấy, tôi đã buồn và hiểu vì sao thầy nói thế. Thầy không tin vào số mệnh. Khoảnh khắc khi thầy nói điều ấy, tôi cảm giác thầy tràn đầy sức sống, thầy sẵn sàng làm tất cả mọi điều mình muốn, thầy mạnh mẽ làm sao… Nhưng tôi đã không biết được, chính giây phút ấy, mầm bệnh trong cơ thể thầy vẫn đang dần lan rộng làm cơ thể thầy suy yếu từng chút một mỗi ngày… Tôi sẽ chẳng bao giờ còn được chúc thầy sinh nhật vui vẻ nữa… Tôi vẫn không thể tin mình sẽ chẳng còn thể gặp được thầy dù chỉ một lần nào nữa trong cuộc đời này. Tôi vẫn luôn hình dung thầy còn ở đó, thầy ngồi trong văn phòng xung quanh toàn sách, thầy sẽ rất chậm rãi hỏi tình hình của tôi dạo này thế nào, thầy sẽ cười mỉm thật hiền, thầy sẽ phân tích rồi gợi ý cho tôi biết đâu là những điều tôi nên làm, thầy sẽ chỉ cho tôi biết những thói quen cần phải duy trì để viết tốt hơn, thầy luôn dặn tôi phải cẩn trọng với những gì mình viết, viết xong phải đọc sửa đi sửa lại nhiều lần, phải chờ một khoảng thời gian lâu, khi mình đã dần quên văn bản rồi đọc lại một lần nữa để thấy điểm nào không ổn, thầy sẽ nói rằng cần phải đọc thật nhiều và tập viết mỗi ngày, thầy sẽ hỏi tôi thích đọc sách nào, thầy sẽ lục tìm trong những cuốn sách vây quanh thầy cuốn nào tôi cần rồi đưa cho tôi, thầy sẽ nói nếu sau này cần thêm sách để đọc nữa mà không có tiền mua thì cứ đến tìm thầy, thầy sẽ nói nếu rảnh rỗi thi hôm nào mình sẽ nói chuyện nhiều hơn… Vậy mà bây giờ, tất cả những điều đó sẽ không bao giờ lặp lại nữa. Tôi chỉ còn có thể tái lập nó bằng cách nhớ lại. Nhưng tất cả cũng không bằng nụ cười trên khuôn mặt thầy.

Ngày ông ngoại tôi mất vì ung thư, tôi đã không khóc. Đám tang ông tôi cũng không khóc. Tôi đã nghĩ mình không thể khóc khi thấy quá nhiều người khóc. Tại đám tang của thầy, tôi cũng không khóc. Tôi vẫn nghĩ mình sẽ không khóc. Nhưng vừa vào nhà vệ sinh, có khoảng riêng tư cho mình, tôi đã khóc một chút. Rồi thì về đến nhà, tôi vừa ăn trưa vừa khóc. Không thể nào kìm nén nổi những giọt nước mắt để ăn cho tròn chén cơm qua bữa. Ăn xong tôi về phòng và khóc nhiều hơn, không cần phải kìm nén nữa, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc cho đến khi mệt rồi ngủ.

Thầy không còn nữa, tôi mới biết việc thực sự mãi mãi không được gặp một người mình yêu mến nó kinh khủng thế nào. Vậy mà tôi lại nỡ nào nói câu đó với một người rất đặc biệt trong lòng tôi. Tuổi trẻ của chúng ta có nhiều hoang mang, lầm lỡ, những đổ vỡ và khi chia tay với người ta yêu, vì sự tổn thương, tự trọng, cả suy nghĩ muốn tốt cho tương lai nữa mà ta hay nói: “Chúng mình đừng bao giờ gặp nhau nữa.” Lẽ ra, đó là một câu không nên nói cho dẫu trong tình huống như thế. Bởi việc không bao giờ gặp lại một người nào đó, nó thật sự kinh khủng. Việc có thể sống trên đời này, có cơ duyên gặp nhau trong kiếp người hữu hạn này là một điều rất đỗi quí giá, cần phải trân trọng. Cho dẫu, có lẽ không còn cùng người ấy đi đoạn đường dài phía trước nữa thì cũng không nên nói điều đó. Chia tay có lẽ chỉ cần một nụ cười tạm biệt nhẹ nhàng và chúc nhau sống tốt là đủ.

Thầy ra đi, trong nỗi buồn mất thầy, tôi lại nhớ người ấy. Nhớ da diết. Và rồi lòng tôi nhẹ nhàng vì người ấy vẫn còn sống, vẫn còn tồn tại trên cuộc đời này. Tôi lại nhớ đến câu hát trong bài Your song của Elton John: “How wonderful life is, now you’re in the world.” Phải rồi, chỉ mỗi việc người ấy vẫn đang sống cũng đủ khiến cho cuộc đời này vẫn còn tươi đẹp. Dù không còn được gặp người ấy nữa nhưng chỉ cần nghĩ đến việc ở đâu đó người ấy vẫn đang sống, vẫn đang cố gắng mỗi ngày… điều ấy cũng đã khiến tôi cảm thấy ấm áp. Tôi mong những nguồn năng lượng sống sẽ luôn căng tràn trong người ấy để mỗi ngày với người đều là một ngày mới để sáng tạo, sáng tạo ra những phần cuộc đời khiến người thấy hạnh phúc khi sống trong nó. Và tôi vẫn muốn nói một lần nữa: “Ich liebe dich, meine schöne Wassermann.” Cảm ơn cuộc đời vì đã cho tôi gặp người ấy.

Tôi sẽ mãi nhớ đến thầy. Tôi biết điều đó.

Và trong tuổi 24 này, dù không liệt kê ra danh sách cụ thể những việc cần làm như năm trước nhưng tôi muốn dù mình có làm điều gì đi chăng nữa thì cũng đừng bao giờ đánh mất sự nghiêm túc, đừng bao giờ dễ dãi. Tôi muốn mình sẽ luôn nhớ những điều tâm huyết mà thầy đã dạy cho tôi. Tôi muốn một ngày nào đó mình có thể mỉm cười vì đã không đi chệch lí tưởng, ước mơ mà bản thân mình đặt ra. Tôi muốn ở tuổi này tôi sẽ bình tâm lại không viết gì nữa mà dành thời gian để đọc, đọc thật nhiều hết mức có thể. Và học nữa. Cố sức thu nhặt lấy những kiến thức mà tôi nghĩ là cần thiết, những kiến thức giúp tôi sẽ không phải cô đơn dù ở một mình.

“Chỉ cần thực lòng yêu một người, cuộc đời sẽ được cứu rỗi.”

Tôi cứ lặp đi lặp lại mãi câu nói ấy của Aomame. Và tôi thực sự tin tưởng điều ấy. Chỉ cần trong lòng luôn có hình bóng một người, rồi cố gắng, cố gắng… chắc chắc cuộc đời sẽ ổn.

Cố gắng lên nhé tôi!

Phải đọc thật nhiều hơn nữa.

Happy belated birthday, myself.

Hết.

K

1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Sinh ra trên đầu một cọng lông

Published

on

Triết học quen thuộc và gần gũi nhất với nhiều sinh viên Việt Nam là triết học Marx-Lenin. Karl Marx sống dậy chắc phải hết hồn trước sự thật này, vì ông từng tuyên bố: “Triết học dùng để nghiên cứu thế giới thực cũng tương tự như thủ dâm trong tình dục.”

“Triết học” (philosophy) là từ gốc Hy Lạp, nghĩa đen là “tình yêu dành cho trí tuệ”. Nhưng sau khi dự một lớp triết ở đại học, với những tư liệu sản xuất, kiến trúc thượng tầng, lượng đổi dẫn đến chất đổi… với đa số người, triết học trở thành “tình yêu dành cho sự chán ngắt”.

Ngoài Karl Marx, Lenin còn có Socrates, Plato…; ngoài đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tư bản còn có cách để sống một cuộc đời ý nghĩa, làm thế nào để đương đầu với khổ đau… Triết học thật sự là một thế giới mầu nhiệm và thiết thân cho cuộc sống, hơn là một nhúm kiến thức học thuộc lòng để làm bài kiểm tra qua môn.

Nhà triết học trong cuốn Sophie’s World ví vũ trụ như con thỏ trắng vừa được lôi ra từ chiếc mũ ảo thuật, và tất cả con người thoạt tiên được sinh ra trên đầu những cọng lông thỏ và có thể chiêm ngưỡng trò ảo thuật kì diệu của thế giới. Nhưng càng lớn lên, con người càng tụt sâu xuống bộ lông thỏ và mất khả năng ngạc nhiên trước mọi sự. Thế giới trở nên hiển nhiên và cũ rích. Một đứa trẻ ra đời, hạnh phúc một tang gia, một tiếng chim hót, một con bướm bay, một giọt sương đọng trên lá chẳng còn làm ai mảy may xúc động. Cùng nhìn một thế giới nhưng người lớn thì buồn rầu, còn trẻ con thì sung sướng.

Triết học, vì thế, đưa người ta trở lại thành đứa trẻ, luôn trong trạng thái truy vấn và sửng sốt trước cuộc đời. Socrates – một trong những triết gia thông thái nhất của Hy Lạp cổ đại từng nói: “Có duy nhất một thứ tôi biết, đó là tôi không biết gì.” Không có gì mới dưới mặt trời, nhưng dưới con mắt hạn hẹp của con người, thế giới đầy những điều chưa biết.

Đặc biệt, trong thế giới công nghệ, với dòng thông tin luân chuyển vô tận, mọi thứ càng trở nên bớt chắc chắn: tin giả, thuyết âm mưu, ngụy biện, ngụy khoa học. Điều gì là đúng, điều gì là sai, làm cách nào mình tin một điều là đúng hay sai trở thành những câu hỏi khó trả lời. Thiếu một bộ hướng dẫn đạo đức để hành động đúng, mình dễ lẫn lộn giữa những giá trị thực và ảo, giữa những điều quan trọng và những thứ vụn vặt.

Đi làm để kiếm tiền, yêu đương để thấy mình có giá trị, làm việc tốt để được tán dương. Đến khi mất việc, mất người yêu, mất người hâm mộ, những gì mình từng tin là đúng, là cần thiết, là đáng để sống vì, đột nhiên trở nên vô giá trị, cuộc đời hóa thành bông hoa không màu. Lúc này, triết học có thể trở thành chốn nương nhờ. Triết học có thể giúp mình nhận chân những giá trị thực, truy tìm mục đích sống trong một thế giới giờ đây đã trở nên vô nghĩa lý.

Viktor Frankl – nhà thần kinh học, triết gia và là người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đã tìm được sự an ủi từ triết học trong thời gian sống trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Trở đi trở lại trong cuốn tự truyện Man’s Search For Meaning của ông là câu nói của Nietzsche: “He who has a why to live for can bear almost any how.” Khi mình tìm được ý nghĩa trong những khổ đau không thể nào tránh khỏi thì cuộc đời vẫn đáng để sống.

Giới thiệu sách đọc để tìm “why” và leo lên lại sợi lông thỏ:

Sophie’s World – Jostein Gaarder (bản dịch tiếng Việt: Thế giới của Sophie): Một cuốn lịch sử triết học viết dưới dạng tiểu thuyết. Cô bé Sophie mười bốn tuổi bất ngờ nhận được một khóa triết học qua thư từ một triết gia bí ẩn. Vì những bài học trong sách viết để một cô bé có thể hiểu nên chắc ai đọc cũng hiểu.

A Little History of Philosophy – Nigel Warburton (mình nhớ là có bản dịch tiếng Việt): Một cuốn sơ lược về triết học viết rất hài. “Nếu bạn là một kẻ hoài nghi (skeptic) bạn sẽ cần những người bạn trung thành để giữ mình sống sót, vì bạn luôn tìm cách đâm đầu xuống vực vì không tin là mình sẽ chết.” (trích một câu trong sách)

A Short History of Nearly Everything – Bill Bryson (bản dịch tiếng Việt: Lược sử vạn vật): Cái tên nói lên nội dung rồi. Đây không phải là sách về triết nhưng đọc để thấy thế giới đầy những chuyện kì lạ và mắc cười. Billy là một trong những tác giả yêu thích nhất của mình: dí dỏm, duyên dáng và hài hước chết người. Aaa, mình dùng nhiều tính từ quá nhưng mà đọc đi chắc sẽ thích.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Chờ đợi ánh mặt trời

Hiện thực của chúng ta luôn có độ trễ, vậy tại sao không thể nhẫn nại với nhau hơn?

Published

on

Tháng Hai là thời gian lý tưởng để ngắm hoàng hôn ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Trời trong, ít khói bụi, nắng thường dịu và hiếm có mưa, độ ẩm không khí trung bình. Tôi chỉ cần tìm một địa điểm phù hợp, nơi có hướng nhìn về phía Tây thật thoáng đãng và an toàn, yên vị trong khoảng từ 5 giờ rưỡi tới 6 giờ tối. Nếu tôi ở lại thành phố này vào dịp Tết, ngắm hoàng hôn rơi xuống đường chân trời dường như là một nghi thức không thể thiếu. Và năm nay, tôi đã thông thạo các bước thực hành tới mức không còn phải đuổi theo ánh mặt trời nữa, tôi có thể chờ.

Mặt trời cách xa Trái Đất 147.86 triệu km; và ánh sáng từ mặt trời mất trung bình 8 phút 3, theo NASA, để tới được bề mặt hành tinh này. Vậy nên, ánh hoàng hôn mà tôi đang thấy đã là quá khứ của mặt trời. Giai đoạn hoàng hôn đẹp nhất thường diễn ra khá chóng vánh, dù có lẽ được cảm nhận tùy theo góc nhìn của từng người, nhưng cũng khó lòng nhiều hơn 20 phút. Hãy tưởng tượng, khi ta đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng và trầm mặc của tấm nền cam thẫm trước mắt, mặt trời thực chất đã tiến sang phía kia địa cầu rồi. Khung cảnh ta đang thấy, xét theo nghĩa đen, chỉ là một ảo ảnh.

Hiện thực ta cảm nhận luôn có độ trễ, ít hoặc nhiều. Bởi ánh sáng phản chiếu từ sự vật mất thời gian để tới với thị giác, thị giác mất thời gian truyền tín hiệu cho não, còn não lại là bộ máy phân tích và xử lý dữ liệu cực kỳ cồng kềnh. Cảm nhận về hiện thực không chỉ lệch so với chính hiện thực, mà còn méo theo cách nhào nặn của sơ đồ cảm xúc và nhà kho ký ức của từng người. Với chừng ấy biến số, thật khó để nói hiện thực tóm lại là gì và bây giờ là bao giờ? Cảm ơn Shiba đã chia sẻ video được chèn link phía trước với chị.

Hiểu được điều này ở góc nhìn khoa học giúp tôi dễ thấm hơn cái gọi là “xỏ chân vào đôi giày của người khác”, dù làm sao tôi có thể xâm nhập ý thức của bất cứ ai để cảm nhận hiện thực trong não họ cơ chứ?

Lấy ví dụ, tôi từng bất an khi phải nhìn những vật thể có sự kết hợp của màu trắng và đỏ tươi do một kỷ niệm xấu thuở nhỏ; chấn thương tâm lý khiến tôi khước từ viên kẹo Alpenliebe vị sữa dâu, dù với đa số trẻ con, đó là món quà ngọt hấp dẫn. Bạn có khó hiểu khi một người tỏ ra sợ viên kẹo sữa dâu không? Nếu ta chấp nhận rằng hiện thực chủ quan của mỗi cá nhân đều là độc nhất và có độ vênh với hiện thực khách quan, mọi rối loạn tâm lý dường như đều trở nên hợp lý; không phải tính bất biến, đồng đều mà chính cái xáo động và khác biệt mới là bình thường – một bình thường mới.

Với tôi, hoàng hôn đẹp từ tận lúc mặt trời còn trên cao thế này cơ.

Càng nhìn rõ được điều này, tôi càng nhẫn nại. Tôi có thể ngồi đó, giữa khe hở thời gian, ở đường biên của mỗi tích tắc để tập quan sát trong thinh lặng. Mặt trời đang rơi xuống sau những tòa nhà của thành phố, các bạn tôi đang chạy trên bánh xe thời gian và vòng xoáy tiến hóa của họ, cũng như tôi. Tôi có thể chờ đợi mà không cảm thấy bứt rứt hay hối hả, cứ như tôi đã ở nơi thời gian dài ra gấp mười, hai mươi lần.

“Kỳ Lân ạ, cả thế giới này đang hối thúc em gấp gáp lên đi, đồng hồ sinh lý đang quay với tốc độ ngày một chóng mặt. Nhưng chị mong em sẽ không phải cuống cuồng chạy như bị ma đuổi sau lưng và cũng không phải nuối tiếc những ngày quá vãng. Chị mong em có thể cẩn thận ghé qua từng căn phòng trên hành lang ký ức đó, vặn tay nắm để ngó vào xem ở trong có đủ những món em cần chưa. Chị mong em có thể ở lại mỗi nơi lâu hơn chút, để lỗ hổng trong lòng dần được lấp đầy và hiện thực cảm nhận ấy hằn sâu vào tâm trí. Để sau này, dù em có ra khỏi hành lang ký ức và rẽ qua con đường hướng tới tương lai, cơ thể em sẽ đầy đặn như chưa từng bị rách một miếng nào cả; và chỉ cần em nhắm mắt lại, căn phòng ký ức sẽ luôn hiện ra trọn vẹn, huy hoàng hệt như ngày đầu tiên”.

Thời gian không tuyến tính. Trước đây – bây giờ – sau này có thật sự được đo bằng tuổi tác sinh lý của chúng ta không? Có phải chúng không tách biệt mà luôn song song, đan xen, va đập không ngừng?

Tôi sẽ có gấp mười, hai mươi, ba mươi lần thời gian… để tiếp tục suy ngẫm về chúng.

https://youtu.be/hvFoVGXVaxs

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Đuổi theo ánh mặt trời

Tôi đã dành nửa giờ đồng hồ của buổi chiều tháng Hai để đuổi theo ánh mặt trời.

Published

on

Hoàng hôn giống như tuổi 20, thường trôi qua chỉ trong chớp mắt. Mặt trời chỉ tròn lẳn và dịu dàng trong mười mấy phút của buổi chiều tàn. Thế nên tôi đã chạy, chạy như điên quanh những cung đường ngoằn ngoèo của quận 2. Tôi lên cầu và xuống cầu, áo khoác bay phần phật trong gió, mắt dõi theo ánh mặt trời.

Tôi đi chậm lại ở một đôi chỗ, nhưng đó vẫn chưa phải địa điểm thích đáng nhất. Có vài người dừng để chụp ảnh, nhưng tôi không. Tôi tự gào lên trong tâm trí: “Không phải chỗ này, đây chưa phải chỗ tốt nhất”. Và cứ thế phóng đi vội vã.

Đuổi theo ánh mặt trời, cho đến hôm nay, lần cuối cùng tôi làm việc này là lúc nào?

Tôi không thể nhớ nổi, cũng như đã quên đi rất nhiều điều quan trọng khác.

Mặt trời trôi dần về phía Tây, ánh sáng màu cam rực lên rồi tỏa ra khắp thiên không và trên mặt nước. Tầng trời cao hơn phủ sắc xanh lam dịu, mịn và xưa cũ như nước ảnh màu của những năm 70.

“Trong khoảng thời gian mặt trời nằm ở phần thấp trên đường chân trời, quãng đường các tia sáng mặt trời phải chiếu xuyên qua bầu khí quyển dài hơn 30%. Những ánh sáng có bước sóng ngắn như tím và xanh da trời bị tán xạ nhiều, chỉ còn những ánh sáng có bước sóng dài hơn như vàng, da cam, đỏ ít bị tán xạ được truyền đến mắt người”. Đây là cách lý giải dễ hiểu về màu sắc hoàng hôn của thuyết tán xạ Rayleigh.

Còn đây, là cách tôi biết mặt trời hôm nay sẽ trôi dần về phía Tây từ bao giờ.

Khi nhìn về phía quả cầu lửa giữa Thái Dương hệ ấy, tôi cảm thấy bản thân thật trơ trọi. Giống như khi ngước mắt lên nhìn bầu trời với hàng triệu ngôi sao vào đêm hay tình cờ bắt gặp trăng xanh trên đường về nhà. Trong khoảnh khắc, cuộc đời tôi trở nên thật kém nghĩa lý.

Vũ trụ đã hình thành từ hàng chục tỷ năm trước và vũ trụ sẽ còn đó sau khi tôi chết rất lâu nữa. Mọi suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, trải nghiệm… của tôi ở hiện tại này rồi sẽ hóa thành tro bụi và rã ra từng phân tử trong chỉ một thế kỷ. 

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi không còn là tôi hôm nay. Tôi lại là cô bé mười tuổi ngẩn ngơ dùng chiếc điện thoại nắp gập của bố chụp ánh hoàng hôn rơi trên cánh đồng. Bố đã dùng tấm ảnh ấy làm hình nền trong thời gian dài. Sau đó ông rời bỏ tôi. Và giờ đây ông trở về. Nhưng bức ảnh xưa đã vĩnh viễn mất đi cùng một phần con người tôi, không thể vãn hồi được nữa.

Ánh mặt trời của buổi chiều tàn ngự trị trong mọi mảng ký ức rời rạc về tuổi thơ. Những ngày Hè muộn khi đài tiếng nói cất lên tiếng nhạc hiệu não lòng, hoàng hôn chảy xuống sau những tán cây rậm rạp. Tôi bám lấy bức tường màu vàng tróc lở và mải miết nhìn về phía đó, mồ hồi nhớp nháp trên trán.

Ánh sáng hoàng hôn lướt qua ống điếu và đôi bàn tay đồi mồi của ông nội, tràn lên bộ lông đen óng của con Mun và phủ thêm lớp màu đỏ rực trên khoảnh sân gạch nung. 

Vài năm sau, tôi chảy nước mắt với 40 lần hoàng hôn xoay vòng ở hành tinh B612 của Hoàng Tử Bé. Cậu thật cô đơn.

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi thấy rõ hơn bao giờ cảm giác lạc lõng trong thế giới này. Chỉ có tôi và mặt trời đang dần biến mất sau những tòa nhà, những dãy núi, những cánh đồng…

Nhưng cảm giác lạc lõng ấy không đi kèm với nỗi buồn. Không có nỗi buồn nào cả. Chỉ có sự thanh thản.

Dù là trên cây cầu của thành phố phồn hoa nhất hay giữa nghĩa địa của một làng quê, hoàng hôn nhắc tôi nhớ rằng số mệnh cuối cùng của con người là đơn độc. Chúng ta đi qua chặng đường dài với những mối liên kết tạm bợ và chết một mình. Phía trước và phía sau đều như thế, vòng tròn rắn cắn đuôi của Auryn hay vòng tròn loang nét mực của Karma, không có gì đổi khác.

Thế nên cuối cùng, tôi dừng lại ở nơi thích đáng nhất và nghe trọn vẹn bản The Sower with Setting Sun của Clint Mansell. 

https://www.youtube.com/watch?v=kJ8sg9akQNI

Tôi chụp một tấm ảnh khi đã nguôi đi hơi thở gấp gáp vì vội đuổi theo ánh mặt trời, thong thả đi một vòng quanh thành phố này trước khi về tổ.

Có lẽ tài năng lớn nhất của tôi chính là tự xoa dịu bản thân, tự làm lành với quá khứ và không chờ đợi bất kỳ sự hỗ trợ khách quan nào khác. 

Năm mới của tôi đã bắt đầu như thế. Một mình, đuổi theo ánh mặt trời.

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng