Sáng tác

Truyện ngắn: Người mẹ trong công viên (Emmanuelle Pagano)

Published

on

Vào những ngày Chủ nhật, tôi luôn muốn kéo mẹ ra công viên chơi. Mẹ lại thích đến bờ sông hơn nhưng không phải để đi tắm nắng mà là kiếm nơi nào đó ít người lai vãng. Những chốn bình yên. Tôi thì ngược lại, chỉ muốn mở trận đá banh với lũ bạn. Đối với mẹ, chốn thanh bình là nơi bà có thể yên lặng đọc sách. Bà chưa bao giờ chơi đùa với tôi, thảng hoặc mới nói vài câu và cũng chẳng mấy khi ra lời với người khác trừ khi cần thiết hoặc nói chuyện với đám con. Tôi là đứa út ít trong ba cậu nhóc – những cậu bé con đang tuổi ăn tuổi quậy.

Mẹ không thích công viên vì ở đấy đông người, nhưng thực ra không chỉ vì vậy, cũng chẳng phải vì bà muốn ở một mình mà bởi những người ở công viên này nhếch nhác hơn ở nơi khác. Họ lấm lem, hơi thở khò khè, thơ thơ thẩn thẩn và hay quấy rầy dai dẳng. Tất cả đều nghèo rớt mùng tơi, nghèo tới mức chẳng có nổi tấm bằng lái chứ chưa nói gì đến xe hơi. Cứ đến ngày chủ nhật, họ lại dạt về công viên, xúm xít quanh gốc cây chanh sừng sững, bao quanh là những băng ghế nguệch ngoạc hình vẽ graffiti. Trên các băng ghế gỗ chằng chịt những dòng chữ sai lỗi chính tả nhưng trên lớp vỏ cây cứng cáp thì tuyệt không thấy gì. Đám trẻ hiếu động rượt nhau chạy vòng quanh ghế, nhảy tót lên rồi chui xuống lăn lộn dưới gầm. Tôi rất muốn nhập hội với chúng, còn mẹ thì muốn tôi vui nên bà chiều lòng đưa tôi ra đây, bỏ lại cái êm đềm của dòng sông, âm thanh dịu dàng, đều đều của làn gió, tiếng sột soạt của những trang sách giở ra và âm thanh cô đơn của những trận đá banh một-cầu-thủ. Kết quả chung cuộc, mẹ lúc nào cũng nhượng bộ gật đầu. Mẹ sẽ ngồi dưới tán cây, tay ôm quyển sách mà bà biết rằng chẳng đời nào đọc nổi giữa không khí chộn rộn này, nhưng bà hạnh phúc khi thấy tôi cười ngoác miệng và nhiệt tình nhập hội với đám bạn.

Chủ nhật hôm ấy, bọn trẻ ra công viên khá đông. Chúng chơi đùa dưới sự giám sát của những ông bố bà mẹ đầy vẻ nghi ngại. Nhưng dưới tán cây chanh, vẫn có vài người trẻ tuổi hơn không dắt theo trẻ nhỏ, họ nằm ườn trên ghế, đánh một giấc ngon lành từ khuya hôm trước đến tận trưa hôm sau, dùng chân canh chừng chú chó cưng và những lon bia. Tôi có thể nhận ra cái nhìn dè dặt, sợ sệt trên khuôn mặt mẹ khi bà cố tìm chỗ ngồi càng xa họ càng tốt. Trong số đó, có một người thức giấc, với vẻ chán nản và sầu đời đã bắt chuyện với mẹ. Bà đáp trả với cung cách lịch sự, rằng bà muốn đọc sách và bắt đầu mở sách ra đọc thật. Mẹ giục tôi lấy banh ra khỏi giỏ (một trái bóng rổ và một trái bóng đá) rồi đi làm quen với những bạn khác. Chẳng khác gì tôi, chúng cũng đang ôm một mớ banh và háo hức tìm “đồng đội”. Nhưng tôi muốn nói chuyện với Jérémie hơn. Bác ấy vừa mới tự giới thiệu và chìa đôi tay rám nắng ra, nhờ vậy tôi mới biết tên bác. Bác đang tìm đứa con trạc tuổi anh tôi (bác nói với mẹ: Cô biết không, con tôi cũng lớn cỡ thằng bé nhà cô) và mẹ đã tìm được nó. Trông bác Jérémie có vẻ tử tế và thận trọng. Nhưng nếu bác muốn “đá lông nheo” với mẹ thì dứt khoát phải bước qua ải của tôi đã. Bác bắt đầu giải thích cho tôi về những kiểu rê bóng, chuyền bóng, tất tần tật về bóng đá và bóng rổ, thậm chí rất nhiều thứ chẳng “dây mơ rễ má” gì tới hai món này, chẳng hạn như thể thao sẽ dạy cho ta nhiều bài học về cuộc sống: lòng vị tha, tinh thần đồng đội, chơi đẹp, tuân thủ đúng luật, biết sống hòa đồng với người khác. Bác còn tâm sự với tôi về chuyện đời, về quãng đời đã qua với tấm bằng nghiên cứu thể thao bị xếp xó, về công việc của một huấn luyện viên nhiều môn thể thao và những vấn đề ngổn ngang. Tôi dám chắc rằng thật ra, bác đang kể những chuyện này cho mẹ tôi nghe chứ chẳng phải nói với tôi, nhưng chỉ sau mấy phút, bác đã trở thành ông bạn già chí thân của tôi ở chốn công viên này.

Mẹ vẫn cố chăm chú vào cuốn sách, thỉnh thoảng, bà thoáng liếc qua trông chừng tôi, thật nhanh và kín đáo để Jérémie không tài nào bắt được ánh mắt của mẹ. Nhưng mỗi lần chạm được ánh mắt đó, bác liền bắt đầu tung ra hàng tá lời khen có cánh về đôi mắt xanh của bà. Đôi mắt mà tôi may mắn được thừa hưởng. Một màu xanh thuần khiết, trong trẻo hơn cả dòng sông ngày nắng ấm, thăm thẳm hơn cả nền trời ngày không gợn áng mây. Đôi mắt sáng thắp sáng khuôn mặt có tuổi vốn đã nhuốm màu thời gian và phiền muộn của bà. Chút cảm giác đố kỵ dấy lên trong lòng tôi nhưng chỉ một chút thôi, vì tôi biết mẹ thương tôi nhất. Tôi biết người đàn ông ấy chẳng đời nào có cơ hội lại gần mẹ. Và tôi tận dụng triệt để sự cô đơn đó để chơi đùa với bác. Vì mẹ có bao giờ muốn chơi với tôi đâu.

Mẹ đã dùng hết kiên nhẫn cho anh chị của tôi nên tôi không nghĩ bà có thể chịu nổi bất kỳ trận bóng nào nữa. Bà chỉ muốn đắm chìm vào những trang sách và đi bộ. Mẹ thích ở bên cạnh tôi, thả bộ cùng với tôi. Mẹ thương tôi. Chỉ là mẹ không ưa thành phố này, không thích những con người thành thị, những con đường và công viên nhếch nhác. Vốn là con gái nông thôn, mẹ luôn tâm sự rằng hy vọng có một lúc nào đó được về thăm quê, trong khi chị em tôi lại bí xị vì chúng tôi thích ở đây hơn, nơi có nhiều cửa hàng và khu phố sầm uất, những cột bóng rổ và khung thành. Theo lời mẹ kể, anh trai tôi từng sống ở một thị trấn thậm chí còn to hơn nữa, một vùng đất trong mơ hay một chốn thần tiên.

Hồi còn bé, mẹ không chơi những trò chơi như chúng tôi bây giờ. Mẹ dành cả ngày mơ mộng dưới gốc cây, mê mải ghép tranh không biết chán, mẹ vẽ và đọc biết bao nhiêu sách. Mẹ sống một mình với ông ngoại ở một nơi xa xôi hẻo lánh, cách chỗ bà ngoại đến mấy tiếng đồng hồ đi đường. Nơi ấy xa lánh chốn thành thị lao xao đến mức bạn có thể biết được lúc nào có người hàng xóm đang đi qua chỉ bằng cách lắng nghe tiếng chân họ bước trên tuyết, đếm từng bước chân – một âm thanh khô, đanh, lạnh lẽo giữa không gian thinh lặng. Mẹ từng nói trên đời này không hề có sự im lặng tuyệt đối mà lúc nào cũng tồn tại những âm thanh tí hon, bị giấu đi và hiếm có thể nhận ra. Mẹ là chuyên gia trong việc cảm nhận những thứ không thể cảm nhận ấy. Toàn bộ tuổi thơ của bà được làm nên từ đó. Mẹ có đôi tay đỏ ửng, nhăn nheo trước tuổi, cứ như thể bà từng là lao công, là công nhân hay nông dân, dù thực tế bà chưa từng làm bất kỳ việc nào trong số đó. Chỉ là bà hiếm khi để mắt săn sóc bản thân, đôi tay, gương mặt, hay mọi thứ liên quan đến dung nhan của mình, bà vô tình đến mức có chút lạ kỳ, như thể mẹ muốn người ta nghĩ rằng mình là một người nào khác. Tôi chăm chú nhìn đôi tay đang cầm quyển sách của mẹ nên bỏ lỡ cú chuyền bóng của bác Jérémie. Chú chó nhỏ của bác bắt đầu sủa vang và nhảy lòng vòng một cách đầy phấn khích.

Sự thiếu tập trung của tôi càng khiến chú chó nhỏ hứng chí, cứ như thể mỗi lần đá hụt của tôi đã chạm vào nút bấm của chiếc điều khiển từ xa có liên kết với thân hình bé nhỏ của chú. Chú chó cắm cúi rượt theo trái bóng bị văng ra với sự ồn ào dư thừa năng lượng. Tôi cũng mải chạy theo sinh vật tí hon tràn trề niềm vui ấy mà quên bẵng mẹ trong chốc lát. Nhưng khi bác Jérémie kể rằng ngày hôm qua, chú chó này đã đánh hơi được mùi của cáo trong thùng rác, tôi liền quay sang mẹ, nở một nụ cười “ẩn ý”. Hồi còn nhỏ, mẹ đã dùng tay không kết liễu một chú cáo để chấm dứt sự đau đớn mà nó phải chịu. Mẹ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về kỷ niệm đó và chúng tôi cũng thường đòi mẹ kể đi kể lại. Có lẽ đối với tôi, việc con cáo có thể đi lạc vào thành phố là một sự kiện khác thường nhưng câu chuyện đó giống như một cách làm lành với mẹ. Mẹ nhìn tôi, cười đáp lại nhưng đưa ngón tay lên miệng, ra dấu tôi nên giữ bí mật của mấy mẹ con. Tôi cũng cảm thấy nên vậy. Mẹ lấy trong giỏ ra một gói bánh snack. Mẹ chưa bao giờ quên mang theo bánh, nước hay sách. Và cả những trái bóng cho tôi nữa.

Tôi chạy lại ngồi cạnh mẹ, và bác Jérémie nỗ lực thêm lần cuối những mong xin được số điện thoại của bà. Bác đưa cho chúng tôi một thùng nước ép táo rồi cuối cùng tạm biệt chúng tôi. Bác đánh thức những người bạn và huýt sáo gọi mấy con chó. Họ đều rời khỏi công viên mà không đóng cổng. Khi họ đi khỏi, một chú chó khác lại đến. Nó có bộ lông trắng, trông có vẻ già nua và đôi chân sau đi khập khiễng. Dù tiếng sủa của nó chẳng ồn ào nhặng xị như mấy cậu chó choai choai nhưng điều đó không ngăn nó nhiệt tình rượt theo trái banh của tôi. Tôi đã ăn xong miếng bánh và mẹ lại cầm sách lên.

Hết.

Phương Hạ dịch

Nguyên tác Mum at the Park (Emmaneulle Pagano), đăng tại Literary Hub.

*

Về tác giả: Emmanuelle Pagano là một tác giả người Pháp. Cô đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có một số tiểu thuyết đã được dịch ra hơn mười thứ tiếng. Cô đạt được nhiều giải thưởng trong văn nghiệp của mình, gần đây nhất là giải thưởng EU về Văn học với tác phẩm Les Adolescents Troglodytes và giải Tiểu thuyết về đề tài sinh thái học của Pháp.

Mum at the Park (tạm dịch Người mẹ trong công viên) là một truyện ngắn nằm trong tuyển tập Faces on the Tip of My Tongue, quyển sách thứ hai của Emmanuelle được dịch sang tiếng Anh, do Sophie Lewis và Jennifer Higgins chuyển ngữ, nhà xuất bản Peirene Press phát hành.

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 4: Chương 2

Published

on

Mùa thu năm 1973, bọn tôi có thể ý thức thứ gì đó kinh tởm lẩn quất ngay ngoài tầm mắt. Chuột đã cảm thấy như có một hòn sỏi trong giày của hắn.

Mùa hè ngắn ngủi đã được tiễn lên đường bởi những ngọn gió chuyển mùa đầu tháng Chín; song có vẻ Chuột vẫn lạc trong vài dấu vết còn sót lại. Vẫn mặc chiếc áo phông cũ, quần jean cắt ngắn, và dép xăng-đan, hắn viếng quán J’s đều đặn hằng ngày, ngồi ở quầy nói chuyện với J và uống bia sệt siêu lạnh. Hắn đã bỏ thuốc năm năm trước, nhưng giờ đang hút lại và cứ kiểm tra đồng hồ mỗi mười lăm phút.

Dường như thời gian đã ngừng lại với Chuột, như thể bất thình lình dòng chảy của nó đã đứt mạch. Chuột chịu không biết sao mọi chuyện lại đã thay đổi. Hắn cũng không biết cách nào để tìm kiếm đầu mối đã đứt ấy. Hắn chỉ có thể dọ dẫm vô định qua mùa thu u ám với một mẩu dây thừng mềm nhão trong tay. Hắn băng qua các đồng cỏ, những con sông cạn, đẩy những cánh cửa. Nhưng sợi dây thừng chẳng dẫn hắn tới đâu cả. Hắn đã bất lực và đơn độc như một mùa đông xám trơ lướt đi trên đôi cánh của nó, hay như một dòng sông chạm trán biển cả. Một ngọn gió ốm yếu đã khởi lên đâu đó, và đang thổi luồng khí ấm áp, quen thuộc mà đã ôm choàng hắn cuốn tới một phía khác của hành tinh.     

Một mùa đã mở cửa và rời gót, trong khi mùa khác đã đi vào qua cánh cửa thứ hai. Bạn có thể chạy tới cánh cửa mở toang kia và gọi to, Chờ chút, có chuyện tôi còn quên chưa nói này! Nhưng chẳng ai ở đấy. Khi bạn khép cửa, quay lại thì đã thấy mùa mới ngồi trên ghế, đang châm thuốc hút rồi. Nếu bạn quên nói với y điều gì, mùa mới bảo, sao bạn không nói tôi nghe đi? Tôi có thể chuyển thông điệp đó khi có cơ hội. Không, ổn cả thôi, bạn nói. Chẳng phải đại sự gì. Tiếng gió đầy phòng. Chẳng phải đại sự gì. Chỉ là mùa kia đã chết và mất tăm thôi.

Ω

Kẻ bỏ trường đại học giàu có và người pha chế Trung-hoa cô quạnh ngồi sánh vai bên nhau, hệt như một cặp vợ chồng già, khi mùa thu đã một lần nữa nhường lối cho mùa đông giá rét.

Mùa thu thực đã luôn là một sự kiện đau buồn. Vài người bạn đã quay về thị trấn trong kì hè giờ đã nói những lời tạm biệt vội vã rồi hướng về các mái nhà mới xa cách của mình mà không chờ tháng Chín đến. Như thể đang băng qua một dòng rẽ nước vô hình, ánh sáng mùa hạ bắt đầu sự biến chuyển tinh tế và khí chất rỡ ràng đã choán đầy thế giới của Chuột trong nhịp mùa ngắn ngủi kia đã biến mất. Hệt như một con lạch đang trôi qua vùng đất cát của mùa thu, phần thừa lại của những giấc mộng hè ấm áp của hắn đã bị thấm hút mất không còn chút dấu vết nào.  

Với J thì mùa thu cũng chẳng vui thú gì. Đến giữa tháng Chín, số khách của anh cũng tụt dốc không phanh. Năm nào cũng thế, nhưng thời điểm gần đây chuyện mất khách là đáng sốc. Cả J lẫn Chuột đều không thể hiểu đằng sau biến cố này là gì. Tất cả điều họ có thể biết là rổ khoai mà J gọt cho món khoai tây chiên vẫn còn đầy nửa lúc đến giờ đóng cửa.

“Chờ vậy,” Chuột an ủi anh. “Rất sớm thôi anh sẽ biết thế nào là bận tởm luôn ấy chứ.”

“Tôi ngạc nhiên đấy,” J nói, có vẻ bất phục. Anh ngồi trên chiếc ghế đẩu đằng sau quầy và bắt đầu gạt lớp bơ bị cháy khỏi khỏi lò nướng bánh mì với chiếc que cời nhọn.

Không ai biết chuyện gì có thể đang chực chờ quanh góc đó.      

Trong khi Chuột lần giở một cuốn sách, J lấy vải khô lau qua những cái chai trên kệ, ngừng một chút để rít điếu thuốc không đầu lọc vắt vẻo giữa những ngón tay chai sần.

Ω

Ý thức của Chuột về thời gian đã bắt đầu tới mức rối rắm ba năm trước. Cùng mùa xuân đó hắn thôi đại học.

 Đã có, dĩ nhiên, một số lí do tại sao hắn rời trường. Những lí do này thảy đều mắc míu với nhau, và khi chúng quá nhiệt, cầu chì nổ bụp. Một số thứ còn lại không thay đổi, một số bị thổi bay thành nhiều mảnh vô danh, một số chết hẳn.

Chuột đã chẳng cố giải thích lí do hắn thôi học. Lời giải thích đúng đắn có thể mất năm giờ đồng hồ hẳn hoi. Bên cạnh đó, nếu hắn giải thích bản thân với một người, sớm thôi mọi người khác mà hắn biết sẽ có thể yêu cầu nghe chuyện của hắn. Từ đó chỉ cần một bước nhỏ là đến việc phải giải thích bản thân hắn với toàn thế giới. Nghĩ đến thôi đã khiến dạ dày Chuột muốn lộn mèo.

“Tôi không thích cách họ cắt cỏ trong sân trường,” hắn sẽ nói vậy khi bị thúc ép.

Thực tế một cô gái đã đến sân trường để kiểm tra. “Với tôi đâu có vẻ tệ thế,” cô nói. “Dù có chút rác đây đó…”

“Là vấn đề thị hiếu thôi,” Chuột trả lời.

Khi tâm trạng Chuột tốt hơn, hắn hé thêm một chút. “Bọn tôi không hợp nhau,” hắn sẽ nói, “tôi và trường lớp.” Rồi hắn sẽ ngậm miệng.

Đấy là chuyện ba năm trước.

Nhưng mọi thứ đều trôi theo dòng cuốn thời gian. Với một nhịp gần như không thể tin nổi. Những thứ từng là một cơn lũ cảm xúc trào cuộn, hung bạo đã đột ngột rút lui, để lại đằng sau một đống thứ hệt như những giấc mộng cũ mèm vô nghĩa.

Chuột đã rời nhà năm hắn vào đại học và chuyển đến một căn hộ cha hắn có lần dùng như một phòng nghiên cứu. Cha mẹ hắn không một lời phản đối việc chuyển đi. Đằng nào họ cũng đã có kế hoạch giao chỗ đó cho cậu con lúc nào đó, và áng chừng nó hẳn sẽ không phải là một chuyện tệ để hắn tự mình trải nghiệm sự gian khổ của cuộc đời một thời gian.

Dù vậy, bất kể người ta có nhìn chuyện đó cách nào, đời hắn cũng khó lòng được coi là khó khăn. Chẳng hơn một quả dưa hấu có thể bị nhầm với rau củ. Căn hộ được thiết kế đẹp đẽ và kiêu hãnh phô ba căn phòng tiện nghi, một máy điều hòa và điện thoại, một bộ ti-vi màu mười bảy in, bồn tắm và vòi sen, một chiếc Mercedes Triumph trong hầm đỗ xe, và trên hết thảy, một ban công đầy ngẫu hứng hoàn hảo để tắm nắng. Cửa sổ hướng đông nam của căn hộ áp mái nhìn bao quát toàn cảnh thị trấn và đại dương. Khi Chuột mở cả hai cửa sổ, tiếng chim líu lo và mùi hương cây cối ngai ngái thoảng lùa vào theo gió.

Chuột trải qua nhiều buổi chiều khoan khoái duỗi lưng trên ghế mây. Khi hắn bắt đầu buông lỏng, hắn có thể cảm thấy thời gian lướt qua cơ thể mình nhẹ nhàng hệt như dòng nước chảy. Khi hắn ngồi, nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần đã trôi đi.

Đôi bận, những gợn sóng lăn tăn của xúc cảm sẽ vỗ vào bờ tim hắn như thể nhắc nhớ hắn điều gì. Lúc chuyện đó xảy ra, hắn khép mắt, đóng sập cửa tim, và chờ cơn triều xúc cảm rút xuống. Chỉ là một mối xúc động ngắn ngủi, hệt như bóng đèn tín hiệu nhấp nháy trong đêm. Một khi những gợn sóng lăn tăn đó qua đi, sự bình lặng quay lại như chưa hề có chuyện bất thường gì từng xảy tới.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 3: Chương 1

Published

on

Hẳn phải có nhiều cách để phân biệt cặp chị em song sinh nọ, nhưng tôi đành buồn bã nói tôi chưa bao giờ tìm được cách nào cả. Không chỉ khuôn mặt, tiếng nói, và kiểu tóc của họ đều đồng nhất, họ còn chẳng có nốt ruồi hay vết bớt nào khả dĩ giúp tôi xác định được. Họ là bản sao hoàn hảo của nhau–tôi chỉ biết giơ hai tay đầu hàng. Họ phản ứng với các kích thích chuẩn xác theo những cách y chang nhau, ăn và uống những thứ y chang nhau, hát những bài hát y chang nhau, ngủ vào giờ y chang nhau, và có kì kinh cùng lúc với nhau.

Bấy giờ, tôi chẳng biết một cặp sinh đôi sẽ giống với cái gì–khả năng tưởng tượng của tôi không vươn xa đến vậy. Nhưng tôi cược rằng nếu tôi có một anh em sinh đôi đồng nhất với mình về mọi phương diện, ắt tôi sẽ phát điên. Có lẽ tôi có chút kì cục trong việc đó.

Tuy nhiên, hai cô gái, sống một cuộc đời hạnh phúc và bình lặng bên nhau. Họ bị sốc, thậm chí giận dữ, mỗi khi họ phát giác ra rằng tôi không thể phân biệt họ được.

“Chúng tôi hoàn toàn khác nhau mà!”

“Chẳng giống nhau chút nào hết!”

Tôi chỉ nhún vai.

Đã bao lâu từ khi họ dọn đến nhỉ? Đồng hồ trong tôi đã hỏng hóc từ ngày chúng tôi bắt đầu sống chung. Nhìn lại, tôi giật mình rằng ý thức về thời gian của tôi trong suốt giai đoạn đó đã thoái hoá đến mức của một vi sinh vật sinh sản bằng sự phân bào.

Ω

Bạn tôi và tôi đã thuê một căn hộ khiêm tốn trên con phố chạy lên khu dốc từ Shibuya tới Nampeidai, bọn tôi mở một công ty dịch thuật nhỏ ở đó. Bọn tôi dùng món tiền khởi nghiệp mà hắn có được từ cha mình, còn lâu mới được gọi là một số tiền lớn, để chi trả phí kí quỹ bảo vệ, bắt điện thoại, và mua ba chiếc bàn làm việc bằng thép, mười cuốn từ điển, cùng một nửa tá rượu bourbon. Với số tiền còn thừa, bọn tôi cho làm một biển hiệu bằng kim loại có khắc tên công ty bọn tôi đã nghĩ ra, trương tấm biển ra đằng trước, và đặt một quảng cáo trên báo. Rồi bọn tôi khui một chai bourbon, gác chân mình lên bàn làm việc, và chờ các khách hàng lộ diện. Đó là mùa xuân năm 1972.

Chỉ mất một vài tháng để nhận ra rằng bọn tôi đã đào trúng mỏ vàng. Các yêu cầu liên tục đổ vào văn phòng khiêm nhường của bọn tôi. Với số tiền lời chúng tôi đã mua một máy điều hòa, một máy lạnh, và một bộ quầy bar trong nhà.

“Bọn mình thắng lớn rồi,” bạn tôi bảo. “Bọn mình đã thành công, mày và tao.”

Tôi chỉ sửng sốt. Đó là chuyện tốt đẹp nhất mà người khác từng nói với tôi.

Bởi công việc cần in các bản sao, bạn tôi tiến hành thỏa thuận với một nhà in hắn quen, thậm chí còn có tiền lại quả khi giao dịch. Tôi liên hệ với Ban Sinh viên của Đại học Ngoại ngữ, tuyển mộ một số cậu sáng ý để dịch các văn bản thô, nên tôi không đến nỗi bận túi bụi. Bọn tôi thuê một nữ nhân viên trẻ theo dõi các cuốn sách, xử lí thư từ, và khống chế bất cứ công việc kì cục nào nảy sinh. Vừa tốt nghiệp trường kinh doanh, cô có đôi chân dài và một trí tuệ sắc sảo. Ngoài thói quen ngâm nga giai điệu bài “Penny Lane” (trừ đoạn điệp khúc) hai mươi lần một ngày thì, cô hoàn hảo. Bọn mình hẳn vớ hời khi thuê cổ, bạn tôi bảo. Bọn tôi trả cô cao hơn năm mươi phần trăm mức giá thông thường, một lợi tức thường niên tương đương với năm tháng lương, và cấp một kì nghỉ mười ngày vào mỗi mùa hè và mùa đông. Kết quả là, chúng tôi đều mãn nguyện và có một môi trường làm việc hòa hợp.

Trụ sở của bọn tôi gồm hai phòng và một bếp ăn tại chỗ–chuyện không thường thấy ở Tokyo–nằm giữa hai phòng đó. Bọn tôi đã rút rơm phân chia: kết cục tôi có phòng bên trong, bạn tôi được phòng gần cửa ra vào, còn cô gái ngồi ở bếp, coi sóc những cuốn sách, pha bourbon với đá, và đặt bẫy gián, mọi việc đều kèm theo giai điệu “Penny Lane” không ngơi nghỉ.

Tôi trích tiền công tác phí của bọn tôi và mua hai tủ ngăn đựng hồ sơ đặt hai bên bàn làm việc của mình, cái bên trái cho những bản dịch dở, cái bên phải cho những thứ tôi đã hoàn thành.

Bản thảo khách hàng gửi cho chúng tôi là một mớ hỗn hợp. Từ một bài báo trên tạp chí American Science về sức bền chịu lực của quả bóng, phiên bản 1972 cuốn Sách cho mọi người Mĩ về các loại cốc-tai, một tiểu luận của William Styron, cho đến cẩm nang về cách sử dụng đúng đắn và bảo quản dao cạo an toàn; mọi hạng mục đều được đánh dấu “vào ngày như thế như thế” và được xếp vào ngăn bên trái, rồi đến đúng kì hạn, chuyển sang ngăn bên phải. Khi xong xuôi một việc nào đó mỗi chúng tôi uống cạn chừng một ngón tay (ừm, thực ra là, một ngón cái thôi) rượu whiskey.

Điều hay ho về chuyện dịch thuật ở cấp độ của chúng tôi là nó không yêu cầu bất cứ suy nghĩ thừa thêm nào. Đơn giản là bạn nhặt một đồng xu (văn bản gốc) vào tay trái, thảy nó sang lòng tay phải, giấu biến tay trái đi, và chỉ thế thôi. Đơn giản.

Bọn tôi đến văn phòng lúc mười giờ sáng và rời đi vào bốn giờ chiều. Thứ Bảy, ba chúng tôi sẽ đến một sàn nhảy gần đó, uống J&B và nhún nhảy theo một ban nhạc nhại nhóm Santana.

Có tiền chẳng tệ. Từ số kiếm được hằng tháng bọn tôi trừ ra tiền thuê nhà, một khoản nhỏ cho các chi phí văn phòng, trả lương cho thư kí và các nhân viên thời vụ, và thuế má, rồi chia số tiền còn lại thành mười phần, một phần sẽ đi vào tài khoản dự trữ cho công việc, năm phần cho hắn và bốn phần cho tôi. Để chia phần, bọn tôi chồng tất cả tiền mặt lên bàn và làm việc từ đó, hệt như màn đánh xì tố giữa Steve McQueen và Edward G. Robinson trong phim The Cincinnati Kid. Kiểu nguyên thuỷ, hẳn rồi, nhưng vui khủng khiếp.

 Tôi nghĩ cũng hợp lí chuyện bạn tôi nhận năm phần so với bốn phần của tôi. Không chỉ tôi quả đã phó thác toàn bộ mảng hoạt động kinh doanh cho hắn, hắn còn nhiều phen chịu đựng tôi quá chén whiskey mà không một lời phàn nàn. Hơn hết, hắn có một người vợ đau ốm, một cậu nhóc ba tuổi, một chiếc Volkswagen Beetle với bộ tản nhiệt vặt vẹo, và như thể mọi thứ đó còn chưa đủ, hắn thậm chí còn buộc phải lãnh nhận nhiều cơn đau đầu hơn nữa.

“Chính tớ cũng đang trông nom một cặp chị em sinh đôi,” tôi có lần bảo hắn vậy, nhưng dĩ nhiên hắn không không chịu nghe. Vì thế hắn vẫn cứ nhận năm phần còn tôi thì bốn.

Tôi đã trải qua quãng giữa tuổi hai mươi như thế. Những ngày bình yên như một hồ bơi trong nắng chiều. 

Khẩu hiệu công ty bọn tôi gài trên tờ rơi quảng cáo ba màu có đề, “Những gì bàn tay con người có thể viết ra, chúng tôi có thể dịch.”  

Khi, mỗi sáu tháng hoặc gần gần vậy, việc kinh doanh lâm vào tình trạng ế ẩm, ba đứa bọn tôi giết thời gian bằng cách phát những tờ rơi đó trước ga Shibuya.

Những chuyện như thế đã tiếp diễn bao lâu? Tôi đã đi hoài đi mãi qua một miền im lặng vô biên. Tôi về nhà sau mỗi ngày làm việc để đọc tiếp Phê phán Lí tính Thuần túy còn dang dở và uống cà phê ngon tuyệt của cặp sinh đôi.

Đôi khi nhiều chuyện đã diễn ra ngày trước lại cảm thấy như chúng đã xảy tới năm rồi; lúc khác thì những sự kiện của năm ngoái có vẻ như đã diễn ra ngày hôm qua. Khi tệ hại thực sự, những sự kiện của năm tới chừng như cũng đã xảy ra ngày trước đó. Đôi lúc tôi thấy mình tư lự về sức chịu đựng của quả bóng trong khi đang dịch bài viết của Kenneth Tynan về đạo diễn người Ba-lan Roman Polanski số phát hành tháng 9 năm 1971 trên tờ Esquire.    

Tháng nối tiếp tháng, năm nối đuôi năm, tôi đã ngồi đơn độc nơi đáy một hồ bơi sâu hoắm. Nước ấm áp, ánh đèn dìu dịu, và tịch lặng. Rồi, tịch lặng hơn…

Ω

Chỉ có độc một cách để tôi phân biệt cặp sinh đôi. Ấy là nhờ áo phông thể thao của họ. Mỗi người mặc một chiếc áo phông xanh lính thủy đã phai màu với các chữ số được in trên ngực. Một chiếc đề số ‘208,’ cái kia là ‘209.’ Số ‘2’ khớp vừa vặn ngay trên đầu vú phải, còn số ‘8’ (hay ‘9’) ngay trên đầu vú trái. Số 0 rơi độp ngay vào giữa.

Ngay hôm đầu tiên tôi đã hỏi họ những con số kia có nghĩa gì. Chẳng gì cả, lời hồi đáp vang đến.

“Trông chúng có vẻ là hai con số liền trong dãy,” tôi nói, sử dụng tiếng Anh.

“Là sao?” một cô hỏi.

“Như thể toàn bộ các cô được xuất xưởng cùng lúc, và mỗi người được gán cho một con số.”

“Đời nào,” 208 nói.

“Ừ,” 209 nói. “Chỉ có hai đứa tôi ngay từ đầu thôi. Và, sao đi nữa, ai đó đã đưa bọn tôi hai cái áo này. ”

“Ai thế?”

“Bọn tôi lấy chúng ở siêu thị. Đó là ngày khai trương của họ, và cả bọn tôi được lấy miễn phí.”

“Tôi là khách hàng thứ 209.” 209 nói.

“Còn tôi thứ 208,” 208 nói.

“Bọn tôi đã mua ba hộp khăn giấy lụa.”

“Rồi, vậy làm theo cách này đi: tôi sẽ gọi cô là 208. Và cô là 209,” tôi nói, lần lượt chỉ vào từng cô. “Theo cách đó tôi có thể phân biệt các cô.”

“Không được,” một cô nói.

“Sao không?”

Họ cởi áo của mình, trao đổi cho nhau, rồi mặc vào.

“Bây giờ tôi là 208,” 209 nói.

“Còn tôi là 209,” 208 nói.

Tôi chỉ biết thở dài.

Tuy nhiên, bất cứ khi nào phải xác định hai người bọn họ, tôi đành dựa vào số trên áo phông của các cô. Chỉ có độc cách đó để biết ai là ai.

Họ đã đến nhà tôi chỉ với những bộ trang phục mang trên người. Như thể họ đang dạo bộ, thấy một chốn hứa hẹn, rồi chuyển vào. Ừm, tôi đoán đó là cách chuyện đã xảy ra. Tôi đưa họ một số tiền vào đầu mỗi tuần để họ sắm những thứ họ cần, nhưng ngoài thực phẩm cho các bữa ăn của bọn tôi, thứ duy nhất họ từng mua là một hộp bánh quy kem cà phê thi thoảng khi có dịp.

“Không vấn đề gì chứ, việc không có thêm áo quần ấy?” tôi hỏi.

“Chẳng hề gì cả,” 208 đáp.

“Bọn tôi chả quan tâm chuyện quần áo,” 209 trả lời. 

Họ tỉ mỉ giặt áo phông của mình tuần một lần trong phòng tắm. Nằm trên giường đọc Phê phán Lí tính Thuần tuý, tôi sẽ liếc mắt nhìn họ quỳ gối bên cạnh nhau, khỏa thân trên sàn phòng lát gạch, vò sạch chúng. Những lúc như vậy khiến tôi cảm thấy như thể mình đã đến một chốn xa xôi nào đó. Tại sao, thì tôi không biết. Tôi đã trải nghiệm cảm giác tương tự đôi bận từ mùa hè năm trước, khi tôi mất một phần răng cửa dưới thành hồ bơi.

Nhiều lần tôi về nhà sau khi làm việc và thấy những chiếc áo phông mang số 208 và 209 đang đung đưa trên cửa sổ nhìn về hướng nam. Thi thoảng điều đó khiến mắt tôi ứa lệ.

Ω

Có rất nhiều câu hỏi tôi có thể thắc mắc. Tại sao họ chọn chỗ tôi? Họ sẽ ở lại bao lâu? Hơn hết cả, họ là gì? Họ bao nhiêu tuổi? Họ sinh ở đâu? Nhưng tôi chưa bao giờ hỏi, và họ chưa bao giờ nói.

Chúng tôi trải qua các buổi sáng với việc uống cà phê, các buổi tối với việc dạo quanh sân gôn nhặt các quả banh đi lạc, và các buổi đêm đùa cợt vớ vẩn trên giường. Cao điểm là những giờ như vậy mỗi ngày tôi dùng để giải thích những mục báo. Họ biết cực ít về thế giới. Ý tôi là, họ không thể nói được sự khác biệt giữa Miến Điện và Australia. Mất ba ngày mới thông qua được sự kiện rằng Việt Nam đã bị chia làm hai miền mà giờ đang trong cuộc chiến, và bốn ngày để giải thích tại sao Nixon lại quyết định đánh bom vào Hà Nội.

“Vậy anh đang ủng hộ cho bên nào?” 208 hỏi.

“Bên nào?”

“Miền Bắc hay Miền Nam?” 209 hỏi.

“Tôi không biết. Đấy là một chuyện khó.”

“Sao lại khó đến vậy?” Câu hỏi của 208.

“Bởi vì tôi có sống ở Việt Nam đâu.”

Câu trả lời đó không thuyết phục được họ. Cả tôi cũng không.

“Vậy sao họ lại đang tranh đấu? Khác biệt về chính trị, phải không?” 208 tra khảo tôi.

“Tôi đoán cô có thể cho là thế.” 

“Vậy là ý kiến của họ mâu thuẫn nhau hả?” 208 tiếp tục.

“Ừ. Nhưng như thế cô có thể nói rằng có đến một phẩy hai triệu ý kiến mâu thuẫn nhau trên thế giới. Chắc còn hơn ấy chứ.”

“Vậy thì hầu như không thể làm bạn với bất cứ ai cả đấy nhỉ?” Câu hỏi của 209.

“Đích thị,” tôi nói. “Đúng là gần như không thể làm bạn được.”

Đây là kiểu sống của tôi trong những năm 1970. Được Dostoievski tiên đoán, được người bạn chân thành của các bạn củng cố.  

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 2: Về Sự khai sinh Bóng ghim

Published

on

Chẳng ai có manh mối chuyện Raymon Moloney là ai.

Chúng ta chỉ có thể nói chắc rằng một người đàn ông mang tên đó đã từng sống rồi chết–đại khái vậy. Hiểu biết của ta dừng ở đó. Ông bí ẩn y như một con bọ nước nơi đáy giếng sâu.  

Song có một sự kiện lịch sử vào năm 1934, nhờ ông, cỗ máy bóng ghim sơ khai đã chuyển hướng bay dù đám mây vàng công nghệ đã hạ cánh an toàn lên thế giới vẩn bụi bên dưới. Cùng năm đó, bên bờ kia của vũng lầy lớn vùng Đại Tây Dương, Adolf Hitler đã thò tay nắm nấc đầu tiên của chiếc thang Cộng hòa Weimar[1].

Cuộc đời Raymond Moloney chẳng hề có chút thần thoại nào giống cuộc đời của các nhân vật như anh em nhà Wright chế tạo máy bay hay ông tổ điện thoại Alexander Graham Bell. Cũng chẳng có những câu chuyện ấm lòng về những kì công thời thơ ấu, nhưng chẳng có những khoảnh khắc phát kiến kịch tính nào. Chỉ có độc một đề cập qua loa trên trang đầu của một cuốn sách dành cho dân nghiện trò chơi: 1934–máy pinball đầu tiên, được phát minh bởi Raymond Moloney. Không một tấm hình nào xuất hiện trong cuốn sách. Khỏi phải nói, chẳng hề có chân dung hay bức tượng nào được tạo ra để vinh danh ông.

Tôi biết bạn đang nghĩ gì. Nếu tay Moloney này đã chẳng có mặt đâu đó, cỗ máy bóng ghim như ta biết ngày nay hẳn sẽ khác biệt hoàn toàn. Có lẽ thậm chí nó còn chẳng tồn tại ấy chứ. Bởi thế chúng ta chừng có hơi vô ơn khi thiếu tưởng thưởng ông và công trình của ông. Dù thế, nếu có thể thấy phát minh của ông, cỗ Ballyhoo, tựa vậy, những nghi ngờ kia sẽ biến mất trong chớp mắt. Chẳng thể nói gì về nó để kích thích được trí tưởng tượng của chúng ta cả.  

Máy bóng ghim và sự hưng khởi của Hitler chia sẻ độc một điểm chung. Được đón chào đầy cảnh giác khi lộ mặt tại những khoảnh khắc đặc thù trong lịch sử, tính chất thần thoại của chúng xuất phát từ nhịp tiến hóa mau chóng hơn là từ bất cứ phẩm chất cố hữu nào. Kiểu tiến hóa đó hướng tới trước trên ba chiếc bánh xe, ấy là Công nghệ, Đầu tư Tư bản, và Dục vọng Con người.   

Với tốc độ khủng khiếp, con người nắm chặt lấy món đồ chơi đất sét thô sơ Moloney đã sáng chế và thêm vào một loạt những cải tiến mới. “Bỏ đèn vào đi!” “Phải có điện chứ!” “Thêm các tay chèo nào!” họ gào thét, hết lần này đến lần khác. Vậy nên bàn chơi được chiếu sáng, và các quả bóng được đẩy tới với cảm ứng điện từ và được điều khiển bởi hai tay chèo [ở hông máy].

Kĩ năng của một người chơi được chuyển thành những con số, và một đèn cảm ứng độ dốc được thêm vào để phạt bất cứ ai huých vào bàn lúc quá hăng tiết. Ý niệm siêu hình về “chuỗi trận” được sinh ra, thứ mà đến lượt nó lại đẻ ra một kho các trường phái: đèn thưởng, bóng cộng, và trận miễn phí khi vượt ngưỡng điểm. Cho đến lúc đó, cỗ máy bóng ghim đã thu tóm được một quyền lực gần như bí hiểm.

Ω

Đây là một tiểu thuyết về Bóng ghim.

Ω

Đèn thưởng, một nghiên cứu dài như sách về Bóng ghim, nói thế này trong lời dẫn nhập:

Gần như chẳng thể có lợi lộc gì từ Bóng ghim. Phần thưởng duy nhất là một khoản thay thế bằng số cho lòng tự hào. Kẻ thua, dù vậy, vẫn đáng nói tới. Chắc hẳn bạn có thể dựng tượng đồng cho mọi tổng thống Mĩ (giả dụ bạn đang sẵn lòng tính cả Richard Nixon vào nữa) với những đồng xu mình đã bỏ vào khe máy, trong khi thời gian bạn đã mất thì chẳng đời nào quay lại. Khi bạn đứng trước cỗ máy bận kẹt vào hành động tiêu phí đơn độc của mình, kẻ khác lại đang cày Marcel Proust, trong khi gã khác nữa thì vừa cưng nựng gì đó với bạn gái của mình vừa xem True Grit ở rạp chiếu bóng dành cho những người ngồi trong ô tô. Họ là những người kết cục có thể trở thành những tiểu thuyết gia đột phá hoặc những người có gia đình hạnh phúc. Không, bóng ghim chẳng dẫn đến đâu cả. Kết quả duy nhất là một ánh đèn báo trận miễn phí chớp sáng. Chơi lại, chơi lại, chơi lại, miễn phí–điều đó khiến bạn nghĩ toàn bộ mục tiêu của trò chơi này là đạt tới một dạng thức của vĩnh cửu. Chúng ta biết rất ít về vĩnh cửu, mặc dù chúng ta có thể phỏng đoán về sự tồn tại của nó. Mục đích của Bóng ghim là sự chuyển hóa tự thân, chứ không phải sự bộc lộ tự thân. Nó chẳng dính dáng gì tới sự bành trướng của cái tôi mà là sự thu giảm cái tôi ấy. Chẳng hề là sự phân tích mà là sự chấp thuận ôm choàng hết thảy. Nếu bạn đang theo đuổi sự bộc lộ tự thân, sự bành trướng của cái tôi, hoặc sự phân tích thì, đèn cảm ứng độ nghiêng sẽ chính là sự báo thù không khoan nhượng của trò này.

Hãy chơi đẹp nhé!    

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen


[1] Weimar Republic: tên các sử gia gọi chính phủ nước Đức từ năm 1918 đến ngày 30 tháng 1 năm 1933 khi Hitler được phong thủ tướng và Đảng quốc xã lên nắm quyền. Tên này được đặt theo tên thành phố nơi quốc hội Đức họp và thông qua hiến chương nhà nước.     

Đọc bài viết

Cafe sáng