Sáng tác

Truyện ngắn: Hai người phụ nữ (Amos Oz)

“Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được.”

Published

on

TWO WOMEN
Amos Oz

Sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc, tiếng gù của đôi chim bồ câu trong bụi cây bắt đầu trôi qua ô cửa sổ để mở. Âm thanh khàn khàn, đều đều và miên man ấy vỗ về cô. Làn gió nhẹ se sẽ thổi qua những ngọn cây thông và tiếng gà gáy lanh lảnh trên sườn đồi. Xa xa vọng lại tiếng chó sủa và một con khác đáp lại. Những thanh âm ấy đánh thức Osnat trước cả khi chuông báo thức kịp reng. Cô ra khỏi giường, tắt chuông, tắm rửa và thay quần áo đi làm. Đúng năm rưỡi, Osnat đến khu kibbutz1 giặt ủi làm việc. Trên đường, cô đi ngang qua căn hộ của Boaz và Ariella, khi ấy vẫn khóa cửa và tắt đèn. Hẳn là họ còn đang ngủ. Ý nghĩ ấy chẳng gợi lên trong Osnat cảm giác ganh tị hay tổn thương nhưng đâu đó, cô cảm thấy có chút ngỡ ngàng mông lung: chừng như mọi việc đã xảy ra với ai đó chứ không phải với cô, và hình như nó đã xảy ra từ nhiều năm trước chứ không phải mới hai tháng rồi. Khi đến kibbutz giặt ủi, Osnat bật đèn lên vì ánh nắng hôm nay còn uể oải quá. Rồi cô cúi xuống đống đồ đang đợi, bắt đầu tách riêng quần áo màu ra khỏi quần áo trắng, vải bông ra khỏi vải sợi. Mùi cơ thể chua lòm bốc lên từ mớ đồ dơ, quyện với mùi bột xà phòng. Osnat làm việc ở đây một mình. Cô để chiếc radio ra rả cả ngày để xua tan nỗi đơn độc, mặc dù tiếng o o của những chiếc máy giặt đã nuốt chửng mọi giai điệu lẫn tiếng nói trên đài. Đúng bảy rưỡi, cô giặt xong mẻ đồ đầu tiên, trút quần áo ra và xếp lại, sau đó xuống nhà ăn tập thể để ăn sáng. Lúc nào cũng vậy, Osnat cứ đi chầm chậm, như thể cô không biết chắc mình sẽ đi đâu hoặc cũng không mấy bận tâm. Ở kibbutz của chúng tôi, Osnat là một người phụ nữ vô cùng trầm lặng.

Hồi đầu hè, Boaz thú nhận với Osnat anh đã qua lại với Ariella Barash suốt tám tháng và thấy rằng cả ba người họ không thể tiếp tục sống trong sự lừa dối nữa. Hắn quyết định chia tay và chuyển sang nhà của Ariella. “Em có phải là trẻ con nữa đâu. Em biết chuyện này vẫn xảy ra như cơm bữa mà, kibbutz của chúng ta cũng thế thôi. May là chúng ta chưa có con chứ không thì mọi chuyện sẽ lôi thôi hơn nhiều.” Boaz sẽ mang theo chiếc xe đạp nhưng để lại cái radio. Hắn muốn cuộc chia tay này êm ái như những tháng ngày họ đã sống với nhau. Nếu Osnat nổi giận, hắn hoàn toàn thông cảm được, mặc dù thật ra, cô chẳng có gì để tức giận cả. “Anh không cố tình tổn thương em. Chuyện với Ariella, cứ đến là đến thôi. Mọi chuyện chỉ có thế.” Nhưng dù sao đi nữa, hắn cũng rất áy náy. Hắn dọn đi ngay và để lại cho cô không chỉ là chiếc radio mà tất cả mọi thứ, kể cả cuốn album, những chiếc gối thêu và bộ pha cà phê – món quà cưới của họ.

“Vâng”, Osnat đáp.

“Ý em là sao?”

“Đi,” cô nói, “anh đi đi.”

*

Ariella Barash là một người phụ nữ đã ly dị chồng, cao ráo, mảnh mai, với chiếc cổ thanh thoát, mái tóc bồng bềnh nhiều tầng và đôi mắt biết cười, trong đó có một con từng bị lé kim. Cô làm việc trong một trang trại gà và quản lý Phòng Văn hóa của kibbutz, chịu trách nhiệm tổ chức cưới hỏi, lễ kỷ niệm và kỳ nghỉ cho xã viên. Bên cạnh đó, cô còn mời diễn giả đến giảng dạy vào những buổi tối thứ Sáu và đặt phim chiếu trong nhà ăn vào tối thứ Tư. Ariella nuôi một con mèo già và một con chó nhỏ, hình như là chó con. Cả ba chung sống hòa bình với nhau trong căn hộ của cô. Con chó thường bị con mèo hăm he nên lịch thiệp nhường cho nó hẳn cả chiếc giường rộng. Con mèo phớt tỉnh người bạn chung nhà, lững thững đi qua mặt con chó như thể nó là kẻ vô hình. Suốt cả ngày, hai con vật hục hặc trong căn hộ của Ariella, mèo nằm trên sofa còn chó nằm trên thảm, “nước sông không phạm nước giếng”.

Trước đó, Ariella đã kết hôn với Ephraim – một quân nhân. Được một năm, anh bỏ cô để chạy theo một cô lính trẻ. Mối quan hệ của cô với Boaz bắt đầu vào cái ngày anh đến nhà cô, mặc chiếc áo ba lỗ đi làm đẫm mồ hôi loang lổ vết dầu máy. Ariella đã nhờ anh ghé ngang để sửa hộ cái vòi nước bị hỏng. Anh đeo một chiếc thắt lưng da có khóa bằng kim loại. Khi Boaz cúi xuống sửa vòi, cô dịu dàng vuốt ve tấm lưng rám nắng của anh mấy lần, cho đến khi anh quay lại mà hai tay vẫn không rời chiếc tua vít và mỏ lết. Kể từ hôm đó, anh thường lẻn sang căn hộ của cô, lúc thì nửa tiếng, lúc lại một tiếng. Người trong kibbutz Yekhat phát giác ra sự vụng trộm này và chẳng buồn giữ bí mật. Họ xì xầm: “Đúng là một cặp trái khoáy; anh ta thì câm như hến còn chị ta thì miệng mồm như tép nhảy.” Roni Shindlin – cái gã chuyên đùa cợt ví von: “Đúng là chạch đẻ ngọn đa.” Không ai nói gì với Osnat, chỉ có mấy người bạn của cô vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông, rằng cô không hề cô đơn, và dù cô cần bất cứ thứ gì, từ những thứ nhỏ nhất… họ cũng sẵn lòng giúp đỡ.

Rồi Boaz chất đồ lên chiếc giỏ xe đạp và dọn sang căn hộ của Ariella. Buổi chiều, hắn sẽ từ ga-ra trở về nhà, thay đồ lao động ra rồi đi tắm. Ngay ngoài bậc cửa, hắn luôn hỏi vọng vào: “Hôm nay ở nhà có chuyện gì không?” Ariella sẽ đáp với vẻ ngạc nhiên: “Chuyện gì là chuyện gì? Chẳng có gì hết. Anh tắm đi rồi mình uống cà phê.”

*

Trong hộp thư riêng nằm phía bên trái, cách xa cái thùng thư gần với cửa ra vào nhà ăn tập thể, Ariella tìm thấy một tờ giấy nhắn được gấp lại. Trên đó là nét chữ viết tay tròn trịa, điềm tĩnh của Osnat:

Boaz hay quên uống thuốc huyết áp. Anh ấy cần uống vào mỗi sáng và tối trước khi đi ngủ. Buổi sáng, anh ấy còn phải uống nửa viên thuốc cholesterol. Chị đừng cho anh ấy ăn tiêu đen hay nhiều muối trong rau trộn, nên ăn phô mai ít béo nhưng đừng thêm thịt bò. Anh ấy có thể ăn gà và cá, nhưng đừng nêm nhiều gia vị quá. Và không nên để ảnh dùng quá nhiều đồ ngọt.
Osnat
T.B: Boaz nên uống ít cà phê đen lại.

Ariella Barash viết vài dòng trả lời Osnat, với nét chữ sắc cạnh và chất chứa sự bất an. Cô bỏ mảnh giấy vào hòm thư:

Cảm ơn chị. Chị thật tử tế khi đã viết thư cho tôi. Boaz còn bị ợ nóng nhưng anh cứ bảo không sao hết. Tôi sẽ thử làm những việc chị đã dặn nhưng anh ấy không hề dễ tính chút nào. Anh ấy không hề để tâm đến sức khỏe, và cũng vô tâm với rất nhiều chuyện khác nữa. Chị biết mà phải không. Ariella B.

Osnat trả lời:

Nếu chị đừng cho anh ấy ăn thức ăn chiên, đồ chua hoặc cay, ảnh sẽ hết ợ nóng.
Osnat.

Vài ngày sau, Ariella Barash trả lời:

Tôi vẫn thường tự hỏi, rốt cuộc, chúng tôi đang làm gì vậy? Anh ấy thì chôn chặt cảm xúc còn lòng tôi thì không thể nào yên được. Ảnh bao dung với con chó của tôi nhưng không thể chịu nổi con mèo. Chiều nào từ ga-ra về, Boaz cũng hỏi tôi: Hôm nay có chuyện gì không? rồi đi tắm, uống chút cà phê đen, và ngồi lên ghế của tôi đọc báo. Khi tôi thử mang cho anh ấy tách trà thay vì cà phê, ảnh liền nổi đóa lên và cằn nhằn rằng tôi hãy thôi làm mẹ của anh ấy đi. Sau đó Boaz thiếp đi, tờ báo rơi xuống sàn. Bảy giờ tối, anh thức dậy nghe tin tức trên đài. Vừa nghe, anh vừa nựng nịu con chó và lẩm bẩm mấy lời âu yếm. Nhưng khi con mèo nhảy lên đùi anh và vòi vĩnh được cưng chiều thì Boaz lại hất nó ra với vẻ ghét bỏ khiến tôi xấu hổ vô cùng. Khi tôi nhờ anh sửa cái ngăn kéo bị kẹt thì anh ấy không chỉ sửa mà còn tháo nó ra và gắn vào hai cánh cửa tủ kêu cọt kẹt, rồi cười nhăn nhở hỏi liệu có nên sửa luôn nền nhà hay mái nhà không. Tôi tự hỏi trước đây, điều gì ở anh ấy đã thu hút tôi vậy và có lẽ bây giờ vẫn còn một chút chăng, nhưng tôi không tìm được câu trả lời nào rõ ràng. Thậm chí sau khi tắm xong, móng tay anh ấy vẫn xỉn màu dầu máy còn bàn tay thì thô ráp và nứt nẻ. Sau khi Boaz cạo râu, dưới cằm vẫn còn lún phún vài cọng. Có thể vì lúc nào anh ấy cũng ngái ngủ, ngay cả khi Boaz đang thức thì trông anh vẫn có vẻ buồn ngủ nên tôi luôn phải cố gắng đánh thức anh dậy. Nhưng tôi chỉ giữ cho ảnh tỉnh táo được một chút, chắc chị biết sao rồi đấy, không phải lúc nào tôi cũng làm được. Không một ngày nào mà tôi không nghĩ đến chị, Osnat ạ. Tôi tự hỏi liệu chị có thể tha thứ cho những việc tôi đã làm với chị không. Thỉnh thoảng, tôi tự nhủ phải chăng Osnat cũng chẳng quan tâm lắm, phải chăng chị hết yêu anh ấy rồi? Làm sao mà biết được. Có lẽ chị nghĩ rằng thật ra tôi đã chọn lựa như thế. Nhưng thực sự chúng tôi đâu hề có sự lựa chọn. Đó đơn thuần là sự lôi cuốn giữa người đàn ông và người đàn bà, đột ngột xảy ra và thậm chí có chút ngớ ngẩn. Chị có nghĩ giống tôi không? Nếu như chị có con rồi, hẳn chúng ta sẽ chịu nhiều tổn thương hơn thế. Vậy còn anh ta? Thật ra anh ta đang nghĩ gì? Liệu có ai nói cho tôi biết được không? Chị biết rất rõ Boaz nên ăn gì và không nên ăn gì. Nhưng chị có biết lòng ảnh đang nghĩ gì? Hay là, rốt cuộc anh ta có cảm xúc gì không? Có lần, tôi từng hỏi Boaz có hối hận không và anh ta đáp: “Em nhìn đi, anh đang ở đây với em. Không phải với cô ta.” Tôi mong chị biết điều này, Osnat ạ. Gần như đêm nào sau khi Boaz ngủ say, tôi cũng trằn trọc trên giường, nhìn ánh trăng lọt qua khe rèm chiếu vào căn phòng tối của chúng tôi và tự hỏi, nếu tôi là chị thì mọi chuyện sẽ thế nào. Tôi ngưỡng mộ sự điềm tĩnh của chị. Giá tôi có thể có một chút sự điềm tĩnh đó. Thỉnh thoảng tôi trở dậy, mặc quần áo và đi ra cửa, chợt nghĩ sẽ đến chỗ chị lúc nửa đêm và giải thích tất cả. Nhưng tôi có thể nói gì bây giờ? Tôi đứng ngoài ban công cả mười phút, nhìn lên bầu trời đêm trong veo và tìm kiếm chòm sao Đại hùng, rồi lại thay đồ ra, leo lên giường và tiếp tục trằn trọc. Boaz đang ngáy rất say sưa. Thốt nhiên, tôi cảm giác như mình đi lạc vào một nơi nào đó, thậm chí biết đâu là phòng của chị. Nhưng mong chị hãy hiểu cho, chuyện này chỉ xảy ra với tôi vào ban đêm, khi tôi không thể chợp mắt và không hiểu nổi rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra và tại sao lại như thế. Tôi chỉ cảm thấy có điều gì đó vô cùng gần gũi với chị. Tôi muốn đến tiệm giặt làm chung với chị. Chỉ hai chúng ta thôi. Lúc nào tôi cũng mang theo những mảnh giấy dặn dò của chị trong túi và lấy ra đọc đi đọc lại. Tôi muốn chị hiểu rằng tôi trân trọng từng câu, từng chữ chị viết và thậm chí, ngưỡng mộ cả những điều chị không viết. Mọi người trong kibbutz bàn tán về chúng tôi. Họ ngạc nhiên về Boaz. Họ nói tôi chỉ tình cờ đi ngang, cúi xuống và lôi anh ấy ra khỏi tay chị. Còn Boaz thì đâu quan tâm đến chuyện gì khác ngoài căn nhà để đi về mỗi ngày và chiếc giường để ngủ mỗi đêm. Hôm nọ, khi đến gần văn phòng, Roni Shindlin nháy mắt với tôi, cười toe toét và bảo: Thế nào, nàng Mona Lisa, chân nhân vẫn bất lộ tướng chứ hả? Tôi nín lặng và bỏ đi, lòng xấu hổ vô cùng. Rồi tôi về nhà và khóc. Có những đêm sau khi Boaz ngủ say, tôi lại khóc một mình, không phải và không chỉ vì anh ấy, mà vì tôi và chị. Có lẽ một chuyện gì đó rất tệ hại đã xảy ra với cả hai chúng ta mà không thể cứu vãn được. Thỉnh thoảng, tôi hỏi anh ấy: Cái gì vậy Boaz? Và nhận được câu trả lời: Có gì đâu. Tôi bị hút vào cái sự trống rỗng ấy – như thể anh ấy chẳng có gì để nói cả, hệt như anh ấy được sinh ra từ sa mạc cô đơn. Nhưng mà, tại sao tôi lại kể với chị mấy chuyện này nhỉ? Tôi biết chị sẽ buồn khi nghe vậy và tôi không bao giờ muốn khoét sâu thêm nỗi đau của chị. Ngược lại, tôi chỉ muốn chia sẻ với chị nỗi cô đơn khi cố gắng hiểu anh ấy thêm một chút. Hình như sáng nay, lúc anh ấy đang ngủ say, cuộn người lại như em bé nằm trong bụng mẹ, con chó nằm dưới chân còn con mèo đang nằm trên bàn, đôi mắt vàng vàng của ảnh vẫn dõi theo đôi tay tôi đang viết không ngừng dưới ánh đèn bàn. Tôi biết việc này là vô nghĩa. Tôi biết mình phải ngừng viết, thậm chí, chị sẽ không muốn đọc bức thư dài tận bốn trang này. Có lẽ chị sẽ xé và ném nó đi. Có lẽ chị sẽ nghĩ rằng tôi mất trí rồi mà đúng là thế thật. Chúng ta có thể gặp nhau nói chuyện được không? Không phải về chế độ ăn uống hay thuốc thang cho Boaz. (Tôi thật sự đã cố gắng nhắc nhở anh ấy đừng quên. Tôi đã cố, nhưng không phải lúc nào cũng được. Chị biết cái tính cứng đầu của Boaz mà, hình như anh ấy nghĩ nó không cần thiết hay đúng hơn là chẳng quan tâm.) Chúng ta có thể trò chuyện về những thứ khác nhau, như các mùa trong năm hay thậm chí bầu trời đêm đầy sao vào những tối mùa hè này. Tôi rất thích tìm hiểu về các vì sao và tinh vân. Có lẽ chị cũng thế chăng. Tôi sẽ chờ thư hồi âm và mong chị sẽ chia sẻ với tôi chị đang nghĩ gì, Osnat ạ. Chỉ hai từ thôi. Tôi đợi. Ariella B.

Osnat để lá thư nằm chờ trong hộp. Cô quyết định không trả lời. Cô đọc nó hai lần, gấp lại rồi bỏ vào ngăn kéo. Lúc này, Osnat đứng lặng thinh, nhìn ra ngoài cửa sổ. Ba con mèo đang ở bên hàng rào: một con bận nhay nhay cái chân; một con sà thấp người xuống đất hoặc cũng có thể đang lơ mơ gật gù nhưng đôi tai vẫn lay lay một cách đầy cảnh giác, như thể luôn sẵn sàng đón bắt mọi âm thanh mong manh nhất; còn con thứ ba đang rượt theo cái đuôi, xoay mòng mòng và nhẹ nhàng nằm ngửa ra vì nó còn quá nhỏ. Một cơn gió dịu dàng thoáng qua, chỉ vừa đủ làm nguội tách trà. Osnat rời khung cửa sổ, ngồi xuống ghế sofa, thẳng lưng, đặt hai tay lên đầu gối và nhắm mắt lại. Buổi tối sẽ sớm đến thôi, Osnat sẽ thưởng thức nhạc trên đài và đọc một cuốn sách. Sau đó, cô thay quần áo, gấp bộ đồ mặc nhà lại gọn gàng, sắp sẵn quần áo đi làm ngày mai, leo lên giường và chìm vào giấc ngủ. Kể từ hôm nay, giấc ngủ của cô sẽ thôi mộng mị. Và cô sẽ thức dậy trước khi báo thức reo. Những chú chim bồ câu sẽ đánh thức cô.

Hết.

Phương Hạ dịch

Ảnh đầu bài: Vô đề, Pinchas Abramovich | Photo © The Israel Museum, Jerusalem

Nguyên tác Two Woman, Amos Oz đăng trên tạp chí Harper’s.

Chú thích:

  1. Kibbutz (tiếng Do Thái) là một cộng đồng nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại ở Israel, một hệ thống kinh tế xã hội dựa trên nguyên tắc sở hữu chung tài sản, bình đẳng và hợp tác trong mọi mặt của đời sống; thực hiện lý tưởng một xã hội công bằng – nguồn: Thạc sĩ Trần Thị Thu Hương, IAMES.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Con khỉ Shinagawa (Murakami Haruki)

Dạo gần đây cô gặp chút khó khăn với việc nhớ tên mình. Chuyện này thường xảy ra nhất mỗi khi có người bất thần hỏi tên cô.

Published

on

Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Kodaki Adi.

1

Dạo gần đây cô gặp chút khó khăn với việc nhớ tên mình. Chuyện này thường xảy ra nhất mỗi khi có người bất thần hỏi tên cô. Như việc vào trong một cửa hiệu, nhờ người ta chỉnh giúp ống tay áo của bộ váy, và khi nhân viên hỏi cô “Xin chị vui lòng cho cửa hàng chúng em biết tên ạ, thưa chị?” Hay là lúc ở sở làm, trên điện thoại có người muốn biết tên của cô là gì, và cô bắt đầu trở nên hoàn toàn trống rỗng. Cách duy nhất giúp cô nhớ lại được là lôi bằng lái của mình ra nhìn, kiểu phụ thuộc này khiến cho những người đang nói chuyện với cô cũng cảm thấy có điểm kỳ quặc. Nếu tình cờ lúc đó là khi đang nói chuyện điện thoại, những khoảnh khắc im bặt đầy lúng túng cô lục lọi túi xách hẳn cũng khiến đối phương ở đầu dây bên kia tự hỏi chuyện quái gì đang xảy ra.

Nếu cô là người chủ động giới thiệu tên mình, cô sẽ không bao giờ khổ sở trong việc ghi nhớ cả. Miễn là biết rõ những gì sắp diễn ra, cô thường không gặp rắc rối gì với bộ nhớ của mình. Nhưng nếu là lúc đang vội quắn lên, hoặc đột nhiên có người hỏi tên cô, y như là đã có đứa phá hoại nào đó ra tay sập nguồn khiến tâm trí cô hoàn toàn trở nên rỗng tuếch ấy. Càng cố nhớ lại bao nhiêu, sự trống rỗng lại càng bao phủ lấy bấy nhiêu và cô hầu như quên luôn cả đời này mình đã được gọi là gì.

Cô vẫn có thể nhớ mọi thứ khác. Không bao giờ cô quên tên của những người xung quanh mình. Rồi địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh, số hộ chiếu của cô cũng không gặp chút rắc rối nào. Cô có thể đọc làu làu thuộc lòng số điện thoại bạn bè mình, cả số điện thoại của khách hàng quan trọng nữa. Cô vẫn luôn có một trí nhớ tốt - chỉ là cái tên của của cô đã trốn thoát khỏi cô. Vấn đề này khởi nguồn khoảng một năm trước, khi lần đầu tiên những chuyện như vầy bắt đầu xảy đến với cô.

Tên sau khi cưới của cô là Mizuki Ando, còn tên thời con gái là Ozawa. Cả hai cũng chả phải là những cái tên độc đáo hay kịch tính gì, nhưng điều này cũng không đồng nghĩa với việc có thể giải thích vì sao trong lịch trình làm việc đầy bận rộn của mình, tên cô có thể bốc hơi khỏi bộ nhớ.

Cô đã trở thành bà Mizuki Ando vào mùa xuân ba năm trước, khi cô kết hôn với một người đàn ông tên là Takashi Ando. Lúc đầu, cô không quen với cái tên mới. Cách viết và nghe nó có vẻ chả ăn rơ gì với cô sất. Nhưng sau khi đọc đi đọc lại cái tên mới của mình, và thử ký nó vài lần, cô dần dần nghĩ rằng điều này cũng không tệ đến thế. So với các khả năng khác - Mizuki Mizuki hoặc Mizuki Miki hay một cái-gì-đó (thực tế thì có thời cô cũng từng cặp kè với một anh chàng tên là Miki thật) – thì Mizuki Ando cũng chả phải là tệ lắm. Phải mất một quãng lâu, nhưng rồi dần dần cô cũng bắt đầu cảm thấy thoải mái với tên theo họ chồng của mình.

Tuy nhiên, một năm trước, cái tên đó bắt đầu chạy trốn khỏi cô. Ban đầu, điều này xảy ra chỉ một tháng một lần, nhưng theo thời gian nó đã trở nên thường xuyên hơn. Bây giờ chuyện này phải xảy ra ít nhất mỗi tuần một lần. Một khi "Mizuki Ando" trốn thoát, cô như bị bỏ lại một mình trên thế gian này, không còn là ai cả, một người phụ nữ vô danh. Miễn là cô còn mang theo ví bên mình, thì cô vẫn còn ổn - có thể mang bằng lái ra và nhớ lại mình là ai. Còn nếu cô bị mất ví, thì mọi đầu mối sẽ bị mất sạch. Dĩ nhiên cô sẽ không biến ngay thành một con mẹ bất toàn – vì việc cô có bị lạc mất tên mình trong một lúc cũng đâu thể phủ nhận một thực tế rằng cô vẫn còn tồn tại, và cô vẫn nhớ địa chỉ và số điện thoại của mình đấy thôi. Đây nào phải mấy trường hợp bị mất trí nhớ kiểu phường xi-nê. Thế nhưng, kỳ thực mà nói, chuyện quên mất tên mình của cô vẫn vô cùng khó chịu. Một cuộc sống mà không có tên tuổi gì, cô cảm thấy cũng giống như cứ chiêm bao mãi mà chả chịu thức dậy.

Mizuki đi đến một cửa tiệm kim hoàn, mua một chiếc vòng tay mỏng đơn giản, có khắc tên trên đó: Mizuki (Ozawa) Ando. Không phải địa chỉ hay số điện thoại, chỉ vỏn vẹn tên của cô. Vầy làm cho mình cảm thấy bản thân y như một con mèo hay con cún gì ấy, cô thở dài. Cô chắc chắn mình sẽ đeo vòng tay mỗi khi rời khỏi nhà, thành thử nếu cô quên tên mình thì tất cả những gì phải làm chỉ là nhìn vào cái vòng thôi. Không còn phải lôi bằng lái của mình ra nữa, cũng chẳng phải hứng chịu những cái nhìn kỳ cục từ phía người khác.

Cô cũng không kể cho chồng biết về chuyện này. Cô biết kiểu gì anh ta cũng sẽ bảo rằng nó chứng tỏ cô không hài lòng về cuộc sống giữa hai người họ với nhau. Anh ta quá logic với tất cả mọi thứ. Dù anh không có ý làm hại gì cả; Chỉ là anh ta luôn luôn lý thuyết hoá mọi thứ một cách quá rạch ròi trắng đen. Tuy nhiên, cách anh ta nhìn thế giới thế nào cũng chả phải quyền của cô. Chồng cô cũng là một lão lắm lời, và sẽ không dễ dàng rút lui quan điểm một khi đã bắt đầu chủ đề. Vậy nên cô quyết định giữ im lặng về toàn bộ mọi chuyện.

Ấy nhưng mà, cô đã nghĩ, những gì chồng cô nói - hoặc có thể nói nếu anh ta biết thật - đều sẽ lạc đề hết. Cô chẳng có lo lắng hay bất mãn gì với cuộc hôn nhân của họ. Ngoài sự hợp lý đôi khi quá mức của anh, cô cũng không có phàn nàn gì về chồng mình cả, và cũng chẳng có những sự ác cảm nào về bố mẹ chồng mình nốt. Cha chồng của cô là bác sĩ điều hành một phòng khám nhỏ ở thành phố Sakata, nơi quận phía Bắc xa Yamagata. Bố mẹ chồng của cô chắc chắn là những người bảo thủ, nhưng chồng cô là con trai thứ nên họ cũng không quản đến cuộc sống của Mizuki và chồng. Mizuki đến từ Nagoya, và thế nên lúc đầu cô đã bị áp đảo bởi những mùa đông lạnh giá ở Sakata, nhưng trong một, hai chuyến thăm hàng năm, cô bắt đầu cảm thấy thích nơi này. Hai năm sau khi cô và chồng kết hôn, họ đã lấy một khoản thế chấp và mua một căn hộ trong tòa nhà mới ở Shinagawa. Chồng cô, bây giờ bước qua hàng ngũ tuổi băm, đang làm việc trong phòng thí nghiệm của một công ty dược phẩm. Mizuki hai mươi sáu và đi làm tại một đại lý của Honda. Cô trả lời điện thoại, mời khách hàng vào phòng khách, mang cà-phê, phô-tô-cóp-pi khi cần, quản lý mọi hồ sơ và cập nhật danh sách khách hàng trên máy vi tính.

Ông cậu của Mizuki, một giám đốc điều hành của hãng Honda, đã tìm việc làm cho cô sau khi cô tốt nghiệp từ trường cao đẳng nữ sinh ở Tokyo. Đó không phải công việc hấp dẫn nhất có thể tưởng tượng ra, nhưng họ đã trao cho cô một số trách nhiệm và tổng thể cũng không tệ lắm. Nhiệm vụ của cô không bao gồm cả việc bán xe hơi, nhưng bất cứ khi nào nhân viên bán hàng đi ra ngoài thì cô sẽ tiếp quản nó, luôn luôn làm tốt việc trả lời các câu hỏi của khách hàng. Cô đã học được bằng cách theo dõi các nhân viên bán hàng, và nhanh chóng nắm bắt được những thông tin kỹ thuật cần thiết cùng sở thích bán xe ô tô. Cô ghi nhớ kỹ xếp hạng tổng cước hành trình của tất cả các mô hình ô tô trong phòng trưng bày, và có thể thuyết phục bất cứ ai, ví dụ, cách một chiếc Odyssey xử lý ít giống xe minivan nhất và giống xe sedan thông thường nhất ở chỗ nào. Mizuki là một người nói chuyện có duyên, với nụ cười cuốn hút của mình cô đã mang lại cho khách hàng sự thoải mái. Cô cũng biết làm thế nào để biến hóa bản thân tinh tế dựa trên việc đọc vị tính cách của mỗi khách hàng. Tuy nhiên, không may là, cô không có thẩm quyền để giảm giá, thương lượng giá thương mại, hoặc khuyến mãi các tùy chọn miễn phí, thế nên ngay cả khi cô đã có khách hàng sẵn sàng để ký tên vào ô chấm hợp đồng, thì cuối cùng cô vẫn phải quay lại thỏa thuận với nhân viên bán hàng. Cô có thể làm được hầu hết mọi công việc, nhưng rồi một trong những nhân viên bán hàng sẽ tiếp nhận nó và ăn hoa hồng. Phần thưởng duy nhất cô có thể mong đợi là bữa tối tự chọn không thường xuyên từ một trong những người bán hàng muốn chia sẻ sự may mắn của anh ấy.

Thỉnh thoảng lại có ý nghĩ vụt qua đầu cô rằng, nếu họ để cho cô bán hàng thì họ sẽ bán được nhiều xe hơn và doanh thu chung của đại lý sẽ được cải thiện. Nếu có những nhân viên bán hàng trẻ, vừa mới bước ra từ cổng trường đại học, chỉ cần đặt tâm trí của họ vào nó, họ có thể bán được nhiều xe hơn vào mỗi hai lần. Tuy nhiên, đã chẳng có ai nói với cô rằng ô kìa chị bán xe giỏi quá, thôi chị đừng lãng phí đời mình vào công việc bàn giấy chi cho cực, hay chị chuyển quách sang làm công việc bán hàng luôn đi. Đó là cách mà một công ty vận hành. Bộ phận bán hàng là một chuyện, nhân viên văn thư là chuyện khác, và ngoại trừ trong những trường hợp rất hiếm hoi, đó là ranh giới không thể tiếp cận được. Bên cạnh đó, cô không đủ tham vọng để cố gắng thúc đẩy sự nghiệp của mình theo cách ấy. Cô thích cách cô đặt mình vào tám giờ đồng hồ, từ 9 giờ đến 5 giờ, nhận tất cả khoảng thời gian nghỉ phép mình có, và tận hưởng những ngày xuống ca.

Ở nơi làm việc Mizuki tiếp tục sử dụng tên thời con gái của mình. Nếu cô chính thức đổi tên, thì tất cả những dữ liệu liên quan đến cô trong hệ thống máy tính của họ sẽ phải thay đổi hết, mà đó lại còn là công việc cô phải làm. Đã có quá nhiều rắc rối và cô vẫn kiên trì, cuối cùng cô đành quyết định lấy luôn tên thời con gái. Đối với chuyện đóng thuế, cô được liệt vào hàng đã lập gia đình, nhưng tên của cô không thay đổi. Cô biết là không đúng lắm khi làm điều đó, nhưng không ai ở sở làm nói gì cả (họ bận quắn cả đít để đi lo lắng đến từng chi tiết), vì vậy cô vẫn giữ cái tên Mizuki Ozawa. Đó vẫn là cái tên trong danh thiếp, thẻ tên, sổ chấm công của cô. Mọi người thường gọi cô là Ozawa-san, Ozawa-kun, Mizukisan, hoặc thậm chí là Mizuki-chan đầy thân mật. Không phải cô cố gắng để tránh sử dụng tên kết hôn của mình. Chỉ là tốn quá nhiều giấy tờ để thay đổi nó, vì vậy cô cứ phóng theo lao mà không có bất cứ sự thay đổi nào. Nếu có ai đó có thể nhập tất cả những thay đổi cho cô, cô nghĩ, cô sẽ rất vui khi được là Mizuki Ando.

Chồng cô cũng biết cô đang dùng tên thời con gái ở nơi làm việc (đôi khi anh ta cũng có gọi đến sở làm cho cô), nhưng không có vấn đề gì với chuyện đó. Dường như anh ta cảm thấy rằng bất cứ cái gì cô dùng trong công việc chỉ là vấn đề tiện lợi. Chừng nào anh ta còn bị thuyết phục về logic, chừng đó anh ta cũng sẽ không phàn nàn gì. Theo lý ấy thì anh khá dễ chịu.

2

Mizuki bắt đầu lo sợ rằng việc quên của cô hoàn toàn có thể là triệu chứng của một căn bệnh khủng khiếp nào đó, có lẽ là một dấu hiệu sớm của bệnh Alzheimer. Thế giới đầy những loại bệnh tật bất ngờ, gây chết người như chơi. Cô cũng chưa bao giờ biết tới, cho đến gần đây, đã có những căn bệnh như chứng suy cơ và bệnh Huntington. Phải có hằng hà sa số ti tỉ ti tỉ thứ bệnh khác nữa mà cô chưa bao giờ nghe đến. Và với hầu hết các chứng bệnh này thì các triệu chứng ban đầu đều khá nhẹ. Những triệu chứng ấy vốn không bình thường, nhưng nhẹ như kiểu quên-tên-của-mình á? Một khi cô đã bắt đầu suy nghĩ theo lối này, cô thực sự lo lắng rằng một căn bệnh lạ đã lan truyền khắp cơ thể cô.

Mizuki bèn đến một bệnh viện lớn và giải trình về các triệu chứng. Tuy nhiên, tay bác sỹ trẻ - một gã xanh rớt và đầy mệt mỏi, nom còn giống bệnh nhân hơn là bác sĩ - đã không coi trọng những lời cô nói. "Cô còn quên cái gì khác ngoài tên mình không?" Anh ta hỏi. Không, cô đáp. Giờ thì chỉ có tên tôi thôi. " Hừm. Điều này nghe như một dạng tâm thần ấy, " anh ta nói, giọng nói của anh ta không có bất kỳ sự quan tâm hoặc thông cảm nào. "Nếu cô bắt đầu quên những thứ khác ngoài tên của của cô thì hãy đến chỗ chúng tôi kiểm tra lại. Rồi sau đó chúng tôi có thể làm một số bài kiểm tra cho cô" Ở chỗ chúng tôi còn đầy người có triệu chứng nặng hơn cả cô ấy chứ, anh ta ngụ ý. Quên tên riêng của mình trong thoáng chốc cũng không phải việc to tát gì.

Một ngày nọ, giữa mục thông báo của tổ dân phố nhét vào hộp thư, cô bắt gặp một mẩu tin thông báo rằng văn phòng phường sẽ mở một trung tâm tư vấn. Đó chỉ là mẩu tin nhỏ, loại tin cô vẫn thường lướt qua. Trung tâm sẽ mở cửa hai lần một tháng và có một chuyên gia tư vấn, với mức phí giảm đáng kể, sẽ tư vấn cho mọi người một đối một. Bất kỳ cư dân nào của phường Shinagawa từ mười tám tuổi đều được tự do sử dụng các dịch vụ này, mẩu tin cho biết, và được tổ chức với sự kín đáo chặt chẽ đáng tin cậy nhất. Mizuki thấy hồ nghi về việc một trung tâm tư vấn được phường tài trợ liệu có thể làm gì cho ra tấm ra món hay không, nhưng cô cũng quyết định thử. Cũng chả mất gì, cô kết luận. Đại lý chỗ cô làm thường lu xu bu vào những ngày cuối tuần, nhưng nghỉ một ngày trong tuần không phải là việc quá khó khăn gì và cô có thể điều chỉnh thời gian biểu của mình để phù hợp với lịch trình của trung tâm tư vấn, điều này vốn không thực tế đối với những người làm việc bình thường. Trung tâm đề nghị một cuộc hẹn, vì vậy cô gọi điện thoại trước. Một buổi tư vấn ba mươi phút tốn hai ngàn yên, cũng không phải là một khoản tiền quá đắt phải trả. Cô đã hẹn trước một giờ chiều. Vào thứ Tư tuần sau.

Lúc cô đến trung tâm tư vấn ở tầng ba của văn phòng phường, Mizuki nhận ra cô là khách hàng duy nhất. "Người ta bắt đầu chương trình này khá đột ngột", chị tiếp tân giải thích, "và hầu hết mọi người vẫn chưa hay biết gì về nó. Một khi mọi người biết đến, tôi chắc rằng sẽ có thêm nhiều người tìm đến đây. Nhưng bây giờ chúng tôi đang rất rộng chỗ, chị may mắn lắm đấy.”

Người tư vấn, tên là Tetsuko Sakaki, là một người đàn bà vui vẻ, thân hình thấp đậm, tuổi ngoại tứ tuần. Mái tóc ngắn của chị nhuộm màu nâu nhạt, khuôn mặt tròn trịa nở một nụ cười đáng mến. Chị mặc trên mình một bộ đồ mát mùa hè màu sáng, áo lụa bóng loáng, đeo chiếc vòng cổ ngọc trai nhân tạo, và đi giày gót thấp. Nom chị còn giống một bà nội trợ thân thiện, hay đỡ đần người khác ở nhà bên hơn là một tư vấn viên.

"Chồng tôi làm việc ở văn phòng phường trong này luôn, cô em biết đó. Ông ấy là trưởng bộ phận của Công trình Công cộng ", chị nói với lối giới thiệu thân thiện. "Đó là cách chúng tôi có thể nhận được hỗ trợ từ phường và mở trung tâm tư vấn này. Thực tế mà nói, cô em là khách hàng đầu tiên của chúng tôi luôn và chúng tôi rất vui khi được gặp cô em. Hôm nay tôi không có cuộc hẹn nào khác cả, vì vậy hãy dành thời gian cho chúng tôi và nói chuyện thẳng thắn với nhau nhé. " Người đàn bà nói từ tốn, mọi thứ xung quanh chị đều có vẻ chậm rãi và thận trọng.

Rất vui được gặp chị, Mizuki nói. Mặc dù trong lòng cô đang tự hỏi liệu kiểu người như vậy có giúp được gì cho mình không.

"Cô em có thể yên tâm rằng tôi có bằng tư vấn và khá nhiều kinh nghiệm. Vì vậy hãy cứ kể hết mọi chuyện cho tôi nhé, "người đàn bà nói thêm, nghe có vẻ như chị đã đọc được tâm tư của Mizuki.

Chị Sakaki ngồi sau chiếc bàn làm việc phẳng lì làm từ kim loại. Còn Mizuki ngồi trên một chiếc ghế sofa nhỏ, cũ kỹ trông như thể mới được người ta kéo từ trong kho ra. Các khung lò xo rệu rã, và mùi ẩm mốc khiến mũi cô giật giật.

"Tôi đã thậm mong chờ sẽ nhận được một trong những chiếc ghế dài thoải mái, để nó ra dáng một văn phòng tư vấn hơn, nhưng này là tất cả những gì chúng tôi có thể nhận vào lúc này. Chúng tôi đang thỏa thuận với một tòa thị chính ở đây, thế nên mình cứ phải vật vã từng ngày với cái thói làm ăn quan liêu kiểu đó. Một nơi gớm ói. Tôi hứa lần sau chúng ta sẽ có một thứ gì đó tốt hơn để cô em có thể ngồi lên, nhưng mà tôi cũng hy vọng hôm nay cô em sẽ không quá bận tâm. "

Mizuki quay lại chìm mình vào chiếc sofa cũ mỏng dính và bắt đầu giải thích về chuyện cô thường quên tên mình nhiều như thế nào. Trong lúc đó chị Sakaki chỉ gật gật đầu. Chị không yêu cầu bất cứ câu hỏi nào, cũng không hiển lộ chút gì ngạc nhiên. Hầu như chị không thể hiện bất cứ âm thanh nào chứng tỏ là mình đang dõi theo Mizuki. Chị chỉ lắng nghe câu chuyện của Mizuki một cách nghiêm cẩn, và trừ những cái cau mày thi thoảng như thể chị đang cân nhắc điều gì đó, thì khuôn mặt của chị vẫn không hề biến đổi. Nụ cười nửa miệng của chị, cũng giống như một mảnh trăng xuân vào lúc xế tà, chẳng có chút gì dao động.

"Đúng là một ý tưởng tuyệt hay khi khắc tên em lên chiếc vòng tay", chị nhận xét sau khi Mizuki kết thúc. " Tôi thích cách em giải quyết nó. Điều đầu tiên là đưa ra một giải pháp thiết thực, để giảm thiểu bất cứ sự bất tiện nào. Tốt nhất là đối phó với vấn đề một cách thực tế còn hơn là bị tra tấn bởi cảm giác tội lỗi, ôm rơm nặng bụng mà, rồi cứ phải bồn chồn không yên. Tôi thấy được cô em khá thông minh. Và đấy cũng là một chiếc vòng tay rất đẹp. Nhìn nó vừa xinh khi đeo lên tay em. "

"Chị có nghĩ rằng việc quên mất tên mình có thể liên quan đến một căn bệnh nghiêm trọng hơn không ạ? Đã có ca nào giống như thế này chưa?" Mizuki hỏi.

Chị Sakaki nói, "Tôi không tin là có bất cứ căn bệnh nào lại có triệu chứng biểu hiện sớm như vậy. Tôi thấy khá lo, mặc dù các triệu chứng đã trở nên tệ hơn trong năm qua. Tôi đồ rằng cái này có thể dẫn đến các triệu chứng khác, hoặc chứng mất trí nhớ của cô em có thể lây lan sang các khu vực khác. Vì vậy hãy cùng chia sẻ từng bước từng bước một và xác định điểm bắt đầu. Tôi có thể tưởng tượng được từ khi em làm việc bên ngoài nhà, chứng quên tên của cô em hẳn phải lôi theo cả tá vấn đề khác. "

Chị Sakaki bắt đầu bằng cách hỏi một vài câu cơ bản về cuộc sống hiện tại của Mizuki. Em kết hôn bao lâu rồi? Em đang làm công việc gì? Sức khoẻ của em như thế nào? Chị đặt câu hỏi về thời thơ ấu của cô, về gia đình, việc học hành của cô. Những điều cô thích, cả những thứ cô không ưa. Sở trường, sở đoản. Mizuki cố gắng trả lời mỗi câu hỏi một cách trung thực, nhanh chóng và chính xác nhất có thể.

Mizuki lớn lên trong một gia đình khá bình thường, cùng cha mẹ và chị gái. Cha cô làm việc cho một công ty bảo hiểm lớn, và mặc dù theo nghĩa nào đó họ không giàu có gì, thì cô cũng không nhớ rằng họ đã làm tổn thương cô vì vấn đề tiền bạc bao giờ. Cha cô là một người nghiêm túc, trong khi mẹ cô vừa có chút kỹ tính và hay càm ràm. Chị gái cô thường đứng đầu lớp học, mặc dù theo Mizuki chị ấy là một cô nàng hời hợt và thích giấu diếm. Tuy vậy Mizuki chẳng có bất cứ vấn đề gì với gia đình mình và vẫn sống chung bình thường với họ. Cả nhà hầu như chưa hề tranh cãi to tiếng bao giờ. Bản thân Mizuki đã từng là một đứa con nít chẳng có gì nổi bật. Cô luôn khỏe mạnh, chả mấy khi ốm, nhưng điều đó cũng không nói lên rằng cô là một đứa bé chơi cừ thể thao – làm gì có. Cô cũng không mấy ủ dột về vẻ ngoài của mình, dù chưa có bất cứ ai khen cô thật là xinh hay từa tựa thế. Mizuki thấy mình khá thông minh, nhưng không nổi trội trong bất cứ lãnh vực nào. Thứ hạng của cô ổn - nếu đang tìm kiếm tên cô trong danh sách lớp, sẽ nhanh hơn nếu đếm từ đầu danh sách xếp hạng từ dưới lên. Cô cũng từng có một vài bạn tốt ở trường, nhưng tất cả họ đã chuyển đến những nơi khác sau khi kết hôn và bây giờ ít giữ liên lạc với nhau.

Cô không có bất kỳ phàn nàn đặc biệt nào về cuộc sống hôn nhân. Lúc đầu, cô và chồng cũng mắc phải những lỗi lầm thường có, có thể đoán trước được của những người trẻ mới cưới, nhưng theo thời gian họ cùng tự điều chỉnh với nhau để có được một cuộc sống tươm tất hơn. Chồng cô chẳng hoàn hảo ở bất kỳ phương diện nào (trừ tính thích tranh luận của anh ta, chứ gu thời trang của lão dường như không hề tồn tại), nhưng anh cũng có nhiều điểm tốt - anh tử tế, có trách nhiệm, sạch sẽ, không kén ăn và chẳng càm ràm. Anh hầu như hòa đồng với mọi người trong công việc, cả đồng nghiệp và ông chủ của mình. Tất nhiên đã có những lúc phát sinh khó chịu trong công việc, một kết quả không thể tránh được của chuyện hợp tác gần gũi với nhiều người mỗi ngày, nhưng anh vẫn không có vẻ quá căng thẳng vì nó.

Khi trả lời hết những câu hỏi này, Mizuki bị đánh thức bởi một cuộc sống thiếu hứng thú mà cô đã lèo lái. Chẳng có chút kịch tính nào sờ nổi vào cô. Nếu cuộc đời của cô là một bộ phim, ấy hẳn sẽ là một trong những bộ phim tài liệu về môi trường có ngân sách thấp đảm bảo ru khán giả ngủ lăn quay cu đơ ráo trọi. Cảnh quan trắng sáng kéo dài đến vô tận. Không có chuyển cảnh, không có cận cảnh, không có gì thú vị, chỉ là một kinh nghiệm bằng phẳng không hơn để thu hút người khác. Chẳng có gì đáng ngại, chẳng có gì được gợi lên. Thỉnh thoảng góc quay của máy sẽ biến chuyển từng chút một như thể lướt ra khỏi sự an phận của nó. Mizuki biết rằng công việc của một tư vấn viên là phải lắng nghe khách hàng của mình, nhưng cô bắt đầu cảm thấy tiếc cho người đàn bà đang phải nghe những câu chuyện về cuộc sống tẻ nhạt như vậy. Chắc chắn chị ta không thể ngăn nổi một cái ngáp dài vô tận. Nếu đó mà là mình và mình cứ phải nghe những câu chuyện dài lê thê về cuộc sống mòn như thế, Mizuki tự nghĩ, đến một lúc nào đó chắc mình sẽ ngã gục vì buồn chán mất.

Thế mà, Tetsuko Sakaki lại lắng nghe Mizuki một cách chăm chú, còn viết một vài ghi chép ngắn gọn nữa. Thỉnh thoảng chị hỏi một câu hỏi nhanh, nhưng phần lớn là chị im lặng, như thể tập trung hoàn toàn vào quá trình lắng nghe câu chuyện của Mizuki. Vài lần chị cất giọng nói, trong giọng của chị không hề gợi lên nỗi chán nản, thay vào đó là một sự ấm áp thể hiện mối quan tâm thực sự của chị. Lắng nghe giọng nói đặc biệt của Tetsuko, Mizuki thấy mình bình tĩnh hơn. Chưa bao giờ có ai chịu kiên nhẫn lắng nghe với mình trước đó cả, cô nhận ra. Khi cuộc nói chuyện của họ kết thúc hơn một tiếng sau, Mizuki cảm giác như trút được cả gánh nặng ra khỏi lồng ngực.

"Cô Ando, ​​cô có thể đến đây vào giờ này thứ Tư tuần tới không? " Chị Sakaki hỏi, với nụ cười tươi.

"Dạ, được chứ chị" Mizuki đáp. “Chị không thấy phiền nếu em đến chứ ạ?"

"Dĩ nhiên là không rồi. Miễn là cô em cảm thấy ổn với nó. Tư vấn mất rất nhiều đợt trước khi em có thể nhìn ra bất kỳ sự tiến bộ nào. Đây không giống như một chương trình gọi điện thoại vô tuyến mà em có thể dễ dàng kết nối mọi thứ, và chỉ cần thông báo cho người gọi đến "Cứ ở yên đó nhé!" Có thể mất thời gian, nhưng chúng mình cũng giống hội chị em bạn dì hàng xóm thôi mà, cả hai lại đều ở Shinagawa, vậy thì hãy dùng thời gian của mình để cùng làm nên chuyện nào.”

3

"Tôi tự thắc mắc là, liệu có bất kỳ sự kiện nào có thể gợi nhớ lại có liên quan đến tên của em không?" Chị Sakaki hỏi trong buổi tư vấn thứ hai. "Tên em này, tên của ai đó, tên đám thú cưng, hay tên của một địa danh em đã ghé thăm, hoặc không thì cũng là nick name? Bất cứ điều gì làm được với một cái tên. Nếu em có bất cứ ký ức nào liên quan đến một cái tên, tôi muốn em kể cho tôi nghe về nó. "

"Những thứ đã làm với cái tên ấy ạ?"

"Tên này, cách đặt tên, chữ ký, tên điểm danh... Nó có thể là một thứ rất bình thường, miễn là nó có liên quan đến cái tên. Ráng nhớ thử xem. "

Mizuki nghĩ về chuyện đó trong một lúc lâu.

"Em không nghĩ là mình có bất cứ ký ức đặc biệt nào về một cái tên," cô nói. "Ít nhất là không có cái gì đang gợi lên trong em ngay bây giờ. A... Nhưng em có mang máng nhớ về một cái thẻ tên."

"Một cái thẻ tên. Hay lắm."

"Nhưng đó không phải là thẻ tên của em," Mizuki nói. "Của ai đó khác cơ chị ạ."

"Không thành vấn đề. Cứ nói cho tôi biết về nó, " chị Sakaki nói.

"Như em đã đề cập hồi tuần trước, em từng đi học ở trường nữ sinh tư nhân cho cả cấp hai và cấp ba", Mizuki bắt đầu. "Em đến từ Nagoya còn trường học ở tít tận Yokohama nên em sống trong ký túc xá trường và về nhà vào mỗi cuối tuần. Em thường đi tàu hỏa Shinkansen về nhà vào mỗi tối thứ Sáu rồi trở lại vào đêm Chủ Nhật. Chỉ hai giờ đồng hồ là đến Nagoya, thành thử em cũng không cảm thấy cô đơn lắm. "

Chị Sakaki gật đầu. "Nhưng Nagoya không có nhiều trường nữ sinh tư nhân à? Sao em phải ra khỏi nhà và đi đến tận Yokohama? "

"Mẹ em tốt nghiệp ở trường đó và muốn một trong hai đứa con gái cũng vậy. Với lại em nghĩ sẽ tốt hơn nếu không sống cạnh bố mẹ mình. Trường ấy là một trường truyền giáo nhưng lại khá tự do. Em đã có những đứa bạn rất tốt ở đó. Bọn nó đều giống như em, đến từ những nơi khác nhau, với những bà mẹ đã tốt nghiệp từ trường này luôn. Em ở đó được sáu năm và cũng thích nó lắm. Có điều thức ăn lại dở ẹc. "

Chị Sakaki mỉm cười. "Em nói em có một chị gái nhỉ?"

"Vâng. Chị ấy lớn hơn em hai tuổi. "

"Thế sao cô ấy không đến trường đó học?"

"Chị ấy là một cô nàng thích ru rú ở nhà chính hiệu. Mà từ bé chị ấy cũng hay đau ốm vặt liên miên nữa. Vậy nên chị ấy đi học ở một trường làng và sống ở nhà luôn. Thành ra mẹ em muốn em vào trường ấy. Em luôn khỏe mạnh và độc lập hơn chị mình. Hồi em mới tốt nghiệp tiểu học xong, họ hỏi em có muốn đi học ở Yokohama không, em nói “Chơi luôn”. Ý tưởng leo lên tàu Shinkansen về nhà vào mỗi cuối tuần cũng là một điều thú vị. "

"Xin lỗi vì đã làm gián đoạn," Chị Sakaki nói, mỉm cười. "Em nói tiếp đi."

"Hầu hết mọi người đều có một đứa bạn cùng phòng trong ký túc xá, nhưng khi chị trở thành đàn chị, chị sẽ được cấp cho một phòng riêng. Em đã sống trong một trong những phòng riêng đó cho đến khi mọi chuyện xảy ra. Từ khi em còn là học sinh năm cuối, mọi người đã bầu cho em trở thành đại diện ký túc xá. Có một cái bảng ở lối vào ký túc với những thẻ tên treo trên đó cho mỗi đứa học sinh. Mặt trước thẻ tên ghi tên chị là màu đen, mặt sau là màu đỏ. Bất cứ khi nào chị đi ra ngoài, chị phải lật thẻ tên, và quay ngược lại khi đã về. Nghĩa là, tên ai có màu đen thì đứa đó còn đang ở trong ký túc xá; Còn nếu nó đỏ thì nghĩa là bạn đó đã ra ngoài. Nếu chị qua đêm ở đâu đó hoặc xin nghỉ phép một thời gian, thẻ tên của chị sẽ được tháo khỏi bảng. Học sinh thay phiên trực tại bàn làm việc và khi chị nhận được điện thoại từ một trong những học sinh, chị có thể dễ dàng thông báo tình hình của họ chỉ qua một cái liếc nhìn. Đó là một hệ thống rất tiện lợi. "

Chị Sakaki lại đưa ra lời khuyến khích để cô tiếp tục.

"Thế nhưng, chuyện xảy ra vào tháng Mười. Lúc đó là trước giờ ăn tối và em đang ngồi trong phòng mình để làm bài tập về nhà, khi ấy có một bạn học tên là Yuko Matsunaka đến gặp em. Bạn ấy là cô nàng xinh đẹp nhất trong cả ký túc xá này – làn da mướt rượt, mái tóc suôn dài, đẹp toàn diện, giống như búp bê ấy. Bố mẹ bạn ấy chèo chống một quán trọ kiểu Nhật nổi tiếng ở Kanazawa và khá vất vả. Vì bạn ấy không học cùng lớp em nên em cũng không chắc lắm, nhưng em nghe nói điểm của bạn ấy rất cao. Nói cách khác là, bạn ấy nổi bật theo nhiều phương diện. Thực tế có rất nhiều đàn em lớp dưới xin trồng cây si bạn ấy. Nhưng Yuko rất dễ gần và chẳng hề vênh váo tí nào. Bạn ấy là một cô gái an tĩnh, không phô bày nhiều cảm xúc của mình. Một cô gái rất đáng yêu, nhưng đôi khi em không thể hiểu được bạn ấy nghĩ gì. Các bạn gái khác có thể rất ngưỡng mộ bạn ấy nhưng em đồ rằng bạn ấy chỉ có vài người bạn thân mà thôi."

4

Mizuki đang ngồi bên bàn học, nghe đài radio trong phòng mình khi nghe thấy tiếng gõ cửa khe khẽ. Cô mở cửa ra, và nhìn thấy Yuko Matsunaka đứng đó, mặc một chiếc áo len ôm sát cao cổ với quần bò. Mình muốn nói chuyện với cậu, Yuko nói, nếu như cậu có thời gian. "Được mà," Mizuki nói, thẳng thắn đến mức làm người ta phải ngạc nhiên. Mizuki chưa bao giờ trò chuyện riêng chỉ hai người với Yuko, và cô cũng không bao giờ tưởng tượng được Yuko sẽ đến phòng cô để hỏi ý kiến của cô về bất cứ điều gì về cá nhân. Mizuki ra hiệu cho cô ngồi xuống, và pha một ít trà với nước sôi trong ấm giữ nhiệt của mình.

"Mizuki này, cậu có bao giờ cảm thấy ghen không?" Yuko bất ngờ lên tiếng.

Mizuki bị ngạc nhiên với câu hỏi đột ngột này, nhưng cô cũng nghiêm túc suy nghĩ.

"Không, mình nghĩ là mình chưa bao giờ ghen cả" cô trả lời.

"Chưa một lần nào luôn?"

Mizuki lắc đầu. "Ít nhất là khi cậu hỏi mình một cách đường đột như thế, nhưng mà mình không nhớ đã có lần bất kỳ nào. Ghen ấy hử... Nhưng mà ý cậu là gì? "

"Giống như khi cậu yêu ai đó nhưng người ấy lại yêu người khác. Giống như có thứ gì cậu thèm muốn lắm lắm nhưng lại có người có được nó. Hoặc có điều gì đó cậu muốn làm được, và ai đó khác có thể làm nó mà không cần nỗ lực chút gì... Kiểu kiểu vậy".

"Mình không nhớ là mình đã từng cảm thấy như thế", Mizuki nói. "Cậu thì sao?"

"Nhiều lắm."

Mizuki không biết phải nói gì. Một cô gái như thế này còn mong muốn gì hơn trong cuộc sống? Cô xinh đẹp, con nhà giàu, học thì giỏi và nổi tiếng ở trường. Bố mẹ lại thương yêu cưng chiều cô như trứng mỏng. Mizuki có nghe loáng thoáng rằng hồi cuối tuần cô ấy đã đi chơi với một sinh viên đại học bảnh trai. Vậy cô ta còn muốn cái giống gì trên quả đất này nữa chứ?

"Giống như cái gì, cậu ví dụ thử xem?" Mizuki hỏi.

"Mình không muốn nói," Yuko nói, lựa lời cẩn thận. "Với lại, có liệt kê hết từng chi tiết ra đây cũng vô ích thôi. Mình muốn hỏi cậu lâu lắm rồi – đã bao giờ cậu thấy ghen tị chưa. "

"Thật hử?"

"Ừm."

Mizuki không biết đó là chuyện gì, nhưng quyết tâm trả lời một cách trung thực nhất có thể. "Mình không nghĩ rằng mình đã từng có những trải nghiệm như thế", cô bắt đầu. "Mình không biết tại sao, và có vẻ hơi lạ nếu cậu bận tâm về nó. Ý mình là, nó không giống như việc có cả tấn tự tin, hoặc có được mọi thứ mình muốn. Trên thực tế có rất nhiều thứ làm mình nên cảm thấy thất vọng, nhưng vì bất cứ lý do nào, nó cũng không khiến mình phải đi ghen tỵ với ai cả. Mình cũng tự thắc mắc vì sao. "

Yuko Matsunaka mỉm cười dịu dàng. "Mình thì không nghĩ rằng ghen có nhiều liên quan đến điều kiện khách quan hay thực tế. Giống như là nếu cậu may mắn thì cậu sẽ không ghen tị, nhưng nếu cuộc sống đã không ban phước cho cậu, thì cậu sẽ ghen tị thôi. Ghen tị không vận hành theo cách đó. Nó giống như một khối u đang bí mật phát triển bên trong chúng ta và ngày càng lớn hơn, vượt quá mọi lý do. Ngay cả khi cậu đã phát hiện ra nó ở đó, cậu vẫn không thể làm gì để ngăn chặn nó. Giống như bảo rằng những người may mắn thì không bị mọc khối u, trong khi những người bất hạnh lại dễ mắc chúng hơn - không đúng, phải không? Đại khái là vậy."

Mizuki lắng nghe mà không nói gì. Yuko cũng hầu như không có gì để nói cùng lúc.

"Thật khó để giải thích sự ghen tị với ai đó chưa từng cảm nhận nó. Có duy nhất một điều mình biết rõ là rất khó sống với nó. Nó giống như việc phải đeo theo một phiên bản ác quỷ thu nhỏ của mình, ngày này qua ngày khác. Cậu nên biết ơn vì cậu đã không bao giờ cảm thấy thế. "

Yuko ngừng nói và nhìn thẳng vào Mizuki với một nụ cười chớp nhoáng lướt qua trên mặt. Bạn ấy thực sự rất dễ thương, Mizuki nghĩ lần nữa. Quần áo hợp mốt, điện nước đầy đủ. Mình sẽ cảm thấy thế nào nếu trở thành một người giống như bạn ấy - với một vẻ đẹp tuyệt vời khiến người khác phải dừng chân dù ở bất cứ đâu? Mình có thể tự hào về nó? Hay nó chính là gánh nặng?

Mặc dù nghĩ những điều này, nhưng Mizuki vẫn không bao giờ cảm thấy ghen tị với Yuko.

"Mình phải về nhà ngay bây giờ," Yuko nói, nhìn chằm chằm vào bàn tay đang đặt trước bụng. "Một trong những người thân của mình vừa qua đời và mình phải đi dự tang lễ. Quản lý ký túc xá đã cho phép rồi. Mình sẽ trở lại vào sáng thứ Hai, nhưng trong lúc mình đi, mình đã tự hỏi liệu cậu có thể giữ giùm mình thẻ tên được không?”

Cô lấy thẻ tên của mình cất trong túi và đưa nó cho Mizuki. Mizuki không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

"Mình không phiền gì cả nếu mình giữ nó cho cậu," Mizuki nói. "Nhưng tại sao cậu lại nhờ mình? Sao cậu không cất nó vào ngăn kéo bàn học? "

Yuko nhìn sâu hơn vào mắt Mizuki, khiến cô không thoải mái.

"Mình chỉ muốn cậu giữ nó cho mình lần này thôi," Yuko nói. "Có vài thứ làm phiền mình, và mình không muốn giữ nó trong phòng mình."

“Mình không bận tâm đâu," Mizuki nói.

"Mình chỉ không muốn có con khỉ nào trốn đi với cái thẻ tên trong lúc mình vắng mặt thôi," Yuko bảo.

"Mình ngờ rằng có mấy con khỉ nào đó ở đây đấy," Mizuki láu lỉnh. Câu này không phải để chọc cười như Yuko. Rồi Yuko rời khỏi phòng, để lại đằng sau là chiếc thẻ tên với tách trà chưa chạm đến, và một chỗ trống nơi cô mới vừa ngồi.

5

"Đến thứ Hai, Yuko vẫn chưa về ký túc xá," Mizuki kể với người tư vấn, chị Sakaki. "Giáo viên chủ nhiệm lớp bạn ấy rất lo lắng, nên thầy đã gọi điện cho bố mẹ bạn. Bạn ấy không hề về nhà. Không có ai trong gia đình bạn ấy qua đời, và chẳng có tang lễ nào cho bạn ấy đến dự. Bạn ấy đã nói dối về mọi chuyện và rồi biến mất. Người ta tìm thấy thi thể bạn ấy ngay tuần sau đó, vào lúc cuối tuần. Em nghe nói về chuyện đó khi em từ nhà lên sau kỳ nghỉ cuối tuần ở Nagoya. Bạn ấy đã tự sát nơi đâu đó trong rừng, cắt cổ tay. Khi người ta tìm thấy thì bạn ấy đã chết, toàn thân đẫm máu. Không ai biết tại sao bạn ấy lại làm vậy. Bạn ấy không hề để lại một di ngôn nào, và cũng không có động cơ gì rõ ràng cả. Bạn cùng phòng của bạn ấy nói trông bạn ấy vẫn giống như mọi khi. Không hề có vẻ bị khó chịu bởi chuyện gì. Yuko đã tự sát mà không nói một lời với bất cứ ai "

"Nhưng không phải cô bạn Matsunaka này đang cố nói gì với em ư?" Chị Sakaki hỏi. "Nên là cô ấy đã đến phòng của em, để lại thẻ tên của cô ấy cho em. Và còn nói về sự ghen tị của cô ấy. "

"Đúng là bạn ấy có nói về sự ghen tị với em. Em đã không làm được gì nhiều vào lúc đó, mặc dù sau đó em mới nhận ra bạn ấy đã muốn nói với ai đó về điều đó trước khi bạn qua đời. "

"Em có nói với ai rằng cô bé ấy đã đến phòng em trước khi tự sát chưa?”

"Không, em chưa bao giờ làm thế."

"Tại sao không?"

Mizuki nghiêng đầu và đưa ra vài suy nghĩ. "Nếu em kể với mọi người về chuyện đó, chỉ tổ gây ra thêm nhầm lẫn thôi. Không ai hiểu được cả, và nó cũng chẳng tạo ra chuyện tốt đẹp gì. "

"Ý em là ghen tị có thể là lý do cho việc tự tử của cô ấy?"

"Vâng. Nếu em nói với mọi người, họ có thể bắt đầu nghĩ điều gì đó sai về em. Ai trên cõi đời này có thể khiến một cô gái như Yuko ghen tị cơ chứ? Sau đó mọi người sẽ bị rối tung lên, và cực kỳ khó chịu, vì vậy em quyết định tốt nhất là giữ im lặng. Chị có thể tưởng tượng bầu không khí trong ký túc xá toàn là bánh bèo rồi đấy - nếu em tiết lộ bất cứ điều gì, thì cũng giống như đi châm một que diêm trong căn phòng toàn khí gas.”

"Chuyện gì đã xảy ra với cái thẻ tên?"

"Em vẫn giữ nó. Nó nằm trong một cái hộp nhét sau tủ quần áo của em. Cùng với thẻ tên của em luôn"

"Sao em vẫn giữ nó bên mình?"

"Mọi thứ đã trở nên om sòm ở trường và em mất luôn cơ hội để trả nó. Em càng chờ đợi lâu hơn thì lại càng trở nên khó khăn hơn để trả lại. Nhưng em cũng không thể tự mình vứt nó đi được. Với lại, em bắt đầu nghĩ rằng có lẽ Yuko muốn em giữ cái thẻ tên đó. Thế nên bạn ấy đã đến phòng em ngay trước khi bạn ấy mất và để nó lại với em. Tại sao bạn ấy lại chọn em, em cũng không biết nữa. "

"Kỳ lạ nhỉ. Em và Yuko vốn cũng không thân thiết gì, nhưng cô bé ấy lại chọn em. "

"Sống trong một ký túc xá nhỏ, tự nhiên bọn em sẽ biết mặt nhau thôi," Mizuki nói. "Mỗi lần như thế bọn em chỉ trao đổi một vài từ. Nhưng bọn em học ở hai khối khác nhau, và cả hai chưa bao giờ nói về bất cứ chuyện gì riêng tư cả. Có khi bạn ấy đến gặp em vì em là đại diện học sinh trong ký túc xá. Chứ em cũng không thể nghĩ ra lý do nào khác. "

"Có lẽ Yuko quan tâm đến em vì vài lý do khác. Có thể cô ấy bị em thu hút. Mà cũng có thể cô ấy đã nhìn thấy một điều gì đó trong em nên cô ấy bị cuốn về phía em. "

"Em không biết về điều đó," Mizuki nói.

Chị Sakaki im lặng, nhìn chằm chằm một lúc lâu vào Mizuki như thể cố gắng chắc chắn về điều gì đó.

"Bỏ hết những chuyện đó sang một bên, cô em thực sự đã bao giờ cảm thấy ghen tị chưa? Chưa một lần trong đời em?”

Mizuki không vội đáp lại ngay. "Em không thấy thế. Thậm chí chưa một lần nào. "

"Có nghĩa là em không hiểu được ghen tị là gì?"

"Nhìn chung ,em nghĩ rằng em có thể hiểu - ít nhất là căn nguyên có thể gây ra nó. Nhưng em không biết ghen tị thực sự sẽ cảm thấy thế nào. Làm thế nào áp đảo được nó, khi nào nó trôi qua, mình phải dằn vặt vì nó bao lâu. "

"Em nói đúng," chị Sakaki nói. "Sự ghen tị đi qua nhiều giai đoạn. Tất cả cảm xúc của con người đều là thế. Khi nó không nghiêm trọng, mọi người gọi nó là sự giày vò hay cơn tị nạnh. Có sự khác biệt trong cường độ, nhưng hầu hết mọi người cảm thấy những cảm xúc ít căng thẳng hơn như là một vấn đề đương nhiên phải thế. Giống như việc một trong những đồng nghiệp của em được thăng tiến trước em, hoặc một học trò trong lớp em trở thành cục cưng của cô giáo. Hay là một lão hàng xóm trúng Vietlott chẳng hạn. Đó chỉ là sự ghen tị. Dường như không công bằng, và em ba máu sáu cơn lên. Một phản ứng hoàn toàn tự nhiên. Em có chắc là em chưa bao giờ cảm thấy điều đó chứ? Em thậm chí không bao giờ ghen tị với người khác? "

Mizuki đưa ra vài suy nghĩ. "Em không nghĩ là em có. Tất nhiên có rất nhiều người may mắn hơn em. Nhưng điều đó không đồng nghĩa là em phải đi ghen tị với họ. Em hình dung cuộc sống của mọi người đều khác nhau. "

"Vì mọi người khác nhau thì thật khó để so sánh họ với nhau?"

"Em cho là vậy."

"Một quan điểm rất thú vị ...", chị Sakaki nói, hai tay đan vào nhau đặt lên bàn làm việc, giọng nói thoải mái của chị lộ rõ niềm vui thích. "Dù sao, đó chỉ là những trường hợp nhẹ, ghen tị như chúng ta đã nói. Trong trường hợp cơn ghen dữ dội, mọi thứ không đơn giản như vậy đâu. Với ghen tị như một loại ký sinh trùng có gốc rễ trong tim em, và như cô bạn của em đã nói, nó sẽ trở nên giống một căn bệnh ung thư đục khoét tâm hồn em. Trong một vài trường hợp thậm chí có thể dẫn người ta đến đường chết. Họ không kiểm soát nổi nó, và cuộc sống của người đó thật sự trở thành một địa ngục sống. "

Sau khi Mizuki trở về nhà, cô lấy ra một chiếc hộp bìa cứng cũ được bọc trong băng dính từ sau tủ quần áo của cô. Cô đã đặt chiếc thẻ tên của Yuko vào đó cùng với thẻ của mình bên trong một cái phong bì, vì vậy chúng vẫn còn ở đó. Tất cả các sự kiện trong cuộc đời của Mizuki đều được nhồi vào trong những bức thư cũ của trường, nhật ký, album ảnh, sổ liên lạc. Cô từng có ý định vứt chúng đi, nhưng lại luôn bận tối mặt, vì vậy cô vẫn kéo chúng theo mỗi khi chuyển nhà. Nhưng không có chiếc phong bì nào cả. Cô bèn vứt bớt đồ trong hộp đi và xếp lại kỹ càng, nhưng vẫn không tìm thấy. Cô đâm bối rối quá. Khi cô dọn đến căn hộ này, cô đã kiểm tra nhanh qua các món đồ trong hộp và nhớ rõ ràng là mình có thấy chiếc phong bì. Thế là mình vẫn có, cô nghĩ tiếp, ấn tượng với nó chứ. Cô đã đóng dấu tên vào trong chiếc phong bì và không hề mở hộp ra một lần nào kể từ ngày đó. Vì vậy, phong bì phải ở đây chứ. Nó có thể biến đi đằng quái nào được?

6

Kể từ lúc cô đến phòng tư vấn của phường mỗi tuần một lần, và trò chuyện với chị Sakaki, Mizuki không còn lo nghĩ nhiều về việc quên tên mình nữa. Cô vẫn quên nhiều như trước, nhưng các triệu chứng dường như đã ổn định, và không có gì khác bốc hơi khỏi bộ nhớ của cô. Nhờ chiếc vòng đeo tay, cô cũng tránh được sự bối rối. Thi thoảng cô thậm chí còn bắt đầu cảm thấy việc quên tên mình chỉ là một phần của cuộc sống.

Mizuki giữ bí mật về các buổi tư vấn với chồng mình. Cô không có ý định giấu diếm với anh ta, nhưng giải thích hết mọi chuyện có khi còn lôi thôi hơn là đáng để kể. Cô hiểu tính chồng mình, chồng cô sẽ yêu cầu cô giải thích mọi chi tiết. Và ngoài ra, việc tự dưng quên mất tên mình rồi còn đi gặp tư vấn tâm lý mỗi tuần một lần thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến anh ta cả. Mà lệ phí lại còn thấp ở mức tối thiểu nữa chứ.

Hai tháng trôi qua. Mỗi thứ Tư hàng tuần Mizuki đều đến văn phòng trên tầng ba của văn phòng phường để được tư vấn. Số lượng khách giờ đã tăng lên một chút, vì vậy người ta phải giảm thời lượng một tiếng xuống còn 30 phút. Tuy nhiên, thời gian giảm bớt cũng không quan trọng gì, vì họ đã có cùng tần số và tận dụng tốt thời gian của mình với nhau. Đôi khi Mizuki muốn cả hai có thể nói chuyện lâu hơn, nhưng với mức phí thấp đến vô lý ấy, cô còn thể phàn nàn gì được.

"Đây là buổi tư vấn thứ chín của chúng ta với nhau," chị Sakaki nói, năm phút trước khi kết thúc buổi trò chuyện. "Em không đỡ quên tên của em, nhưng nó cũng không trở nên tệ hơn, phải không?"

"Không ạ, không có," Mizuki nói. "Các triệu chứng khá ổn định."

"Tuyệt lắm" chị Sakaki nói. Chị đút lại cây bút bi đen vào túi và đặt hai nắm tay lên bàn. Chị thoáng ngưng lại một chốc. "Có lẽ-có lẽ thôi nhé-khi em đến đây vào tuần tới, chúng mình có thể đạt được những bước tiến lớn hơn về vấn đề mình đang thảo luận."

"Ý chị là việc em quên tên mình?"

"Chính xác. Nếu mọi thứ trở nên tốt hơn, chúng ta sẽ có thể xác định được nguyên nhân chủ yếu và thậm chí em có thể nhìn nhận nó. "

"Về lý do sao em quên tên mình ấy ạ?"

"Phải."

Mizuki không thể nắm bắt được những gì cô đang nghe. "Khi chị nói là một nguyên nhân rõ ràng... Ý chị là nó có thể nhìn thấy được?"

"Dĩ nhiên là nó có thể nhìn thấy rồi," chị Sakaki nói, xoa xoa hai tay vào nhau với sự hài lòng. "Một thứ gì đó chúng ta có thể đặt lên đĩa và nói, “Của cưng đây”! Tôi không thể đi sâu vào chi tiết cho đến tuần tới. Ở thời điểm này, tôi vẫn không chắc chắn liệu nó có thể lộ ra hay không. Tôi chỉ hy vọng là có. Và nếu có thật thì cũng đừng lo lắng; Tôi sẽ giải thích toàn bộ chuyện này cho cô em. "

Mizuki gật đầu.

“Dù sao đi nữa, những gì tôi đang cố nói là chúng mình đã lên bờ xuống ruộng với ca này nhưng rốt cuộc mọi thứ cũng đang hướng về một lời giải đáp. Em nghe các cụ nói chưa – “Lùi một bước tiến ba bước”? Thế nên đừng có lo gì cả. Chỉ cần tin vào chị đại thành tinh Sasaki này thôi. Tôi sẽ gặp em vào tuần tới nhé. Và đừng có quên lên lịch hẹn trên đường về. "

Chị Sasaki kết chuyện bằng một cái nháy mắt.

7

Một giờ chiều tuần kế tiếp khi Mizuki bước vào phòng tư vấn, chị Sakaki đã ngồi sẵn sau bàn làm việc của mình với nụ cười rạng rỡ nhất Mizuki từng thấy.

"Tôi đã khám phá ra lý do tại sao em lại quên tên mình," chị tự hào tuyên bố. "Và chúng tôi đã tìm ra lời giải."

"Vậy là em sẽ không quên tên mình nữa ạ?" Mizuki hỏi.

"Chính xác. Em sẽ không còn quên tên của em nữa. Chúng tôi đã giải quyết được vấn đề và “săn sóc” nó. "

"Vậy cái khỉ gì trên đời này là nguyên do dẫn đến chuyện ấy cơ?" Mizuki hỏi một cách đầy nghi ngờ.

Chị Sasaki lấy ra một thứ gì đó từ chiếc túi xách tráng men đen để bên cạnh và đặt vật đó lên bàn.

"Tôi tin rằng cái này là của em.”

Mizuki nhổm dậy từ ghế sofa và đi đến chỗ bàn làm việc. Trên bàn là hai chiếc thẻ tên. “Mizuki Ozawa” được viết trên một mặt, và “Yuko Matsunaka” ở mặt còn lại. Mặt Mizuki tái mét. Cô quay lại ghế sofa và ngồi thụp xuống, không nói nổi nên lời suốt một lúc lâu. Cô bịt chặt tay lên miệng mình như cố cản mọi lời nói muốn thoát ra.

"Không ngạc nhiên khi thấy em kinh ngạc," chị Sakaki nói. "Nhưng em đừng lo, tôi sẽ giải thích hết mọi thứ. Thả lỏng đi nào. Không có gì phải sợ hãi cả. "

"Nhưng làm sao mà... ?" Mizuki ấp úng.

"Làm sao mà tôi lại có được thẻ tên ở trường trung học của em phải không?"

"Vâng. Em chỉ không ... "

"Không hiểu là ra mô tê gì?"

Mizuki gật gật đầu.

"Tôi đã phục hồi chúng cho em," chị Sakaki nói. "Những thẻ tên đó đã bị đánh cắp từ chỗ em và đó là lý do khiến em gặp khó khăn khi nhớ tên em. Vậy nên chúng tôi đã lấy lại thẻ tên để em nhớ lại được tên của mình.”

"Nhưng kẻ nào đã... ?"

"Kẻ nào đã đột nhập vào nhà của em và ăn cắp hai thẻ tên này chứ gì? Và với mục đích gì phải không? " Chị Sakaki nói. "Thay vì để tôi trả lời, tôi nghĩ rằng tốt nhất là em nên yêu cầu đương sự trực tiếp chịu trách nhiệm".

"Người làm ra những chuyện này đang ở đây ư?" Mizuki hỏi với vẻ ngạc nhiên.

"Tất nhiên rồi. Chúng tôi đã bắt được “nó” và lấy lại các thẻ tên. Tôi không có tự mình bắt “nó” đâu, em đừng có tưởng tượng lung tung nữa. Ông xã tôi và một trong những đàn em của ông ấy mới làm chuyện đó. Có nhớ là tôi có nói với em rằng ông xã tôi là trưởng phòng của Vụ Công trình Shinagawa không? "

Mizuki gật đầu không suy nghĩ.

"Nên em sẽ nói gì khi chúng ta đi gặp thủ phạm? Sau đó hãy trình bày suy nghĩ của mình với nó khi cả hai đối diện nhau."

Mizuki đi theo chị Sakaki ra khỏi văn phòng tư vấn, xuống hành lang, và vào thang máy. Họ đến một tầng hầm, lại đi xuống một hành lang dài vắng vẻ, lộ ra một cánh cửa nơi cuối đường. Chị Sakaki gõ cửa, một giọng đàn ông lên tiếng mời họ vào, và chị mở cửa.

Trong phòng là một người đàn ông cao dong dỏng, khá gầy, tuổi trạc ngũ tuần, và một cậu thanh niên khác đô con hơn cỡ chừng đầu hai đít chơi vơi, cả hai đều mặc đồng phục chất vải kaki phản quang. Người đàn ông lớn tuổi đeo một thẻ tên trên ngực có dòng chữ "Sakaki," còn cậu chàng nhỏ tuổi hơn thì đeo dòng chữ "Sakurada “. Trong tay Sakurada cầm một cây dùi cui đen xì dùng để tuần đêm.

"Tôi đoán cô là cô Mizuki Ando phải chứ?" Anh Sakaki hỏi. "Tôi tên là Yoshio Sasaki, chồng của Tetsuko. Tôi là trưởng phòng Cục Công trình công cộng ở đây. Còn đây là chú Sakurada, đồng nghiệp của tôi."

"Rất vui được gặp anh," Mizuki nói.

"Nó có gây rắc rối gì cho các anh không?" Chị Sakaki hỏi chồng.

"Không, anh nghĩ là nó khá biết thân biết phận đấy," anh Sakaki nói. "Chú Sakurada này đã để mắt tới nó suốt cả ngày, và có vẻ nó rất biết điều."

"Nó câm như hến ấy", Sakurada nói, nghe giọng ỉu xìu. "Nếu nó dám càn rỡ thì em đã tẩn cho nó một bài học nhớ đời, nhưng không có chuyện gì kiểu kiểu vậy xảy ra."

"Sakurada là đội trưởng của đội karate ở Đại học Meiji, và là một trong những chàng trai trẻ triển vọng của bọn anh”, anh Sakaki nói.

"Thế thì... Đây là kẻ đã đột nhập vào nhà em và chôm chỉa mất mấy cái thẻ tên ư?" Mizuki băn khoăn.

"Đúng vậy cô em ạ. Sao chúng ta không giới thiệu cô em với nó nhỉ?" Chị Sakaki nói.

Có một cánh cửa ở phía sau căn phòng. Anh Sakurada mở cửa, bật đèn. Anh quét mắt nhanh khắp lượt cả căn phòng rồi quay sang bảo những người khác. "Có vẻ OK đấy. Đi vào trong thôi.”

Anh Sakaki đi vào đầu tiên, tiếp theo là vợ anh, cùng Mizuki bước theo phía sau.

Phòng này giống như một dạng nhà kho. Không có đồ đạc gì, chỉ có một cái ghế và một con khỉ đang ngồi lên. Nom nó lớn hơn khỉ thường nhưng lại khá thấp bé so với con người trưởng thanh, chỉ lớn hơn học sinh tiểu học một tí thôi. Lông nó dài hơn mức bình thường so với một con khỉ và rải màu muối tiêu. Thật khó để đoán tuổi của nó, nhưng chắc chắn nó không còn nhỏ nữa. Tay và chân của con khỉ bị buộc chặt bằng một sợi dây mỏng vào chiếc ghế gỗ, cái đuôi dài của nó buông thõng xuống sàn nhà. Khi Mizuki bước vào, con khỉ ném một ánh mắt rất nhanh về phía cô, sau đó nó nhìn chằm chằm xuống dưới mặt đất.

"Một con khỉ?" Mizuki kinh ngạc hỏi.

"Đúng thế cô em ạ" chị Sakaki trả lời. "Một con khỉ đánh cắp mấy cái thẻ tên trong căn hộ em ở."

Mình không muốn có con khỉ nào tẩu thoát cùng với thẻ tên của mình đâu, Yuko đã nói như thế. Hóa ra nó không phải là một câu đùa, giờ Mizuki mới vỡ lẽ. Yuko đã biết tất cả về điều này. Một cơn ớn lạnh trào lên cột sống của Mizuki.

"Nhưng làm sao chị có thể?..."

"Làm sao tôi có thể biết về điều này chứ gì?" Chị Sakaki nói. "Như tôi đã nói với em khi chúng ta gặp nhau lần đầu, tôi là một chuyên gia. Một người hành nghề được cấp phép, với nhiều năm kinh nghiệm. Đừng trông mặt mà bắt hình dong chứ. Em đừng cho rằng một con mụ cung cấp dịch vụ tư vấn rẻ tiền ở văn phòng phường thì sẽ có kỹ năng hạn hẹp hơn mấy ông bà ngồi trong các tòa nhà xa xỉ bật điều hòa phà phà cả ngày. "

"Tất nhiên là không rồi. Chỉ là em rất rất ngạc nhiên, và em... "

"Đừng quắn quéo lên thế. Tôi chỉ đùa thôi! "Chị Sakaki cười. "Nói thật, tôi biết mình là một người cổ quái. Thành thử tôi không làm việc lâu được ở những tổ chức và các viện nghiên cứu. Tôi thích làm theo cách riêng của mình ở một nơi như thế này. Vì như em đã quan sát được đấy, cách làm việc của tôi hơi bị độc. "

"Nhưng rất hiệu quả", ông chồng chị bổ sung.

"Vậy là con khỉ đã đánh cắp cái thẻ tên ạ?" Mizuki hỏi.

"Phải, nó đã lẻn vào căn hộ em ở và xu mấy cái thẻ tên từ tủ quần áo của em. Ngay khoảng thời gian em bắt đầu quên tên mình, khoảng một năm trước, tin được không? "

"Vâng, chính là khoảng thời gian đó."

"Nhà cháu rất xin lỗi," con khỉ cất giọng nói, đây là lần đầu tiên nó lên tiếng, giọng của khỉ thấp nhưng rất sinh động, gần với nhạc tính cao.

"Nó có thể nói được này!" Mizuki kêu lên, mặt đần thối ra.

"Vâng, nhà cháu nói được ạ," con khỉ trả lời, vẻ mặt của nó không biến hóa gì. "Có một điều khác nhà cháu phải xin lỗi cô. Khi nhà cháu đột nhập vào chỗ của cô để lấy cắp thẻ tên, nhà cháu đã tự tiện vặt lấy mấy quả chuối. Nhà cháu đã không có ý định lấy bất cứ thứ gì ngoài thẻ tên, nhưng nhà cháu đói sôi lên và mặc dù biết là không nên, rốt cuộc nhà cháu vẫn ăn mất hai quả chuối để trên bàn. Bọn chuối nom ngon đến không thể hoãn cái sự sung sướng lại ạ, khẹc khẹc!"

"Con khỉ hâm dở này," Cậu Sakurada nói, đập đập cái dùi cui trong tay. "Ai biết được mày còn muốn cái gì nữa chứ? Mày có thích tao nướng mày lên để khảo không hả? "

"Nhẹ nhàng thôi nào," anh Sakaki nói với cậu ta. "Nó đã thú nhận về cả chuyện mấy quả chuối, mà bên cạnh đó, nó cũng có chống trả tôi như loại trẻ trâu trẻ khỉ gì đâu. Ta không nên làm điều gì dữ dằn quá cho đến khi nghe được thêm nhiều chuyện. Nếu người ta phát hiện ra chúng ta ngược đãi một con vật trong văn phòng phường, chúng ta có thể gặp rắc rối to đấy. "

"Sao khỉ lại lấy cắp thẻ tên của tôi?" Mizuki hỏi con khỉ.

"Nhà cháu phải làm thế. Nhà cháu là một con khỉ phải lấy tên người khác, "con khỉ trả lời. "Đó là loại bệnh mà nhà cháu phải chịu đựng. Một khi nhà cháu nhìn thấy một cái tên nào thì nhà cháu không thể ngăn lại bản thân mình. Không phải bất cứ cái tên nào nhà cháu cũng lấy đâu ạ. Nhà cháu sẽ đi tìm một cái tên thu hút cháu nhất, một cái tên thực đặc biệt, nhà cháu phải có được nó. Nhà cháu lẻn vào nhà người ta và ăn trộm những cái tên đó. Nhà cháu biết thế là sai, nhưng nhà cháu không kiểm soát bản thân được. "

"Có phải khỉ là kẻ đã cố đột nhập vào ký túc xá của bọn tôi và ăn trộm thẻ tên của Yuko không?"

"Vâng ạ. Nhà cháu trót yêu nàng Matsunaka điên lên được. Nhà cháu chưa bao giờ bị ai đó thu hút trong cuộc đời khỉ này. Nhưng nhà cháu làm sao biến nàng ấy thành của mình được. Nhà cháu thấy nó quá nhiều vấn đề phải xử lý, với tư cách một con khỉ, vì vậy nhà cháu quyết định rằng dân chơi không sợ mưa rơi, ít nhất nhà cháu phải có được tên nàng cho riêng mình. Nếu nhà cháu có thể sở hữu tên của nàng thì sẽ mãn nguyện lắm. Là một con khỉ mình có thể đòi hỏi gì thêm nữa? Nhưng trước khi nhà cháu có thể thực hiện kế hoạch của mình, thì nàng đã mất rồi. "

"Khỉ có liên quan gì đến việc tự tử của bạn ấy không?"

"Không, không hề," con khỉ nói, lắc đầu một cách dứt khoát. "Nhà cháu không làm gì dính đến chuyện đó. Nàng bị choáng ngợp bởi bóng tối bên trong nội tại, và không ai có thể cứu rỗi nàng."

"Nhưng sau bao nhiêu năm khỉ lại biết rằng thẻ tên của Yuko đang ở chỗ tôi?"

"Phải mất một thời gian dài để theo dõi nó. Chẳng bao lâu sau khi nàng Matsunaka qua đời, nhà cháu đã cố gắng lấy được thẻ tên của nàng, nhưng nó đã biến mất tăm trước khi nhà cháu lấy được. Không ai biết nó ở đâu. Nhà cháu đã cố gắng lục lọi đến từng xó xỉnh một để tìm ra nó, nhưng cho dù có làm gì, nhà cháu cũng không thể định vị được nó. Nhà cháu không nghĩ ra lúc ấy nàng Matsunaka đã để lại thẻ cho cô giữ, vì cô không đặc biệt gần gũi với nàng ấy. "

"Đúng," Mizuki nói.

"Nhưng một ngày nọ nhà cháu đã có chút linh tính, có lẽ - có lẽ thôi - nàng ấy đã để lại thẻ tên của mình cho cô. Ấy là vào mùa xuân năm ngoái. Phải mất một thời gian dài để theo dõi cô - để tìm ra là cô đã kết hôn, tên của cô bây giờ là Mizuki Ando, ​​rằng cô đang sống trong một căn hộ ở Shinagawa. Là một con khỉ thì điều tra chậm như thế nào, cô có thể tưởng tượng được đấy. Dù sao đi nữa, đó cũng là cách nhà cháu lẻn vào căn hộ của cô để trộm lấy nó. "

"Nhưng tại sao khỉ lại ăn cắp thẻ tên của tôi? Sao không phải chỉ Yuko thôi? Tôi đã phải chịu đựng rất nhiều vì những gì khỉ đã làm. Tôi không thể nhớ nổi cả tên của mình!"

"Nhà cháu thực rất, rất xin lỗi," con khỉ nói, ngúc ngắc đầu trong nỗi xấu hổ. "Khi nhà cháu nhìn thấy một cái tên nhà cháu thích, nhà cháu sẽ lấy nó. Điều này thật đáng hổ thẹn, nhưng tên của cô thật sự làm cho trái tim cháu có chút rung cảm. Như nhà cháu đã nói, đó là một loại bệnh tật. Nhà cháu đã quá phận vì không thể kiểm soát nổi mình. Nhà cháu biết thế là sai, nhưng vẫn cứ làm. Nhà cháu thật tình xin lỗi sâu sắc về tất cả những vấn đề nhà cháu gây ra cho cô. "

"Con khỉ này trốn trong hầm cống ở Shinagawa," chị Sakaki nói, "thế nên tôi đã yêu cầu chồng tôi và mấy cậu đệ tử đi vây bắt nó. Thành công tốt đẹp hết sức, vì anh ấy là trưởng bộ phận Công trình Công cộng và họ phụ trách hệ thống cống rãnh. "

Anh Sakaki nói thêm: "Chú em Sakurada đây đã làm hầu hết mọi việc đấy chứ.”

"Đội Công trình công cộng phải nhổm dậy để ý khi thấy một nhân vật đáng ngờ như thế này đang trốn trong cống của chúng ta.”, Sakurada nói giọng đầy tự hào. "Dường như con khỉ này đã có một nơi ẩn náu bên dưới Takanawa - nơi nó sử dụng như một trụ sở cho các hoạt động tìm kiếm trên khắp Tokyo."

"Không có chỗ cho chúng cháu sống trong thành phố," con khỉ nói. "Không còn nhiều cây xanh, ít nơi râm mát vào ban ngày. Nếu chúng cháu đi trên mặt đất, mọi người sẽ vây chúng cháu lại và cố bắt lấy bọn cháu. Bọn con nít ném đồ đạc vào người bọn cháu hoặc bắn bọn cháu bằng những cây súng bắn bi. Những con chó to rộ lên xông vào cắn xé bọn cháu. Nếu bọn cháu nghỉ mệt trên cây, các nhân viên ở đài truyền hình sẽ lại ùa đến và chiếu đèn vào bọn cháu. Bọn cháu không bao giờ được nghỉ ngơi dù chỉ giây lát, vì vậy bọn cháu phải ẩn nấp dưới lòng đất. Xin hãy tha thứ cho chúng cháu. "

"Nhưng làm thế nào mà chị biết con khỉ này đã trốn trong ống cống?" Mizuki hỏi chị Sakaki.

"Như chúng mình đã trò chuyện trong vòng hai tháng qua, nhiều điều dần trở nên sáng tỏ với tôi, giống như gạt bỏ được lớp sương mù," chị Sakaki nói. "Tôi nhận ra hẳn phải có kẻ nào đã trộm mất tên em, và đã có thứ gì đó được cất giấu dưới lòng đất ở quanh đây. Nếu như em đã hỏi về lòng ngầm dưới thành phố này,thì trong giới hạn các khả năng – nơi nó có thể ẩn nấp một là bến tàu điện ngầm, hai là hệ thống ống cống.Vậy nên tôi đã kể với ông xã rằng tôi nghĩ là có một số loài sinh vật nào đó không phải là con người, đang sống trong các ống cống và nhờ ông ấy để mắt đến. Thế cũng vừa hay, họ tìm ra được luôn con khỉ này.”

Mizuki cạn lời trong một lúc lâu. "Nhưng mà... Làm sao để chị nghĩ thế khi chỉ nghe lời kể của em?"

"Có lẽ tôi không nên nói những điều này với tư cách là chồng bà ấy", anh Sakaki nói với một vẻ mặt nghiêm túc, "nhưng vợ tôi là một người đặc biệt, có năng lực dị thường. Trong suốt hai mươi hai năm chung sống cùng bà ấy, tôi đã chứng kiện nhiều sự kiện lạ xảy ra. Thế nên tôi đã cày cật lực để phụ bà ấy mở trung tâm tư vấn này trong văn phòng phường. Tôi thừa hiểu miễn là bà ấy có được một nơi để vận dụng tốt sức mạnh của mình, thì các cư dân của Shinagawa sẽ được hưởng phúc lợi nhiều nhất. Nhưng mà tôi rất mừng vì chúng ta đã bóc được màn bí mật. Phải thừa nhận là tôi đã thở phào nhẹ nhõm đấy. "

"Các anh tính làm gì với con khỉ?" Mizuki hỏi.

"Không thể để cho nó sống," Sakurada bất chợt phát biểu. "Cho dù nó có bẻm mép viện ra đủ thứ lý do lý trấu gì với cô, một khi nó đã làm được mấy trò con bò này một lần thì vẫn có thể sẽ giở trò thêm nhiều lần nữa, cô không đếm xuể đâu. Cho nó thăng thiên luôn. Thế là ngon nhất. Rồi phơ cho nó một quả chất khử trùng là gọn gàng như lên sàn.”

"Gượm đã, bây giờ," anh Sakaki nói. "Cho dù chúng ta có bất cứ lý lẽ gì, nhưng nếu có những nhóm hội bảo vệ động vật phát hiện ra chúng ta đã sát sinh một con khỉ, người ta sẽ làm ầm ĩ to chuyện lên và rồi chú có cày hộc cơm ra cũng không đủ mà đền đâu. Chú có nhớ khi ta khử bớt lũ quạ, mùi hôi thối bốc lên không ai chịu nổi không? Tôi muốn tránh lặp lại chuyện đó. "

"Nhà cháu cầu xin mọi người, xin đừng giết nhà cháu," con khỉ bị trói gô nài nỉ, cúi đầu càng sâu hơn. "Những gì nhà cháu đã làm là sai. Nhà cháu hiểu được điều đó chứ. Nhà cháu đã gây ra cho con người rất nhiều rắc rối. Nhà cháu không cố gắng để tranh cãi với mọi người, nhưng cũng có những ưu điểm xuất phát từ hành động của nhà cháu mà. "

"Điều gì có thể là ưu điểm trong chuyện đi chôm chỉa tên người khác chứ? Giải thích coi", anh Sakaki nói gay gắt.

"Nhà cháu đã đi trộm tên của người khác, không nghi ngờ gì về điều đó nữa. Tuy nhiên khi làm chuyện đó, nhà cháu cũng có thể xóa bỏ được vài yếu tố tiêu cực với cái tên ấy. Nhà cháu không có ý khoe khoang, nhưng nếu quay lại lúc ấy mà có thể trộm được tên của Yuko Matsunaka, thì nàng có lẽ đã không tự tước đi mạng sống của chính mình rồi.”

"Tại sao khỉ lại nói thế?" Mizuki hỏi.

"Nếu nhà cháu thành công trong việc trộm mất tên nàng, thì nhà cháu có thể lấy đi được những mảng hắc ám bị ẩn giấu bên trong nàng," con khỉ nói. "Mang bóng tối của nàng đi xa, cùng với cái tên đẹp đẽ của nàng trở lại thế giới ẩn sâu dưới lòng đất ấy."

"Nghe tiện nhỉ. Tao không tin đâu" Sakurada nói. "Mạng sống con khỉ này đang ngàn cân treo sợi tóc, nên đương nhiên nó sẽ dùng bất cứ mánh khóe nào để bào chữa cho hành động của nó thôi."

"Hình như không phải thế đâu" chị Sakaki nói, khoanh tay lại, sau khi đã suy nghĩ về những lời khỉ nói. "Sau rốt nó vẫn có thể có ưu điểm mà." Chị quay sang con khỉ. "Khi chú mày ăn trộm tên người ta thì chú mày phải lấy đi cả cái tốt lẫn cái xấu phải không?"

"Vâng, đúng vậy," con khỉ nói. "Nhà cháu không có sự lựa chọn. Nếu trong họ tồn tại những điều xấu ác, thì nhà khỉ cũng phải chấp nhận nó thôi. Nhà khỉ bao trọn gói mọi khởi thủy của cái tên mà. Nhà cháu xin mọi người - đừng giết nhà cháu, nhà cháu là một con khỉ với thứ thói hư tật xấu, nhà cháu biết thế, nhưng nhà cháu vẫn có thể giúp đỡ có ích cho mọi người mà."

"Ừm, vậy những điều tiêu cực gì đã bị đưa vào tên tôi?" Mizuki hỏi con khỉ.

"Nhà cháu không muốn nói trước mặt cô," con khỉ nói.

"Xin khỉ hãy cho tôi biết đi" Mizuki khẳng định. "Nếu khỉ nói cho tôi biết, tôi sẽ tha thứ cho khỉ. Và tôi cũng sẽ xin những người có mặt ở đây tha cho khỉ hết."

"Ý cô là thế nào ạ?"

"Nếu con khỉ này kể cho tôi biết sự thật, anh sẽ tha cho nó chứ?" Mizuki hỏi anh Sakaki. "Bản chất của nó không xấu. Nó đã phải chịu đựng rất nhiều rồi, nên mình hãy nghe nó giải thích rồi có thể đem nó lên núi Takao hay chỗ nào đó thả về cũng được. Nếu anh làm thế, tôi nghĩ là nó sẽ không làm phiền ai nữa đâu. Anh nghĩ sao?"

Anh Sakaki nói: "Tôi không phản đối miễn là cô thấy được”. Anh quay sang hỏi con khỉ. "Sao nào? Chú mày có thề nếu chúng tao thả chú mày ở vùng núi, thì mày sẽ không trở lại Tokyo nữa không? "

"Vâng thưa ngài. Nhà cháu thề nhà cháu sẽ không dám quay trở lại," con khỉ hứa, với một cái nhìn hiền lành trên khuôn mặt mình. "Nhà cháu sẽ không bao giờ làm phiền mọi người nữa. Không bao giờ lại đi lang thang quanh cống. Nhà cháu không còn nhỏ nữa, vì vậy đây sẽ là cơ hội tốt cho một khởi đầu mới trong cuộc đời."

"Để bảo đảm, sao ta không ịn dấu lên đít nó để có thể nhận ra nó lần nữa," Sakurada nói. "Em nhớ chúng ta có một cái que hàn ở đây, có khắc biểu tượng trong con dấu chính thức của phường Shinagawa mà nhỉ."

"Làm ơn đi mà, anh giai ơi, đừng làm thế!" Con khỉ nài nỉ, mắt ngước lên. "Nếu anh đánh dấu một biểu tượng kỳ lạ trên mông của nhà cháu thì những con khỉ khác sẽ không bao giờ để nhà cháu nhập đàn cùng họ. Nhà cháu sẽ cho mọi người biết tất cả mọi thứ mọi người muốn biết, nhưng xin đừng làm đau nhà cháu! "

"À, chúng ta hãy quên cái que hàn ịn tên ấy đi," anh Sakaki nói, cố gắng xoa dịu mọi thứ. "Nếu chúng ta sử dụng con dấu chính thức của Shinagawa, chúng ta phải chịu trách nhiệm về nó sau này đấy."

"Em e rằng bác nói đúng," Sakurada nói, tràn ngập thất vọng.

"Được rồi, tại sao khỉ không muốn nói cho tôi biết những điều tà ác đã dính vào tên của tôi?" Mizuki nói, nhìn chăm chú vào đôi mắt đỏ nhỏ của con khỉ.

"Nếu nhà cháu nói với cô điều đó, nó có thể làm tổn thương cô."

"Tôi không quan tâm đâu. Khỉ cứ nói đi. "

Trong một lúc lâu, con khỉ vẫn nghĩ ngợi về điều này, những nếp nhăn hằn sâu lên trán. "Nhà cháu vẫn nghĩ tốt hơn là cô không nghe thấy chuyện này."

"Tôi đã nói với khỉ rồi. Tôi thực sự muốn biết."

"Thôi được," con khỉ nói. "Vậy nhà cháu sẽ kể cho cô nghe. Mẹ của cô không yêu thương gì cô cả. Bà ấy không bao giờ thương cô, thậm chỉ dù chỉ một lần, từ khi cô còn bé. Nhà cháu cũng không biết tại sao, nhưng đó là sự thật. Chị gái của cô cũng vậy. Cô ấy không thích cô. Mẹ cô đã đưa cô đi học ở Yokohama bởi vì bà ấy muốn thoát khỏi cô mà thôi. Mẹ và chị cô muốn đuổi mặt cô đi càng xa càng tốt. Cha của cô không phải là người xấu, nhưng ông ấy nhu nhược, và ông không thể bênh vực gì cho cô cả. Vì những lý do này, kể từ khi cô còn bé, cô chưa bao giờ nhận được đủ đầy tình yêu thương. Nhà cháu cho rằng cô thừa biết vụ này, nhưng cô đã cố tình mắt lấp tai ngơ với nó, chôn thứ thực tế đau đớn ấy ở một nơi tối tăm nhỏ bé sâu tận trong trái tim cô và đóng nắp lại, rồi cố gắng không nghĩ về nó nữa. Cố gắng để đè nén bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào. Tư tưởng phòng thủ ấy đã trở thành một phần của bản thân cô. Bởi vì tất cả những điều này, cô không bao giờ có thể yêu thương một ai sâu sắc và vô điều kiện hết."

Mizuki im lặng.

"Cuộc sống hôn nhân của cô có vẻ rất êm ấm và không có vấn đề gì. Dường như là thế. Nhưng cô không thực sự yêu chồng mình. Nhà cháu nói có phải không? Ngay cả khi cô đã có con, nếu mọi thứ không thay đổi, thì nó vẫn sẽ chỉ giống thế thôi. "

Mizuki không nói gì. Cô ngồi bệt xuống sàn nhà và nhắm mắt lại. Toàn bộ cơ thể cô cảm giác như mọi chuyện đã sáng tỏ. Da cô, nội tại cô, từng đốt xương một đều cảm giác như từng mảnh sắp rơi xuống. Tất cả những gì cô nghe thấy đều chỉ là tiếng hít thở của chính cô.

"Cũng khá khen thay trò khoa môi múa mép của mày," Sakurada nói, lắc đầu. "Đội trưởng, em không thể chịu được nữa. Mình tẩm quất nó luôn đi!"

"Thôi đừng," Mizuki nói. "Những lời chú khỉ này nói đều đúng cả. Tôi đã biết điều đó trong một thời gian dài, nhưng tôi vẫn luôn cố tránh né. Vẫn cứ luôn tai ngơ mắt lấp, vờ như không biết. Chú khỉ này đã nói thật, vậy xin mọi người hãy tha thứ cho nó. Chỉ cần đưa nó lên núi và thả nó đi thôi. "

Chị Sakaki nhẹ nhàng đặt một tay lên vai Mizuki. "Cô em có chắc là em ổn với điều đó chứ?"

"Em không quan tâm nữa, miễn là em có lại được tên của mình. Kể từ bây giờ em sẽ sống với những gì diễn ra xung quanh nó. Đó là tên của em, và đó cũng là cuộc sống của em. "

Chị Sakaki quay sang chồng. "Mình ơi, cuối tuần sau sao hai vợ chồng mình không lái xe đến núi Takao và thả chú em lông lá này đi. Ý mình thế nào?"

"Anh không có vấn đề gì với chuyện ấy cả" anh Sakaki nói. "Chúng mình vừa mua một con xe ô tô mới và nó sẽ tạo thành một cuộc thử nghiệm nhỏ thú vị đây."

"Nhà cháu biết ơn lắm. Nhà cháu không biết phải làm thế nào để cảm ơn cô, "con khỉ xúc động.

"Chú mày không bị xỉn xe ô tô, phỏng khỉ?" Chị Sakaki hỏi con khỉ.

"Không ạ, nhà cháu sẽ ô kê thôi," con khỉ đáp. "Nhà cháu hứa là sẽ tuyệt đối không ói ọe hay tè dầm lên ghế của con xe mới nhà hai bác đâu ạ. Nhà cháu sẽ tự điều chỉnh mình. Không thành cục nợ phiền hà gì cho hai bác đâu. "

8

Khi Mizuki nói lời tạm biệt với con khỉ, cô đưa cho nó thẻ tên của Yuko Matsunaka.

"Khỉ nên có nó, chứ không phải tôi," cô nói. "Khỉ thích Yuko mà, phải không?"

"Vâng, nhiều lắm thưa cô. Nhà cháu thực sự yêu mến nàng. "

"Nhớ giữ gìn cái tên của bạn ấy cẩn thận nhé. Và đừng đi chôm chỉa tên người nào nữa. "

"Nhà cháu sẽ chăm nó thật kỹ. Nhà cháu cũng sẽ không bao giờ ăn trộm tên nữa, nhà cháu xin hứa đấy, "con khỉ nói, với một cái nhìn nghiêm túc trên mặt.

"Nhưng tại sao Yuko lại đưa cái thẻ này cho tôi ngay trước khi bạn ấy qua đời? Tại sao bạn ấy lại chọn tôi? "

"Nhà cháu cũng không biết câu trả lời," con khỉ nói. "Nhưng nhờ nàng ấy làm như thế, mà ít nhất cô và nhà cháu đã có thể gặp gặp và trải lòng với nhau. Cháu đồ rằng đó là một cơ duyên run rủi."

"Khỉ nói đúng đấy," Mizuki nói.

"Những gì nhà cháu nói có làm cô đau lòng không ạ?"

"Có," Mizuki nói. "Đau rất nhiều."

"Nhà cháu rất xin lỗi. Nhà cháu thật sự không muốn nói với cô. "

"Không sao đâu. Tận sâu thẳm trong lòng, tôi nghĩ tôi đã biết tất cả những chuyện này rồi. Đó là điều tôi phải đối mặt - vào một ngày nào đó. "

"Nhà cháu cảm thấy nhẹ nhõm khi nghe thấy điều đó," con khỉ nói.

"Tạm biệt," Mizuki nói. "Tôi không tưởng tượng được rằng chúng mình sẽ lại gặp nhau nữa đâu."

"Cô hãy bảo trọng nhé," con khỉ nói. "Và tạ ơn cô vì đã cứu mạng của những đứa khỉ như nhà cháu."

"Tốt hơn hết là mày đừng có chường mặt ra quanh cái khu Shinagawa này nữa," Sakurada cảnh báo, đập đập chiếc dùi cui vào lòng bàn tay. "Lần này tao còn tha cho mày vì đội trưởng đã đứng ra nói như vậy, nhưng mà nếu phải tay tao còn bắt được mày lần nữa, thì mày sẽ không sống sót thoát khỏi nơi này đâu nhé con."

Con khỉ biết đây không phải là lời đe dọa suông.

"À, vậy chúng ta nên làm gì trong tuần tới?" Chị Sakaki hỏi sau khi họ trở lại trung tâm tư vấn. "Cô em có còn điều gì muốn trao đổi với tôi chứ?"

Mizuki lắc đầu. "Không ạ. Cảm ơn chị, em nghĩ vấn đề của em đã được giải quyết. Em thực rất biết ơn tất cả mọi thứ chị đã làm cho em. "

"Em không muốn bàn về những điều mà con khỉ nói với em ư?"

"Không ạ, tự em có thể tự giải quyết. Đó là chuyện em phải suy nghĩ một mình trong một thời gian. "

Chị Sakaki gật đầu. "Em có thể xử lý được chuyện đó. Nếu em đã để tâm đến nó, tôi biết em có thể trưởng thành mạnh mẽ hơn. "

"Nhưng nếu em không làm được, liệu em có thể đến gặp chị không?" Mizuki hỏi.

"Dĩ nhiên rồi!" Chị Sakaki nói. Khuôn mặt đôn hậu của chị nở một nụ cười rạng rỡ. "Chúng ta có thể bắt được một cái gì khác với nhau."

Họ bắt tay nhau và nói lời tạm biệt.

Sau khi trở về nhà, Mizuki lấy chiếc thẻ tên "Mizuki Ozawa" và vòng tay có khắc chữ Mizuki (Ando) Ozawa, khẽ cho chúng vào một bao thư doanh nghiệp màu nâu giản dị, rồi đặt nó vào trong hộp bìa cứng đựng trong tủ quần áo của cô. Cuối cùng, cô cũng đã có lại được tên mình, và có thể quay về với cuộc sống bình thường. Mọi chuyện sau này có thể xảy ra thêm lần nữa. Và cũng thể không. Nhưng ít ra cô cũng đã có được tên riêng của mình, một cái tên thuộc về cô, và chỉ riêng mình cô thôi.

Hết.

Truyện ngắn Con khỉ Shinagawa (Shinagawa saru) được in trong tuyển tập truyện ngắn Hợp tuyển bí ẩn Tokyo (Tokyo Kitanshu) phát hành năm 2005.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Cua (Murakami Haruki)

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

Published

on

Special thanks to bé Ryou Hiroshi vì đã góp phần hoàn thiện bản dịch này.
Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Hải Âu.

Họ tình cờ chạy ngang qua một nhà hàng nhỏ. Ấy là buổi tối đầu tiên của hai người ở Singapore và lúc đó cả hai đang thả bộ gần bờ biển, đột nhiên cái ý nghĩ ấy chợt nảy ra trong đầu , họ bèn rẽ vào bên hông đường rồi vô tình lướt ngang qua chốn đó. Nhà hàng ấy là một căn nhà một tầng được bao quanh bởi một bức tường gạch cao, với khu vườn trồng toàn cây cọ thấp và chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ. Mặt tiền chính như vừa được trát vữa xong, phủ lên mình một lớp sơn hồng chói lọi. Phía dưới mỗi bàn đều có một cây dù lớn bạc phếch bay màu theo thời gian đã bung sẵn ra. Trời vẫn còn sớm, nhưng nơi này nom như thể đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi với mái tóc ngắn, đặc sệt chất Trung Hoa, ngồi đối diện nhau, uống bia và im lặng nhắm với những món ăn nhẹ. Họ không nói với nhau câu nào. Ở dưới đất, ngay cạnh chân họ, là một chú chó mực rất to đang nằm im lìm đầy mệt mỏi, mắt lim dim khép hờ. Một luồng hơi nước rực rỡ tuôn ra từ cửa sổ nhà bếp, cùng thứ mùi hấp dẫn của món gì đó đang được xào nấu. Những tiếng nói cười thích chí của đám đầu bếp rộ lên, lộ rõ hẳn giữa những âm thanh lách cách của niêu chảo xoong nồi chạm vào nhau. Những mầm cọ nhú trên thân cây, run rẩy trong gió nhẹ, nổi bật giữa ánh mặt trời đang dần lặn xuống.

Người phụ nữ tạm ngừng bước chân, hòa vào khung cảnh này:

“Ăn tối ở đây thì thế nào?” Nàng hỏi.

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. "Hừm... Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì... "

"Nhưng mà em có giác quan thứ sáu về mấy chuyện nhà hàng ăn uống này nọ đấy. Em lúc nào cũng có thể đánh hơi được mấy chốn ngon lành trăm phần trăm. Và tiệm ăn này chắc chắn là tuyệt cú mèo. Em dám đảm bảo điều đó luôn. Tại sao mình không vào ăn thử nhỉ?"

Người đàn ông nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Anh không biết họ nấu nướng những món gì ở đây, nhưng anh phải thừa nhận rằng nó có hương vị thực rất hấp dẫn. Nội bản thân nhà hàng này cũng có một sự quyến rũ nhất định tự lan tỏa rồi. "Nhưng em có nghĩ là nó sạch sẽ không?"

Nàng kéo lấy tay anh. "Anh nhạy cảm quá đấy, ông tướng ạ. Đừng lo lắng gì cả. Chúng mình đã tự lạc trôi đến đây, thế nên cũng phải mạo hiểm một tí chứ. Em chả muốn nhai cơm trệu trạo trong nhà ăn khách sạn ngày này sang ngày khác đâu. Nhàm chán bỏ xừ đi được ấy. Nào, chúng ta hãy vào thử xem."

Khi đã vào trong rồi, họ mới nhận ra rằng cửa tiệm này chuyên về các món cua. Thực đơn được viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hoa. Hầu hết khách hàng đều là người địa phương, và giá cả khá hợp lý. Theo thực đơn thì Singapore tự hào có hàng chục loại cua, với hơn cả trăm kiểu cách nấu món cua. Người trai trẻ và người phụ nữ đã gọi bia Singapore, và sau khi xem hết những món sẵn có, họ chọn vài món cua rồi chia đôi ra. Phần nào phần nấy đều hào phóng, nguyên liệu thì tươi rói và nêm nếm gia vị vừa miệng.

"Ngon tuyệt cú mèo," người trai trẻ thốt lên, đầy ấn tượng.

"Thấy chưa? Em đã nói với anh những gì nào? Em nói với anh rằng em có năng khiếu đánh hơi được những thứ đỉnh của đỉnh. Bây giờ anh đã tin em chưa?"

"Dĩ nhiên rồi. Phải nói rằng anh nên tin em mới đúng", người trai trẻ thừa nhận.

"Loại năng lực này thực sự có ích đấy," người phụ nữ nói. "Anh biết đấy, chuyện ăn uống quan trọng hơn hầu hết mọi người nghĩ. Có một khoảng thời gian sẽ xảy ra trong cuộc sống của anh trong lúc anh chỉ cần có một cái gì đó siêu ngon. Và khi anh đang đứng ở ngã tư đường đó, cả cuộc đời anh liền có thể thay đổi, tùy thuộc vào nơi anh bước chân vào - một quán ăn tuyệt vời hay một nhà hàng dở ói. Nó cũng giống như là – anh ngã vào phía bên này của hàng rào, hay là phía bên kia. "

"Nghe thú vị đấy," anh nói. "Cuộc sống có thể rất đáng sợ, phải không?"

"Chuẩn," Nàng đáp lời, và bật ra một ngón tay nghịch ngợm. "Cuộc sống là một điều đáng sợ. Hơn tất cả những gì anh có thể tưởng tượng ra nhiều. "

Người trai trẻ gật đầu. "Và chúng mình đã rơi trúng vào phía bên trong hàng rào, nhỉ".

"Chính xác."

"Tốt rồi," người trai trẻ thản nhiên nói. "Em có thích cua không?"

“Ưmmm, lúc nào mà em chả mê nó. Còn anh thì sao?"

"Anh cũng thích. Nhưng anh không nghĩ mình sẽ ăn cua mỗi ngày đâu. "

"Một điểm chung mới giữa hai ta," nàng cười rạng rỡ.

Người trai trẻ mỉm cười, và hai người nâng ly thêm một lần nữa.

"Chúng mình phải trở lại đây vào ngày mai," Nàng nói. "Chẳng thể có nhiều nơi như thế này trên thế giới đâu. Ý em là, nó đã rất ngon thì chớ - và nhìn vào bảng giá của nó mà xem."

Trong ba ngày kế tiếp, họ thường đến ăn ở nhà hàng nhỏ. Vào mỗi buổi sáng, cả hai sẽ xuống bãi biển để bơi, rồi tắm nắng, sau đó đi dạo quanh thị trấn và chọn quà lưu niệm tại các cửa hàng thủ công địa phương. Vào khoảng thời gian tương tự vào mỗi buổi tối, họ lại đi đến nhà hàng nhỏ ấy, thử các món cua khác nhau, sau đó quay trở lại phòng khách sạn thong thả làm tình, rồi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị. Mỗi ngày trôi qua đều như đang ở trên thiên đường. Người phụ nữ tròn hai mươi sáu tuổi, nàng dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở. Còn người đàn ông vừa bước qua tuổi hăm tám, anh làm nghề kiểm toán viên tại một ngân hàng lớn. Gần như là một phép lạ khi họ có thể cùng nhau đi nghỉ mát cùng một thời điểm, và cả hai muốn tìm đến một nơi mà không ai có thể quấy rầy họ, nơi họ chỉ đơn giản được tận hưởng bản thân nhau. Hai người đã cố gắng hết sức để né bất cứ chủ đề nào có thể làm hỏng tâm trạng và thời gian chung đôi quý báu của mình.

Vào ngày thứ tư - ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ - cả hai lại ăn cua như thường lệ vào buổi tối. Khi hai người đang bóc thịt từ càng cua bằng một chiếc kìm bằng kim loại, cả hai bàn luận về việc ở đây sẽ như thế nào, về chuyện bơi lội mỗi ngày bên bờ biển, về chuyện ăn cua vào ban đêm, khiến cho cuộc sống khi trở về Tokyo bắt đầu trở nên vô thực và xa xôi quá đỗi. Hầu hết cả hai người đều tâm tình về hiện tại. Sự im lặng bao phủ lên bữa ăn của họ tùy theo từng thời điểm, ấy là khi mỗi người trong số họ lại trở nên chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình. Nhưng đó không phải là một sự im lặng khó chịu. Bia lạnh và cua nóng đã lấp đầy những khoảng trống ấy một cách êm đềm.

Họ rời khỏi nhà hàng và quay lại khách sạn cả hai thuê trọ, và cũng như mọi khi, họ kết thúc một ngày của hai người bằng cách làm tình. Yên tĩnh, nhưng tràn đầy viên mãn. Cả hai đều đi tắm và sớm ngủ thiếp đi.

Nhưng chỉ một lúc mau sau người trai trẻ đã vội bật dậy, anh cảm thấy rất khủng khiếp. Anh có cảm giác như thể mình đã nuốt phải một đám mây cứng ngắc. Anh ta vội vã đi vào phòng tắm, vịn tay lên bồn vệ sinh rồi nôn hết mọi thứ trong bụng ra. Dạ dày của anh đã nhồi đầy thịt cua trắng. Anh không có thời gian để bật đèn lên, nhưng dưới ánh trăng mờ tỏ lập lờ trôi trên biển, anh đã có thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra trong nhà vệ sinh. Anh hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và để thời gian trôi qua. Đầu óc anh trống rỗng, và anh không thể thành hình nổi một suy nghĩ nào trọn vẹn. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi. Một cơn sóng buồn nôn khác đã ào đến, đánh lật anh và một lần nữa khiến anh tống hết mọi thứ còn sót lại ra khỏi dạ dày.

Khi anh mở mắt ra, đập vào mắt anh là một cục to trắng phớ anh vừa nôn đang trôi nổi trong bồn nước nhà vệ sinh. Một số lượng khủng khiếp. Mình đã ngốn cái quái quỷ gì thế này! Anh ta nghĩ, dẫu cũng khá ấn tượng. Chén đẫy quá nhiều cua từ ngày này qua ngày khác - chả có khỉ gì lạ khi mình trở nên phát ốm. Cho dù có cố giảm bớt ra sao, thì cũng là quá nhiều cua rồi. Phải đến cỡ lượng cua có thể ăn trong hai, ba năm chỉ trong vòng có bốn ngày.

Đến lúc nhìn chằm chằm vào, anh mới chợt nhận thấy cục trắng trắng đang nổi trong bồn vệ sinh đó dường như đang chuyển động thoáng qua. Lúc đầu anh nghĩ có lẽ anh đã tưởng tượng ra mấy thứ đó. Ánh trăng mờ ảo hẳn đã tạo ra ảo giác. Một đám mây thi thoảng trôi qua sẽ che phủ mất mặt trăng, làm cho mọi thứ, trong một khoảnh khắc chợt trở nên mù mịt hơn trước. Người trai trẻ nhắm mắt, hít một hơi sâu và mở mắt ra. Đó không phải chỉ là ảo giác. Miếng thịt cua chắc chắn là đang di chuyển. Giống như những nếp nhăn xoắn quanh, bề mặt của thịt đang lắc lư. Người trai trẻ liền đứng dậy và bật đèn phòng tắm. Anh ta cúi xuống gần cục thịt và nhận ra những gì đang không ngừng lúc nhúc trên mặt đất là vô số con bọ. Loại bọ nhỏ tí hon có màu sắc giống y như màu thịt cua, hàng triệu con đang bám trên bề mặt của miếng thịt.

Anh lại cố ói ra hết mọi thứ trong dạ dày mình ra lần nữa. Nhưng không còn gì sót lại, và dạ dày của anh siết chặt lại thành một nắm đấm. Mật xanh mật vàng dội lên, vọt ra khỏi thành ruột anh. Không chấp nhận nổi điều này, anh liền nuốt luôn nước súc miệng và cố nhổ nó ra lần nữa . Anh giật mạnh công tắc xả nước bồn cầu, giật đi giật lại để chắc chắn rằng tất cả đã bị cuốn trôi sạch sẽ. Rồi anh ngâm mặt mình vào bồn rửa, dùng khăn tắm sạch để lau miệng, và đánh răng thật kỹ. Anh đặt tay lên bồn rửa và nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Khuôn mặt anh đã trở nên đau khổ, nhăn nhúm rúm ró lại, làn da chuyển màu xám ngoét. Anh không thể tin được đây thực sự là khuôn mặt của anh. Trông như thể là một lão già nào đó.

Anh rời khỏi phòng tắm, tựa lưng vào cửa và nhìn quanh phòng ngủ. Bạn gái của anh vẫn đang nằm trên giường, say ngủ. Mặt chôn sâu vào gối, nàng còn đang ngáy ngủ một cách thanh thản, không biết điều gì đã xảy ra. Giống như một kẻ ái mộ đầy tinh tế, mái tóc dài của nàng che phủ đôi bờ má, chảy tràn lên vai. Ngay dưới đôi vai ấy có hai nốt ruồi nhỏ, xếp hàng như một cặp song sinh. Trên lưng nàng còn lộ rõ những vết dây áo tắm. Ánh sáng từ mặt trăng trắng muốt lặng lẽ lọt qua những tấm rèm, hòa cùng âm thanh đơn điệu của những con sóng vỗ bờ. Cạnh bên giường, những con số màu lục của chiếc đồng hồ báo thức vẫn đang phát sáng. Không có gì thay đổi. Trừ lúc này, những con cua vẫn còn bên trong cơ thể nàng - như tối hôm đó họ đã cùng chia sẻ một món ăn. Chỉ có nàng là đã không nhận thức được điều đó.

Người trai trẻ ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, hít thở, từ từ và đều đặn. Hít thở không khí trong lành vào phổi, thở ra, hít vào. Anh cố gắng hít thở không khí thật nhiều hết mức có thể vào cơ thể mình. Anh muốn tất cả các lỗ chân lông trong cơ thể anh nở rộng. Tựa như một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ nằm trong một căn phòng trống rỗng, trái tim anh đập mạnh từng tiếng, cứng và khô khốc.

Nhìn người bạn gái đang ngủ của mình, anh đã hình dung vô số con bọ nhỏ lúc nhúc trong dạ dày của nàng. Liệu anh có nên đánh thức nàng dậy và nói với nàng về điều đó? Rồi họ có thể làm gì hơn? Anh không dám chắc mình phải làm gì, anh suy nghĩ một lúc, và quyết định ngăn nó lại. Nó sẽ không tạo ra được chuyện gì hay hớm cả. Nàng đã không nhận thấy được bất cứ điều gì. Và đó mới là vấn đề chính.

Thế giới bỗng trở nên hỗn loạn chưa từng có. Anh có thể nghe thấy những tiếng cót két qua quỹ đạo mới này. Có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ, và thế giới đã thay đổi. Tất cả mọi thứ đã thoát ra khỏi trật tự, và sẽ không bao giờ trở lại như thuở ban đầu đã từng. Mọi thứ đã thay đổi, và tất cả những gì có thể làm là tiếp tục theo hướng mới này. Ngày mai mình sẽ trở lại Tokyo, anh nghĩ. Trở lại với cuộc sống mà mình đã để lại nơi đó. Ngoài mặt tuy không có gì thay đổi, nhưng mình không nghĩ rằng mình có thể sẽ hòa hợp được với nàng một lần nữa. Mình sẽ không bao giờ cảm nhận lại được cái cách mình đã cảm nhận về nàng cho đến ngày hôm qua, người trai trẻ biết. Nhưng đó không phải là tất cả. Mình không tin là mình có khả năng hợp nhất với chính mình thêm lần nào nữa. Giống như thể chúng mình đã rơi ra khỏi bên ngoài dãy hàng rào cao vút. Hoàn toàn không có một tiếng động. Và nàng thậm chí còn chẳng nhận ra.

Người trai trẻ cứ ngồi trên ghế mây cho đến khi bình minh, lặng lẽ hít thở. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió mạnh vút qua vào ban đêm, với những giọt mưa đập vào cửa sổ như một kiểu trừng phạt. Những đám mây mù rồi sẽ lại trôi qua và mặt trăng dần ló dạng. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Nhưng người phụ nữ không bao giờ tỉnh dậy. Hoặc thậm chí trở người trên giường cũng không. Vai nàng có lắc lư đôi ba lần, nhưng chỉ có thế. Hơn bất cứ điều gì trên đời, anh muốn ngủ, ngủ thật ngon và thức dậy để thấy rằng mọi chuyện đã được giải quyết cả rồi, rằng mọi thứ đều giống như nó đã từng, vẫn hoạt động trôi chảy như mọi khi. Người trai trẻ không muốn gì hơn là chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng cho dù anh có cố gắng vươn tay đến thế nào, giấc ngủ vẫn nằm ngoài tầm với.

Người trai trẻ nhớ lại đêm đầu tiên, khi họ đi ngang qua nhà hàng nhỏ bên đường. Hai người đàn ông Trung Hoa lặng lẽ dùng đồ ăn của họ, con chó mực mắt nhắm lại, nằm dưới chân hai ông, chiếc ô lớn bạc màu nơi bàn ăn. Nàng đã kéo tay anh ra sao. Mọi chuyện dường như xảy ra đã cách đây nhiều năm. Nhưng chỉ mới ba ngày thôi. Chỉ ba ngày đó thôi, xuyên qua một thứ sức mạnh kỳ quái nào đó, mà anh đã biến thành một trong những người đàn ông xấu xí, già cỗi mất rồi. Tất cả diễn ra ở một thành phố biển yên tĩnh, xinh đẹp của Singapore.

Anh đưa hai tay ra trước mặt mình và nhìn chúng chăm chú. Anh nhìn vào đôi bàn tay, sau đó là lòng bàn tay. Không gì có thể che giấu được sự thật là tay anh đang run lên, dẫu là không đáng kể.

"Ưmmm, em lúc nào cũng yêu món cua cả," anh có thể nghe thấy tiếng nàng nói. "Còn anh thì sao?"

Anh không biết, anh nghĩ.

Trái tim anh cảm thấy bị che khuất bởi một thứ gì đó vô hình, bao quanh bởi một điều huyền bí thẳm sâu và mềm mại. Anh đã không còn sở hữu những manh mối mờ nhạt nơi phía trước của cuộc đời mình, và những điều có thể chờ đợi anh ở đó nữa. Nhưng cuối cùng cũng đã đến lúc chân trời phía Đông bắt đầu rạng lên, anh chợt nảy ra một suy nghĩ đột ngột: Có một điều mình dám chắc, anh nghĩ. Bất kể là dù mình có đi đến đâu, mình cũng sẽ không bao giờ ăn cua nữa.

Hết.

Truyện ngắn Cua (Kani) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Stories #50 xuất bản năm 1984. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ.

Lời người dịch:

Kỳ thực mà nói, đây không phải lần đầu tiên tôi tiếp cận tác phẩm này, nhưng lại chính là lần đầu tiên đọc nó. Truyện ngắn “Cua” đã từng được đề cập trong tác phẩm “Sân bóng chày” trong tập truyện ngắn “Người Ti-vi” do bác Phạm Vũ Thịnh dịch, tôi đã được đọc sáu năm trước khi còn là một đứa học sinh cấp 3. “Sân bóng chày” là một truyện ngắn không nổi trội mấy so với mặt bằng chung các truyện của Murakami, nhưng trong đó có một đoạn hội thoại của hai người đàn ông, một người làm nghề xuất bản đã kể về truyện ngắn “Cua” này thông qua một cuộc thi viết truyện ngắn do tạp chí/nhà xuất bản của ông ta tổ chức. Tôi cứ nhớ nhớ quên quên, thế nào mà suýt bỏ qua một truyện siêu ngắn nhưng đặc sắc như vậy.

Đầu tiên tôi định dịch chỉ để tặng một người bạn thân nhằm vui đùa là chính thôi. Nhưng dịch xong rồi mới tâm đắc rút ra một chân lý: Phàm truyện ngắn nào của Murakami mà tựa đề dính đến tên con vật, là truyện ngắn đó... dịch rất mệt! Thế thôi. Mời mọi người thưởng thức.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Thiếu nhi đánh cờ tướng (Kỳ Y)

Published

on

By

Tại đại hội cờ tướng tiểu học cấp thành phố năm đó, quận Phú Nhuận cử ba em học sinh tiểu học đạt giải cấp quận đi thi đấu. Tôi và hai người khác trường – chúng tôi hẳn vẫn còn hỷ mũi chưa sạch nhưng đã vác một trọng trách to lớn. Tôi là đứa trẻ nhất, lớp hai, còn lại là một anh lớp bốn và một anh lớp năm. Phú Nhuận chưa bao giờ được giải nào cả, cái trường của tôi cũng chưa, và rất nhiều thứ chưa, chưa, chưa chỉ càng khiến tôi muốn mình là người đầu tiên phải chiến thắng. Đầu tiên, phải, đó cũng là năm đầu tiên tôi biết chơi cờ rồi đi thi đấu. Với sức chiến ngoan cường nén trong một đứa nhỏ thó, tôi đã có mặt ở đây sau hai vòng đấu trường và đấu quận khắc nghiệt. 

Sau trận đầu tiên thắng “xiềng” (theo lối nói từ ba tôi), huấn luyện viên quận gọi chúng tôi ra. Tôi, như một thằng láu cá háo thắng, xâu kẻ thù thành một xiên, bắt đầu vẫy vẫy cái xiên ấy rồi khoe tới tấp dẫu cái xiên mới chỉ tòng teng một chiến lợi phẩm. Ôi tôi tưởng như mình vô địch đến nơi! Dù nhà thi đấu trần cao như nhà hát và hoàn toàn khiến những đứa nhỏ chúng tôi vốn nhỏ lại càng teo nhỏ hơn vì kinh hãi, nhưng tôi, dường như lại bình tĩnh hơn cả. Khi thấy biên bản ghi điểm, ông huấn luyện viên khá hài lòng. Ông ta bắt đầu nhắc lại rằng ráng sức thắng những ván đầu, việc này rất quan trọng vì chúng tôi thi theo hệ số cộng dồn nên nếu thua thì xem như thua về đường dài. Còn nếu không thắng được thì hãy cố thủ hòa, vớt vát và có thể lội nước rút ở những ván sau. Nhưng thắng vẫn hơn, chỉ có thắng mới vui hết công suất được. 

Ba tôi cũng có mặt tại đó, nhìn ông hớn hở tôi biết ông rất mong thấy tôi được giải. Tôi nhớ đây là quãng thời gian hiếm hoi tôi xem ông như một người bạn, ông không còn là ông Nghị mà tôi vẫn khiếp sợ (Nghị: Ngờ-i-nghi-nặng-nghị – một loạt tổ hợp những thứ dữ dội, vừa có nghi lại vừa có ngờ, vừa có nặng lại vừa có nghiêm). Hai hôm thi vòng trường và vòng quận tôi đều được ông chở ăn phở. Thi giải thành phố khó hơn và kéo dài gần cả tuần nhưng ông vẫn đảm bảo cả tuần tôi được ăn những gì mình thích, thậm chí gà rán và pizza cỡ nhỏ. Ông hay xoa đầu tôi, ông bảo nếu tôi không được giải thì cho tôi cọ xát để biết mình chơi tốt chơi dở thế nào. Tôi biết ông nói vậy cho tôi đỡ áp lực thôi chứ sâu trong tôi không muốn phụ lòng ông. Tôi chỉ chực chờ, phải, tôi như một cục đá lửa chuẩn bị nẹt cháy tụi nó, hình ảnh ấy cứ ở trong đầu tôi, dù tôi hoàn toàn biết những đứa quận 1, quận 5 rất cao cường. Nói chung hai quận này toàn con cái nhà giàu nứt vách và đều cắp cặp đi học lớp ban đêm như luyện gà đội tuyển tụi Trung Quốc. Tức không phải hạng dễ xử. Tôi đã hỏi các anh lớp bốn lớp năm từng thi đấu xem tên này tên kia hay đánh thế gì để chuẩn bị trước. Còn ba bảo tôi bình tĩnh, hãy cố biến những thế cờ lạ thành thế cờ quen thuộc. 

Ván thứ hai sáng ngày hôm sau tôi thủ hòa với một tên quận 1. Tên ấy lớp bốn. Tôi bắt đầu biết khiêm tốn hơn vì tôi suýt thua đậm. Cho dù tôi đã biết tên đó đi Phản Công Mã nhưng tôi không bật lại được, tên này đánh quá dữ dằn và trây đến tận cờ tàn – thứ chẳng hề quen thuộc với tôi. Thằng khốn đó còn chơi trò tâm lý, giữa ván lúc tôi suy nghĩ lâu nó gọi cho ba nó (thứ công tử bột thích khoe điện thoại) bảo ba chở nó về, nó sắp thắng rồi. Tôi không lấy làm nao núng, dù tay tôi hơi run và yếu đi, mỗi hơi thở của tôi trở nên dồn dập hơn. Tôi có nghĩ mình sắp gục vì căng thẳng, và rồi đi đại một nước, một nước quan trọng. 

Hầu như những lựa chọn trọng đại trong cờ lẫn trong đời (thứ mô phỏng cờ) tôi đều chọn đại như vậy, như thể sau những hồi căng thẳng đến chết đi được, thì tôi sẵn sàng chết cho thật chóng vánh. 

May sao hòa trận. Được nửa điểm. Tôi giảm đi sự hớn hở với ba mình. Lúc ăn trưa ông có vẻ không an tâm tôi cho lắm, ông bảo tôi lấy biên bản ra và diễn lại trận đấu. Như giải trí thôi. Nhưng ba phân tích khá kỹ khiến tôi hơi căng thẳng, rằng tôi lại bỏ sót loạt nước yếu của đối thủ, rằng tôi đã không chớpthời cơ, rằng tôi điều quân lòng vòng và để nó quật cho hòa. Tôi gật gù và cố dung nạp những lời ba tôi căn dặn. Đầu óc tôi trên mây và đánh giá chúng cao quá chăng? Hóa ra chúng không ghê như tôi tưởng, vần vũ cho cùng cũng chỉ là khoa trương, cây nhà lá vườn vẫn ổn hơn cao lương mỹ vị. Tôi lấy tự tin trở lại cho ván đấu chiều. 

Tôi đợi đối thủ đến và nhâm nhi chai nước lạnh ba tôi mua cho. Thằng này đến trễ, dân cờ quận 5, nó định chơi trò tâm lý như thằng quận 1 thật sao? Đầu óc tôi bay lòng vòng trên những giàn đèn rồi chớp lóe thay cho chúng. Tôi vốn biết mấy trò tâm lý. Như nhiều thằng khi đương đánh lại bỏ đi sang bàn khác, ngắm nghía rồi toát ra vẻ mặt kiêu kỳ. Một vài đứa khác có trò vào nhà vệ sinh đi tiểu – thì hẳn chúng chẳng nhờ ai mách nước đâu, nhưng có khi lại cầu cứu ông thần vệ binh ông thần vệ sinh nào trong đấy. Toàn thứ ra vẻ, toàn thứ hèn nhát. Tôi sốt ruột chờ tên ấy, trọng tài bấm đồng hồ giúp tôi trừ giờ thằng đó. Tôi bắt đầu háo hức, tôi có thể được miễn đấu và thắng một điểm không tốn sức. Tôi bắt đầu mơ mộng. Bỗng nhiên những dòng sung sướng cuộn trong tôi như phước báu kiếp trước lũ lượt ùa về. Tôi cầu tên đó ngủ quên. Tôi cầu tên đó bị mất giấy thi đấu. Tôi cầu tên đó bị kẹt xe tắc đường; nếu không tắc thì tôi cầu cho tên đó ngồi trên bàn cầu, bị thần vệ sinh trừng phạt và ban cho cơn tiêu chảy. Tôi thật ác độc, nhưng tôi cũng thật chính đáng. 

Nhưng rồi rột rẹt, tạch, tạch, tạch. Tên đó đến, ký giấy và chúng tôi lao vào trận đấu nghẹt thở. Đồng hồ cứ thế luân phiên ăn bớt thời gian mỗi người. Hóa ra mơ mộng chỉ khiến cho con người ta kiểu nào cũng phải xấu hổ. Tôi đã phí phạm thời gian nghĩ chuyện không đâu. Mọi thứ vốn dĩ nằm ngoài dự đoán của ta đấy thôi. Tôi có chút thất vọng, và rồi từ hùng hồn tôi chuyển sang khuynh hướng có chút sợ hãi rằng mình đã suy nghĩ xấu cho đối thủ và sẽ gặp quả báo. Tôi đi trước, đã chĩa họng Pháo nhòm xa vào mặt Tướng đối thủ, tên đó vừa vào đã đá hai Mã vào trung tâm, Sĩ gác Tượng nâng phòng thủ chắc chắn. Những quân cờ lạnh lùng, chốc chốc lại chém giết, hất nhau nhảy ra bàn cờ cho đại cục. Bình Phong Mã, thế cờ lừng danh mà tôi vốn biết và yêu thích chơi cho bên Hậu, giờ tôi phải đấu với kẻ dùng chính thế trận yêu thích của mình. Nhưng vui thay, cây nhà lá vườn vẫn hơn cao lương mỹ vị, tên này không biết đánh và để mất một con Xe “yếu nhớt”. Tôi muốn bật cười ha ha như mấy bộ phim hoạt hình nhố nhăng tôi vẫn hay xem. Trời, thật chứ? Con Xe, một trong những con đắt giá nhất bàn cờ, tận 10 điểm. Không thể tin được, tuyển thủ quận 5 đây sao? Người Việt đánh cờ vẫn hơn người Hoa! – tôi nhớ có ai nói vậy.

Tôi cầm chắc phần thắng. Tôi đi chầm chậm lại chờ cho nó hết giờ. Tôi chỉ có thể thắng. Tôi dâng con Xe “ngon nghẻ” của mình lên (tôi thích cách nói này từ ba tôi lắm), bỏ lại hàng rào phòng thủ, như một cầu thủ đang muốn tạo đột phá. Tên đó hình như điềm tĩnh trở lại… nó dốc hết lực đánh tôi, bên cánh phải, chỉ để lại một con Mã ở quê nhà. Tôi bắt đầu căng thẳng. Mọi việc hóa ra không trơn láng, nó chỉ trơn láng khi ta chỉ cứ một mạch mà đi, đằng này, tôi lại bắt đầu do dự. Tôi sợ bị đột kích. Tôi không thể thua nhảm nhí được. Tôi hít sâu, rồi hơi thở tôi đẩy mạnh như một cái pô xe phân khối lớn. Tôi chần chừ phần thắng, vì tôi muốn mình không được thua trước. Tôi bốc con Xe lùi lại.

“Ê! Kỳ vậy! Trọng tài!”

Nó làm ngắt mạch suy nghĩ của tôi và làm tôi chuẩn bị phải suy nghĩ lại từ đầu. Vì lý do gì đó. Không sao. Tới lượt nó đi. Tôi có thêm thời gian ký sinh từ thời gian của nó.

“Sao em?”

Ông ta bước lại, dáng vẻ hơi nhọc vì cái bụng mỡ. Ông là trọng tài duy nhất của dãy bàn chúng tôi, tôi thiển nghĩ, hẳn ông cực lắm vì ông cứ đi qua đi lại hoài. Rồi tôi thấy cái bụng nhòng nhòng trồi đập vào lớp áo thun, cái bụng y như một tù nhân đòi được thoát khỏi cái nhà tù bằng vải.

“Bạn này bốc con Mã nhưng lại đi con khác.”

“Là sao? Em, em bốc cờ thì phải đi chứ.”

“Con… con đâu có bốc con Mã đâu! Bạn nói gì kỳ vậy?”

“Có bốc đàng hoàng, con thấy rõ ràng luôn chú!”

“Không! Làm gì có!”

“À, em có nói sửa cờ không?”

“Bạn không hề nói sửa cờ. Cách bạn bốc cờ không phải là sửa cờ cho ngay lại chú, mà bốc xong bạn rụt tay lại hối hận. Rồi bạn bốc con khác!” 

Nó diễn lại nước vừa rồi cùng tư thế ngồi của tôi. Tôi căng mắt và không thể tin được, vì đúng là tôi đã vô thức chạm trúng tay con Mã.

“Vậy... là con có đụng, cho con xin lỗi.”

Sau lời nói run rẩy của tôi, ông ta gật gù, biên độ của ông theo biên độ đập tay lên bàn của nó, khi nó đang giải thích kỹ hơn một lần nữa. Nhưng rồi vì sự hiền hậu ở những người có chiếc bụng ông địa toát lên, ông ta dịu dàng trấn an:

“Thôi thôi, bình tĩnh. Lần này chú nhắc, lần sau là không nhắc lại.”

“Dạ... con nhớ rồi!”

“Đụng quân là phải đi. Luật là luật! Nhớ đó. Hai đứa đánh tiếp đi. Tới giờ của em đúng không, rồi.”

Kịt, ông ta ấn đồng hồ.

“Dạ…” 

Tôi lí nhí, rồi thất thần quay đầu trở lại bàn cờ. Ông ta bước rảo qua bàn bên, một luồng khí luồn dọc sống lưng tôi. Tôi bị làm sao không thể tỏ. Tôi đã cẩn trọng đến mức như thể chủ quan. Tôi rơi vào điểm mù của cẩn trọng. Tôi tìm cách thoát ra, nhưng không thể. Tại sao có nhiều nước để đi thế này và nước nào cũng rất triển vọng lẫn rủi ro? Tôi muốn đi đại, nhưng không được, vì tôi không thể thua. Tôi thấy nghẹt thở quá. Hẳn người lớn hay gọi đây là áp lực, vì nó căng phồng khắp tôi, biến tôi thành trái bong bóng chực chờ nổ tung.

Tên đó bốc con Pháo đâm xuống đáy bên phía tôi, dọa chiếu bí bằng đòn Pháo Trùng. Tôi há hốc mắt mình ra vì kinh ngạc, tên đó đã lấy lại phong độ trở lại. Không sao, tôi chỉ cần một nước xuất Tướng là xong. Nhưng từ từ, tôi có thể thắng ngay bây giờ không? Tôi hẳn phải có nước nào đó chiếu liên tù tì. Tôi phải dứt điểm sớm, như ba tôi nói, tôi không thể chần chừ.

Không, cho dù đã hơn thế trận thì tôi vẫn không thể nào chủ quan. Tôi không thể để nỗi sợ thua ám muội mình. Tôi chỉ sợ chiến thắng vụt mất. Giờ tôi mà bốc con cờ khác là thua ngay. Tôi không được bốc con cờ khác. Chỉ cần chạm con Tướng thôi, là tất cả chiêu trò dụ dỗ được tháo gỡ.

“Sửa cờ.”

Tôi hô lên, giữ bình tĩnh, chỉnh các quân cờ ngay ngắn lại trước khi thực hiện nước quan trọng. Luật là chỉ cần hô lên và dùng tay dịch sửa cờ thôi, tôi không bị tính lỗi là bốc quân mà không chịu đi. Nó nhăn mặt nhìn tôi, ra vẻ bất ý. Rồi tôi đưa sự tập trung của mình trở lại trận địa. Nhưng tôi không thể sơ sót, tôi xem kỹ lại vị trí các quân cờ một lần nữa. Những tia sét xẹt trong đầu tôi, vì khi căng thẳng chơi cờ, não con người ta phát sáng cực độ, và tôi đây đang nhìn vào khoảng vô định cùng những mộng tưởng và sát chiêu. Tôi căng thẳng quá, tôi không thể chịu được!

“Trọng tài ơi!”

“Sao, có gì nữa!”

“Bạn này mới bốc con Tượng rồi không chịu đi!”

“Sao sao, đâu.”

“Bạn bốc cờ rồi không đi.”

“Nữa hả? Em lại vậy nữa. Chú đã dặn em rồi!”

“Đã vậy con đâm con Pháo xuống chiếu bí bạn, bạn không chịu, đòi đi lại.”

“Em này, chú đã nhắc em rồi! Bốc cờ là phải đi!”

“Em…? Em… không, em không có bốc mà!” 

“Đây chú, bạn này bốc con Tượng, nãy bạn đụng tay vậy nè, chính tay bạn đụng luôn. Bạn đụng rồi rụt tay lại, bạn không hề nói sửa cờ! Rồi con mới đâm con Pháo xuống đây, chiếu bí hết cờ!”

“Em à, em có đụng không?”

“Em không đụng… em không đụng thật mà!”

“Trời, nó nói xạo! Nó đụng rõ ràng!”

Vài người lớn hiếu kỳ bước lại chỗ bàn tôi, tôi và thằng đối thủ đang làm ầm nhà thi đấu lên. Chúng tôi cãi cọ. Một số người phụ dời bàn những đứa khác ra xa, tránh để bị phân tâm. Bọn chúng nhìn tôi – nhìn tôi, chứ không phải thằng đối thủ tôi – như thể tôi là một kẻ đểu cáng lừa lọc. Tôi đang cố sức minh oan cho mình, nhưng tôi không thể nhớ được.

“Ba?”

Ba tôi đứng ở ngoài, ông thấy bàn tôi nhiều người lớn xôm tụ lại như kiến bu dĩa đường. Khi tôi vừa thấy ba, ba bật cười. Lòng tôi cấn lên đau nhói, hẳn ông đang nghĩ rằng tôi đánh hay đến mức hút cả người lớn lại xem, rằng ván cờ của thằng con mình có khi được lên báo, dẫu nó có thua hay thắng cũng không sao cả. Nhưng rồi, thấy có gì đó không ổn, rằng tôi lại không đánh cờ mà lại nói chuyện với trọng tài, ba bước lại. 

“Có chuyện gì vậy anh?”

Ông trọng tài bước lại ba tôi rồi quơ tay giải thích. Ba tôi khựng lại như để trút hết mọi ảo tưởng, ông điềm đạm bước lại gần bàn cờ. Và rồi ông cũng đứng sau tôi. Ông trọng tài lặp lại vấn đề. Chốc chốc ông ta lại chỉ vào bàn cờ, ba tôi bắt đầu dõi theo với ánh mắt sắc cạnh. Đến lượt bọn chúng, bọn con nít tuyển thủ nhìn ba tôi. Ba tôi không bận tâm, rồi bình tĩnh chỉ “là tới đây nó bốc con Tượng à?” Rồi, như tôi dự đoán, ba tôi không tin, ông nhìn tôi, dáng vẻ như một con hổ hừm hừm. Ông hỏi tôi.

“Con, có đụng không con?”

“Con… con không…”

“Nó đụng anh ạ.”

“Từ từ! Con tui không có đụng cờ. Nó nói không đụng là không đụng. Ông có bằng chứng gì không? Có camera không? Ai làm chứng?”

“Có mấy đứa bàn cạnh làm chứng. Anh bình tĩnh, để hỏi thử một đứa xem là biết liền.”

“Tụi nó lo đánh nhau, hơi đâu mà để ý bàn khác. Nhảm nhí!”

“Anh bình tĩnh! Em này nãy đã bắt lỗi con anh một lần, tôi đã dặn kỹ cả hai, rất kỹ. Không lý gì em kia lại bắt lỗi con anh nữa nếu con anh không sai.”

“Anh nói không không như vậy chẳng ích gì! Camera, có camera không?”

Ông trọng tài lắc đầu rồi giơ cánh tay quảng đại của nhạc trưởng. Ông cố giải thích mọi chuyện với chất giọng âm ấm: nhà thi đấu có camera, dù rất mờ, nhưng nếu muốn ông có thể liên hệ với bảo vệ bật cho chúng tôi cùng xem.

Rồi chuyện đi xa hơn. Chẳng cần đợi lâu, bảo vệ cũng nghiêm nghị bước vào cuộc. Họ mang máy tính xách tay đến và trích xuất camera. Chuyện hệ trọng rồi. Quả là camera mờ thật, chỗ chúng tôi hơi khuất tầm camera, đó là chưa kể các quân cờ khá nhỏ. Tôi, ngồi xếp hai tay che bàn cờ, bị khuất khá nhiều – chuyện cũng tương tự với tên đối thủ của tôi. Mười lăm phút trôi qua, bảo vệ tua hết chỗ nọ, cũng không thấy được ván cờ như thế nào. Ai nấy sốt ruột. Ba tôi lắc đầu, và tôi biết ông đang tìm cách để tôi đi lại nước cờ, hoặc tệ lắm là đấu lại ván mới. Nhưng rồi trọng tài gạt bỏ hết tất cả: 

“Quan trọng là có tôi ở đây giám sát. Tôi biết em nào nói dối hay không. Tôi là trọng tài cờ tướng hai mươi năm rồi, nhiều trường hợp các em đụng cờ không chịu đi, tôi cũng phải xử thua. Con nít mà anh. Mà không phải hơ đâu một cái các em bị lỗi mà tôi xử, trước đó tôi phải dặn dò các em rất kỹ. Giờ anh nghĩ xem, đấu lại, có phải không thỏa đáng không?”

“Thế nào mới thỏa đáng? Rõ là con tui sắp thắng! Nó không thể bốc cờ ngớ ngẩn như vậy được! Còn thằng này nó thua đến nơi rồi, nó mới chơi thủ đoạn. Anh nhìn thế cờ này đi, anh tin ai?”

“Nhưng đứa này thắng trước, anh nhìn đi.”

“Trời, vui thật ha.”

Ba tôi cười chua chát. Tên đối thủ lên tiếng:

“Nhưng rõ ràng là bạn này đụng cờ! Nếu không đụng cờ, sao bạn lại run như vậy chứ!”

“Mình không đụng… vì đụng con đó chả khác nào thua cờ... Mình đã nói sửa cờ rồi mà.”

“Kỳ, con nói lại lần cuối cho ba xem. Con có đụng hay không?”

Ông chủ giải thưởng bước đến. Đầu óc tôi rối bừng, và giờ vẻ như tôi không thể nhớ là tôi có đụng hay không.

“Anh à… bớt nóng, ở đây có nhiều em đang thi đấu. Trọng tài đã nói như vậy rồi, có gì không ổn mình nói nhỏ nhẹ với nhau. Mình cư xử có văn hóa chút ạ.”

“Thôi… mấy người ăn chia với nhau, quận 5 lúc nào chả được ưu ái,” ba tôi bật cười mỉa mai. 

“Anh nói như vậy mà nghe được à? Đây là luật.”

Hai dòng nước mắt của tôi thi nhau chảy. Tôi không nói được lời nào vì cổ họng tôi bận co giật thút thít. Thằng quận 5 được nước gác tay lên xoang má, rồi ra vẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng nhảm nhí này. Hắn ra vẻ như người lớn. 

“Tóm lại, con anh nó chạm vào quân cờ mà không chịu đi. Nãy giờ hơn một tiếng đồng hồ đôi co, tui đã nhắc nó kỹ rồi mà nó vẫn phạm, thì tui xử thua chứ sao! Giờ anh có ý kiến hay phân bua gì không?”

“Con... không… đụng mà…” 

“Trời, thằng này nó đụng đàng hoàng!”

“Không…” 

Tôi như thằng nói dối. Tôi cảm tưởng mình càng nói thì càng sai, nên đành nín lặng.

“Tôi quyết định xử thua.” 

Ba tôi quát lớn lên với toàn thể hội đồng: 

“ANH IM ĐI!” 

Vừa ngay khi tiếng la của ba vang vọng khắp trần nhà làm rung những chòm đèn, tất cả mọi người ngoái đầu nhìn. Có những tiếng xì xầm rộ lên kèm những gương mặt đắc thắng ở bàn bên, có lẽ bọn chúng vui vì có thêm chuyện để nói. Bảo vệ chuẩn bị sấn bước đến can thiệp. 

Mọi người xem ba như trò cười. Còn tôi thì lại khóc. Ngày một lớn hơn. 

Ba tôi dứt lời rồi nghiến chặt răng bước ra sảnh. Tôi có thể đoán thế, dù tôi không thể và cũng không dám nhìn ai, tôi xấu hổ khi mình lớn xác mà lại còn khóc nhè. Tôi không xấu hổ ba mình. Tôi chỉ xấu hổ vì tôi đã đưa ba vào tình cảnh này. Bù lu bù loa, tôi chỉ một mạch bước đi, màn sương phủ lấy tôi, tôi như kẻ mù bởi chính nước mắt mình. Tôi lẽo đeo núp sau ba tôi rồi cũng tới bãi xe. Khi ngồi ôm ba sau xe, tôi dịu lại. Ba chở tôi ra công viên Hoàng Văn Thụ rồi hai cha con chúng tôi ăn kem xe bán hàng rong. Ba tôi không nói gì một lúc. 

“Con có đụng con Tượng không…?” 

Rồi sự thật, một sự thật phũ phàng từ sâu thẳm cơn quên hiện lên.

“Dạ… có…” 

Ông im lặng. 

Tôi cúi gầm mặt, rồi chẳng khóc được nữa.

Buổi chiều nắng vàng rực đến mức không thể cắt nổi nghĩa. Tôi chính thức thua cuộc khi trông thấy mái đầu ba mình óng ánh bạc nắng.

Tôi từ bỏ thi đấu cờ tướng vĩnh viễn, chỉ xem nó như trò giải trí cho đến tận sau này. Dù ba muốn tôi thi đấu tiếp, nhưng rồi tôi không thể nào vượt qua được sức nặng của những lựa chọn.  

Kỳ Y

Đọc bài viết

Cafe sáng