Book trailer

The Booker Prize 2020: The New Wilderness – Thế dystopia nửa vời

Published

on

Thế giới đang bước vào thời kỳ đen tối, và văn học cũng thế. Trong đêm công bố giải Booker Quốc tế, Ted Hodgkinson – Chủ tịch ban giám khảo giải thưởng năm nay đã nói rằng, họ đang đi tìm một cuốn sách phản ánh đúng thực trạng những gì đang diễn ra. Và đó là điều dễ thấy ở các đề cử cuối cùng trong giải Booker chính thống lẫn Quốc tế khi không chỉ một mà rất nhiều tác phẩm đi sâu vào cái điêu tàn, hãi hùng hay thậm chí khái quát một thể dystopia mà vốn từ lâu trước đó vẫn bị coi là tiểu thuyết mạt hạng. Một trong những cuốn sách bám sát dòng sự kiện nhất cho giải Booker năm nay không thể không nhắc đến The New Wilderness của Diane Cook. Với cuốn sách thứ hai và là tiểu thuyết đầu tay này, Diane đã viết nên một cuốn tiểu thuyết về tình cảm mẹ con – sinh thái – phản địa đàng hùng vĩ với nhiều tầng lớp trong một góc nhìn của tương lai gần.

Cuốn sách là câu chuyện về gia đình Glen – Bea – Agnes khi họ rời bỏ Thành phố đông đúc để đến Tiểu bang Hoang dã. Ở vùng đất cách rất xa và bị quên lãng này, những Rangers – tay sai cho một tầng lớp bí ẩn nào đó – thực hiện thí nghiệm về những tác động qua lại giữa con người và tự nhiên. Và đó là khi Cộng đồng – nhóm nhỏ gần 20 người – gắn kết cùng nhau trở về hoang dã. Với The New Wilderness, ba chân giá trị mà Diane Cook mang đến cho người đọc vừa xa lạ mà cũng thân quen, về những mối quan hệ gia đình, về tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, và trên hết, về một tương lai gần mà con người ở đó đang đến bờ vực điêu tàn.

*

Đầu tiên, để dựng nên một tiểu thuyết sinh thái – trào lưu nở rộ những năm gần đây sau thành công của Richard Powers hay Jean-Christophe Rufin, Diane Cook đã mở ra câu chuyện về gia đình Glen, Bea, Agnes và những rắc rối xoay quanh mối quan hệ này. Xuyên suốt giữ vững câu chuyện như khung vận động chính, ta thấy những dằn vặt lên gân, những tác động qua lại giữa hai mẹ con Bea và Agnes. Bea, bằng cá tính mạnh và vai trò của một người mẹ, lạnh lùng đứng lên bảo vệ gia đình bằng nhiều phương cách; trong khi dưới mắt trẻ thơ và cái yếm thế của Glen, Agnes coi đó dường như là một tội ác. Song song trong thế đối đầu giữa hai người ấy, một mặt nào đó Diane Cook cũng cho thấy vai trò của phụ nữ trong đời sống tự nhiên. Mặc cho những cãi vã, hiểu nhầm hay cách xa, đến cuối rồi thì, việc trở thành một người mẹ và chịu đựng nỗi đau đánh mất đứa con, Agnes mới thật sự hiểu những gì Bea đã làm để cứu lấy mình. Thiên chức trở thành người mẹ chuyển đổi mọi thứ trong cô, biến chuyển những vết thương vốn dĩ từ lâu khép miệng nay lại mở ra trong cái ăn năn những gì đã qua. Việc chọn mối quan hệ nhiều khúc mắc như thế rõ ràng là một phương án thông minh để triển khai ý đồ tổng thể to lớn của toàn tiểu thuyết.

Ảnh: guernicamag

Thế nhưng trong nó vẫn còn đâu đó thiếu sót trong cách xây dựng tâm lý. Nếu so với Burnt Sugar của Avni Doshi cùng hạng mục năm nay hay My name is Lucy Barton của Elizabeth Strout nhiều năm về trước, thì The New Wilderness thật sự không thể so sánh. Cuốn sách không bắt được bất kỳ một khoảnh khắc ấn tượng nào, chúng lờ đờ, nổi lên, mập mờ để rồi tan biến vào trong hư vô. Việc đối đầu giữa Agnes và Bea chưa đẩy độc giả đến tận đường cùng để thấy được bi kịch trong mối quan hệ này. Việc hàn gắn bằng cái thấu hiểu cũng không để lại dư vị sau cuối.

Sự gắn kết giữa con người và tự nhiên, những tác động qua lại từ cả hai phía lên nhau dường như là phần ổn nhất trong toàn tiểu thuyết. Như chia sẻ trong những cuộc phỏng vấn, ý tưởng cho The New Wilderness bắt đầu từ tuyển tập Man V. Nature của Diane và do đó, với một người am hiểu và dành tình yêu hoàn toàn cho thiên nhiên, ít ra đây cũng là điểm sáng cho cuốn sách. Việc cảm nhận thời gian theo tự nhiên: cái nóng mùa hè, lá thay màu sang thu, cái run cầm cập trong những ngọn núi tuyết hay việc thấu hiểu từng tập tính, dấu chân, tiếng động của Agnes hay Cộng đồng một mặt cho thấy với việc đi lùi lại tiến hóa, con người vẫn thuộc về tự nhiên, là một phần trong đó, hòa hợp và thuộc về.

Về thế giới tương lai mà Diane xây dựng để khớp với sự trở về thiên nhiên. Ở đây không gian – thời gian không được xác định một cách cụ thể, mà đó chỉ là Điểm dừng, đồi cát, núi lửa, vùng Hoang dã, khu đất tư… thế nhưng ít nhiều người ta vẫn có thể liên hệ tới một nước Mỹ xa xôi với địa lý phân hóa từ Đông sang Tây đầy đủ địa hình. Ở đó đất nước được chia thành hai vùng riêng: khu Thành phố đông đúc và Tiểu bang Hoang dã trơ trụi. Nơi thành phố ấy khi mọi thứ trở nên tệ hơn và bệnh hô hấp, bùng nổ dân số, không còn đủ rau để ăn hay nhà để ở, sữa trở nên quá đắt chỉ dành cho những cá nhân riêng lẻ và không còn đủ cát để trộn bê tông, bạo lực thì lại diễn ra ở khắp mọi nơi; thì con người bắt đầu tìm lấy cơ hội dồn về Tiểu bang để sống cuộc sống hoang dã, thoát khỏi Thành phố ngột ngạt tưởng chừng phát điên.

Tiểu bang đặt dưới kiểm soát của bọn Rangers và một thế lực bí hiểm ở tít trên cao nhưng khó để có thể biết. Tương tự như trong thí nghiệm Stanford, những người đến đây vì nhiều lý do: là nhà khoa học, là người thám hiểm, muốn thêm kiến thức, tin tưởng bản thân, vấn đề sức khỏe hay đơn thuần mong muốn lãng mạn hóa cuộc sống. Họ sống thành nhóm di cư theo mùa với những quy tắc bất di bất dịch của bọn Rangers: không ở lại quá lâu, không lưu lại dấu vết. Họ phải đến trạm dừng để khai báo số người chết, số rác đã thu lượm được, các kết quả máu. Họ có thể viết thư nhưng trong khuôn khổ nhất định, và dĩ nhiên, bị kiểm soát nội dung. Nếu còn để lại những mẫu rác nhỏ chứng minh một sự tồn tại, đương nhiên sẽ bị trừng phạt bởi các Rangers với phòng bằng chứng lưu trữ chính những thất bại.

Hành trang của họ là những quyển sách luật lệ dày cộm không thể làm trái, cái nồi sắt lớn, túi sách, giường ngủ, thức ăn, chén gỗ, túi rác, dụng cụ… Trở về nguyên bản để sống hòa hợp nhưng không thể quên tâm trí đang bị kiểm soát bởi một thế lực, lo sợ trừng phạt mỗi khi làm trái. Họ vẫn còn thú vui nho nhỏ của việc đọc sách mỗi khi quây quần bên ngọn lửa cuối, dự trữ thức ăn, đan lát, hun thịt, thuộc da… Tất cả gợi đến cảm giác của tiểu thuyết phản địa đàng khi tự do bị cầm tù, giới hạn bị đóng khung, và một thế lực ngang hàng nhưng có địa vị nào đó nắm chui. Thế nhưng ngay cả ở chỉ tiết này, Diane Cook cũng cho thấy một sự nửa vời của thứ rất nên tập trung, để rồi sau rốt là một thất bại vô cùng đáng tiếc.

Tính phản địa đàng cũng như lần trước, chưa đi đến nơi. Cái đáng kể của những tiểu thuyết dystopia luôn là thế đối đầu giữa hai tầng lớp và cái thời khắc khi giới bị trị phá bỏ giới hạn. Thế nhưng ở cả hai khúc quanh này, Diane Cook không đưa ra được hướng giải quyết xác đáng. Thế đối đầu của hai tầng lớp trong đây nhạt nhòa, và thậm chí, Diane còn cho họ có mối gắn kết thân tình nào đó với nhau. Họ quen thân (trường hợp Bea và Bob) hơn thế còn dành cảm tình cho nhau, một mặt nào đó cho thấy sự đối đầu vẫn chưa hoàn toàn đủ. Diane cũng không cho biết ai là chóp bu, không cho thấy được mục đích sau cùng; họ đối đầu nhưng lạc lõng, buông lơi với thế siết mềm, không đủ tác động hay ấn tượng sâu. Ngay cả thời khắc phá bỏ giới hạn cũng là một quả bom xịt bởi bản thân việc rời Tiểu bang Hoang dã để vào Thành phố không mấy khó khăn, và cái giá phải trả không quá mặn mà. Tiếc thay cho những cố gắng nửa vời phá hủy phần lớn công sức cuối cùng của mặt rất đáng khai thác.

*

Với The New Wilderness, Diane Cook đã dựng nên một tiểu thuyết rất nhiều tầng lớp và rất đáng suy ngẫm. Vào năm 1899, khi Giữa lòng tăm tối của Conrad ra đời, người ta vẫn không hiểu được ý nghĩa của nó, và luồng độc giả từ đó đến nay vẫn luôn chia thành hai luồng ý kiến: một bên cho rằng đó là tuyệt tác và phần còn lại nói rằng quá khó để hiểu. Ở một mặt nào đó, với Giữa lòng tăm tối, Conrad đã dựng nên một thế giới vô thanh, thế giới tăm tối của những mối quan hệ con người, của những đối xử màu da, của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; thì ở đây, Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa. Ở đó con người vẫn luôn là họ, đối xử bất công nhưng luôn nhen nhóm những niềm hy vọng. Dĩ nhiên về nghệ thuật viết, Diane không thể so sánh với một Conrad bậc thầy; nhưng về nội dung, cả hai đều là tiểu thuyết về một thời đại không thể nào quên, là những chứng nhân giữa dòng lịch sử.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Lực lượng Mãnh Hổ: Cuộc điều tra không khoan nhượng về tội ác chiến tranh năm 1967

Published

on

By

Tác phẩm Lực lượng Mãnh Hổ là một cuộc điều tra không khoan nhượng về tội ác chiến tranh năm 1967 ở miền Trung Việt Nam. Hai nhà báo thực hiện phóng sự này là Michael Sallah và Mitch Weiss đã được trao giải Pulitzer 2004.

Lực lượng Mãnh Hổ nằm trong danh sách những tác phẩm hay nhất năm 2006 theo bình chọn của các tờ báo như: Washington Post Book World, San Francisco Chronicle, Pittsburgh Post-Gazette và St. Louis Post-Dispatch.  

Tội ác bị chôn vùi suốt 30 năm của Lực lượng Mãnh Hổ

Vào buổi đầu của chiến tranh Việt Nam, năm 1965 Quân đội Mỹ đã thành lập một đơn vị chiến đấu có tính chất thử nghiệm với tên gọi “Lực lượng Mãnh Hổ,” tập hợp những người lính tinh nhuệ và gan dạ nhất.

Là trung đội viễn thám thuộc Sư đoàn Dù 101, Mãnh Hổ được trao rất nhiều quyền tự do, ít bị giám sát. Nhiệm vụ của họ là tìm nơi kẻ thù ẩn nấp để quân đội dội bom trúng mục tiêu. Họ được phép đến những nơi mà không có đội nào đến được, hòa làm một với rừng sâu, quên đi chính mình để thâm nhập vào tâm trí kẻ thù. Mỗi lần hành quân trong rừng của họ có thể kéo dài nhiều tuần liền.

Cuộc thử nghiệm này đã dẫn đến hậu quả khôn lường.

Những chuyện xảy ra trong suốt bảy tháng Mãnh Hổ sa chân xuống vực sâu là một cơn ác mộng. Lực lượng Mãnh Hổ đã gây ra vô số tội ác ghê gớm đối với dân thường ở vùng Quảng Ngãi – Quảng Tín trong suốt năm 1967. Lục quân Mỹ bắt đầu điều tra về tội ác chiến tranh của đơn vị này từ năm 1971. Cuộc điều tra kéo dài 4 năm sau đó và hồ sơ cho thấy lính Mãnh Hổ đã giết ít nhất 81 dân thường, vi phạm nhiều quy định quân đội. Cục điều tra của Lục quân Mỹ đã đề nghị kết án nhiều thành viên Mãnh Hổ. Nhưng tập hồ sơ bị lờ đi và rơi vào quên lãng suốt gần 30 năm.

Hai nhà báo đoạt giải Pulitzer vạch trần tội ác của Lực lượng Mãnh Hổ bằng nhiều nguồn tài liệu phong phú

Lực lượng Mãnh Hổ là thành quả của phóng viên Michael Sallah, Mitch Weiss và John Mahr từ nhiều năm điều tra, lần giở lại hồ sơ tuyệt mật, phỏng vấn những cựu thành viên Lực lượng Mãnh Hổ. Nhiều sự thật ghê gớm đã được tiết lộ trong loạt bài Buried Secrets, Brutal Truths (Bí mật chôn vùi, Sự thật tàn bạo) trên tờ Toledo Blade. Loạt bài này đã được trao giải thưởng Pulitzer hạng mục Báo chí năm 2004; từ nền tảng đó, Sallah và Weiss lại tiếp tục viết thêm quyển sách Lực lượng Mãnh Hổ đầy ắp tư liệu, giàu sức thuyết phục.

Xét về mặt nội dung, Lực lượng Mãnh Hổ có thể được chia làm hai phần. Phần đầu tiên thuật lại quá trình sa đọa của Mãnh Hổ khi trở thành đơn vị vô tổ chức và tàn nhẫn bậc nhất. Một cựu thành viên đã thuật lại với phóng viên rằng mục tiêu lúc bấy giờ của Mãnh Hổ là “hễ thấy gì động tĩnh là giết.”

Đến phần hai, cuốn sách thuật lại quá trình điều tra không khoan nhượng của sĩ quan Gustav Apsey sau 5 năm xảy ra cuộc thảm sát. Công việc của ông gặp nhiều khó khăn vì thiếu cơ sở dữ liệu. Thêm vào đó, do qui định của luật pháp, những người lính tàn bạo nhất lại là những người không phải chịu tố tụng vì họ đã rời khỏi quân đội. Lời khai của những thành viên miễn cưỡng chấp nhận trả lời trong cuộc điều tra cũng làm dấy lên sự nghi ngờ về mức độ tin cậy, một phần lí do là vì họ đã phải chịu di chứng hậu chấn thương về tinh thần. Khi phỏng vấn những cựu thành viên trong Lực lượng Mãnh Hổ và các nhân chứng người Việt, Sallah và Weiss đã cố gắng tìm hiểu lí do tại sao cuộc điều tra trước đây bị ngăn chặn, tại sao không có ai bị xét xử vì tội giết người.

Lực lượng Mãnh Hổ đặt ra nhiều câu hỏi nhân quyền đau đớn

Nhiều người lính trong Lực lượng Mãnh Hổ đã xuống tay giết người không chút nao núng khi cố gắng “giảm thiểu tối đa cảm xúc liên quan đến những sự kiện đang diễn ra.” Một người lính còn phát biểu rằng: “Vùng thung lũng này là nơi tồi tệ với tất cả chúng ta. Nhưng ta không cẩn phải chăm chăm nhìn thường dân để chọn mục tiêu. Chúng ta là Mãnh Hổ. Chúng ta thượng đẳng hơn.”  

Những thành viên trong Lực lượng Mãnh Hổ đều có số phận khác nhau, tất cả đều chỉ có điểm chung là thiện chiến. Sau khi rời khỏi Mãnh Hổ, có nhiều người vào tù ra khám, có nhiều người chết trẻ vì bị ung thư hay sơ gan, hoặc tự sát; một trong những người tàn ác nhất được miêu tả trong sách đã qua đời ở tuổi 34.

Lực lượng Mãnh Hổ được viết theo lối tường thuật ở ngôi thứ ba, kể lại những sự việc đã xảy ra như đang ở thì hiện tại mà không có bất kì bình luận xen giữa nào của phóng viên. Điều này đem lại cảm giác sống động, khách quan cho người đọc tương tự như trải nghiệm khi xem phim tài liệu không có lời bình theo phong cách direct cinema. Tuy vậy, khi các sự kiện càng được kể đơn giản thì càng có sức lay động.

Những câu chuyện thương tâm trong Lực lượng Mãnh Hổ có thể khiến người đọc bứt rứt; nhưng đồng thời, lại khó lòng buông sách xuống vì phải suy tư miên man về nhiều câu hỏi nhân quyền được đặt ra.   

Nhận xét của báo chí thế giới

“Hấp dẫn… Sallah và Weiss đã hoàn thành xuất sắc công việc khi kể lại không chỉ tổng quan câu chuyện chiến đấu mà còn cả những nỗi đau thường trực của các cá nhân.”

- Roger K. Miller | Pittsburgh Post-Gazette

“Tôi đã tường thuật về cuộc chiến kéo dài và chắc chắn rằng lời kể của các tác giả là đáng tin cậy... Lực lượng Mãnh Hổ bổ sung khía cạnh đáng sợ và sống động vào kiến thức của chúng ta về thảm kịch xảy ra ở Việt Nam cũng như sự hiểu biết của chúng ta về chính mình. Nhất định sẽ được đón nhận trong tương lai.”

- Stanley Karnow | Washington Post Book World

“Sallah và Weiss góp tiếng nói của họ cùng với những người lính Mãnh Hổ, người dân Việt Nam và những người thân yêu của họ. Thành quả là một câu chuyện hấp dẫn trải dài gần bốn thập kỷ và giúp định nghĩa lại Chiến tranh Việt Nam.”

- Bill Frogameni | Salon

“Mạnh mẽ... Cấu trúc xuất sắc và thật đáng kinh ngạc... Với Lực lượng Mãnh Hổ, Sallah và Weiss đã giành được vị trí bên cạnh Seymour Hersh (Chain of Command), Michael Herr (Dispatches) và Mark Bowden (Black Hawk Down) trong vai trò những nhà biên niên sử chiến tranh... Ngay lập tức thu hút sự chú ý và công bằng... Một bài thuyết trình xuất sắc và đầy đau đớn.”

- Joel Turpinseed | Minneapolis Star-Tribune

“Mạnh mẽ... Câu chuyện này được thể hiện lần đầu tiên dưới dạng loạt bài trên Toledo Blade, đã giành được giải Pulitzer cho Michael Sallah và Mitch Weiss. Quyển sách xứng đáng nhân đôi thành tích.”

- Ike Seamans | Miami Herald

“Đáng suy nghĩ... Sallah và Weiss đã cung cấp cho công chúng Mỹ câu chuyện được ráp nối này và bày tỏ lòng trắc ẩn đối với những người lính bị treo cổ đã phải chịu toàn bộ trách nhiệm về các sự kiện... Đây là một ví dụ sáng giá về cách báo chí có thể hoàn thành mục đích cao quý nhất là thông báo và vì thế đã trao quyền phán xét lại cho công chúng.”

- Edward Nawotka | San Francisco Chronicle

“Một câu chuyện hấp dẫn, một câu chuyện sẽ khiến người đọc vừa kinh hoàng vừa xấu hổ.”

- William Wineke | Wisconsin State Journal

“Một sự trình bày tuy rắc rối nhưng hấp dẫn về những gì có thể xảy ra khi một đơn vị quân đội tinh nhuệ chịu sự lãnh đạo kém và có mức độ thương vong cao... Các tác giả kể lại những chi tiết phức tạp theo phong cách báo chí trực diện khiến độc giả khó lòng đặt sách xuống”

- Robert Ruth | Columbus Dispatch

“Vừa nghiêm túc vừa xác đáng... Các tác giả đã truyền tải rất sinh động môi trường khắc nghiệt nơi những người lính bắt buộc phải tồn tại. Lực lượng Mãnh Hổ xuất hiện thật kịp thời.”

- Jack Kelly | American Heritage

“Rất lôi cuốn.”

- Dylan Foley | Denver Post

“Một câu chuyện hấp dẫn về con người trong chiến tranh, đúng thời điểm để nhìn lại các sự kiện ngày nay vì nó dẫn tới sự lo ngại sâu sắc.”

- George Herring, tác giả của Americas Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975

Về tác giả

Michael Sallah
Mitch Weiss

Hai tác giả Michael Sallah & Mitch Weiss được trao giải thưởng Pulitzer, thể loại Phóng sự Điều tra vào năm 2004 cho loạt bài về Lực lượng Mãnh Hổ trên tờ Toledo Blade. Họ cũng đã nhận được nhiều giải thưởng tiểu bang và quốc gia trong sự nghiệp.

Sallah từng được Hiệp hội các Nhà báo Chuyên nghiệp vinh danh là Phóng viên xuất sắc nhất ở bang Ohio. Ông hiện là biên tập viên mảng điều tra cho tờ Miami Herald.

Weiss đã cộng tác nhiều năm với Associated Press. Ông hiện là biên tập viên của tờ Charlotte Observer.

Đọc bài viết

Book trailer

Buông – Để thảnh thơi, an lạc và hạnh phúc

Published

on

By

Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng có thể có những phút “giác ngộ”: đời là vô thường, là bóng câu qua cửa sổ, là bọt bèo, là giấc mộng... Nhưng ta chỉ giật mình “ngộ” một chút rồi quên, rồi “trôi lăn” theo những tham sân si, những quấn quýt chằng chịt vô cùng hấp dẫn không sao thoát nổi.

Chính vì thế, trong cuốn sách Buông, ngoài những trải nghiệm về chuyện học Phật của bản thân, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn chia sẻ về vai trò của thiền định như là phương tiện rốt ráo giúp ta biết “dừng lại”, “thôi đi”, giúp ta nhận ra những “điên đảo mộng tưởng”, để từ đó biết sống cân bằng hơn, có sức khỏe tốt hơn, thảnh thơi và hạnh phúc hơn.

Góc nhìn hài hước, độc đáo của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về những vấn đề phức tạp

Trong bức thư giáo sư Cao Huy Thuần gửi cho bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trích ở đầu tác phẩm Buông có viết: “Tiên học Phật, hậu học cái gì cũng được…” Nhận xét hóm hỉnh này đã khái quát tinh thần chung của cả cuốn sách: tâm an lạc là điều thiết yếu cần phải có trước tiên, những cái khác tự khắc sẽ đến sau.

Trong Buông, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giải thích ngắn gọn những vấn đề phức tạp bằng cách tiếp cận hài hước, dí dỏm nhưng đem lại cho người đọc nhiều bất ngờ. Điều này thể hiện rõ nhất qua bài thơ viết ngay đầu sách là “Biết rồi còn hỏi!”:

“Tôi ngồi trước tượng Phật
Viết lăng nhăng mỗi ngày
Để khi nào bí thì hỏi
Phật tủm tỉm cười
Biết rồi còn hỏi!

Chỉ với năm câu thơ ngắn gọn, trực tiếp vào thẳng vấn đề, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã có thể gửi gắm một thông điệp rất ý nghĩa là: Câu trả lời đã có sẵn trong mỗi người, không phải ở một đấng tối cao nào. “Viết lăng nhăng” ở đây không phải là xem nhẹ những gì mình viết mà là không đặt nặng những vấn đề bên lề, những kết quả hay hào quang có thể đến từ việc viết. Viết không phải để làm việc. Viết là để vui, cũng như bất cứ hoạt động an dưỡng tinh thần nào khác.

Dung lượng ngắn gọn nhưng truyền tải được nhiều thông điệp ý nghĩa

Cũng trong bài thơ “Biết rồi còn hỏi!” ở ngay khổ tiếp theo, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn nhìn thấy một vấn đề phổ quát khác vốn là nguyên cớ gây ra cơn phiền muộn cho nhiều người. Với góc nhìn độc đáo, ông nhận ra bài học cuộc đời ở ngay chính tấm biển hiệu mà có lẽ nhiều người qua đường chẳng mấy ai chú ý:

“Sáng ra đường phố
Từng bước như đi dạo
Không thấy nở hoa sen
Ngước mắt nhìn lên
Một tấm biển to chữ đỏ
Đồ ngu cao cấp
Cửa hàng Fashion
Rơi dấu hỏi…”

Phát hiện này của ông có thể khiến người đọc dễ dàng bật cười nhưng đồng thời cũng nhận ra được thông điệp ngầm ẩn rằng: Vật chất chỉ là chuyện phù du.

Tất cả những bài viết còn lại trong Buông cũng đều ngắn gọn như thế với tinh thần “ý tại ngôn ngoại” vốn kiệm lời của thiền. Do đó, dù Buông là tập hợp 15 bài viết xen kẽ thơ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhưng sách tổng cộng chỉ có 141 trang, thích hợp cho cả người bận rộn đọc giữa những khoảng thời gian nhàn rỗi hiếm hoi.  

Cách tiếp cận đa dạng giúp người đọc hiểu thấu đáo về thiền trong cuộc sống

Ở tác phẩm Buông, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng có một bài viết ghi lại những suy tư vào thời kì dịch bệnh căng thẳng trong năm vừa qua. Trước tình cảnh không thể đi ra ngoài vì giãn cách, ông điềm nhiên nhận thấy có một giải pháp rất đơn giản mà hiệu quả là: “Nếu không ra ngoài được thì hãy đi… vào trong.” Thoạt tiên, người đọc có thể bật cười nhưng sau đó phải gật gù trước cách ông dùng thiền để giải thích và mở rộng vấn đề. Qua đó, ông cho rằng nếu ta có thể sống với tâm tĩnh lặng thì dù bên ngoài có biến động thế nào, ta vẫn sẽ an nhiên tự tại.

Không chỉ có góc nhìn hóm hỉnh, với nền tảng kiến thức sâu rộng, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn có thể giải thích một vấn đề ông đưa ra bằng nhiều hướng tiếp cận đa dạng, phong phú. Qua đó, ông vừa bộc lộ quan điểm bản thân, vừa tổng hợp được cả những quan điểm từ cổ chí kim để giới thiệu đến độc giả. Chẳng hạn, trong bài viết “Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc”, ông vừa trích dẫn bài kệ của Trần Nhân Tông, vừa nêu ra liệu pháp dùng thiền để chữa trị cho căn bệnh thời đại ngày nay là S.A.D (viết tắt của Stress: căng thẳng; Anxiety: lo âu; Depression: trầm cảm). Chính vì vậy, những ý kiến của ông trong mỗi bài viết đều mang tính thuyết phục cao mà đọc vẫn nhẹ nhàng dưới cách diễn đạt hài hước.

Một điểm đặc biệt nữa trong tác phẩm Buông chính là những tranh minh họa của họa sĩ Lê Ký Thương. Ông từng có thời gian dài sống ở chùa, ăn chay trường nên vô cùng thấm nhuần tinh thần thiền và Phật giáo. Chính vì vậy, toàn bộ tranh minh họa Lê Ký Thương vẽ cho Buông với những đường nét tròn, cách điệu đơn giản, tạo cảm giác thư thái, nhẹ nhõm khi ngắm nhìn đã truyền tải trọn vẹn tinh thần mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc muốn gửi gắm đến độc giả qua cuốn sách này. 

Trích đoạn

Lúc dịch bệnh tràn lan như vầy thì lời khuyên tốt nhất là nên “ở nhà một mình” (Home Alone, nhớ không?). Mọi người nên “Stayhome” trong “Homestay” của mình. Bất đắc dĩ mới phải ra đường khi thật sự cần thiết.

Độc cư nhiều khi dễ căng thẳng, buồn chán, dễ gây lộn, dễ “phá thành sầu” bằng chai alcool (không phải để sát khuẩn) mà để sinh sự cho sự sinh.

(trích Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc)

Khi xảy ra một chuyện phiền não nào đó thì nó dắt dây dắt nhợ, chuyện xưa chuyện sau... lải nhải hoài không dứt! Nhưng phiền não... cũng rất cần thiết đó chớ! “Phiền não là Bồ đề” mà! Không có phiền não thì ta không nhận ra Bồ đề, ta cứ để mình “trôi lăn” mãi trong khổ đau thôi. Cũng như nhờ có đau bụng mà ta biết bị “viêm ruột thừa” để kịp thời đi mổ!

(trích 4 lời nguyện rộng lớn)

Đã gần cả tiếng đồng hồ ngồi bên Thầy, tôi đứng dậy xá Thầy và nói: “Nãy giờ học với Thầy nhiều quá rồi, giờ xin Thầy cho một chữ thôi trước khi ra về”.

Thầy cười:

“BUÔNG”!

(trích Buông)

Về tác giả

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Ông tốt nghiệp tiến sĩ y khoa quốc gia, Y khoa Đại học đường Sài Gòn năm 1969.

Ông đã xuất bản hơn 30 tác phẩm với nhiều chủ đề như viết cho tuổi mới lớn, viết cho các bà mẹ, tùy bút, tạp văn, thơ… Nhiều tác phẩm của ông được công chúng yêu thích như: Già ơi chào bạn, Gió heo may đã về, Thư gửi người bận rộn…

Đọc bài viết

Book trailer

Ăn cơm với cá: Sách ẩm thực không thể bỏ qua cho những tín đồ yêu cá

Published

on

By

Ăn cơm với cá không chỉ là những hướng dẫn chi tiết về cách nấu 30 món cá sao cho ngon và đậm vị vùng miền, mà qua đó, độc giả còn có cơ hội hiểu thêm về sự tinh tế của ẩm thực Việt Nam.

Một cuốn sách ẩm thực tỉ mẩn và chăm chút

Từ những giới thiệu căn bản như Ăn cơm với cá - nét truyền thống Việt, Tên gọi và cách nấu cá Việt Nam đến Những mẹo sơ chế cá thông dụng, chúng ta sẽ được trải nghiệm cách nấu 10 món cá ngon mỗi miền Bắc, Trung, Nam.

Không những thế, trước mỗi công thức thường sẽ có đôi dòng, khi thì nói về cái thanh tao trong việc thưởng thức món ăn, khi thì kể tích cũ về gốc gác món ăn, có khi lại là những trải nghiệm riêng của tác giả về món ăn ấy. Và trong công thức luôn luôn tặng kèm những bí quyết rất nhỏ nhưng quyết định độ ngon của cả món cá. Mọi thứ tinh tế, trau chuốt và thân thuộc như cái cách mẹ chỉ cho con gái, mẹ chồng chỉ cho con dâu nấu ăn.

Tác giả Giang Vũ bộc bạch rằng để nói hết các món cá khắp Việt Nam có khi mất cả đời, bởi cô không chỉ nói, viết, chụp ảnh mà còn nấu đi nấu lại cho ra cái chất của món ăn đó, của vùng miền đó. Trong Ăn cơm với cá là 30 món cá ngon được cẩn trọng cân nhắc và chọn lọc kỹ càng suốt 5 năm để mang đến cho độc giả những điều tinh túy nhất của “cá Việt Nam”.

Chuyến du lịch ẩm thực ba miền bằng ngôn từ và hình ảnh

Với văn phong và lối hành văn chầm chậm đầy cảm xúc, từng trang trong cuốn sách không chỉ là những món ăn quen thuộc, không chỉ là vùng tuổi thơ của tác giả, mà còn gợi lại những kỷ niệm ít nhiều người Việt nào cũng có. Ít có sách ẩm thực nào khiến người đọc cảm thấy đói bụng và nhớ nhà nhiều đến thế.

Thật không quá khi nói rằng, đọc cuốn sách, ta như rơi vào một chuyến du lịch ẩm thực mà trong đó, bằng ngôn từ và hình ảnh, tác giả dẫn dắt độc giả đi từ quá khứ thông qua những ký ức tuổi thơ êm ả, đến cánh đồng đầy các loại cua ốc cá tôm, có khi ra đến chợ với các sạo cá tươi khô đủ loại, rồi cuối cùng dừng chân ở mâm cơm gia đình Việt bình dị mà “không cao lương mĩ vị nào sánh bằng.”

Cũng theo tác giả, “ăn cá thường phải theo mùa, theo con nước, phụ thuộc vào thiên nhiên chứ không phải lúc nào cũng mua được.” Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, thói quen ăn uống thuận theo tự nhiên đã nằm trọn vẹn trong văn hóa ẩm thực của người xưa. Và điều đó lại được nhắc đến qua những chia sẻ chi tiết và thân tình trong Ăn cơm với cá.

“Hi vọng rằng bạn đọc sẽ khám phá được một Việt Nam thật phong phú và đặc sắc qua những bữa cơm với cá dân dã mà cũng rất đỗi thân thương này.” Đó chính là tâm tư mà tác giả muốn truyền tải.

Khơi dậy niềm cảm hứng ẩm thực dân dã

Cuốn sách khiến chúng ta nhen nhóm một niềm tự hào về quê hương, về ẩm thực nước mình, khiến ta muốn tự hào kể cho một người bạn nước ngoài về sự tinh tế ấy và nói rằng: Ẩm thực Việt Nam tinh tế lắm!

Qua từng trang sách, chúng ta thấy rõ những cố gắng bảo lưu văn hóa ẩm thực từng vùng miền thông qua việc nghiên cứu rất kỹ các loại gia vị, cách nấu, cách nêm nếm, tạo ra cái ngon cho món cá từng vùng miền. Và thật vậy, cuốn sách khiến ta thêm yêu những mùa mưa mùa nắng trên dải đất hình chữ S, thêm yêu những thửa ruộng có con cá chuối, cá diếc bơi lội; yêu dòng nước phù sa nuôi bầy cá kèo, cá linh; yêu vùng biển mặn mòi nuôi đàn cá trích, cá thu; yêu cả bụi dọc mùng, rau cải, rau đắng, củ nghệ củ riềng trồng sẵn trong vườn.

Có lẽ không cần đợi đến khi đọc xong những trang cuối, độc giả đã nóng lòng đi chợ và vào bếp nấu một món cá đặc trưng để vừa ăn vừa ôn lại những cảm xúc về món cá mà mẹ hay bà từng nấu. Ăn cơm với cá không chỉ là cuốn sách dành cho người thích nấu ăn mà còn là món quà dành cho người yêu văn hóa ẩm thực Việt Nam. Và đó không khác gì một chuyến du lịch ẩm thực mà những món cá ngon chính là cầu nối.

Ăn cơm với cá quả thực đã “dẫn dắt chúng ta đến với một hành trình bếp núc đậm đà, mà cũng rất thơ” như chia sẻ của Chef Võ Quốc – Đại sứ văn hóa ẩm thực Việt Nam năm 2012. Không những thế, cuốn sách còn được Food Blogger Chánh Trần nhận xét là “đánh trúng tim đen của tất cả các tín đồ yêu cá”. Vì vậy, Ăn cơm với cá là cuốn sách không thể bỏ qua với những ai quan tâm đến ẩm thực và văn hóa Việt Nam.

Trích đoạn

Nhìn lại lịch sử của dân tộc thì ăn cơm với cá cũng phổ biến hơn ăn cơm với thịt gia súc, gia cầm. Từ xa xưa, người Việt rất hạn chế ăn gia súc, vì con trâu là một công cụ lao động quan trọng của nhà nông. Người Việt cũng chỉ biết ăn thịt bò từ khi người Pháp vào Việt Nam. Còn gia cầm, mặc dù được nuôi ở mỗi gia đình tại làng quê, nhưng chỉ những dịp như nhà có khách, giỗ chạp, cưới xin, lễ lạt… người ta mới làm thịt. Bữa cơm hằng ngày phổ biến nhất vẫn là cá bắt ngoài mương, ruộng, ao, ngòi, sông, suối, kênh, rạch, biển… Vì đã có tuổi đời ngàn năm, công thức nấu món cá Việt Nam cũng trở nên hoàn hảo, thật khó mà thay đổi cho ngon thêm nữa.

(trích đoạn Ăn cơm với cá – Giang Vũ)

Về tác giả

Giang Vũ là nhà báo ẩm thực. Chị sinh ra ra ở miền Bắc, lấy chồng người Huế, sống ở Bỉ, hiện đang đang sinh sống và làm việc tại Sài Gòn. Với hơn 10 năm làm BTV mảng ẩm thực, chuyên viết và chụp về ẩm thực đường phố di sản ẩm thực trên khắp Việt Nam cũng như trải nghiệm ẩm thực nước ngoài tại các nhà hàng ở Sài Gòn, cùng mong muốn lưu giữ công thức các món ăn truyền thống và tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt, chị đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu về “cook book” để thực hiện những cuốn sách ẩm thực chất lượng với hình ảnh đẹp, công thức chính xác, thuận tiện cho việc dịch ra tiếng Anh và giới thiệu với độc giả quốc tế.

Trong cuốn sách này, chị vừa là người soạn công thức vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món ăn. Chị cũng là tác giả của cuốn cook book mang tên 30 Món mứt ngon của người Việt do Phương Nam Book xuất bản.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng