Book trailer

The Booker Prize 2020: The New Wilderness – Thế dystopia nửa vời

Published

on

Thế giới đang bước vào thời kỳ đen tối, và văn học cũng thế. Trong đêm công bố giải Booker Quốc tế, Ted Hodgkinson – Chủ tịch ban giám khảo giải thưởng năm nay đã nói rằng, họ đang đi tìm một cuốn sách phản ánh đúng thực trạng những gì đang diễn ra. Và đó là điều dễ thấy ở các đề cử cuối cùng trong giải Booker chính thống lẫn Quốc tế khi không chỉ một mà rất nhiều tác phẩm đi sâu vào cái điêu tàn, hãi hùng hay thậm chí khái quát một thể dystopia mà vốn từ lâu trước đó vẫn bị coi là tiểu thuyết mạt hạng. Một trong những cuốn sách bám sát dòng sự kiện nhất cho giải Booker năm nay không thể không nhắc đến The New Wilderness của Diane Cook. Với cuốn sách thứ hai và là tiểu thuyết đầu tay này, Diane đã viết nên một cuốn tiểu thuyết về tình cảm mẹ con – sinh thái – phản địa đàng hùng vĩ với nhiều tầng lớp trong một góc nhìn của tương lai gần.

Cuốn sách là câu chuyện về gia đình Glen – Bea – Agnes khi họ rời bỏ Thành phố đông đúc để đến Tiểu bang Hoang dã. Ở vùng đất cách rất xa và bị quên lãng này, những Rangers – tay sai cho một tầng lớp bí ẩn nào đó – thực hiện thí nghiệm về những tác động qua lại giữa con người và tự nhiên. Và đó là khi Cộng đồng – nhóm nhỏ gần 20 người – gắn kết cùng nhau trở về hoang dã. Với The New Wilderness, ba chân giá trị mà Diane Cook mang đến cho người đọc vừa xa lạ mà cũng thân quen, về những mối quan hệ gia đình, về tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, và trên hết, về một tương lai gần mà con người ở đó đang đến bờ vực điêu tàn.

*

Đầu tiên, để dựng nên một tiểu thuyết sinh thái – trào lưu nở rộ những năm gần đây sau thành công của Richard Powers hay Jean-Christophe Rufin, Diane Cook đã mở ra câu chuyện về gia đình Glen, Bea, Agnes và những rắc rối xoay quanh mối quan hệ này. Xuyên suốt giữ vững câu chuyện như khung vận động chính, ta thấy những dằn vặt lên gân, những tác động qua lại giữa hai mẹ con Bea và Agnes. Bea, bằng cá tính mạnh và vai trò của một người mẹ, lạnh lùng đứng lên bảo vệ gia đình bằng nhiều phương cách; trong khi dưới mắt trẻ thơ và cái yếm thế của Glen, Agnes coi đó dường như là một tội ác. Song song trong thế đối đầu giữa hai người ấy, một mặt nào đó Diane Cook cũng cho thấy vai trò của phụ nữ trong đời sống tự nhiên. Mặc cho những cãi vã, hiểu nhầm hay cách xa, đến cuối rồi thì, việc trở thành một người mẹ và chịu đựng nỗi đau đánh mất đứa con, Agnes mới thật sự hiểu những gì Bea đã làm để cứu lấy mình. Thiên chức trở thành người mẹ chuyển đổi mọi thứ trong cô, biến chuyển những vết thương vốn dĩ từ lâu khép miệng nay lại mở ra trong cái ăn năn những gì đã qua. Việc chọn mối quan hệ nhiều khúc mắc như thế rõ ràng là một phương án thông minh để triển khai ý đồ tổng thể to lớn của toàn tiểu thuyết.

Ảnh: guernicamag

Thế nhưng trong nó vẫn còn đâu đó thiếu sót trong cách xây dựng tâm lý. Nếu so với Burnt Sugar của Avni Doshi cùng hạng mục năm nay hay My name is Lucy Barton của Elizabeth Strout nhiều năm về trước, thì The New Wilderness thật sự không thể so sánh. Cuốn sách không bắt được bất kỳ một khoảnh khắc ấn tượng nào, chúng lờ đờ, nổi lên, mập mờ để rồi tan biến vào trong hư vô. Việc đối đầu giữa Agnes và Bea chưa đẩy độc giả đến tận đường cùng để thấy được bi kịch trong mối quan hệ này. Việc hàn gắn bằng cái thấu hiểu cũng không để lại dư vị sau cuối.

Sự gắn kết giữa con người và tự nhiên, những tác động qua lại từ cả hai phía lên nhau dường như là phần ổn nhất trong toàn tiểu thuyết. Như chia sẻ trong những cuộc phỏng vấn, ý tưởng cho The New Wilderness bắt đầu từ tuyển tập Man V. Nature của Diane và do đó, với một người am hiểu và dành tình yêu hoàn toàn cho thiên nhiên, ít ra đây cũng là điểm sáng cho cuốn sách. Việc cảm nhận thời gian theo tự nhiên: cái nóng mùa hè, lá thay màu sang thu, cái run cầm cập trong những ngọn núi tuyết hay việc thấu hiểu từng tập tính, dấu chân, tiếng động của Agnes hay Cộng đồng một mặt cho thấy với việc đi lùi lại tiến hóa, con người vẫn thuộc về tự nhiên, là một phần trong đó, hòa hợp và thuộc về.

Về thế giới tương lai mà Diane xây dựng để khớp với sự trở về thiên nhiên. Ở đây không gian – thời gian không được xác định một cách cụ thể, mà đó chỉ là Điểm dừng, đồi cát, núi lửa, vùng Hoang dã, khu đất tư… thế nhưng ít nhiều người ta vẫn có thể liên hệ tới một nước Mỹ xa xôi với địa lý phân hóa từ Đông sang Tây đầy đủ địa hình. Ở đó đất nước được chia thành hai vùng riêng: khu Thành phố đông đúc và Tiểu bang Hoang dã trơ trụi. Nơi thành phố ấy khi mọi thứ trở nên tệ hơn và bệnh hô hấp, bùng nổ dân số, không còn đủ rau để ăn hay nhà để ở, sữa trở nên quá đắt chỉ dành cho những cá nhân riêng lẻ và không còn đủ cát để trộn bê tông, bạo lực thì lại diễn ra ở khắp mọi nơi; thì con người bắt đầu tìm lấy cơ hội dồn về Tiểu bang để sống cuộc sống hoang dã, thoát khỏi Thành phố ngột ngạt tưởng chừng phát điên.

Tiểu bang đặt dưới kiểm soát của bọn Rangers và một thế lực bí hiểm ở tít trên cao nhưng khó để có thể biết. Tương tự như trong thí nghiệm Stanford, những người đến đây vì nhiều lý do: là nhà khoa học, là người thám hiểm, muốn thêm kiến thức, tin tưởng bản thân, vấn đề sức khỏe hay đơn thuần mong muốn lãng mạn hóa cuộc sống. Họ sống thành nhóm di cư theo mùa với những quy tắc bất di bất dịch của bọn Rangers: không ở lại quá lâu, không lưu lại dấu vết. Họ phải đến trạm dừng để khai báo số người chết, số rác đã thu lượm được, các kết quả máu. Họ có thể viết thư nhưng trong khuôn khổ nhất định, và dĩ nhiên, bị kiểm soát nội dung. Nếu còn để lại những mẫu rác nhỏ chứng minh một sự tồn tại, đương nhiên sẽ bị trừng phạt bởi các Rangers với phòng bằng chứng lưu trữ chính những thất bại.

Hành trang của họ là những quyển sách luật lệ dày cộm không thể làm trái, cái nồi sắt lớn, túi sách, giường ngủ, thức ăn, chén gỗ, túi rác, dụng cụ… Trở về nguyên bản để sống hòa hợp nhưng không thể quên tâm trí đang bị kiểm soát bởi một thế lực, lo sợ trừng phạt mỗi khi làm trái. Họ vẫn còn thú vui nho nhỏ của việc đọc sách mỗi khi quây quần bên ngọn lửa cuối, dự trữ thức ăn, đan lát, hun thịt, thuộc da… Tất cả gợi đến cảm giác của tiểu thuyết phản địa đàng khi tự do bị cầm tù, giới hạn bị đóng khung, và một thế lực ngang hàng nhưng có địa vị nào đó nắm chui. Thế nhưng ngay cả ở chỉ tiết này, Diane Cook cũng cho thấy một sự nửa vời của thứ rất nên tập trung, để rồi sau rốt là một thất bại vô cùng đáng tiếc.

Tính phản địa đàng cũng như lần trước, chưa đi đến nơi. Cái đáng kể của những tiểu thuyết dystopia luôn là thế đối đầu giữa hai tầng lớp và cái thời khắc khi giới bị trị phá bỏ giới hạn. Thế nhưng ở cả hai khúc quanh này, Diane Cook không đưa ra được hướng giải quyết xác đáng. Thế đối đầu của hai tầng lớp trong đây nhạt nhòa, và thậm chí, Diane còn cho họ có mối gắn kết thân tình nào đó với nhau. Họ quen thân (trường hợp Bea và Bob) hơn thế còn dành cảm tình cho nhau, một mặt nào đó cho thấy sự đối đầu vẫn chưa hoàn toàn đủ. Diane cũng không cho biết ai là chóp bu, không cho thấy được mục đích sau cùng; họ đối đầu nhưng lạc lõng, buông lơi với thế siết mềm, không đủ tác động hay ấn tượng sâu. Ngay cả thời khắc phá bỏ giới hạn cũng là một quả bom xịt bởi bản thân việc rời Tiểu bang Hoang dã để vào Thành phố không mấy khó khăn, và cái giá phải trả không quá mặn mà. Tiếc thay cho những cố gắng nửa vời phá hủy phần lớn công sức cuối cùng của mặt rất đáng khai thác.

*

Với The New Wilderness, Diane Cook đã dựng nên một tiểu thuyết rất nhiều tầng lớp và rất đáng suy ngẫm. Vào năm 1899, khi Giữa lòng tăm tối của Conrad ra đời, người ta vẫn không hiểu được ý nghĩa của nó, và luồng độc giả từ đó đến nay vẫn luôn chia thành hai luồng ý kiến: một bên cho rằng đó là tuyệt tác và phần còn lại nói rằng quá khó để hiểu. Ở một mặt nào đó, với Giữa lòng tăm tối, Conrad đã dựng nên một thế giới vô thanh, thế giới tăm tối của những mối quan hệ con người, của những đối xử màu da, của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; thì ở đây, Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa. Ở đó con người vẫn luôn là họ, đối xử bất công nhưng luôn nhen nhóm những niềm hy vọng. Dĩ nhiên về nghệ thuật viết, Diane không thể so sánh với một Conrad bậc thầy; nhưng về nội dung, cả hai đều là tiểu thuyết về một thời đại không thể nào quên, là những chứng nhân giữa dòng lịch sử.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

‘Đũa – Chuyện linh dị’ khám phá những truyền thuyết rùng rợn về đôi đũa

Published

on

By

Nỗi ám ảnh từ đôi đũa

Đũa là một vật dụng rất đỗi thường mọn trong đời sống hằng ngày nhưng với văn hóa Á Đông, đũa lại mang một sức mạnh tâm linh bí ẩn, hàm chứa vô số những điều cấm kỵ truyền miệng suốt ngàn đời nay.

Lấy cảm hứng từ điều đó, năm tác giả đến từ Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan đã cùng nhau phỏng tác những tục lệ dân gian huyền bí cũng như những truyền thuyết về bùa ngải, ma thuật xoay quanh vật phẩm bé nhỏ này qua một loạt vụ án liên tiếp trải dài từ quá khứ đến hiện đại trong tác phẩm.

Những vụ án này có thể bắt đầu từ hàng loạt cái chết bi thảm khó lý giải, hình ảnh oan hồn cô dâu ma bên đầm Tân Nương, hay sự xuất hiện bí ẩn của những kẻ mang ấn ký hình cá đỏ…

Tất cả mọi manh mối đều dẫn đến một vật hết sức mơ hồ – đũa. Và cũng từ đó những lời đồn thổi về nghi lễ cổ quái xa xưa lại một lần nữa trỗi dậy, rằng chỉ cần qua tám mươi tư ngày tham gia nghi lễ ấy, mọi ước vọng của nhân gian dẫu ngông cuồng đến đâu cũng đều có thể xoay chuyển càn khôn trở thành hiện thực. Nhưng trong cơn cuồng say dục vọng, không ai có thể ngờ rằng một khi dấn bước vào nghi lễ kỳ bí ấy tức là họ đã tự trói buộc mình vào lời nguyền truyền kiếp và cái giá phải trả sẽ tột cùng kinh hoàng.

Một “nghi lễ” vượt biên giới của các nhà văn

Đũa – Chuyện linh dị là dự án đánh dấu sự hợp tác của 5 cây bút đến từ Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản, nhưng đây hoàn toàn không phải một tập truyện ngắn theo cách hiểu thông thường.

Với đề tài chính là “đũa”, các nhà văn có thể tự do sáng tạo mạch truyện theo cách riêng, nhưng để giữ cho tập sách có sự thống nhất, ba tác giả đầu tiên sẽ xây dựng những tình tiết nền móng, hai tác giả cuối cùng dựa trên manh mối từ ba truyện trước để khép lại câu chuyện theo cách diễn giải của mình.

Đũa – Chuyện linh dị thuộc thể loại tiểu thuyết hợp tác (collaborative fiction), thường gồm hai hoặc một số nhà văn thay phiên nhau viết từng phần câu chuyện và chuyển cho người tiếp theo, nhưng vẫn chú ý đến nhân vật, tình tiết của đối tác để triển khai mạch truyện sao cho logic, chặt chẽ.  

Thể loại này đặc biệt phù hợp với đề tài tác phẩm, vốn xoay quanh các nghi lễ ma quái nhằm triệu hồi một thế lực thần bí, tương tự như quá trình sáng tác Đũa – Chuyện Linh Dị đã kết nối năm cây bút độc lập đến từ những vùng đất khác nhau, đưa họ đến một mục đích chung.

Chính vì thế, tác giả Tiêu Tương Thần cho rằng những yếu tố bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các tác giả chính là điểm hấp dẫn của dòng tiểu thuyết hợp tác. Người này nhận xét:

“Như thể có một bàn tay lớn hơn ẩn đằng sau các tác giả, âm thầm thêu dệt truyện. Câu chuyện rời khỏi tay tác giả, lần lượt phản bội tác giả, khiến tác giả trở thành một phần của câu chuyện, phải chăng có một thế lực nào lớn hơn đang ở phía sau chúng tôi?”.

Sức hấp dẫn không thể chối từ của dòng truyện “linh dị”

Dòng truyện linh dị là những tác phẩm xoay quanh tập tục dân gian cổ xưa, tà đạo, thuật phong thủy, hoặc những thế lực siêu nhiên như vong hồn, oán chú,… đặc trưng trong văn hóa Á Đông.

Truyện linh dị thường khiến người đọc rợn tóc gáy vì khả năng truyền tải nỗi sợ qua những vật dụng gần gũi trong đời sống thường ngày; hay như những câu chuyện truyền miệng qua lời kể của ông bà, cha mẹ; những lời đồn đại của bạn bè trong lớp học; hoặc đôi khi chỉ đơn giản là những phỏng đoán xung quanh một địa điểm hay một vụ án bí ẩn không lời giải.

Khác với dòng truyện nặng tính kinh dị (horror) đến từ phương Tây, tiểu thuyết linh dị Á Đông dễ dàng hớp hồn độc giả Việt Nam nhờ sự tương cận, gần gũi về văn hóa. Nhiều độc giả có lẽ đã dần biết đến dòng tiểu thuyết linh dị thông qua văn học mạng hay các tác phẩm của Quỷ Cổ Nữ.

Đến với Đũa – Chuyện linh dị, người đọc không những được trải nghiệm một câu chuyện hấp dẫn, rùng rợn xoay quanh đũa và những tập tục cổ xưa, mà còn có dịp làm quen với dạng thức tiểu thuyết hợp tác – một thể loại vẫn còn mới mẻ với nhiều độc giả Việt Nam.

Bìa sách Đũa bản nước ngoài

Trích đoạn

Dưới ánh trăng, tôi cắm một chiếc đũa vào hũ gạo, chiếc kia xếp ngang phía trên thành hình chữ T. Tôi quỳ xuống thắp một nén nhang, đầu nhang đỏ rực như đom đóm, hương thơm quyện vào trong gió.

Sau đó tôi lầm rầm câu chú.

Lần cuối cùng tôi đọc câu chú này là hơn bốn mươi năm trước, nhưng lòng tôi bây giờ so với khi đó đã hoàn toàn khác.

Trong những mảnh vỡ của cuộc đời tôi, luôn lấp lóa tia sáng đỏ rực của cái đêm kinh hoàng bên bờ suối, khiến tôi thấy mình vẫn như đang đắm mình trong làn nước lạnh giá để khâu lại những tấm da mỏng manh, những đứa trẻ bị đẩy vào bóng tối với cặp mắt mở trừng trừng…

(trích đoạn Đũa – Chuyện linh dị)

Về tác giả

Mitsuda Shinzo: tiểu thuyết gia dòng kinh dị kỳ ảo người Nhật Bản, nổi tiếng với series truyện Tojio GenyaLike a Sinking Water Demon (giải thưởng Honkaku Mystery Award)…

Tiết Tây Ti (Xerxes): tiểu thuyết gia dòng võ thuật, kỳ ảo người Đài Loan, nổi tiếng với các tác phẩm tiêu biểu: H.A, Phoenix, Lotus Reborn (giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013)…

Tiêu Tương Thần: tiểu thuyết gia kiêm nhà sản xuất game nổi tiếng người Đài Loan, tác phẩm đầu tay của anh - Taipei Scrolls - đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2012 và King Car Fantasy Fiction Prize năm 2014.

Je Tau Zi: tiểu thuyết gia trinh thám kiêm nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng người Hồng Kông, tác phẩm tiêu biểu The Spirit of the Word của cô từng đoạt giải thưởng Kadokawa Fiction năm 2013.

Chan Ho Kei: tiểu thuyết gia kiêm kỹ sư phần mềm, nhà thiết kế trò chơi và biên tập viên tạp chí truyện tranh người Hồng Kông. Các tác phẩm tiêu biểu của anh gồm có: The Case of Jack and the Beanstalk, The Locked Room of Bluebeard, The Man Who Sold the World (Soji Shimada Mystery Award 2011)... Tại Việt Nam, tác phẩm trinh thám Người trong lưới13.67 của anh cũng được độc giả nhiệt liệt đón nhận.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Bức thư tình gửi đến Việt Nam từ một nhà thơ người Mỹ

Published

on

By

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tuyển tập bút ký điền dã của một nhà thơ, nhà báo người Mỹ viết về Sài Gòn, được xuất bản dưới dạng sách song ngữ. Tuyển tập gồm 8 đoản khúc, xoay quanh những điều bình dị như cây chò nâu, tiệm tạp hóa, lục bình, sở thú… cho đến những chủ đề “khó nhằn” như tục thờ cá Ông, đồn điền cao su, nghề nấu rượu… Tất cả được viết bằng giọng văn vừa dí dỏm, khoa học nhưng không kém phần thơ mộng.

Việt Nam qua góc nhìn của thi sĩ Mỹ

Nhà thơ Paul Christiansen sinh năm 1986, quốc tịch Mỹ, tốt nghiệp cử nhân Đại học St Olaf và có bằng thạc sĩ nghệ thuật Đại học Quốc tế Florida (Mỹ).

Nhận học bổng chương trình Fulbright, anh sang Quy Nhơn năm 2015 rồi sau đó chuyển hẳn đến Việt Nam làm việc. Anh hiện là Giám đốc Nội dung của tạp chí Saigoneer và đang miệt mài chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Thơ của Paul Christiansen đã xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật uy tín như Atlanta Review, Pleiades, Quarter After Eight, Threepenny Review, Zone Three và đã đoạt hai giải thưởng thi ca của Viện Hàn Lâm Thi Ca Mỹ.

Tài năng của Trần Thị NgH trong vai trò dịch giả

Chịu trách nhiệm chuyển ngữ tập bút ký của Christiansen là Trần Thị NgH - nữ văn sĩ từng gây tiếng vang với những truyện ngắn được viết trước 1975. Năm 2012, nhiều truyện ngắn của Trần Thị NgH được tập hợp lại thành sách và giới thiệu với độc giả trong nước, như Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn, Nhăn Rúm và các truyện ngắn khác. Vào năm 2018, tác phẩm gần đây nhất của bà là Ác tính được xuất bản, gây xôn xao văn đàn. 

Vắng bóng một thời gian trong tư cách người cầm bút, Trần Thị NgH bất ngờ trở lại với cuốn sách Dưới Tán Chò Nâu, nhưng trong một vai trò mới: dịch giả.

Đọc qua phần mục lục, ta có thể thấy tài năng của Trần Thị NgH qua việc chuyển ngữ những tiêu đề tiếng Anh sang tiếng Việt rất mượt mà:

  • SỞ THÚ SÀI GÒN – Vẫn yêu dù có thế nào (On Loving the Saigon Zoo Despite Its Flaws)
  • LỤC BÌNH: Người đẹp thủy sinh, kẻ phá hoại đáng ghét, quân xâm lược xấu xa (An Invasive, Destructive, Beautiful Aquatic Villain)

Bà cũng là người biên dịch nhiều tác phẩm của John Steinbeck, Anton Chekhov, Paolo Giordano, Franck Thilliez, Guillaume Musso,...

Về việc dịch tác phẩm này, bà cho biết: “Thách thức trong khi dịch Paul Christiansen không chỉ đòi hỏi nỗ lực Việt hóa tác phẩm sao cho không còn là văn dịch đồng thời đảm bảo trung thực ý nghĩa từng câu chữ so với bản gốc, mà còn phải làm thế nào để giữ cho được cái giọng châm biếm ở nhiều ngữ cảnh của tác phẩm, đặc biệt giọng văn rất thơ của tác giả”.

Tập bút ký điền dã với nhiều suy tư sâu sắc

Vốn là người yêu thiên nhiên và thơ ca, dễ thấy rằng Paul Christiansen đặc biệt quan tâm đến những điều tạo nên nét đẹp mộc mạc, bình dị của mảnh đất hình chữ S. Tác giả tìm thấy cảm hứng từ việc đi dạo dưới bóng cây râm mát của sở thú, trăn trở về cá voi ngoài đại dương lẫn những con thú bị nhốt trong chuồng, thích thú ngắm nhìn lục bình trôi và những quả chò nâu xoay vòng trong gió…

Những bài viết của Paul Christiansen độc đáo ở chỗ có sự đan xen giữa óc quan sát tinh tế của một nhà thơ và góc nhìn chuyên sâu của một nhà nghiên cứu về những cảnh quan, nghi lễ, sự thật lịch sử vẫn còn bị dân bản địa thờ ơ.

Hai bài viết đầu tiên, Sở thú Sài Gòn, Tạp hóa và cửa hàng tiện lợi, đưa người đọc tái khám phá những địa điểm quen thuộc dưới một lăng kính mới. Trong mắt nhà thơ người Mỹ, ngay cả những dây dầu gội, sữa tắm treo trước các tiệm tạp hóa trông thật lạ lẫm, được anh ví như “rêu bằng nhôm mọc trên cây hay những tấm màn bằng xâu chuỗi để che hậu cảnh”.

Nhưng Paul Christiansen không chỉ khám phá Việt Nam qua những điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nghề nấu rượu, Tục thờ cá Ông, Đồn điền cao su Việt Nam… khai thác những chủ đề tưởng chừng khô khan, khó nhằn thậm chí đối với người bản địa.

Nghề nấu rượu xoay quanh món rượu gạo truyền thống của Việt Nam và những thăng trầm mà người làm rượu theo cách thủ công phải trải qua trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ.

Tục thờ cá Ông viết về tín ngưỡng thờ cúng cá voi ở các làng chài Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời cũng là nỗi băn khoăn của tác giả trước thực tế cá voi đang dần tuyệt chủng.

Đồn điền cao su điểm lại một trang sử bi thương của người Việt Nam, nhìn thẳng vào hệ quả hậu thuộc địa mà các nước thực dân gây ra.

Bảo tàng Địa chất, Lục bình, Chò nâu Sài Gòn viết về những vật, những người vẫn luôn ở đó nhưng dễ bị lãng quên giữa guồng quay cuộc sống: một bảo tàng khiêm tốn nằm ở góc quận 1, thảm xanh lục bình trôi trên sông, hay vẻ đẹp của cây chò nâu mọc ven đường…

Dưới Tán Chò Nâu Sài Gòn là tập bút ký dành cho người yêu Sài Gòn, yêu Việt Nam, và cả những người muốn yêu lại từ đầu với thành phố, với mảnh đất này…

Trích đoạn

“Trong khi tản bộ xuống đường Nguyễn Đình Chiểu, tôi chợt thấy một thác chò đổ tuôn sau cơn gió hè. Những quả khô bay vòng vèo xuống rồi đáp bất lực trên nền bê tông. Vô phương bám rễ, những đôi cánh xụi lơ, giống như vây cá voi sát thủ yếu quặt vì bị giam cầm. Có một thứ gì đó trong tôi cũng tả tơi như thế.”

(trích Chò nâu Sài Gòn)

“… tôi đến viếng bàn thờ cá Ông và thắp một nén nhang cầu xin cho cá voi được trường tồn, cho làng chài được sung túc và cho những ao ước riêng tư của mình thành hiện thực – những khát vọng này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau. Khói nhang bay tỏa lên không trung, giống như tiếng hát cá voi vang vọng vào cõi tĩnh lặng lúc nó ngoi lên từ vực nước thẳm sâu”.

(trích Tục thờ cá Ông)

Nhận xét

Paul Christiansen thích đi bộ để thấy và nghe. Anh lắng nghe tâm tình của động vật và cây cỏ trong Thảo Cầm Viên, ngồi ngắm lục bình trôi trên sông Sài Gòn, mua nhu yếu phẩm từ tiệm tạp hóa góc phố, uống rượu gạo với dân làng chài, thắp nhang vái lạy trước bàn thờ cá Ông làng Phước Hải, băn khoăn về những dòng máu trắng chảy trong rừng cao su thời thuộc địa, ray rứt với từng viên thạch anh trưng bày ở Bảo tàng Địa chất, ngắm nhìn cánh chò xoay xoay trong gió…

– Dịch giả Trần Thị NgH

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác – tác phẩm về một thí nghiệm tâm lý gây chấn động

Published

on

By

Tác phẩm được viết bởi hai nhà tâm lý học đoạt giải Ig Nobel 2004

Hai nhà tâm lý học Christopher Chabris và Daniel Simons gặp nhau tại Viện Đại học Harvard vào năm 1997 và bắt đầu trở thành cộng sự trong lĩnh vực nghiên cứu.

Christopher Chabris là một giáo sư tâm lí học và cũng là giám đốc điều hành của một chương trình về khoa học thần kinh tại Đại học Union ở Schenectady, New York (Mỹ). Daniel Simons là nhà tâm lý học thực nghiệm, nhà khoa học nhận thức, và là giáo sư Khoa Tâm lý học ở Viện Beckman về Phát triển khoa học và công nghệ tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2004, họ cùng thắng giải Ig Nobel tâm lý học – một giải thưởng nhại lại giải Nobel được trao cho “những thành tựu ban đầu làm người ta phì cười, nhưng sau đó lại khiến họ suy nghĩ”. Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác được lấy cảm hứng từ đây.

Hiện tượng “nhìn mà không thấy” trong thí nghiệm “khỉ đột vô hình”

Mọi chuyện bắt đầu từ một thí nghiệm kinh điển của Chabris và Simons. Hai nhà tâm lý học nhờ các tình nguyện viên trường Harvard xem đoạn phim ngắn về trận bóng giữa hai đội mặc áo đen và trắng, yêu cầu họ đếm số lần chuyền bóng của hai đội. Sau khi hết video, các đối tượng tham gia thí nghiệm nêu ra con số mà mình đếm được.

Nhưng nhiệm vụ đếm số lần chuyền bóng chỉ là cái cớ để giữ cho những tình nguyện viên phân tâm khỏi sự kiện chính trong đoạn video. Giữa lúc trận bóng diễn ra, một người mặc bộ đồ hóa trang khỉ đột lặng lẽ đi vào hiện trường, nhìn về phía camera, lấy tay đấm lên ngực rồi bước ra. Cảnh này diễn ra trong vòng 9 giây.

https://youtu.be/vJG698U2Mvo

Kết quả thật đáng ngạc nhiên: khoảng phân nửa đối tượng tham gia thí nghiệm, vì quá chú tâm đến nhiệm vụ của mình, đã không chú ý tới chú khỉ đột!

Thí nghiệm này là xuất phát điểm để Christopher Chabrisvà Daniel Simons phát triển công trình nghiên cứu gây tiếng vang của mình. Khoa học gọi đây là hiện tượng “mù vô ý” (inattentional blindness) có thể xảy ra hằng ngày trong mọi khía cạnh của đời sống, nhưng những điều trên mới chỉ là bề nổi của tảng băng trôi.

Chúng ta không biết nhiều về thế giới như ta vẫn nghĩ

Từ một thí nghiệm về tình trạng mù vô ý, Christopher Chabrisvà Daniel Simons đã dẫn chứng hàng loạt câu chuyện có thật nhằm chứng minh rằng nhận thức con người đầy rẫy những lỗ hổng.

Khi tham gia giao thông, bạn hoàn toàn có thể rơi vào tình trạng mù vô ý và không thể tránh kịp chiếc xe đang ở phía trước, dù nó nằm ngay trong tầm nhìn của bạn.

Cuốn sách đưa ra những trường hợp chứng tỏ con người thường vô ý bỏ qua những gì ở ngay trước mắt khi quá tập trung vào một việc cụ thể, dẫn tới hậu quả khôn lường: như một cảnh sát chạy ngang qua hiện trường một vụ hành hung nhưng không nhận ra, một vị hạm trưởng tàu ngầm không thấy chiếc ngư thuyền trong tầm mắt, một tài xế không chú ý tới người chạy xe máy, một phi công không thấy chướng ngại vật trên đường băng…

Không dừng lại ở những gì tai nghe mắt thấy, Chabris và Simons đi sâu vào phân tích nhiều cái bẫy ảo tưởng tinh vi hơn, chẳng hạn ảo tưởng về ký ức, ảo tưởng về kiến thức hay ảo tưởng về sự tự tin. Bộ đôi nhà tâm lý học chỉ ra rằng, bộ nhớ của chúng ta thường cố tình bóp méo những ký ức về sự kiện trong quá khứ, rằng một chuyên gia vẫn có thể mắc sai lầm… Tất cả đều xuất phát từ niềm tin mù quáng vào kinh nghiệm và nhận thức của bản thân.

Những ảo tưởng sai lầm có thể khiến chúng ta bị “dắt mũi”

Có nhiều doanh nghiệp đã tạo ra hàng triệu USD nhờ tận dụng những ảo tưởng phổ biến của con người.

Một trong số đó là việc quảng cáo loại headset đeo tai để nghe điện thoại trong lúc lái xe.  Luật giao thông cấm tài xế sử dụng điện thoại di động cầm tay khi đang chạy xe trên đường, nhưng không cấm tài xế đeo headset. Tờ quảng cáo của công ty AT&T Wireless đã tuyên bố: “Nếu sử dụng điện thoại không dây trong khi lái xe, bạn có thể giữ cả hai bàn tay trên tay lái”.

Chabris và Simons cho rằng không có nhiều khác biệt giữa khả năng gây phân tâm của điện thoại cầm tay và điện thoại rảnh tay, vì bản chất việc nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe đòi hỏi khả năng đa nhiệm của người sử dụng. Càng chú tâm vào cuộc nói chuyện, tài xế sẽ càng xao lãng những gì diễn ra trước mắt, dễ dẫn đến tình trạng mù vô ý, thế nên quảng cáo headset đeo tai an toàn hơn điện thoại cầm tay là hoàn toàn sai lầm và lợi dụng niềm tin của người dùng.

Bằng cách nhận ra khi nào và tại sao các ảo tưởng này lại ảnh hưởng tới mình, hậu quả mà chúng gây ra cho những vấn đề của con người, Chabris và Simons tin rằng Khỉ Đột Vô Hình Và Cú Lừa Của Trực Giác sẽ giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về cách tâm trí hoạt động, vượt qua hoặc giảm thiểu tác động của những ảo tưởng ở mức tối đa, từ đó sống và đưa ra quyết định một cách sáng suốt hơn.

Trích đoạn

“Mỗi khi nói chuyện điện thoại trong lúc lái xe, và tin rằng mình vẫn đang chú ý đủ trên đường, chúng ta bị ảnh hưởng bởi một trong những ảo tưởng này. Mỗi khi giả định rằng người nhớ sai quá khứ của họ thì chắc là đang dối trá, chúng ta đầu hàng một ảo tưởng. Mỗi lúc chọn vị lãnh đạo cho một đội ngũ, do người đó thể hiện sự tự tin nhiều nhất, chúng ta bị ảo tưởng tác động. Mỗi lúc bắt đầu một dự án mới và tin rằng mình biết nó sẽ hoàn thành trong bao lâu, chúng ta lại bị một ảo tưởng. Thực vậy, hầu như không có lĩnh vực nào của hành vi con người là không chạm tới ảo tưởng hàng ngày”.

Nhận xét của độc giả

“Một cuốn sách khai nhãn. Sau khi đọc, bạn sẽ nhìn vào chính mình và thế giới xung quanh một cách khác biệt.” - Joseph T. Hallinan

“Khỉ đột vô hình và cú lừa của trực giác khiến chúng ta khôn ngoan hơn bằng cách tự nhắc nhở rằng mình hiểu biết ít như thế nào.” - Amanda Ripley

“Một hành trình hấp dẫn và sâu sắc đi qua những ảo tưởng có sức ảnh hưởng tới mỗi khoảnh khắc của cuộc sống.” - Richard Wiseman

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng