Book trailer

The Booker Prize 2020: The New Wilderness – Thế dystopia nửa vời

Published

on

Thế giới đang bước vào thời kỳ đen tối, và văn học cũng thế. Trong đêm công bố giải Booker Quốc tế, Ted Hodgkinson – Chủ tịch ban giám khảo giải thưởng năm nay đã nói rằng, họ đang đi tìm một cuốn sách phản ánh đúng thực trạng những gì đang diễn ra. Và đó là điều dễ thấy ở các đề cử cuối cùng trong giải Booker chính thống lẫn Quốc tế khi không chỉ một mà rất nhiều tác phẩm đi sâu vào cái điêu tàn, hãi hùng hay thậm chí khái quát một thể dystopia mà vốn từ lâu trước đó vẫn bị coi là tiểu thuyết mạt hạng. Một trong những cuốn sách bám sát dòng sự kiện nhất cho giải Booker năm nay không thể không nhắc đến The New Wilderness của Diane Cook. Với cuốn sách thứ hai và là tiểu thuyết đầu tay này, Diane đã viết nên một cuốn tiểu thuyết về tình cảm mẹ con – sinh thái – phản địa đàng hùng vĩ với nhiều tầng lớp trong một góc nhìn của tương lai gần.

Cuốn sách là câu chuyện về gia đình Glen – Bea – Agnes khi họ rời bỏ Thành phố đông đúc để đến Tiểu bang Hoang dã. Ở vùng đất cách rất xa và bị quên lãng này, những Rangers – tay sai cho một tầng lớp bí ẩn nào đó – thực hiện thí nghiệm về những tác động qua lại giữa con người và tự nhiên. Và đó là khi Cộng đồng – nhóm nhỏ gần 20 người – gắn kết cùng nhau trở về hoang dã. Với The New Wilderness, ba chân giá trị mà Diane Cook mang đến cho người đọc vừa xa lạ mà cũng thân quen, về những mối quan hệ gia đình, về tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, và trên hết, về một tương lai gần mà con người ở đó đang đến bờ vực điêu tàn.

*

Đầu tiên, để dựng nên một tiểu thuyết sinh thái – trào lưu nở rộ những năm gần đây sau thành công của Richard Powers hay Jean-Christophe Rufin, Diane Cook đã mở ra câu chuyện về gia đình Glen, Bea, Agnes và những rắc rối xoay quanh mối quan hệ này. Xuyên suốt giữ vững câu chuyện như khung vận động chính, ta thấy những dằn vặt lên gân, những tác động qua lại giữa hai mẹ con Bea và Agnes. Bea, bằng cá tính mạnh và vai trò của một người mẹ, lạnh lùng đứng lên bảo vệ gia đình bằng nhiều phương cách; trong khi dưới mắt trẻ thơ và cái yếm thế của Glen, Agnes coi đó dường như là một tội ác. Song song trong thế đối đầu giữa hai người ấy, một mặt nào đó Diane Cook cũng cho thấy vai trò của phụ nữ trong đời sống tự nhiên. Mặc cho những cãi vã, hiểu nhầm hay cách xa, đến cuối rồi thì, việc trở thành một người mẹ và chịu đựng nỗi đau đánh mất đứa con, Agnes mới thật sự hiểu những gì Bea đã làm để cứu lấy mình. Thiên chức trở thành người mẹ chuyển đổi mọi thứ trong cô, biến chuyển những vết thương vốn dĩ từ lâu khép miệng nay lại mở ra trong cái ăn năn những gì đã qua. Việc chọn mối quan hệ nhiều khúc mắc như thế rõ ràng là một phương án thông minh để triển khai ý đồ tổng thể to lớn của toàn tiểu thuyết.

Ảnh: guernicamag

Thế nhưng trong nó vẫn còn đâu đó thiếu sót trong cách xây dựng tâm lý. Nếu so với Burnt Sugar của Avni Doshi cùng hạng mục năm nay hay My name is Lucy Barton của Elizabeth Strout nhiều năm về trước, thì The New Wilderness thật sự không thể so sánh. Cuốn sách không bắt được bất kỳ một khoảnh khắc ấn tượng nào, chúng lờ đờ, nổi lên, mập mờ để rồi tan biến vào trong hư vô. Việc đối đầu giữa Agnes và Bea chưa đẩy độc giả đến tận đường cùng để thấy được bi kịch trong mối quan hệ này. Việc hàn gắn bằng cái thấu hiểu cũng không để lại dư vị sau cuối.

Sự gắn kết giữa con người và tự nhiên, những tác động qua lại từ cả hai phía lên nhau dường như là phần ổn nhất trong toàn tiểu thuyết. Như chia sẻ trong những cuộc phỏng vấn, ý tưởng cho The New Wilderness bắt đầu từ tuyển tập Man V. Nature của Diane và do đó, với một người am hiểu và dành tình yêu hoàn toàn cho thiên nhiên, ít ra đây cũng là điểm sáng cho cuốn sách. Việc cảm nhận thời gian theo tự nhiên: cái nóng mùa hè, lá thay màu sang thu, cái run cầm cập trong những ngọn núi tuyết hay việc thấu hiểu từng tập tính, dấu chân, tiếng động của Agnes hay Cộng đồng một mặt cho thấy với việc đi lùi lại tiến hóa, con người vẫn thuộc về tự nhiên, là một phần trong đó, hòa hợp và thuộc về.

Về thế giới tương lai mà Diane xây dựng để khớp với sự trở về thiên nhiên. Ở đây không gian – thời gian không được xác định một cách cụ thể, mà đó chỉ là Điểm dừng, đồi cát, núi lửa, vùng Hoang dã, khu đất tư… thế nhưng ít nhiều người ta vẫn có thể liên hệ tới một nước Mỹ xa xôi với địa lý phân hóa từ Đông sang Tây đầy đủ địa hình. Ở đó đất nước được chia thành hai vùng riêng: khu Thành phố đông đúc và Tiểu bang Hoang dã trơ trụi. Nơi thành phố ấy khi mọi thứ trở nên tệ hơn và bệnh hô hấp, bùng nổ dân số, không còn đủ rau để ăn hay nhà để ở, sữa trở nên quá đắt chỉ dành cho những cá nhân riêng lẻ và không còn đủ cát để trộn bê tông, bạo lực thì lại diễn ra ở khắp mọi nơi; thì con người bắt đầu tìm lấy cơ hội dồn về Tiểu bang để sống cuộc sống hoang dã, thoát khỏi Thành phố ngột ngạt tưởng chừng phát điên.

Tiểu bang đặt dưới kiểm soát của bọn Rangers và một thế lực bí hiểm ở tít trên cao nhưng khó để có thể biết. Tương tự như trong thí nghiệm Stanford, những người đến đây vì nhiều lý do: là nhà khoa học, là người thám hiểm, muốn thêm kiến thức, tin tưởng bản thân, vấn đề sức khỏe hay đơn thuần mong muốn lãng mạn hóa cuộc sống. Họ sống thành nhóm di cư theo mùa với những quy tắc bất di bất dịch của bọn Rangers: không ở lại quá lâu, không lưu lại dấu vết. Họ phải đến trạm dừng để khai báo số người chết, số rác đã thu lượm được, các kết quả máu. Họ có thể viết thư nhưng trong khuôn khổ nhất định, và dĩ nhiên, bị kiểm soát nội dung. Nếu còn để lại những mẫu rác nhỏ chứng minh một sự tồn tại, đương nhiên sẽ bị trừng phạt bởi các Rangers với phòng bằng chứng lưu trữ chính những thất bại.

Hành trang của họ là những quyển sách luật lệ dày cộm không thể làm trái, cái nồi sắt lớn, túi sách, giường ngủ, thức ăn, chén gỗ, túi rác, dụng cụ… Trở về nguyên bản để sống hòa hợp nhưng không thể quên tâm trí đang bị kiểm soát bởi một thế lực, lo sợ trừng phạt mỗi khi làm trái. Họ vẫn còn thú vui nho nhỏ của việc đọc sách mỗi khi quây quần bên ngọn lửa cuối, dự trữ thức ăn, đan lát, hun thịt, thuộc da… Tất cả gợi đến cảm giác của tiểu thuyết phản địa đàng khi tự do bị cầm tù, giới hạn bị đóng khung, và một thế lực ngang hàng nhưng có địa vị nào đó nắm chui. Thế nhưng ngay cả ở chỉ tiết này, Diane Cook cũng cho thấy một sự nửa vời của thứ rất nên tập trung, để rồi sau rốt là một thất bại vô cùng đáng tiếc.

Tính phản địa đàng cũng như lần trước, chưa đi đến nơi. Cái đáng kể của những tiểu thuyết dystopia luôn là thế đối đầu giữa hai tầng lớp và cái thời khắc khi giới bị trị phá bỏ giới hạn. Thế nhưng ở cả hai khúc quanh này, Diane Cook không đưa ra được hướng giải quyết xác đáng. Thế đối đầu của hai tầng lớp trong đây nhạt nhòa, và thậm chí, Diane còn cho họ có mối gắn kết thân tình nào đó với nhau. Họ quen thân (trường hợp Bea và Bob) hơn thế còn dành cảm tình cho nhau, một mặt nào đó cho thấy sự đối đầu vẫn chưa hoàn toàn đủ. Diane cũng không cho biết ai là chóp bu, không cho thấy được mục đích sau cùng; họ đối đầu nhưng lạc lõng, buông lơi với thế siết mềm, không đủ tác động hay ấn tượng sâu. Ngay cả thời khắc phá bỏ giới hạn cũng là một quả bom xịt bởi bản thân việc rời Tiểu bang Hoang dã để vào Thành phố không mấy khó khăn, và cái giá phải trả không quá mặn mà. Tiếc thay cho những cố gắng nửa vời phá hủy phần lớn công sức cuối cùng của mặt rất đáng khai thác.

*

Với The New Wilderness, Diane Cook đã dựng nên một tiểu thuyết rất nhiều tầng lớp và rất đáng suy ngẫm. Vào năm 1899, khi Giữa lòng tăm tối của Conrad ra đời, người ta vẫn không hiểu được ý nghĩa của nó, và luồng độc giả từ đó đến nay vẫn luôn chia thành hai luồng ý kiến: một bên cho rằng đó là tuyệt tác và phần còn lại nói rằng quá khó để hiểu. Ở một mặt nào đó, với Giữa lòng tăm tối, Conrad đã dựng nên một thế giới vô thanh, thế giới tăm tối của những mối quan hệ con người, của những đối xử màu da, của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; thì ở đây, Diane Cook cũng họa nên một thế giới như thế, thế giới của tương lai, của đói khát của thảm họa. Ở đó con người vẫn luôn là họ, đối xử bất công nhưng luôn nhen nhóm những niềm hy vọng. Dĩ nhiên về nghệ thuật viết, Diane không thể so sánh với một Conrad bậc thầy; nhưng về nội dung, cả hai đều là tiểu thuyết về một thời đại không thể nào quên, là những chứng nhân giữa dòng lịch sử.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

Rung cảm đầu đời: Cùng thầy Minh Niệm tìm về khung trời tuổi thơ

Published

on

By

Rung cảm đầu đời là tuyển tập gồm 50 bài thơ được tác giả Lê Quốc Triều (tên thật của thiền sư Minh Niệm) sáng tác rải rác từ những năm học lớp 3 đến lớp 9, mở ra trước mắt người đọc khung trời tuổi thơ tại miền quê xanh mướt, thuở còn chưa có tivi, phim ảnh, internet… Như chính thầy nhận định: “Tôi và những bạn bè đồng trang lứa chỉ biết có hai đối tượng duy nhất, đó là con người và thiên nhiên. Vì vậy mà sự thấu hiểu và cảm thông đối với những người thân, hay sự gắn bó và tôn trọng môi trường sống trở nên sâu sắc hơn và là một phần giá trị bậc nhất của con người”.

Trong tập thơ này, tác giả tự xưng là “bé Lê Quốc Triều” như một cách nâng niu, trân trọng phần đời đã qua, một phiên bản tinh khôi hơn của chính mình.

Hướng đến đối tượng thiếu nhi, mỗi bài trong tập Rung cảm đầu đời ghi lại cái nhìn trong trẻo, thuần khiết của một đứa trẻ đối với từng nhân vật hay sự kiện xảy ra trong đời sống.

Đó có thể là lời tâm tình đầy thấu hiểu về những người thân yêu trong gia đình; những kỷ niệm khó quên bên mái trường, thầy cô, bè bạn; là tình yêu thương dành cho những con vật nhỏ bé của một trái tim giàu xúc cảm; là niềm gắn bó với quê hương yên bình hay những trò chơi thuở nhỏ thật khó quên…

“con nhớ quá những đêm mưa tầm tã

chạy tìm thau hứng nước dột giữa nhà

nhìn qua song ánh chớp cứ lập lòe

chong đèn thức học bài cho tới sáng”

(trích Nỗi nhớ nhà)

Và cả những dự cảm đầy tiếc nuối của một đứa trẻ khi ngắm nhìn cảnh sông nước đồng quê…

“ơi đò ơi, bây giờ là tháng Tám

Nhịp cầu tre đã vắt vẻo trên sông

Bước qua cầu sao dạ cứ mênh mông

Sợ cầu gãy hay sợ đò quạnh vắng?”

(trích Thương quá con đò)

Những ký ức tuổi thơ hiện lên sống động qua nét vẽ của họa sĩ Thông Nguyễn với 80 trang sách được in màu hoàn toàn. Tập thơ dành cho độc giả nhỏ tuổi lẫn người lớn muốn tìm lại những xúc cảm đầu đời thông qua những vần thơ giản dị nhưng không kém phần trữ tình của thiền sư Minh Niệm.

Về tác giả:

Sư thầy Minh Niệm tên thật là Lê Quốc Triều, sinh năm 1975 tại Châu Thành, Tiền Giang. Thầy Minh Niệm là người sáng lập dòng thiền hiểu biết (Understanding Meditation), kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo Đại thừa và Thiền nguyên thủy Vipassana.

Thầy Minh Niệm cũng là tác giả của các cuốn sách bestseller như Hiểu về trái tim (2011), Làm như chơi (2016) được đón nhận rộng rãi và tái bản nhiều lần.

Nhận xét về sách:

“Thơ của bé Lê Quốc Triều hồn nhiên như cỏ cây, hoa lá. Điều đấy không phải ai muốn là thể hiện được. Nó là tự nhiên – một thứ của trời, của đất, của cuộc sống và vũ trụ này. Nó là một điều hết sức khác biệt – rất thiền, không chứa đựng mong muốn nhiều nhặn hay truy đuổi một thứ gì ghê gớm. Nó cũng giản dị như hoa đến thì thì hoa nở. Những bài thơ của bé làm cho người đọc cảm thấy như mình vừa bắt gặp được một rặng tầm xuân còn đang nở dọc lối đi. Những bông hoa ấy có mặt một cách hết sức thuần khiết mà không bị thôi thúc bởi bất cứ mục đích hay mong muốn nào. Chúng vô cùng hồn nhiên, rất bình thường, nhưng đang hoàn thành trách nhiệm vô cùng cao cả của chúng. Mấy đóa tầm xuân ấy cũng không cần biết đến suy nghĩ của tôi, hay lòng tôi yêu chúng đến nhường nào...”

-- Nhạc sĩ Phó Đức Phương

Đọc bài viết

Book trailer

Bộ sách khoa học “giải oan” cho những loài động vật thường bị “hiểu lầm”

Published

on

By

Với cấu tạo cơ thể, môi trường sống và tập tính riêng biệt, những loài động vật hoang dã vẫn luôn là một bí ẩn lớn trong mắt con người. Bộ ba sách khoa học thường thức mới phát hành của Phương Nam sẽ giúp bạn đọc khám phá thế giới bí ẩn của ba loài vật bạch tuộc, hải ly và chim chóc đến từ ba môi trường sống rất khác nhau: đại dương, đất liền và không trung.

Lặn sâu vào tâm tư của bạch tuộc

Trong nền văn hóa phương Tây, bạch tuộc có lẽ là loài sinh vật bị "hiểu lầm" nhiều nhất. Từ truyền thuyết, văn học cho đến phim ảnh, bạch tuộc thường bị khắc họa như những con quái vật hung tợn chuyên làm đắm tàu và lôi kéo các thủy thủ bất hạnh xuống lòng đại dương.

Thế nên nhà tự nhiên học Sy Montgomery đã viết cuốn sách Tâm tư của bạch tuộc để mở ra góc nhìn mới về loài thân mềm này. Cô kết bạn với những con bạch tuộc có tính cách đặc biệt ấn tượng – Athena hiền lành, Octavia quyết đoán, Kali hiếu kỳ và Karma vui vẻ. Mỗi sinh vật đều thể hiện sự thông minh của mình theo nhiều cách: thoát khỏi vòng vây như đười ươi và không ngừng dùng chiêu lừa những người bạn đồng hành để kiếm thức ăn.

"Nhưng trong số tất cả sinh vật trên hành tinh có năng lực tưởng tượng những thứ trong đầu sinh vật khác, loài thực hiện tốt nhất có lẽ là bạch tuộc... Một con bạch tuộc phải thuyết phục nhiều loài săn mồi và con mồi rằng nó thực sự là thứ gì đó khác. Nhìn xem! Mình là một đốm mực. Không, mình là san hô này! Không, mình là tảng đá cơ! Bạch tuộc phải đánh giá xem liệu con vật kia có tin vào mưu mẹo của nó hay không, nếu không, thử cách khác ngay."

-- (trích đoạn)

“Đối xử với mỗi con bạch tuộc giống như từng nhân vật trong tiểu thuyết của Jane Austen”. - Vox

“Mở ra thế giới đầy nước, nơi trí thông minh của động vật được vẽ bằng thứ ánh sáng lấp lánh đến nỗi tôi khó lòng rời khỏi để trở về đất liền khô ráo”. -  Times Literary Supplement

Tiến hành giải mã bộ não thiên tài của loài chim

Ngày xưa, chim chóc bị xem là loài vật kém thông minh với bộ não bé tí, thậm chí có cụm từ “não chim” (birdbrain) dùng để ám chỉ những người xuẩn ngốc. Nhưng những nghiên cứu gần đây đã chứng minh chim chóc có trí tuệ điêu luyện không thua kém các loài linh trưởng, hơn rất nhiều so với những gì con người tưởng tượng. Xuyên suốt cuốn sách Chim chóc chưa bao giờ ngốc, tác giả Jennifer Ackerman phơi bày trước mắt người đọc vô vàn năng lực thần kỳ của loài chim, từ khả năng toán học, âm nhạc, ngôn ngữ cho đến khiếu thẩm mỹ đặc biệt của chúng. 

"Não chim có lẽ nhỏ, nhưng rõ ràng là “có võ”. Thật ra, ít có loài nào khác vừa có vẻ cẩn trọng lại vừa hoạt bát và tài năng và được trời phú cho nghị lực bền bỉ đến thế... Chim chóc đã tồn tại trong hơn 100 triệu năm. Chúng là một trong những câu chuyện thành công vĩ đại nhất của tự nhiên, phát minh ra những chiến lược sinh tồn mới, kiểu khôn khéo đặc trưng của riêng chúng mà, ít nhất ở một số khía cạnh, dường như vượt xa sự khôn khéo của loài người."

-- (trích đoạn)

“Khiêu khích, thú vị lạ lùng… Một chuyên luận mang tính cách mạng thay đổi hoàn toàn sự hiểu biết của chúng ta về khả năng nhận thức của loài chim”. -  Wall Street Journal

“Một chứng nhận trữ tình về trí thông minh phi thường của chim chóc”. -  Scientific American

Lắng nghe khúc tráng ca về những “kỹ sư” hải ly

Vốn bản tính nghịch ngợm, hải ly bị đồn thổi là loài gặm nhấm gây hại bậc nhất nước Mỹ và cũng là đối tượng thường bị các thợ săn truy lùng, nhưng ít ai công nhận chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cảnh quan sinh thái hiện đại. Trong tác phẩm Đế chế hải ly, Ben Goldfarb đưa người đọc chu du khắp các vùng hoang dã của Mỹ chỉ để chứng minh rằng loài gặm nhấm này là những kỹ sư xây đập hàng đầu. Những công trình của hải ly giúp trữ nước, kiến tạo đồng lầy, ngăn chặn lũ lụt, cháy rừng và mang đến môi trường sống lý tưởng cho các loài sinh vật khác. 

"Hợp tác với hải ly là nhận ra giới hạn quyền thống trị được thần thánh ban tặng của chúng ta, thừa nhận rằng điều tốt nhất chúng ta có thể làm với nhiều cảnh quan thiên nhiên là chuyển sự cứu rỗi chúng cho một loài động vật có vú có tầm nhìn sinh thái khác biệt rất lớn với chúng ta. Điểm đặc trưng của giống loài Homo sapien là tính kiêu ngạo; thế nên việc chuyển giao quyền lực cho hải ly là một hành động thể hiện sự khiêm tốn sâu sắc của loài người chúng ta. Hãy để loài gặm nhấm này hành động."

-- (trích đoạn)

“Một chuyên luận kiệt tác về thế giới tự nhiên”.  - The Washington Post

“Bạn đọc thân mến, hãy chuẩn bị tinh thần để sững sờ trước một loài gặm nhấm”. - Tom Wessels, tác giả Reading the Forested Lanscape và Granite, Fire and Fog

“Một bức chân dung trìu mến về ‘loài gặm nhấm cứng đầu’”. -  Publishers Weekly

Đọc bài viết

Book trailer

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng tái xuất với diện mạo hoàn toàn mới

Published

on

By

Đoạt huân chương Newbery từ năm 1972, tác phẩm của Robert C. O’Brien vẫn chinh phục trái tim độc giả nhỏ tuổi qua bao thế hệ dù đã hơn 30 năm trôi qua kể từ lần đầu phát hành. Tác phẩm lần đầu xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên Mẹ Frisby và gia đình chuột vào thời điểm 2012. Trong lần tái bản này, cuốn sách đoạt giải Newbery sẽ mang tên mới là Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, nội dung được biên tập lại kèm theo nhiều hình ảnh minh họa sinh động.

Khắc họa loài vật trong bối cảnh sinh tồn

Câu chuyện trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng xoay quanh cuộc phiêu lưu của chị chuột Frisby góa bụa cùng đàn con, khi cả gia đình phải chuyển nhà để ông chủ trang trại Fritzgibbon chuẩn bị cày cấy vườn rau cho vụ mùa mới. Nhưng Timothy, bé trai út trong nhà lại đang mắc viêm phổi nặng và không thể di chuyển giữa tiết trời lạnh giá. Quyết cứu con mình, chị Frisby đã bất ngờ rơi vào cuộc phiêu lưu có mèo và quạ, có thành phố bí ẩn dưới góc vườn. Để rồi cuộc gặp gỡ với những chú chuột NIMH phi thường và hào hiệp đã giúp mẹ con chị thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Tuy gắn mác truyện thiếu nhi, điểm đặc sắc của cuốn sách đoạt giải Newbery là lối hành văn và những tình tiết đậm chất hiện thực, mô tả sống động khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ với những chu trình tự nhiên khắc nghiệt.

Mối quan hệ đa chiều giữa chuột và con người

Loài chuột trong truyện được khắc họa rất thú vị khi chúng có thể tự ý thức về bản chất “thích trộm cắp” của giống loài. Trăn trở vì luôn phải sống phụ thuộc vào con người, chúng muốn bứt khỏi tình cảnh đó. Nhưng cũng như con người, loài chuột trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng không đầu hàng trước trở ngại mà biết tự nâng cấp cuộc sống của mình bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thật thú vị khi Robert C. O’Brien đưa những chi tiết mô tả phòng thí nghiệm, điện nước, vật dụng cơ khí… trong một tác phẩm ngỡ như truyện cổ tích về loài vật.

Tác giả đứng vào thế trung lập khi đánh giá mối quan hệ giữa con người với loài vật, xét trên phương diện cả hai phe đều phải vật lộn vì mục đích sinh tồn. Đồng thời, người lớn cũng có thể đọc tác phẩm để khám phá một góc nhìn độc đáo về thế giới loài vật, chiêm nghiệm về vị thế của chúng ta giữa tự nhiên bao la.

Tranh minh họa sống động, đáng yêu

Trở lại với diện mạo mới, tác phẩm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng có thêm phần tranh minh họa in màu của họa sĩ Việt Nam với những màu sắc tươi sáng, tạo hình nhân vật dễ thương, giúp bạn đọc hình dung rõ hơn về thế giới của loài vật được mô tả qua những câu chữ.

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng mang đến câu chuyện đậm chất phiêu lưu giả tưởng, vừa gần gũi, đề cao tình mẫu tử mà không hề giáo điều hay phán xét. Sở hữu nội dung hấp dẫn, thông điệp ý nghĩa và phần hình thức bắt mắt, tác phẩm thiếu nhi đoạt giải Newbery hứa hẹn sẽ là món quà phù hợp với trẻ nhỏ lẫn người lớn vào mùa lễ tết sắp tới.

Về giải thưởng Newbery:

Xuất hiện từ năm 1922 ở Mỹ, Newbery Medal là giải thưởng danh giá dành cho sách thiếu nhi đầu tiên trên thế giới, được Hiệp hội Dịch vụ Thư viện cho Trẻ em (ALSC) trao tặng các tác giả có đóng góp quan trọng cho nền văn học trẻ em Mỹ. Tại Việt Nam đã có những đầu sách đoạt huân chương Newbery được xuất bản, bao gồm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, Charlotte và Wilbur, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Hòn đảo cá heo xanh

Về tác giả:

Robert C. O’Brien tên đầy đủ là Robert Leslie Carroll Conly, sinh ngày 11.1.1918 ở Brooklyn, New York. Ông theo học trường William College và tốt nghiệp Đại học Rochester. Sau đó ông trở thành nhà văn kiêm nhà báo của tờ Newsweek , National Geographic cùng nhiều tờ báo khác. Ông sống tại New York, rồi chuyển đến Washington cùng vợ và bốn đứa con.

Sau khi Robert C. O’Brien qua đời (ngày 5.3.1973), cuốn tiểu thuyết Z for Zachariah đã được vợ và con gái ông tiếp tục chấp bút dựa theo những phác thảo còn lại.

Các tác phẩm của ông bao gồm: The Silver Crown; Mrs. Frisby and the Rats of NIMH; A Report from Group 17Z for Zachariah.

Đọc bài viết

Cafe sáng