Nối kết với chúng tôi

Book trailer

The Booker Prize 2020: Shuggie Bain – Một vùng cô độc

She was drinking to forget herself, because she did’t know how else to keep out the pain and loneliness.

Published

on

Lần đầu tiên trong lịch sử Booker có đến 6/13 cuốn tiểu thuyết được chọn vào danh sách đề cử và 4/6 ở danh sách rút gọn là các cuốn tiểu thuyết đầu tay. Điều này đặt ra một nghi vấn lớn: liệu giải thưởng có lịch sử lâu đời này đang muốn trẻ hóa, hay đã quá chán ngán những tên tuổi lặp đi lặp lại hơn 51 năm nay? Chính việc chọn lựa những tên tuổi mới cũng đặt ra một nghi vấn đi kèm, rằng với một lịch sử viết và cách tiếp cận mới mẻ, liệu những tác phẩm này có thật sự nặng kí và phản ánh được điều gì lớn lao?

Với Shuggie Bain, Douglas Stuart đã chứng minh một điều ngược lại. Cuốn tiểu thuyết hùng vĩ và dậy sóng, chạm đến độc giả bằng sự chân thành. Một dẫn nhập xuyên suốt qua vùng Glasgow – Scotland những năm 1980 dưới đế chế Thatcher u tối và những vấn đề xung quanh một gia đình nhỏ làm nên những đứt gãy văn chương ấn tượng và đầy cảm xúc.

*

Điều tốt nhất Douglas làm được ở Shuggie Bain là sự chân thành. Với cách dẫn dắt điềm tĩnh cùng giọng văn nhẹ nhàng và đầy cảm xúc, anh đưa người đọc đến với nhân vật của mình một cách chậm rãi, từ từ, hòa từng người một vào trong đám đông. Các nhân vật trong tiểu thuyết này không mới, nhưng họ như được hồi sinh từ cách dẫn dắt, để mỗi người là một nút thắt thật sự tồn tại, có điểm nhấn, vận động, và đưa đến đỉnh điểm của bản thân mình. Nếu Agnes kiêu hãnh và đầy sức sống thì Shuggie bạc nhược và đầy định kiến. Nếu Leek trưởng thành và nuốt vào trong nội tâm suy nghĩ, thì Hugh đáng yêu và đầy cảm xúc trong những trường đoạn cùng với Agnes. Các nhân vật của anh độc lập, khuôn mẫu; tuy có đó quan hệ máu thịt, nhưng mỗi người họ là vũ trụ riêng, một ảnh hưởng riêng; từ đó thể hiện những tác động nhất định lên riêng mỗi người.

Đầu tiên là về Agnes. Một phụ nữ 39 tuổi, sống cùng chồng và ba đứa trẻ chen chúc trong căn hộ mẹ cô, gợi lên sự thất bại và cái sắc bén ủ dột trước mọi hứa hẹn cuộc sống tốt hơn. Từ một người đàn bà xinh đẹp như Elizabeth Taylor mỗi lần soi chiếu trước gương, nay cô nổi giận trước tuổi trẻ đã mất, trước những lớp mỡ sau khi sinh ba đứa con và cuộc chạy trốn người chồng đầu tiên. Liền sau đó cuộc sống xám xịt chuyển sang khung cảnh chán chường, khi chồng bỏ đi, không có đủ tiền để rồi giả vờ nhét giấy vệ sinh vào ví như thể một cách tự an ủi bản thân rằng vẫn còn khả năng chi trả cuộc sống.

Việc bỏ đi của Shuggie kiến cô trở thành một người loạn trí: ngồi trước điện thoại mỗi ngày hàng giờ để gọi tổng đài taxi, chứng nghiện rượu, giấu các chất lỏng kích thích vào sau bồn rửa. Chưa dừng ở đây, năm tiếp sau đó cả cha mẹ cô đều mất vì ung thư. Ít ra, cuộc đời còn một lối thoát; việc đi làm ca tối ở trạm xăng khiến cô dần dần loại bỏ được chứng nghiện rượu, gặp gỡ Eugene – anh chàng tóc đỏ đẹp trai và đồng cảm khi vợ mất cũng vì ung thư. Nhưng rồi trạm xăng giải thể, Eugene bỏ đi khi phát hiện cô từng nghiện rượu và muốn chuyển nhà, một cơn nghiện rượu mới tiếp tục diễn ra. Khi mọi thứ quá sức chịu đựng, cô đuổi Leek đi và tự tử bằng cách tự cắt cổ tay, đưa đầu vào lò khí gas.

Với Agnes, Douglas đã khắc họa hình tượng nhân vật nhiều lớp suy nghĩ. Một người đàn bà kiêu hãnh với giày cao gót, với áo khoác tím; người ganh tị với Collen, với mẹ mình vì tình yêu bà dành cho bố. Người hả hê tận hưởng khi Jamesy rời bỏ Collen, người bị cuốn hút bởi những anh chàng đẹp mã, người hành động điên loạn chẳng vì lẽ gì, người ngẩng cao đầu trước ánh mắt soi mói của hàng xóm ở khu mỏ than,… Có lẽ nhiều người lầm tưởng Agnes là một tính cách lạ, thế nhưng ẩn sau vẻ ngoài mạnh mẽ và đầy vận động ấy là một tâm hồn mong manh đẩy đến đường cùng. Giữa nỗi cô đơn thường trực khi người đàn ông cô yêu bỏ đi, từng đứa con rời xa mình; người phụ nữ ấy chỉ biết uống, uống và uống, vung từng đồng xu cuối cùng vào chất kích thích. Đằng sau những trăn trở ấy, là mối quan hệ thân tình mà đầy trìu mến dành cho cậu bé Hugh. Việc ôm Hugh và kể cậu nghe những người đàn ông đã hủy hoại mình, muốn Hugh chỉ cách nhảy theo nhạc Janet Jackson, việc gặp lại cậu ở bữa chè chén trong cảnh thảm hại của thân thể mình… Douglas bằng một trải nghiệm cá nhân thuật lại chính câu chuyện này, một cách tinh tế và đầy xúc cảm.

Ảnh: The New York Times

Thế nhưng ở một mặt khác, những người đàn ông trong cuốn sách này được khắc họa như bầy đàn bê tha, bệ rạc và sợ đối đầu. Cụ thể là Shug và chàng Eugene. Ngược lại trở về quá khứ, cũng chính người đàn ông ấy kéo cô lên cầu thang của một nhà nghỉ rẻ tiền khi cô quá say, để mặc cho đầu cô va đập bởi những bậc thềm, cưỡng hiếp và sau đó đề nghị đi khiêu vũ vào đêm hôm sau như chưa có chuyện gì xảy ra. Việc túng quẫn không có đủ tiền cũng chính bởi cái tôi quá lớn của người đàn ông; họ không bao giờ cho phép vợ mình làm việc để có thêm thu nhập dù cho đó là làm gì. Nếu Shug khắc nghiệt và đầy dối trá thì Eugene trẻ con và sợ đối đầu – những con người bệ rạc trong cuộc đời cô.

Và cùng với đó, cuộc sống của những đứa trẻ là mảnh ghép khác rất đáng nhắc đến trong cuốn sách này. Một mặt nào đó ta có thể nói, Shuggie Bain như phiên bản dễ thở hơn của Con sẻ vàng từ Donna Tart nhưng cũng hiện thực và thức thời hơn Warlight của Ondaatje. Con trai của Agnes, Shuggie, đi học để rồi trở thành chủ thể bị bắt nạt. Không phải vì mẹ là người nghiện rượu, mà bởi cậu không thích vận động như một cậu bé, không thích bóng đá, không giấu được niềm đam mê làm tóc, thú bông Pony hay những điệu nhảy. Hay Hugh, đứng ở đó như dấu gạch nối giữa cuộc đời này và chính Agnes, cậu trưởng thành lo toan từ cơn nghiện rượu cho đến ngăn những nữ ma men đến nhà rù quến mẹ cậu hay lẳng lặng quan sát những người đàn ông tiến đến Agnes, lắng nghe âm thanh để đoán biết được tâm trạng của mẹ đang như thế nào, hay ngồi trước cửa trong bộ pyjamar cố hữu để nghe ngóng chuyện.

Ở một mặt khác, Shuggie Bain cũng đồng thời nói về tác động của chủ nghĩa Thatcher đối với xã hội Glasgow, nơi “những người đàn ông thối rữa trên trường kỷ vì muốn có công việc tử tế”. Lấy bối cảnh những năm 1980 khi các hầm lò vẫn đang đóng cửa, các nhà máy đóng tàu và luyện kim thép đang dần suy tàn. Những người thợ mỏ tự hào một thời nay bị giáng cấp xuống dưới đáy xã hội, họ đột nhập vào các mỏ đá ăn trộm dây đồng. Một số bây giờ lái xe taxi; hầu hết chỉ đến quán rượu. Đói nghèo, tọc mạch và đầy tệ nạn; một thời u tối của xứ Glasgow như tái hiện lại trong cảnh ăn mừng đám tang Thatcher vào năm 2013.

Ảnh: The Guardian

Bằng lối viết đong đầy cảm xúc và cách dẫn dắt câu chuyện đi dần vào trong hố đen của bi kịch gia đình Agnes, Shuggie Bain đã khắc họa nên thời kì đen tối của Scotland những năm 1980. Douglas Stuart một mặt đã khái quát được mối quan hệ đầy sống gió giữa những thành viên trong một gia đình, một mặt cho thấy sự tự khám phá bản thân qua những người con lớn lên trong cảnh bất hạnh, đơn độc mà không được thấy ánh sáng hy vọng. Không quá đẹp đẽ như từng câu văn của Ondaatje, cũng không chứa quá nhiều suy ngẫm về sự cô độc của Donna Tart, Shuggie Bain là cuốn sách đầu tay vừa đủ mà đầy tinh tế về mối quan hệ mẹ – con, về định kiến đối với phụ nữ, về sự tự nhận thức bản thân, về đói nghèo – thụt lùi và tệ nạn của Scotland những năm 80 trong giọng văn tự sự và cốt truyện đầy cảm xúc. Một vở melodrama bùng nổ của năm, giữa hài hước dí dỏm và tuyệt vọng không thấy đường ra.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

Chú bé Thất Sơn: Tấm postcard gửi cho những ước mơ bị chôn vùi

Chú bé Thất Sơn được tác giả, nhà báo Phạm Công Luận viết năm 1991, lần tái bản này đánh dấu 30 năm kể từ khi quyển sách ra đời.

Published

on

By

chu be that son featured

Quyển sách 30 tuổi trong sự sống mới

Chú bé Thất Sơn xuất bản lần đầu năm 1993, đoạt giải C cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ nhất. Phương Nam Book tái bản sách với bìa mới, 88 trang in màu và hình minh họa sinh động, dễ thương.

Sách kể về chuyến nghỉ "hè sớm" về thăm quê ngoại đã cho hai chị em Nam gặp Siêng - "thổ địa" nhỏ của vùng Thất Sơn.

Theo bước chân Siêng, Nam được khám phá một thế giới mới thú vị. Nơi ấy có đồng ruộng bao la, có dòng kinh Vĩnh Tế mát lành, có vị cá nướng trui thơm lừng, có món khoai mì rẫy ngọt bùi,... Và còn biết bao nhiêu chuyện ly kỳ của vùng Bảy Núi.

Chú bé Siêng ấy, gia cảnh mồ côi, tối ngủ nhờ chòi vịt, ngày chăn trâu kiếm từng bữa cơm. Nhưng Siêng vẫn cố bám trường bám lớp, theo đuổi lớp học bổ túc hàng đêm. Ngay cả khi số phận tiếp tục thử thách, Siêng làm mất trâu, bị đánh đập, bị chèn ép và cả bị bắt, chú bé vẫn cố gắng từng chút nhích về tương lai.

"Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tân ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày, loại nào ngon cơm. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo,... Không còn ai phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới sình mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng."

Chú bé Thất Sơn - Phạm Công Luận

Thông điệp vượt thời gian

Tròn 30 tuổi, quyển sách Chú bé Thất Sơn truyền đi thông điệp chưa bao giờ cũ: đừng bao giờ ngừng ước mơ chỉ vì hoàn cảnh.“Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ”. Nhưng chẳng thể buộc chặt những giấc mơ.

Siêng có cha mẹ là thầy cô giáo bị giặc Pôn Pốt giết, mồ côi. Nhưng với lòng quyết tâm học tập, đêm đêm Siêng vẫn đi đò qua sông học bổ túc văn hóa. Trong cảnh khốn cùng, Siêng phải tham gia vô đoàn người "đai" thuốc lá lậu qua biên giới và bị bắt. Được tha về, Siêng lấy vé số ra chợ bán nhưng rồi nó cũng không được yên thân....

Cậu bé Siêng ham học, không đầu hàng nghịch cảnh, vượt qua mọi nghịch cảnh để vươn lên, chạm đến ước mơ.

Ngôn ngữ mộc mạc

Những món ăn dân dã hay câu ca dao - dân ca xuất hiện nhiều trong Chú bé Thất Sơn. Những tư liệu làng quê được tác giả Phạm Công Luận sử dụng nhuần nhuyễn, chân thực. Qua ngòi bút tác giả, người đọc theo bước chân 2 chị em Thảo – Nam và cậu bé Siêng, được đến khám phá vùng đồng quê miền Nam bạt ngàn, tươi đẹp.

Nguồn cảm hứng được tác giả Phạm Công Luận lấy từ những chất liệu thực. “Cách đây đúng 30 năm, tôi lần đầu đặt chân đến thị xã Châu Đốc và được nghe kể về một em bé bị đuối nước dưới dòng kinh xanh. Về TP.HCM, hình bóng những em bé lội bộ trên cánh đồng xanh khiến tôi không khỏi ngẫm nghĩ. Trong vòng một tháng sau chuyến đi, tôi ngồi vào bàn và viết cuốn truyện nhỏ Chú bé Thất Sơn”, tác giả Phạm Công Luận chia sẻ.

"Không rành về vùng đất này, tôi phải đọc sách về Châu Đốc, vùng Thất Sơn và vẽ cả bản đồ có thị xã, ngôi trường, cánh đồng Vĩnh Ngươn, con kinh có các nhân vật qua lại trong truyện.

Sách được ra năm 1993, với một giải thưởng. Đây là cuốn sách hư cấu duy nhất tôi viết. Và chắc có những vụng về của cuốn sách đầu tay."

Chú bé Thất Sơn mang đậm vẻ mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, truyện có cô bé Thảo với bài tập nghiên cứu và tìm hiểu về những câu ca dao – dân ca xưa, thể hiện niềm mong mỏi gìn giữ văn hóa của tác giả Phạm Công Luận.

Năm 2021, Chú bé Thất Sơn “tái ngộ” bạn đọc với 88 trang in màu cùng hình minh họa đặc sắc. Sách tặng kèm tấm postcard với ý nghĩa: gửi đi cho chính đứa trẻ trong bạn với những ước mơ đã bị chôn vùi vì hoàn cảnh.

Quyển sách chắc chắn sẽ trở thành món quà tặng ý nghĩa dành cho các bé và cả quý phụ huynh trong dịp hè này.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Cafe sáng