Nối kết với chúng tôi

Book trailer

The Booker Prize 2020: Burnt Sugar – Như cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng

I would be lying if I said my mother’s misery has never giving me pleasure.

Published

on

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi. Thành thực mà nói, với cuốn sách này, Avni tự đặt mình vào thế khó khi xây dựng một chủ đề quá ư táo bạo, khác xa lẽ thường. Trên trang chấm điểm Goodreads, bình luận nhận được nhiều đồng ý và đáp trả nhất lại là đánh giá 1 sao – với những nhận định phi thực, kinh tởm, lộn xộn… Nhưng liệu có công bằng cho một tác phẩm văn chương, khi nó đụng đến một thứ gì đó về sự ích kỷ, về bản tính người – dẫu chăng khi được nhìn nhận trong mối quan hệ mẹ con ruột thịt vốn được xem như những gắn kết thiêng liêng mà đặc biệt hơn, còn xuất phát từ những phông nền phương Đông, nơi tình cảm gia đình vốn vẫn được đặt trên hàng cao nhất? Rõ ràng là không. Nhìn nhận một mặt nào đó, Burnt Sugar là tiểu thuyết đầy bi kịch, sự trả thù, cái đáp trả giữa mẹ và con gái khi những giá trị cá nhân va chạm vào nhau, những động cơ trộn lẫn vào nhau và những xung đột như đang nén dần đến mức tối đa.

*

Cuốn sách mở đầu bằng một câu văn như thể hàm chứa trọn vẹn nội dung của mình: Sẽ là dối trá nếu nói những bí mật của mẹ không khiến tôi thích thú. Lấy bối cảnh ở Pune – thủ phủ miền Tây trung tâm Ấn Độ,  Burnt Sugar là những xung đột mạch ngầm giữa Antara – một nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật, và mẹ cô – Tara, người phụ nữ kỳ lạ, loạn trí, mà ở ngay thời điểm hiện tại, được xác định như đang mắc chứng Alzheimer. Ngay cả cái tên của hai người họ, cũng đã chứng kiến một sự đối đầu (Antara = An + Tara = Không – Tara). Với Burnt Sugar, hơn ai hết, Avni Doshi đã đi vào những trải nghiệm vô cùng cá nhân, núp trong bóng tối của mối quan hệ tưởng như thiêng liêng và đầy ánh sáng. Là phiên bản đảo ngược và logic hơn của Mình cần nói chuyện về Kevin của Lionel Shriver và cũng Ấn Độ hơn Nhật ký mang thai của Yoko Ogawa, Burnt Sugar là một khúc ca đầy những note cao của một giọng hát đã quá mỏi mệt, đầy những lỗi strain, flatcrack trong sự kích động của bản hòa ca nhịp nhàng bối cảnh.

Quay về những năm 60 khi Tara trốn khỏi nhà chồng đi đến tịnh thất như cách tránh xa phong tục cổ hủ trong cuộc hôn nhân chính bản thân mình. Ở đó, trải nghiệm trong mối quan hệ vô cùng độc hại với người chồng chính thức đầu tiên cùng những căng thẳng khi sống cùng nhà với người mẹ chồng khiến bà rời nơi chốn ấy không một báo trước, dẫn theo con gái đến ashram – nơi sinh hoạt tôn giáo của một giáo phái, và trở thành phu nhân của người đứng đầu. Tại đó, giữa những hành động kỳ quặc của việc thờ cúng, Tara hoàn toàn lu mờ con gái, để cô sinh sống như một đứa trẻ không có gia đình, giao phó hoàn toàn cho người phụ nữ tên là Kali Mata (Nữ thần hủy diệt), còn mình chìm đắm trong những ca tụng và phương thức hành lễ lạ lùng. Antara trải qua những quãng thời gian vô cùng khó khăn, khi thiếu đi sự quan tâm, gắn bó; cũng như một môi trường sống không hề phù hợp với lứa tuổi mình. Những ngột ngạt đè nén, những căng thẳng nội tâm, ép lên cô con gái như những vết hằn rất khó gột rửa.

Sau cái chết của Baba, Tara rời khỏi tịnh thất và sống như người ăn xin, học các mánh lới để tồn tại, vì ông bà nội và cả người chồng đều chối bỏ bà. Cũng trong khoảng thời gian này, nhờ sự cảm thông của Reza – người chồng không chính thức, hai mẹ con họ tiếp tục sống cuộc đời quá nhiều chông chênh. Khi xã hội Ấn Độ rơi vào Nhiễu loạn những năm sau này, Reza biến mất. Chính trong những năm tháng bị bỏ mặc, xa lánh và chối từ về mặt tình cảm, trong Antara là điều gì đó của sự tự nhận thức chua chát như hẳn sau này ta hay bắt gặp: Thậm chí trong những cơn điên của mình, bà ấy chưa khi nào ngưng làm hại tôi hay Bà ta không hơn gì một nhúm rau thối. Những câu văn này đôi khi làm nóng người đọc và chạm đến những đường biên đạo đức vốn luôn cố hữu trong con người họ.

Thế nhưng bi kịch chỉ đến khi Tara giả chứng mất trí khi phát hiện con gái vốn đang qua lại với Reza – người tình năm xưa nay đã mất dấu – khi vô tình đến buổi triển lãm của Antara. Nếu Lionel Shriver viết về sự trả thù đầy những mê hoặc thể xác được thể hiện qua cơn bùng phát giết người của Kevin hay Yoko Ogawa đầu độc chị gái của nhân vật chính bằng bưởi đột biến; thì Avni Doshi cho cuộc đối đầu giữa hai mẹ con bằng Alzheimer. Những nghi ngờ bước đầu, những trả đũa leo thang giữa hai con người được khắc họa trong cái lạnh lùng vô cảm, trong nỗi xót xa cay đắng hiển hình trước mắt người đọc. Ở đó bằng căn bệnh này, Tara hành hạ chính con gái mình bằng những giả vờ buồn thương, những ảnh hưởng sâu sắc, những tai biến giả tạm; còn Antara – là sự trả đũa đầy những leo thang. Và đến cuối cùng trong cuộc gặp gỡ ở nhà chồng Antara là khi Tara đạt được chính mục đích mình. Vở kịch kết thúc và chiếc mặt nạ đã được gỡ xuống.

Giữa những bến bờ đạo đức và suy nghĩ chung chung, hẳn không ai có thể quy kết công lý thuộc về người nào. Thuộc về người mẹ nhẫn tâm bỏ rơi con mình đi vào đạo phái; hay về cô gái đã lấy đi người đàn ông của chính mẹ mình? Avni Doshi đặt ra những thế chông chênh và đẩy bi kịch chạm đến cưỡng bức. Một khung truyện rất khó giải quyết và nằm chông chênh, và đó cũng là lý do vì sao với Burnt Sugar, những phân cực đánh giá, những nhận xét về sự thiếu logic hay mặt tình cảm xuất phát từ chính cái nhìn chung chung vốn luôn cố hữu của mỗi một người. Với bản thân người viết bài này, bằng những rời rạc và sự thiếu gắn kết, tình cảm hai mẹ con họ đã chết từ lâu, và chẳng có gì quá không logic hay thiếu hợp lý ở tiểu thuyết này.

*

Giữa những mâu thuẫn nội tâm của hai nhân vật, với Burnt Sugar, Avni Doshi phần nào cũng khắc họa được bối cảnh Ấn Độ rất nhiều màu sắc trong những phông nền tôn giáo, luật lệ, lễ nghi, giữa những đối lập hiện đại phương Tây và cái cổ hủ vốn luôn tồn tại ở đất nước phương Đông. Những chuyển giao thế hệ, những thế đối đầu và vai trò của người phụ nữ sau bao thế hệ vẫn không chuyển dời. Nếu Tara chịu sự áp bức của gia đình chồng đầy đủ bao nhiêu, thì Antara ở thế hệ sau cũng không khác mấy: khi phải đợi cửa chờ chồng mình về hay vấn đề phải sinh con trai trong mối quan hệ vô cùng căng thẳng với người mẹ chồng mê tín dị đoan. Nhưng nếu Tara đầy đủ dũng cảm thoát ra chiếc lồng ngột ngạt đầy những mực thước, thì Antara lại không được thế. Cô đầy mệt mỏi và những buồn thương, vì thiếu cảm hứng nghệ thuật, thiếu cái định hướng dẫn đến việc sinh Anikka như cách níu giữ người chồng của mình.

Về phong cách viết, Avni Doshi chứng tỏ tài năng của bản thân mình khi dám đặt chân vào khe hở hẹp của những vấn đề tưởng như nhạy cảm. Điềm tĩnh, lạnh lùng mà đầy cân bằng; Avni tái tạo nên cuốn tiểu thuyết đầy những chà nhám của mối quan hệ thô ráp mà đầy vết xước. Điểm yếu của Burnt Sugar có thể kể đến là sự ôm đồm. Giữa một tiểu thuyết sắc sảo, hiện đại và nặng về mặt tâm lý, việc lồng ghép lịch sử Ấn Độ trong một nỗ lực cố gắng tạo ra một tiểu thuyết mở, hướng nhiều xúc tu thì vô hình trung trở nên thừa thãi. Mô tả kỳ ảo được đánh giá khá cao trong một nỗ lực thoát khỏi lối viết hiện thực, nhưng thời lượng này vẫn còn rất ít.

*

Với Burnt Sugar, Avni Doshi đã làm một cú hattrick vô cùng ngoạn mục lừa đón người đọc. Bằng cách viết điềm tĩnh, thấu hiểu mà đầy sắc sảo, Avni đã dựng nên một bi kịch không thể đoán trước, giữa những căng thẳng, xung đột, đối đầu vô cùng lạ lẫm. Nếu là người đọc chờ đón văn chương như cái đẹp đẽ miêu tả cuộc đời, thì Burnt Sugar không dành cho bạn. Nhưng để chờ đợi một sự chuyển hóa từ ngọt thành đắng, từ trắng sang đen, từ rắn thành lỏng, từ chặt thành ra phân rã ra như đường thành caramel; thì đây là tiểu thuyết vô cùng phù hợp. Dữ dội, tàn khốc và đầy những bi kịch ngầm; cuốn tiểu thuyết mạnh mẽ nhất mùa giải năm nay.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

Chú bé Thất Sơn: Tấm postcard gửi cho những ước mơ bị chôn vùi

Chú bé Thất Sơn được tác giả, nhà báo Phạm Công Luận viết năm 1991, lần tái bản này đánh dấu 30 năm kể từ khi quyển sách ra đời.

Published

on

By

chu be that son featured

Quyển sách 30 tuổi trong sự sống mới

Chú bé Thất Sơn xuất bản lần đầu năm 1993, đoạt giải C cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ nhất. Phương Nam Book tái bản sách với bìa mới, 88 trang in màu và hình minh họa sinh động, dễ thương.

Sách kể về chuyến nghỉ "hè sớm" về thăm quê ngoại đã cho hai chị em Nam gặp Siêng - "thổ địa" nhỏ của vùng Thất Sơn.

Theo bước chân Siêng, Nam được khám phá một thế giới mới thú vị. Nơi ấy có đồng ruộng bao la, có dòng kinh Vĩnh Tế mát lành, có vị cá nướng trui thơm lừng, có món khoai mì rẫy ngọt bùi,... Và còn biết bao nhiêu chuyện ly kỳ của vùng Bảy Núi.

Chú bé Siêng ấy, gia cảnh mồ côi, tối ngủ nhờ chòi vịt, ngày chăn trâu kiếm từng bữa cơm. Nhưng Siêng vẫn cố bám trường bám lớp, theo đuổi lớp học bổ túc hàng đêm. Ngay cả khi số phận tiếp tục thử thách, Siêng làm mất trâu, bị đánh đập, bị chèn ép và cả bị bắt, chú bé vẫn cố gắng từng chút nhích về tương lai.

"Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tân ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày, loại nào ngon cơm. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo,... Không còn ai phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới sình mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng."

Chú bé Thất Sơn - Phạm Công Luận

Thông điệp vượt thời gian

Tròn 30 tuổi, quyển sách Chú bé Thất Sơn truyền đi thông điệp chưa bao giờ cũ: đừng bao giờ ngừng ước mơ chỉ vì hoàn cảnh.“Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ”. Nhưng chẳng thể buộc chặt những giấc mơ.

Siêng có cha mẹ là thầy cô giáo bị giặc Pôn Pốt giết, mồ côi. Nhưng với lòng quyết tâm học tập, đêm đêm Siêng vẫn đi đò qua sông học bổ túc văn hóa. Trong cảnh khốn cùng, Siêng phải tham gia vô đoàn người "đai" thuốc lá lậu qua biên giới và bị bắt. Được tha về, Siêng lấy vé số ra chợ bán nhưng rồi nó cũng không được yên thân....

Cậu bé Siêng ham học, không đầu hàng nghịch cảnh, vượt qua mọi nghịch cảnh để vươn lên, chạm đến ước mơ.

Ngôn ngữ mộc mạc

Những món ăn dân dã hay câu ca dao - dân ca xuất hiện nhiều trong Chú bé Thất Sơn. Những tư liệu làng quê được tác giả Phạm Công Luận sử dụng nhuần nhuyễn, chân thực. Qua ngòi bút tác giả, người đọc theo bước chân 2 chị em Thảo – Nam và cậu bé Siêng, được đến khám phá vùng đồng quê miền Nam bạt ngàn, tươi đẹp.

Nguồn cảm hứng được tác giả Phạm Công Luận lấy từ những chất liệu thực. “Cách đây đúng 30 năm, tôi lần đầu đặt chân đến thị xã Châu Đốc và được nghe kể về một em bé bị đuối nước dưới dòng kinh xanh. Về TP.HCM, hình bóng những em bé lội bộ trên cánh đồng xanh khiến tôi không khỏi ngẫm nghĩ. Trong vòng một tháng sau chuyến đi, tôi ngồi vào bàn và viết cuốn truyện nhỏ Chú bé Thất Sơn”, tác giả Phạm Công Luận chia sẻ.

"Không rành về vùng đất này, tôi phải đọc sách về Châu Đốc, vùng Thất Sơn và vẽ cả bản đồ có thị xã, ngôi trường, cánh đồng Vĩnh Ngươn, con kinh có các nhân vật qua lại trong truyện.

Sách được ra năm 1993, với một giải thưởng. Đây là cuốn sách hư cấu duy nhất tôi viết. Và chắc có những vụng về của cuốn sách đầu tay."

Chú bé Thất Sơn mang đậm vẻ mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, truyện có cô bé Thảo với bài tập nghiên cứu và tìm hiểu về những câu ca dao – dân ca xưa, thể hiện niềm mong mỏi gìn giữ văn hóa của tác giả Phạm Công Luận.

Năm 2021, Chú bé Thất Sơn “tái ngộ” bạn đọc với 88 trang in màu cùng hình minh họa đặc sắc. Sách tặng kèm tấm postcard với ý nghĩa: gửi đi cho chính đứa trẻ trong bạn với những ước mơ đã bị chôn vùi vì hoàn cảnh.

Quyển sách chắc chắn sẽ trở thành món quà tặng ý nghĩa dành cho các bé và cả quý phụ huynh trong dịp hè này.

Hết.

Đọc bài viết

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Cafe sáng