Book trailer

The Booker Prize 2020: Burnt Sugar – Như cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng

I would be lying if I said my mother’s misery has never giving me pleasure.

Published

on

Để hỏi đâu là cuốn sách gây nhiều phân cực nhất của mùa giải năm nay thì câu trả lời chắc hẳn là Burnt Sugar của Avni Doshi. Thành thực mà nói, với cuốn sách này, Avni tự đặt mình vào thế khó khi xây dựng một chủ đề quá ư táo bạo, khác xa lẽ thường. Trên trang chấm điểm Goodreads, bình luận nhận được nhiều đồng ý và đáp trả nhất lại là đánh giá 1 sao – với những nhận định phi thực, kinh tởm, lộn xộn… Nhưng liệu có công bằng cho một tác phẩm văn chương, khi nó đụng đến một thứ gì đó về sự ích kỷ, về bản tính người – dẫu chăng khi được nhìn nhận trong mối quan hệ mẹ con ruột thịt vốn được xem như những gắn kết thiêng liêng mà đặc biệt hơn, còn xuất phát từ những phông nền phương Đông, nơi tình cảm gia đình vốn vẫn được đặt trên hàng cao nhất? Rõ ràng là không. Nhìn nhận một mặt nào đó, Burnt Sugar là tiểu thuyết đầy bi kịch, sự trả thù, cái đáp trả giữa mẹ và con gái khi những giá trị cá nhân va chạm vào nhau, những động cơ trộn lẫn vào nhau và những xung đột như đang nén dần đến mức tối đa.

*

Cuốn sách mở đầu bằng một câu văn như thể hàm chứa trọn vẹn nội dung của mình: Sẽ là dối trá nếu nói những bí mật của mẹ không khiến tôi thích thú. Lấy bối cảnh ở Pune – thủ phủ miền Tây trung tâm Ấn Độ,  Burnt Sugar là những xung đột mạch ngầm giữa Antara – một nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật, và mẹ cô – Tara, người phụ nữ kỳ lạ, loạn trí, mà ở ngay thời điểm hiện tại, được xác định như đang mắc chứng Alzheimer. Ngay cả cái tên của hai người họ, cũng đã chứng kiến một sự đối đầu (Antara = An + Tara = Không – Tara). Với Burnt Sugar, hơn ai hết, Avni Doshi đã đi vào những trải nghiệm vô cùng cá nhân, núp trong bóng tối của mối quan hệ tưởng như thiêng liêng và đầy ánh sáng. Là phiên bản đảo ngược và logic hơn của Mình cần nói chuyện về Kevin của Lionel Shriver và cũng Ấn Độ hơn Nhật ký mang thai của Yoko Ogawa, Burnt Sugar là một khúc ca đầy những note cao của một giọng hát đã quá mỏi mệt, đầy những lỗi strain, flatcrack trong sự kích động của bản hòa ca nhịp nhàng bối cảnh.

Quay về những năm 60 khi Tara trốn khỏi nhà chồng đi đến tịnh thất như cách tránh xa phong tục cổ hủ trong cuộc hôn nhân chính bản thân mình. Ở đó, trải nghiệm trong mối quan hệ vô cùng độc hại với người chồng chính thức đầu tiên cùng những căng thẳng khi sống cùng nhà với người mẹ chồng khiến bà rời nơi chốn ấy không một báo trước, dẫn theo con gái đến ashram – nơi sinh hoạt tôn giáo của một giáo phái, và trở thành phu nhân của người đứng đầu. Tại đó, giữa những hành động kỳ quặc của việc thờ cúng, Tara hoàn toàn lu mờ con gái, để cô sinh sống như một đứa trẻ không có gia đình, giao phó hoàn toàn cho người phụ nữ tên là Kali Mata (Nữ thần hủy diệt), còn mình chìm đắm trong những ca tụng và phương thức hành lễ lạ lùng. Antara trải qua những quãng thời gian vô cùng khó khăn, khi thiếu đi sự quan tâm, gắn bó; cũng như một môi trường sống không hề phù hợp với lứa tuổi mình. Những ngột ngạt đè nén, những căng thẳng nội tâm, ép lên cô con gái như những vết hằn rất khó gột rửa.

Sau cái chết của Baba, Tara rời khỏi tịnh thất và sống như người ăn xin, học các mánh lới để tồn tại, vì ông bà nội và cả người chồng đều chối bỏ bà. Cũng trong khoảng thời gian này, nhờ sự cảm thông của Reza – người chồng không chính thức, hai mẹ con họ tiếp tục sống cuộc đời quá nhiều chông chênh. Khi xã hội Ấn Độ rơi vào Nhiễu loạn những năm sau này, Reza biến mất. Chính trong những năm tháng bị bỏ mặc, xa lánh và chối từ về mặt tình cảm, trong Antara là điều gì đó của sự tự nhận thức chua chát như hẳn sau này ta hay bắt gặp: Thậm chí trong những cơn điên của mình, bà ấy chưa khi nào ngưng làm hại tôi hay Bà ta không hơn gì một nhúm rau thối. Những câu văn này đôi khi làm nóng người đọc và chạm đến những đường biên đạo đức vốn luôn cố hữu trong con người họ.

Thế nhưng bi kịch chỉ đến khi Tara giả chứng mất trí khi phát hiện con gái vốn đang qua lại với Reza – người tình năm xưa nay đã mất dấu – khi vô tình đến buổi triển lãm của Antara. Nếu Lionel Shriver viết về sự trả thù đầy những mê hoặc thể xác được thể hiện qua cơn bùng phát giết người của Kevin hay Yoko Ogawa đầu độc chị gái của nhân vật chính bằng bưởi đột biến; thì Avni Doshi cho cuộc đối đầu giữa hai mẹ con bằng Alzheimer. Những nghi ngờ bước đầu, những trả đũa leo thang giữa hai con người được khắc họa trong cái lạnh lùng vô cảm, trong nỗi xót xa cay đắng hiển hình trước mắt người đọc. Ở đó bằng căn bệnh này, Tara hành hạ chính con gái mình bằng những giả vờ buồn thương, những ảnh hưởng sâu sắc, những tai biến giả tạm; còn Antara – là sự trả đũa đầy những leo thang. Và đến cuối cùng trong cuộc gặp gỡ ở nhà chồng Antara là khi Tara đạt được chính mục đích mình. Vở kịch kết thúc và chiếc mặt nạ đã được gỡ xuống.

Giữa những bến bờ đạo đức và suy nghĩ chung chung, hẳn không ai có thể quy kết công lý thuộc về người nào. Thuộc về người mẹ nhẫn tâm bỏ rơi con mình đi vào đạo phái; hay về cô gái đã lấy đi người đàn ông của chính mẹ mình? Avni Doshi đặt ra những thế chông chênh và đẩy bi kịch chạm đến cưỡng bức. Một khung truyện rất khó giải quyết và nằm chông chênh, và đó cũng là lý do vì sao với Burnt Sugar, những phân cực đánh giá, những nhận xét về sự thiếu logic hay mặt tình cảm xuất phát từ chính cái nhìn chung chung vốn luôn cố hữu của mỗi một người. Với bản thân người viết bài này, bằng những rời rạc và sự thiếu gắn kết, tình cảm hai mẹ con họ đã chết từ lâu, và chẳng có gì quá không logic hay thiếu hợp lý ở tiểu thuyết này.

*

Giữa những mâu thuẫn nội tâm của hai nhân vật, với Burnt Sugar, Avni Doshi phần nào cũng khắc họa được bối cảnh Ấn Độ rất nhiều màu sắc trong những phông nền tôn giáo, luật lệ, lễ nghi, giữa những đối lập hiện đại phương Tây và cái cổ hủ vốn luôn tồn tại ở đất nước phương Đông. Những chuyển giao thế hệ, những thế đối đầu và vai trò của người phụ nữ sau bao thế hệ vẫn không chuyển dời. Nếu Tara chịu sự áp bức của gia đình chồng đầy đủ bao nhiêu, thì Antara ở thế hệ sau cũng không khác mấy: khi phải đợi cửa chờ chồng mình về hay vấn đề phải sinh con trai trong mối quan hệ vô cùng căng thẳng với người mẹ chồng mê tín dị đoan. Nhưng nếu Tara đầy đủ dũng cảm thoát ra chiếc lồng ngột ngạt đầy những mực thước, thì Antara lại không được thế. Cô đầy mệt mỏi và những buồn thương, vì thiếu cảm hứng nghệ thuật, thiếu cái định hướng dẫn đến việc sinh Anikka như cách níu giữ người chồng của mình.

Về phong cách viết, Avni Doshi chứng tỏ tài năng của bản thân mình khi dám đặt chân vào khe hở hẹp của những vấn đề tưởng như nhạy cảm. Điềm tĩnh, lạnh lùng mà đầy cân bằng; Avni tái tạo nên cuốn tiểu thuyết đầy những chà nhám của mối quan hệ thô ráp mà đầy vết xước. Điểm yếu của Burnt Sugar có thể kể đến là sự ôm đồm. Giữa một tiểu thuyết sắc sảo, hiện đại và nặng về mặt tâm lý, việc lồng ghép lịch sử Ấn Độ trong một nỗ lực cố gắng tạo ra một tiểu thuyết mở, hướng nhiều xúc tu thì vô hình trung trở nên thừa thãi. Mô tả kỳ ảo được đánh giá khá cao trong một nỗ lực thoát khỏi lối viết hiện thực, nhưng thời lượng này vẫn còn rất ít.

*

Với Burnt Sugar, Avni Doshi đã làm một cú hattrick vô cùng ngoạn mục lừa đón người đọc. Bằng cách viết điềm tĩnh, thấu hiểu mà đầy sắc sảo, Avni đã dựng nên một bi kịch không thể đoán trước, giữa những căng thẳng, xung đột, đối đầu vô cùng lạ lẫm. Nếu là người đọc chờ đón văn chương như cái đẹp đẽ miêu tả cuộc đời, thì Burnt Sugar không dành cho bạn. Nhưng để chờ đợi một sự chuyển hóa từ ngọt thành đắng, từ trắng sang đen, từ rắn thành lỏng, từ chặt thành ra phân rã ra như đường thành caramel; thì đây là tiểu thuyết vô cùng phù hợp. Dữ dội, tàn khốc và đầy những bi kịch ngầm; cuốn tiểu thuyết mạnh mẽ nhất mùa giải năm nay.

Hết.

minh.

*

The Booker Prize 2020






Book trailer

“Giải mật” hồ sơ về chất độc màu da cam

Published

on

By

Qua ‘Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam’, tác giả Patrick Hogan đã phơi bày bức tranh tổng thể về các hóa chất mà Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 với sức tàn phá vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay.

Chiến tranh qua đi nhưng những di chứng mà nó để lại vẫn còn hiện diện. Trong khi tổn thương vật chất có thể tái thiết, thì những ảnh hưởng về mặt tinh thần vẫn còn dai dẳng, đeo bám không thôi. Một trong số đó là các tổn thương được gây ra bởi chất độc màu da cam (dioxin) cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Thế nhưng ít người biết rằng ngay cả những cựu binh Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi hành động ấy. Bằng trải nghiệm của bản thân cũng như nỗ lực lần giở các tư liệu, nghiên cứu khoa học cũng như các hồ sơ đã được giải mật… tác giả Patrick Hogan đã tái hiện lại những diễn biến lịch sử, qua đó lên án hành động phi nhân, kêu gọi thêm các nỗ lực để những hy sinh của các người lính được đền đáp xứng đáng.

Patrick Hogan là một cựu chiến binh đã từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Khi mới nhập ngũ, ông nhận nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hàng hóa thiết yếu ở Tổng kho Cam Ranh (Khánh Hòa). Trong thời gian này, ông thường chứng kiến những lần máy bay phun rải hóa chất mà vào lúc ấy ông không thể biết đó là chất gì. Sau khi rời Việt Nam, ông trở về Mỹ và đảm nhận công việc cảnh sát.

Kể từ những năm 1970, ông thấy cơ thể đang suy yếu dần, kết hợp cùng với cái chết của người đồng đội Larry, hạt mầm hoài nghi sâu bên trong ông bắt đầu thức dậy. Năm 2012, sau khi nghe bài diễn thuyết của cựu tổng thống Barack Obama về chiến tranh Việt Nam, Hogan thôi thúc phải điều tra về hậu quả của việc tiếp xúc với chất độc da cam, từ đó ý tưởng về Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam dần được thành hình.

Được viết bởi một cựu binh từng tham gia tham chiến, cuốn sách mang dáng dấp hồi ký, ghi lại những năm đầu tiên mà tác giả đặt chân đến Việt Nam. Ông đã tái hiện lại những thiếu thốn như phải ở trong những căn nhà đơn sơ gọi là “chuồng ngựa”, xung quanh chỉ toàn là cát, nhiệt độ thì tương đối cao… cũng như những áp lực mà người lính phải chịu, từ lối đánh du kích của bộ đội ta, cho đến thổ nhưỡng, các căn bệnh nhiệt đới cũng như đa dạng sinh vật mà côn trùng là một trong những lý do khiến chính quyền Mỹ tiến hành phun rải chất dioxin.

Song song cùng đó, tác giả cũng quay trở về những ngày hiện tại, mô tả lại những chứng bệnh ông đã và đang gặp phải, từ tiểu đường tuýp 2, bệnh tim cho đến rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp… Theo Patrick Hogan, đây đều là các di chứng mà các hóa chất do chính phủ Mỹ rải xuống gây ra. Thế nhưng khi đòi bồi thường từ DVA - Bộ Cựu chiến binh Mỹ, thì những kết quả trả về cho ông là không có đủ bằng chứng để khẳng định những căn bệnh đó do các hóa chất mà Mỹ rải xuống Việt Nam những năm 1960 gây ra.

Nhận thấy điều vô lý ấy, Hogan đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh sinh học, hóa học của các hóa chất đã được rải xuống và kết hợp với các nghiên cứu mới nhất về chúng, để khẳng định cho lập luận của mình. Là một sĩ quan cảnh sát, ông cũng tận dụng thế mạnh điều tra để lần tìm về những hồ sơ được giải mật, qua đó cho thấy bức tranh chung nhất về bối cảnh lịch sử của những ngày ấy.

Nói về tác phẩm, tác giả chia sẻ: “Đây là câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về sự giận dữ và cuồng nộ, một cuốn biên niên sử được viết trong đau buồn và hy vọng. Đó là câu chuyện của vô số cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam. Đó là một cuốn sách đi sâu vào các hóa chất chết người đã được sử dụng trong suốt cuộc chiến và ảnh hưởng của chúng lên các cựu binh. Nhiều trong số đó vẫn đang được sử dụng trên khắp nước Mỹ, thậm chí cho đến ngày nay. Đó là hành trình phơi bày mọi điều mà chính phủ Hoa Kỳ chưa từng và chưa bao giờ muốn phơi bày ra ánh sáng”.

Liệu các công ty hóa chất và chính phủ Mỹ có biết hóa chất mà họ rải xuống sẽ gây tác hại cho binh lính của mình? Liệu có cách nào đạt cùng mục đích mà không sử dụng hóa chất? Ngoài chất da cam thì các hóa chất còn gồm những gì? Liệu có những ai đã từng chống lại phương án nói trên?... Tất cả sẽ được giải đáp trong tác phẩm sâu sắc, chi tiết và đầy mạnh mẽ về những tội ác chiến tranh này, từ đó cảnh báo cho ngày hiện tại, khi các hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu có độc tính tương tự đang được sử dụng không bị kiềm chế trong nông nghiệp hiện đại.

Trong thời gian qua, Phương Nam Books cũng cho ra mắt các sách thuộc tủ “Người Việt năm châu” như Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm (Le Thi Diem Thuy), Những kẻ tuyệt vọng (Minh Tran Huy), Người tị nạn (Viet Thanh Nguyen), Người cha im lặng (Doan Bui)...

Ngoài ra, các tựa sách về môi trường như Khát khao cây cỏ (Michael Pollan), Mùa xuân vắng lặng (Rachel Carson), Niên lịch miền gió cát (Aldo Leopold), Giành lại không khí sạch (Tim Smedley), Đời sống bí ẩn của cây (Peter Wohlleben)... cũng để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Patrick Hogan là cựu chiến binh từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Sau khi rời khỏi Việt Nam, Patrick Hogan được phong cấp bậc Trung sĩ Tham mưu E-6 và được Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Stanley Resor trao cho huy chương Army Commendation Medal. Ngoài ra, ông còn được trao: National Defense Medal, Vietnam Service Medal, Vietnam Campaign Medal.

Đọc bài viết

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Cafe sáng