Phía sau trang sách

Quá trình khai sinh “Frankenstein” của Mary Shelley: Đưa đứa trẻ trở lại với sự sống

Gặp lại quái vật Frankenstein sau mất mát của bản thân, sau khi biết thêm về cuộc đời của tác giả, tôi chẳng thể ngưng nghĩ về một hình hài sinh vật khác, một hình hài mà Mary Shelley hẳn đã nghĩ miên man trong mùa hè năm ấy.

Published

on

BRINGING THE BABY BACK TO LIFE

Mary Milstead

Mất đi ai đó bạn thương yêu đồng nghĩa với việc làm quen với sự trống vắng, mường tượng một hình hài từ thinh không. Khi người bạn yêu thương không thể sống một đời trọn vẹn – không thể trưởng thành, không có bạn bè hay công việc, không làm gì để lại dấu ấn trọn vẹn với thế giới – thì việc thương tiếc trở nên khó khăn hơn, cô độc hơn. Đây là cái chết ngoài dự liệu, vì vậy nó cũng đánh vào nỗi sợ hãi trong tim chúng ta, khiến ta thu mình lại.

Đứa con thứ hai của tôi, một cô bé tên Pearl, con bé đã không thể chào đời. Con bé ra đi mà chưa từng trải nghiệm một hơi thở. Như thế, xét về chuyên môn, thế giới khăng khăng rằng cô bé chưa hề tồn tại, thì thầm nhẹ nhàng vào tai tôi rằng quên đi sẽ tốt hơn. Nhưng tôi nghĩ khác. Việc để tang cô bé tựa như thổi những làn khói mờ ảo vào không trung – cô bé ở ngay đó, nhưng tôi là người duy nhất có thể nhìn thấy, trừ khi tôi khám phá đúng góc nhìn, đúng từ ngữ.

*

Khi viết Frankenstein vào năm 1816, Mary Shelley chỉ là một cô gái mười tám tuổi, đang trong kỳ nghỉ với người yêu và một vài người bạn. Câu chuyện nổi tiếng về cách cuốn tiểu thuyết kinh điển này ra đời là khi Mary và nhà thơ Percy Shelley, người mà cô sẽ kết hôn vào cuối năm đó, đang trú tại một ngôi nhà ở Geneva vào mùa hè, với Lord Byron và người chị kế Claire của Mary. Một đêm nọ, khi đọc chuyện ma cho nhau nghe, họ quyết định đưa ra một thử thách – mỗi người trong số họ sẽ viết một câu chuyện đáng sợ, và câu chuyện đáng sợ nhất sẽ chiến thắng. Mary, với câu chuyện về một con quái vật được khai sinh, là người chiến thắng.

Mary Shelley
Ảnh: Newsweek

Tôi không biết mình bao nhiêu tuổi khi biết về khởi nguồn của Frankenstein, nhưng tôi biết điều đó đã khiến tôi tò mò. Tôi là một cô bé thích viết lách, và tôi luôn bị cuốn hút bởi những thứ quái dị và kỳ bí. Mãi đến sau này, tôi mới biết Mary Shelley không chỉ là một thiếu nữ vô tư vào mùa hè năm đó. Tôi vẫn có thể hình dung cô như lần đầu tiên tôi hình dung cô – mỉm cười rạng rỡ và đáng yêu, uống rượu và ăn uống cùng bạn bè, chơi trò gia đình với người tình chưa li dị vợ, tình cờ viết nên một kiệt tác – nhưng cô cũng là một người mẹ đau khổ, thương tiếc cho cái chết của một đứa trẻ sơ sinh. Hơn hai trăm năm trước, băng qua đại dương rộng lớn nay chỉ có thể nhìn thấy trong những bức ảnh đen trắng cũ, đôi khi chúng ta vấp phải và đồng cảm với một sự mất mát lớn lao. Vào tháng Một năm ấy, cô đã sinh đứa con đầu lòng, một cô bé tên Clara. Đứa trẻ bị sinh non, và trút hơi thở cuối cùng vài tuần sau khi chào đời.

Khi tôi lần đầu tiên biết về tác giả của cuốn Frankenstein nổi tiếng, tôi đã bị cuốn hút bởi những tháng ngày trẻ tuổi và thành công khá sớm của cô. Và giờ, khi là một người mẹ đang để tang con, tôi lại phát hiện một người mẹ đau khổ. Gặp lại quái vật Frankenstein sau mất mát của bản thân, sau khi biết thêm về cuộc đời của tác giả, tôi chẳng thể ngưng nghĩ về một hình hài sinh vật khác, một hình hài mà Mary Shelley hẳn đã nghĩ miên man trong mùa hè năm ấy. Một Clara nhỏ nhắn, bé bỏng, hồng hào và bất lực, nằm trong một chiếc cũi cạnh Mary.

Vài tuần sau khi Clara qua đời, Shelley đã viết trong nhật ký của mình rằng: “Tôi có một giấc mơ, rằng đứa con bé bỏng của tôi đã sống lại một lần nữa – con bé chỉ bị lạnh và chúng tôi đã cọ xát với ngọn lửa, và thế là con bé sống lại – nhưng rồi tôi tỉnh dậy và chẳng thể tìm thấy con bé đâu. Tôi đã nghĩ về nó cả ngày.”

Điều tôi khao khát nhất trong những ngày đầu sau khi mất con là một cỗ máy thời gian. Tôi sẽ quay trở lại một vài ngày trước đó, khi mọi thứ đều ổn, và tôi sẽ cầu xin họ mang con bé ra khỏi bụng tôi ngay bây giờ, khi con bé vẫn còn sống và không bị mắc kẹt trong dây rốn của mình. Nếu chúng tôi biết sớm, chúng tôi có thể đã cứu con bé. Sự mãnh liệt của ham muốn này, cả sự bất khả thi của nó, chúng khiến tôi cảm thấy quái dị. Tôi nhớ có một lần, cực kì chi tiết, tôi tưởng tượng tất cả các cách để họ mổ bụng tôi ra và đưa con bé ra ngoài, nếu vậy con bé đã có cơ hội được sống. Tôi sẽ bất chấp trọng lực và thời gian, tôi sẽ trải qua bất kỳ nỗi kinh hoàng nào sẽ cứu con bé và để gia đình tôi được trọn vẹn.

Cái chết của một đứa trẻ buộc ta phải suy nghĩ về ý nghĩa của chính cái chết. Chẳng có gì đáng sợ như một cơ thể nhỏ bé, thinh lặng và cứng đờ. Nếu chúng ta không thể trưởng thành và già đi, thì tại sao chúng ta lại tồn tại? Mục đích của nỗi đau này là gì? Ai đó đã từng nói với tôi rằng, mỗi lần sinh nở là bước trên ranh giới giữa sự sống và cái chết. Điều khác biệt duy nhất giữa tôi và phần còn lại của thế giới, là bây giờ tôi sẽ luôn nhận thức được sự thật này.

Cuộc đời của Mary Shelley bắt đầu với nỗi đau về cái chết khi sinh nở – cái chết của mẹ cô, nhà văn và học giả nổi tiếng Mary Wollstonecraft, chỉ vài ngày sau khi cô được sinh ra. Những nỗi đau ấy thực sự không thể tưởng tượng nổi, cách nhau mười tám năm: mẹ cô, rồi con gái cô.

Nhân vật chính trong Frankenstein là một nhà khoa học; anh đã dành rất nhiều thời gian ở phần đầu cuốn tiểu thuyết để ngẫm nghĩ về ý nghĩa của sự sống và cái chết, mô tả những nỗ lực của anh để khám phá ý nghĩa của cuộc sống để chính anh có thể tạo ra nó một lần nữa. Đáng chú ý, cuộc tìm kiếm sự sống này lại đưa anh ta vào những nơi tối tăm nhất. Anh không đi đến những khu vườn nơi mà cây cối đang ra hoa kết trái, hay đến với những con suối nơi dòng nước tinh khiết đang tắm mát cho đất trời; anh lại đi đến các lò mổ, nhà cốt, ngôi mộ. “Tôi đã thu thập xương,” anh nói, “và bị xáo trộn, bởi những ngón tay tục tĩu, những bí mật to lớn của cấu tạo con người.” Chúng ta thưởng thức các trang văn xuôi bóng bẩy của Shelley về việc nghiên cứu sự phân hủy và cái chết, những phân đoạn vừa tuyệt đẹp vừa thô thiển. Đây không phải cầu nguyện, cầu vồng hay sức mạnh của hy vọng. Đây là sự chết chóc với tính lộn xộn vốn có, như Frankenstein nói với ta, “với sự háo hức không chút buông lỏng, tôi đã đuổi theo tự nhiên, đến cả những nơi ẩn náu của nàng.”

Tôi không thể biết liệu có phải những bận tâm của Shelley với việc giành giật sự sống từ cõi chết vốn xuất phát từ những mất mát của chính cô, nhưng tôi biết, kinh nghiệm của bản thân khiến tôi khao khát kiểm soát vũ trụ theo cách đặc biệt đó, để khai thác loại phép thuật có thể khôi phục nhịp đập của một trái tim đã chết. Bất kể khó khăn, bất kể cái giá phải trả. Mùa hè năm đó ở Geneva, bên cạnh những người bạn của cô, không còn nghi ngờ gì nữa, vẫn nặng trĩu những đau buồn, và rồi Mary Shelley bắt đầu viết Frankenstein. Khi cô hoàn thành cuốn tiểu thuyết, cô có thai lần thứ hai, vì vậy cô thực sự đã tạo ra sự sống trong cơ thể song song với việc tạo ra một tác phẩm, thổi hồn vào Frankenstein và quái vật của anh, tưởng tượng ra hậu quả của sự sáng tạo nhất thời của anh. Frankenstein là một câu chuyện được kể lại từ khoảng cách an toàn ở vùng đất xác thịt, trong tất cả vinh quang phàm trần và chết chóc của nó.

Cuối cùng, sau nhiều nghiên cứu và làm việc căng thẳng, Frankenstein đã thành công. Anh khám phá ra bí mật của sự sống, thu thập tất cả các bộ phận cần thiết cho con người mới của anh. Vào một đêm mưa bão, trong phòng thí nghiệm, thí nghiệm lớn được tiến hành, sinh vật ấy mở mắt ra, và gã bắt đầu di chuyển. Nhưng bằng cách nào đó, thậm chí sau tất cả cân nhắc và công sức miệt mài, cái thứ ấy vẫn sinh ra quá sớm, quá thiếu suy nghĩ – sinh vật kia chỉ là một bộ lắp ghép các mảnh xác chết được thu thập và khâu lại với nhau một cách lộn xộn. Nó rất gần với một con người nhưng lại chẳng phải một con  người. Đó là những gì Frankenstein hằng mong mỏi và làm được, nhưng nó thật tồi tệ. Trong nỗi kinh hoàng, anh ta ngay lập tức từ bỏ phát minh của mình: “…Giờ đây khi ta đã hoàn thành, vẻ đẹp của giấc mơ cũng tan thành tro bụi, nỗi kinh hoàng nghẹt thở và ghê tởm tràn ngập trái tim ta.”

Frankenstein là một tiểu thuyết đồ sộ với rất nhiều mất mát, nhưng sự mất mát trung tâm lại không phải sự đau khổ của nhà khoa học dành cho đứa con tâm huyết của mình. Ngay sau khi sinh vật đó được sinh ra, tôi nhận ra rằng Frankenstein chẳng phải một người mẹ – anh ta lùi bước và bắt đầu bỏ chạy. May mắn thay, bản thân tác giả lại tử tế hơn nhiều đối với sinh vật kia, và rồi, khi cuốn tiểu thuyết chuyển sang góc nhìn của gã, chúng ta có thể chứng kiến sự phát triển của ý thức, khi gã dần dần hiểu về thế giới xung quanh và biết vị trí của mình trong thế giới ấy là gì. Tất nhiên, sự nhận thức này chỉ để mọi thứ kết thúc trong bi kịch. Gã cầu xin Frankenstein tạo ra một thứ khác giống như gã, để gã có một người bạn đời, để gã có thể yêu và được yêu, và người ấy sẽ chẳng bao giờ kinh hãi khuôn mặt hay hình hài gã. Nhưng Frankenstein, sau khi suy nghĩ về ý tưởng ấy, đã từ chối một cách chán ghét. Trong câu chuyện này, sinh vật đáng thương kia đã phải chịu quá nhiều mất mát. Dù rằng trong sự đau khổ và giận dữ, gã đã làm rất nhiều việc tàn ác, nhưng Shelley đã cho chúng ta thấy được trái tim của gã, và chúng ta còn bàng hoàng hơn khi biết rằng, tất cả những gì con quái vật ấy cần chỉ là một cuộc sống yên bình, và ai đó mỉm cười với gã mỗi khi gã trở về nhà.

Shelley không bao giờ viết trực tiếp về nỗi đau của mình, ngoài những dòng ghi chú thi thoảng trong nhật ký; Frankenstein là một cuốn tiểu thuyết quá sức phong phú và sâu sắc, không thể chỉ chắt lọc từ một nguồn cảm hứng duy nhất ngoài đời thực. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng vang dội lại trong đầu, và cuốn tiểu thuyết trở nên trầm buồn mà cũng mạnh mẽ hơn khi tôi đọc nó qua lăng kính đời thực. Chính Frankenstein đã nói về công trình của mình, trong suốt khoảng thời gian khi anh ta còn hướng tới và khao khát thực thi nó: “Tôi nghĩ, giá như tôi có thể ban tặng ý thức cho những sinh vật vô hồn, tôi có thể tái tạo lại sự sống ở chính nơi mà rõ ràng cái chết đã hi sinh những cơ thể để chúng thối rữa.” Vâng, đó là mong muốn đầu tiên và sâu sắc nhất của chúng tôi – đưa đứa trẻ trở về với sự sống.

Trước khi mất Pearl, tôi không hề thích viết sách phi hư cấu. Tôi chỉ có sách hư cấu, càng xa rời thực tế của tôi càng tốt. Và sau khi con bé ra đi, để lại sau lưng một kiếp người chưa kịp đơm hoa, tôi muốn kể với mọi người về con bé. Tôi học một lớp viết tiểu sử và bắt đầu bị ám ảnh với ý tưởng viết tiểu sử về con bé, về một cuộc đời chỉ tồn tại bên trong cơ thể tôi. Với tư cách nhà văn, chúng ta luôn mang hơi thở cuộc sống vào một điều gì đó. Đôi khi là một suy nghĩ vụt qua, đôi khi là một hình hài chúng ta muốn giữ chặt nhưng buộc phải buông tay. Con gái tôi sống trong những tác phẩm của tôi theo cái cách mà con bé sẽ không bao giờ sống trên thế giới này. Con bé ở ngay đó, trong tiểu thuyết hư cấu, những bài tiểu luận về sự mất mát, và cả trong thực tế, một đứa trẻ bị thất lạc và đánh cắp, một bà mẹ biết cảm giác khi sống với sự trống rỗng này. Tôi viết về Pearl trong những tác phẩm của mình với lý do tương tự như việc tôi gọi tên con bé, vì nó là cách duy nhất con bé sống.

Có một mối liên kết mãnh liệt giữa Frankenstein và quái vật của anh. Dù cho họ không có mối quan hệ huyết thống và Frankenstein chẳng buồn quan tâm đến gã quái vật, nhưng họ bị ràng buộc với nhau mãi mãi, chỉ có người tạo ra và người được tạo ra, mối liên kết ấy mang tên vĩnh viễn. Sau khi mọi thứ sụp đổ, sau khi con quái vật của Frankenstein – trong cơn thịnh nộ không thể kiểm soát – đã giết hết những người mà Frankenstein yêu thương nhất, sau tất cả nỗi đau và mất mát, chỉ đến khi Frankenstein chết thì gã quái vật mới có thể chết một cách tự do. Khi gã suy ngẫm về cái chết của chính mình, và sự giải thoát khỏi những đau thương sẽ đến cùng cái chết, gã lại suy nghĩ về mối liên kết của họ: “Anh ta đã chết, người đã gọi ta đến với thế giới này, và khi ta chẳng còn, những kí ức về hai ta rồi sẽ nhanh chóng tan biến.”

Tất nhiên là không như vậy. Mặc dù trong câu chuyện của Shelley, mối ràng buộc giữa họ có thể đã giữ cả hai trên trái đất lâu hơn họ có thể, nhưng cả hai đều không tan biến cùng cái chết. Câu chuyện về họ vẫn còn, và vì thế, họ vẫn sống. Chúng ta sẽ tồn tại cho đến khi chúng ta bị quên lãng. Chúng ta lưu giữ kí ức về người đã khuất và kể cho thế giới nghe những câu chuyện về họ, như thế họ sẽ chẳng bao giờ rời xa chúng ta. Pearl sẽ không bao giờ chết cho đến khi những câu chuyện về con bé biến mất, cho đến khi chẳng còn ai nhớ về chúng.

Trong nhật ký của mình, Shelley đã viết: “Điều này thật ngu ngốc, tôi cho là vậy. Tuy nhiên, bất cứ khi nào tôi bị bỏ mặc một mình với những suy tư hỗn độn, tôi chẳng thể làm gì để đuổi chúng đi, chúng sẽ luôn đưa tôi tới một thời điểm: khi tôi là một người mẹ, và rồi không còn nữa.”

Nhưng tất nhiên, cô là người mẹ, điều đó đã thay đổi cuộc đời cô mãi mãi. Điều đó thể hiện qua sự sâu sắc, phong phú và đau đớn trong nghệ thuật của cô.

Hết.

Chan Trang dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Mary Milstead, đăng tại Electric Literature

Ảnh đầu bài: Bernie Wrightson

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Cafe sáng