Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Quá trình khai sinh “Frankenstein” của Mary Shelley: Đưa đứa trẻ trở lại với sự sống

Gặp lại quái vật Frankenstein sau mất mát của bản thân, sau khi biết thêm về cuộc đời của tác giả, tôi chẳng thể ngưng nghĩ về một hình hài sinh vật khác, một hình hài mà Mary Shelley hẳn đã nghĩ miên man trong mùa hè năm ấy.

Published

on

BRINGING THE BABY BACK TO LIFE

Mary Milstead

Mất đi ai đó bạn thương yêu đồng nghĩa với việc làm quen với sự trống vắng, mường tượng một hình hài từ thinh không. Khi người bạn yêu thương không thể sống một đời trọn vẹn – không thể trưởng thành, không có bạn bè hay công việc, không làm gì để lại dấu ấn trọn vẹn với thế giới – thì việc thương tiếc trở nên khó khăn hơn, cô độc hơn. Đây là cái chết ngoài dự liệu, vì vậy nó cũng đánh vào nỗi sợ hãi trong tim chúng ta, khiến ta thu mình lại.

Đứa con thứ hai của tôi, một cô bé tên Pearl, con bé đã không thể chào đời. Con bé ra đi mà chưa từng trải nghiệm một hơi thở. Như thế, xét về chuyên môn, thế giới khăng khăng rằng cô bé chưa hề tồn tại, thì thầm nhẹ nhàng vào tai tôi rằng quên đi sẽ tốt hơn. Nhưng tôi nghĩ khác. Việc để tang cô bé tựa như thổi những làn khói mờ ảo vào không trung – cô bé ở ngay đó, nhưng tôi là người duy nhất có thể nhìn thấy, trừ khi tôi khám phá đúng góc nhìn, đúng từ ngữ.

*

Khi viết Frankenstein vào năm 1816, Mary Shelley chỉ là một cô gái mười tám tuổi, đang trong kỳ nghỉ với người yêu và một vài người bạn. Câu chuyện nổi tiếng về cách cuốn tiểu thuyết kinh điển này ra đời là khi Mary và nhà thơ Percy Shelley, người mà cô sẽ kết hôn vào cuối năm đó, đang trú tại một ngôi nhà ở Geneva vào mùa hè, với Lord Byron và người chị kế Claire của Mary. Một đêm nọ, khi đọc chuyện ma cho nhau nghe, họ quyết định đưa ra một thử thách – mỗi người trong số họ sẽ viết một câu chuyện đáng sợ, và câu chuyện đáng sợ nhất sẽ chiến thắng. Mary, với câu chuyện về một con quái vật được khai sinh, là người chiến thắng.

Mary Shelley
Ảnh: Newsweek

Tôi không biết mình bao nhiêu tuổi khi biết về khởi nguồn của Frankenstein, nhưng tôi biết điều đó đã khiến tôi tò mò. Tôi là một cô bé thích viết lách, và tôi luôn bị cuốn hút bởi những thứ quái dị và kỳ bí. Mãi đến sau này, tôi mới biết Mary Shelley không chỉ là một thiếu nữ vô tư vào mùa hè năm đó. Tôi vẫn có thể hình dung cô như lần đầu tiên tôi hình dung cô – mỉm cười rạng rỡ và đáng yêu, uống rượu và ăn uống cùng bạn bè, chơi trò gia đình với người tình chưa li dị vợ, tình cờ viết nên một kiệt tác – nhưng cô cũng là một người mẹ đau khổ, thương tiếc cho cái chết của một đứa trẻ sơ sinh. Hơn hai trăm năm trước, băng qua đại dương rộng lớn nay chỉ có thể nhìn thấy trong những bức ảnh đen trắng cũ, đôi khi chúng ta vấp phải và đồng cảm với một sự mất mát lớn lao. Vào tháng Một năm ấy, cô đã sinh đứa con đầu lòng, một cô bé tên Clara. Đứa trẻ bị sinh non, và trút hơi thở cuối cùng vài tuần sau khi chào đời.

Khi tôi lần đầu tiên biết về tác giả của cuốn Frankenstein nổi tiếng, tôi đã bị cuốn hút bởi những tháng ngày trẻ tuổi và thành công khá sớm của cô. Và giờ, khi là một người mẹ đang để tang con, tôi lại phát hiện một người mẹ đau khổ. Gặp lại quái vật Frankenstein sau mất mát của bản thân, sau khi biết thêm về cuộc đời của tác giả, tôi chẳng thể ngưng nghĩ về một hình hài sinh vật khác, một hình hài mà Mary Shelley hẳn đã nghĩ miên man trong mùa hè năm ấy. Một Clara nhỏ nhắn, bé bỏng, hồng hào và bất lực, nằm trong một chiếc cũi cạnh Mary.

Vài tuần sau khi Clara qua đời, Shelley đã viết trong nhật ký của mình rằng: “Tôi có một giấc mơ, rằng đứa con bé bỏng của tôi đã sống lại một lần nữa – con bé chỉ bị lạnh và chúng tôi đã cọ xát với ngọn lửa, và thế là con bé sống lại – nhưng rồi tôi tỉnh dậy và chẳng thể tìm thấy con bé đâu. Tôi đã nghĩ về nó cả ngày.”

Điều tôi khao khát nhất trong những ngày đầu sau khi mất con là một cỗ máy thời gian. Tôi sẽ quay trở lại một vài ngày trước đó, khi mọi thứ đều ổn, và tôi sẽ cầu xin họ mang con bé ra khỏi bụng tôi ngay bây giờ, khi con bé vẫn còn sống và không bị mắc kẹt trong dây rốn của mình. Nếu chúng tôi biết sớm, chúng tôi có thể đã cứu con bé. Sự mãnh liệt của ham muốn này, cả sự bất khả thi của nó, chúng khiến tôi cảm thấy quái dị. Tôi nhớ có một lần, cực kì chi tiết, tôi tưởng tượng tất cả các cách để họ mổ bụng tôi ra và đưa con bé ra ngoài, nếu vậy con bé đã có cơ hội được sống. Tôi sẽ bất chấp trọng lực và thời gian, tôi sẽ trải qua bất kỳ nỗi kinh hoàng nào sẽ cứu con bé và để gia đình tôi được trọn vẹn.

Cái chết của một đứa trẻ buộc ta phải suy nghĩ về ý nghĩa của chính cái chết. Chẳng có gì đáng sợ như một cơ thể nhỏ bé, thinh lặng và cứng đờ. Nếu chúng ta không thể trưởng thành và già đi, thì tại sao chúng ta lại tồn tại? Mục đích của nỗi đau này là gì? Ai đó đã từng nói với tôi rằng, mỗi lần sinh nở là bước trên ranh giới giữa sự sống và cái chết. Điều khác biệt duy nhất giữa tôi và phần còn lại của thế giới, là bây giờ tôi sẽ luôn nhận thức được sự thật này.

Cuộc đời của Mary Shelley bắt đầu với nỗi đau về cái chết khi sinh nở – cái chết của mẹ cô, nhà văn và học giả nổi tiếng Mary Wollstonecraft, chỉ vài ngày sau khi cô được sinh ra. Những nỗi đau ấy thực sự không thể tưởng tượng nổi, cách nhau mười tám năm: mẹ cô, rồi con gái cô.

Nhân vật chính trong Frankenstein là một nhà khoa học; anh đã dành rất nhiều thời gian ở phần đầu cuốn tiểu thuyết để ngẫm nghĩ về ý nghĩa của sự sống và cái chết, mô tả những nỗ lực của anh để khám phá ý nghĩa của cuộc sống để chính anh có thể tạo ra nó một lần nữa. Đáng chú ý, cuộc tìm kiếm sự sống này lại đưa anh ta vào những nơi tối tăm nhất. Anh không đi đến những khu vườn nơi mà cây cối đang ra hoa kết trái, hay đến với những con suối nơi dòng nước tinh khiết đang tắm mát cho đất trời; anh lại đi đến các lò mổ, nhà cốt, ngôi mộ. “Tôi đã thu thập xương,” anh nói, “và bị xáo trộn, bởi những ngón tay tục tĩu, những bí mật to lớn của cấu tạo con người.” Chúng ta thưởng thức các trang văn xuôi bóng bẩy của Shelley về việc nghiên cứu sự phân hủy và cái chết, những phân đoạn vừa tuyệt đẹp vừa thô thiển. Đây không phải cầu nguyện, cầu vồng hay sức mạnh của hy vọng. Đây là sự chết chóc với tính lộn xộn vốn có, như Frankenstein nói với ta, “với sự háo hức không chút buông lỏng, tôi đã đuổi theo tự nhiên, đến cả những nơi ẩn náu của nàng.”

Tôi không thể biết liệu có phải những bận tâm của Shelley với việc giành giật sự sống từ cõi chết vốn xuất phát từ những mất mát của chính cô, nhưng tôi biết, kinh nghiệm của bản thân khiến tôi khao khát kiểm soát vũ trụ theo cách đặc biệt đó, để khai thác loại phép thuật có thể khôi phục nhịp đập của một trái tim đã chết. Bất kể khó khăn, bất kể cái giá phải trả. Mùa hè năm đó ở Geneva, bên cạnh những người bạn của cô, không còn nghi ngờ gì nữa, vẫn nặng trĩu những đau buồn, và rồi Mary Shelley bắt đầu viết Frankenstein. Khi cô hoàn thành cuốn tiểu thuyết, cô có thai lần thứ hai, vì vậy cô thực sự đã tạo ra sự sống trong cơ thể song song với việc tạo ra một tác phẩm, thổi hồn vào Frankenstein và quái vật của anh, tưởng tượng ra hậu quả của sự sáng tạo nhất thời của anh. Frankenstein là một câu chuyện được kể lại từ khoảng cách an toàn ở vùng đất xác thịt, trong tất cả vinh quang phàm trần và chết chóc của nó.

Cuối cùng, sau nhiều nghiên cứu và làm việc căng thẳng, Frankenstein đã thành công. Anh khám phá ra bí mật của sự sống, thu thập tất cả các bộ phận cần thiết cho con người mới của anh. Vào một đêm mưa bão, trong phòng thí nghiệm, thí nghiệm lớn được tiến hành, sinh vật ấy mở mắt ra, và gã bắt đầu di chuyển. Nhưng bằng cách nào đó, thậm chí sau tất cả cân nhắc và công sức miệt mài, cái thứ ấy vẫn sinh ra quá sớm, quá thiếu suy nghĩ – sinh vật kia chỉ là một bộ lắp ghép các mảnh xác chết được thu thập và khâu lại với nhau một cách lộn xộn. Nó rất gần với một con người nhưng lại chẳng phải một con  người. Đó là những gì Frankenstein hằng mong mỏi và làm được, nhưng nó thật tồi tệ. Trong nỗi kinh hoàng, anh ta ngay lập tức từ bỏ phát minh của mình: “…Giờ đây khi ta đã hoàn thành, vẻ đẹp của giấc mơ cũng tan thành tro bụi, nỗi kinh hoàng nghẹt thở và ghê tởm tràn ngập trái tim ta.”

Frankenstein là một tiểu thuyết đồ sộ với rất nhiều mất mát, nhưng sự mất mát trung tâm lại không phải sự đau khổ của nhà khoa học dành cho đứa con tâm huyết của mình. Ngay sau khi sinh vật đó được sinh ra, tôi nhận ra rằng Frankenstein chẳng phải một người mẹ – anh ta lùi bước và bắt đầu bỏ chạy. May mắn thay, bản thân tác giả lại tử tế hơn nhiều đối với sinh vật kia, và rồi, khi cuốn tiểu thuyết chuyển sang góc nhìn của gã, chúng ta có thể chứng kiến sự phát triển của ý thức, khi gã dần dần hiểu về thế giới xung quanh và biết vị trí của mình trong thế giới ấy là gì. Tất nhiên, sự nhận thức này chỉ để mọi thứ kết thúc trong bi kịch. Gã cầu xin Frankenstein tạo ra một thứ khác giống như gã, để gã có một người bạn đời, để gã có thể yêu và được yêu, và người ấy sẽ chẳng bao giờ kinh hãi khuôn mặt hay hình hài gã. Nhưng Frankenstein, sau khi suy nghĩ về ý tưởng ấy, đã từ chối một cách chán ghét. Trong câu chuyện này, sinh vật đáng thương kia đã phải chịu quá nhiều mất mát. Dù rằng trong sự đau khổ và giận dữ, gã đã làm rất nhiều việc tàn ác, nhưng Shelley đã cho chúng ta thấy được trái tim của gã, và chúng ta còn bàng hoàng hơn khi biết rằng, tất cả những gì con quái vật ấy cần chỉ là một cuộc sống yên bình, và ai đó mỉm cười với gã mỗi khi gã trở về nhà.

Shelley không bao giờ viết trực tiếp về nỗi đau của mình, ngoài những dòng ghi chú thi thoảng trong nhật ký; Frankenstein là một cuốn tiểu thuyết quá sức phong phú và sâu sắc, không thể chỉ chắt lọc từ một nguồn cảm hứng duy nhất ngoài đời thực. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng vang dội lại trong đầu, và cuốn tiểu thuyết trở nên trầm buồn mà cũng mạnh mẽ hơn khi tôi đọc nó qua lăng kính đời thực. Chính Frankenstein đã nói về công trình của mình, trong suốt khoảng thời gian khi anh ta còn hướng tới và khao khát thực thi nó: “Tôi nghĩ, giá như tôi có thể ban tặng ý thức cho những sinh vật vô hồn, tôi có thể tái tạo lại sự sống ở chính nơi mà rõ ràng cái chết đã hi sinh những cơ thể để chúng thối rữa.” Vâng, đó là mong muốn đầu tiên và sâu sắc nhất của chúng tôi – đưa đứa trẻ trở về với sự sống.

Trước khi mất Pearl, tôi không hề thích viết sách phi hư cấu. Tôi chỉ có sách hư cấu, càng xa rời thực tế của tôi càng tốt. Và sau khi con bé ra đi, để lại sau lưng một kiếp người chưa kịp đơm hoa, tôi muốn kể với mọi người về con bé. Tôi học một lớp viết tiểu sử và bắt đầu bị ám ảnh với ý tưởng viết tiểu sử về con bé, về một cuộc đời chỉ tồn tại bên trong cơ thể tôi. Với tư cách nhà văn, chúng ta luôn mang hơi thở cuộc sống vào một điều gì đó. Đôi khi là một suy nghĩ vụt qua, đôi khi là một hình hài chúng ta muốn giữ chặt nhưng buộc phải buông tay. Con gái tôi sống trong những tác phẩm của tôi theo cái cách mà con bé sẽ không bao giờ sống trên thế giới này. Con bé ở ngay đó, trong tiểu thuyết hư cấu, những bài tiểu luận về sự mất mát, và cả trong thực tế, một đứa trẻ bị thất lạc và đánh cắp, một bà mẹ biết cảm giác khi sống với sự trống rỗng này. Tôi viết về Pearl trong những tác phẩm của mình với lý do tương tự như việc tôi gọi tên con bé, vì nó là cách duy nhất con bé sống.

Có một mối liên kết mãnh liệt giữa Frankenstein và quái vật của anh. Dù cho họ không có mối quan hệ huyết thống và Frankenstein chẳng buồn quan tâm đến gã quái vật, nhưng họ bị ràng buộc với nhau mãi mãi, chỉ có người tạo ra và người được tạo ra, mối liên kết ấy mang tên vĩnh viễn. Sau khi mọi thứ sụp đổ, sau khi con quái vật của Frankenstein – trong cơn thịnh nộ không thể kiểm soát – đã giết hết những người mà Frankenstein yêu thương nhất, sau tất cả nỗi đau và mất mát, chỉ đến khi Frankenstein chết thì gã quái vật mới có thể chết một cách tự do. Khi gã suy ngẫm về cái chết của chính mình, và sự giải thoát khỏi những đau thương sẽ đến cùng cái chết, gã lại suy nghĩ về mối liên kết của họ: “Anh ta đã chết, người đã gọi ta đến với thế giới này, và khi ta chẳng còn, những kí ức về hai ta rồi sẽ nhanh chóng tan biến.”

Tất nhiên là không như vậy. Mặc dù trong câu chuyện của Shelley, mối ràng buộc giữa họ có thể đã giữ cả hai trên trái đất lâu hơn họ có thể, nhưng cả hai đều không tan biến cùng cái chết. Câu chuyện về họ vẫn còn, và vì thế, họ vẫn sống. Chúng ta sẽ tồn tại cho đến khi chúng ta bị quên lãng. Chúng ta lưu giữ kí ức về người đã khuất và kể cho thế giới nghe những câu chuyện về họ, như thế họ sẽ chẳng bao giờ rời xa chúng ta. Pearl sẽ không bao giờ chết cho đến khi những câu chuyện về con bé biến mất, cho đến khi chẳng còn ai nhớ về chúng.

Trong nhật ký của mình, Shelley đã viết: “Điều này thật ngu ngốc, tôi cho là vậy. Tuy nhiên, bất cứ khi nào tôi bị bỏ mặc một mình với những suy tư hỗn độn, tôi chẳng thể làm gì để đuổi chúng đi, chúng sẽ luôn đưa tôi tới một thời điểm: khi tôi là một người mẹ, và rồi không còn nữa.”

Nhưng tất nhiên, cô là người mẹ, điều đó đã thay đổi cuộc đời cô mãi mãi. Điều đó thể hiện qua sự sâu sắc, phong phú và đau đớn trong nghệ thuật của cô.

Hết.

Chan Trang dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Mary Milstead, đăng tại Electric Literature

Ảnh đầu bài: Bernie Wrightson

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tàn ngày để lại: Về một người đàn ông tự dối lòng

Published

on

Kazuo Ishiguro nói ông viết Tàn ngày để lại trong vòng 4 tuần, bằng cách đưa bản thân vào trạng thái mơ hồ nhưng tỉnh táo cao độ gọi là crash. Trạng thái kỳ dị ấy kết hợp cùng một giọng điệu trần thuật bậc thầy đã tạo ra một thiên tiểu thuyết vô tiền khoáng hậu về một người quản gia, mà rộng hơn, về một cách làm người.

Nếu tìm một người dẫn chuyện muốn đứng ngoài câu chuyện của mình, hòng nắm bắt những suy nghĩ chủ quan bằng giọng kể dường như khách quan ở ngôi thứ nhất, thì Stevens là lựa chọn không thể tốt hơn. Xuất phát từ điểm nhìn của một quản gia tận tụy hết mực, Stevens để cho câu chuyện đời mình rỉ rả chảy qua lỗ khóa thời gian chậm rãi nhưng kiệt lực. Thông qua đó, Stevens phong kín cảm xúc của mình đến độ nếu không thực tâm chú mục vào phía bên kia, – tức phía không được phơi ra trên bề mặt tiểu thuyết – ta không tài nào nhận ra được sự vỡ vụn trong tâm hồn ông.

Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tàn ngày để lại.

1. Khi những điều người ta muốn viết lại không nằm trên giấy

Như Márquez đã từng nói, người ta ai cũng có ba cuộc đời: công khai, riêng tư và bí mật cân bằng với nhau. Riêng với Stevens, công việc quản gia làm cho khía cạnh riêng tư và bí mật trở thành một đám mờ không hơn những bụi mây bên rìa cuộc sống.

Giả như có ai đó thử định nghĩa cuộc đời bằng những gì người ta đã làm thì Stevens còn lâu mới với tới được khung đó, bởi dẫu cho tất cả công việc của ông, sự tận tụy, chỉn chu, trung thành và ý thức “phẩm cách” nghề nghiệp của mình, Stevens chỉ đang dẫm vào bước chân người cha để rồi hóa thân thành cái bóng cho chủ nhân mình. Cuộc đời ông thực chất nằm ở phía âm tính, phía những việc dù muốn hay không, vẫn chưa làm được.

Mối tương quan kỳ quặc đó còn vận cả vào trong cuốn tiểu thuyết – hồi ký, khi cuộc đời Stevens thực chất nằm ở những câu chuyện không được kể. Thử chọn bất kỳ một thời điểm, một sự việc nào, người ta đều có thể tìm thấy dấu vết ngụy trang ẩn tàng. Nhìn vào cách mọi việc diễn ra, từ khởi hành cho tới kết thúc, sự bình thản, nghiêm trang luôn chực chờ đổ vỡ bởi giọng nhỏ nuối tiếc đi kèm. Cũng phải thôi, công bằng mà nói, khi con người đã đi đến bên kia sườn dốc, lẽ đương nhiên sẽ thôi thúc người ta trở ngược lại mà ngắm nhìn cảnh sắc mình đã lỡ bỏ qua chứ không phải những cảnh người ta đã thấy hàng bao lần. Hơn nữa, với một người sống qua nhiều đời chủ nhân, đi qua hai cuộc thế chiến thì mong muốn giấu mình lại càng trở nên mãnh liệt. Đứng trước đống hoang tàn sau chiến tranh, sở mục một thời vàng son đã trở thành dĩ vãng, người ta lại càng có cớ tô vẽ những điều tốt đẹp mà bỏ quên những khía cạnh khác. Câu hỏi lớn về “phẩm cách” tồn tại như một cách níu kéo cân bằng mong manh giữa một cuộc đời lý tưởng đang trên đà sụp đổ. Bởi nếu không bám vào đó, liệu cuộc đời Stevens sẽ còn ý nghĩa gì chăng? Điều đó giải thích tại sao cứ dăm trang sách, người ta lại bắt gặp nỗi tiếc nuối cá nhân xen vào giữa lòng đắc thắng với công việc chính là vì vậy.

Nhưng không phải toàn bức tranh đều mang màu xám. Cho đến cuối, Stevens ít ra cũng đã thành công giải thoát mình khỏi thế lưỡng nan cuộc đời.

Có ích gì khi người ta trăn trở quá nhiều rằng mình đã có thể hay chẳng thể làm gì để nắm giữ tiến trình cuộc đời mình? Hẳn nhiên nếu những người như quý vị và tôi ít nhất cũng gắng khiến phần công sức nhỏ bé của mình góp vào những gì thật sự chân chính và đáng giá, thì cũng đủ rồi. Và nếu có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh nhiều điều trong đời để theo đòi những tâm nguyện ấy, thì hẳn nhiên chính bản thân việc ấy, bất chấp kết quả có ra sao, cũng đáng tự hào mãn nguyện rồi.

Thử đặt Stevens và cha ông lên cùng bàn cân, giữa một người mãn nguyện đầy tự hào với một người ra đi trong tiếc nuối, chừng đó đủ thấy sự giải thoát bản thân khỏi những trăn trở cuộc đời đem lại sức nặng đến dường nào. Dẫu sao thì con người cũng phải vượt thoát khỏi những hình bóng tinh thần để giữ mình hiện hữu với thế giới. Đó mới là cuộc sống.

2. Sức nặng trong lời tự thú của một người đàn ông

Nếu bỏ qua mớ lý thuyết “phẩm cách” ngoắc ngoéo đeo đuổi Stevens suốt công cuộc Tây tiến, vứt hết bộ cánh quản gia bám theo ông suốt ba mươi lăm năm cuộc đời để tập trung bóc tách sự thật ẩn sâu dưới những lớp tự thoại liên thiên, thì không khó để người ta nhận ra đâu là cốt lõi con người ông. Nói thẳng ra, là câu chuyện của Stevens với cô Kenton.

Cảnh trong phim Tàn ngày để lại (The Remains of the Day), ra mắt năm 1993.

Với tất cả sự lý tính làm nên con người Stevens, không thể mong đợi một chuyện tình kiểu mẫu của hai người bọn họ được. Khi nói chuyện tình kiểu mẫu, có nghĩa người ta muốn ám chỉ Cuốn theo chiều gió, Jane Eyre hay Cỏ chân ngỗng, cũng có nghĩa là những chuyện vẫn không thường xảy ra bất chấp việc chúng thường được trích dẫn. Thậm chí, Stevens còn không chủ định để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho bất cứ ai trong toàn tiểu thuyết. Sự thể Kenton phát hiện ra Stevens vẫn thường đọc những chuyện tình ướt át không đi khỏi khuôn khổ tình cờ. Để mà nói, những gì xảy đến giữa họ cũng u ám hệt như dãy hành lang phụ dành cho gia nhân phía sau Dinh Darlington, chỉ được nhìn nhận ở mặt lưng của cuốn hồi ký. Hai người không hẹn mà gặp cùng tham gia vào trò chơi tình ái chẳng mấy hấp dẫn khi một người phải cố sức thể hiện đồng thời giấu kín tình cảm của mình với người kia và ngược lại. Dễ hiểu trò đi dây này rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt muộn màng của cô Kenton, thì ắt hẳn Stevens sẽ mang theo tình cảm của mình xuống mồ. Khoảnh khắc ông thừa nhận tình yêu dành cho bà cũng là thời điểm trái tim ông vụn vỡ.

Thực vậy – có gì mà không thừa nhận điều này chứ? – vào giây phút ấy, tim tôi như tan vỡ.

Thực vậy – dẫu cho suốt chiều dài hơn ba trăm trang tiểu thuyết, không dưới ba mươi lần ông tự nói với mình hay với người khác, cách này hay cách khác, bằng giọng Anh mẫu mực không thể nghi ngờ tính chân thực trong câu chuyện ông kể, dù cho tất cả những thứ đó – chỉ duy nhất lần này Stevens dám can đảm thú nhận tình cảm của mình. Khi một người đàn ông bày tỏ tình cảm – công khai, riêng tư hay bí mật – nhất là thứ tình cảm được ủ chượp hơn ba mươi năm trong hầm giam “phẩm cách”, thì dường như chẳng còn gì để kể, để mà nói nữa. Thời gian sẽ dừng lại ngay lúc ấy để xúc cảm cuốn đi tất cả. Tuy vậy, không phải mọi thứ đều kết thúc. Mặc cho chuyến hành trình về miền Tây nước Anh đã đi đến điểm cuối, mặc cho cuốn hồi ký cá nhân sắp ngưng giọng, giờ đây cuộc đời thật của Stevens mới chỉ vừa bắt đầu. Cuộc đời ông chỉ vừa bước sang buổi tối. Và buổi tối mới là phần hay nhất trong ngày, là thời điểm thu vén ánh tàn sau ngày dài làm việc, khi trái tim mỏi mệt được chữa lành và an nghỉ.

3. Tàn ngày để lại

Suy cho cùng, đâu có thể quay ngược thời gian được nữa. Người ta không thể ngâm ngợi mãi những gì đã có thể xảy ra. Người ta cần phải nhận ra mình đang có một thứ cũng tốt gần bằng thế, thậm chí còn hơn thế, và biết cảm kích vì điều đó.

Đến một lúc nào đó trong đời, khi sự sai khác về không - thời gian chẳng thể cản nổi lời mời gọi ký ức, người ta sẽ lộn ngược cuộc đời mình lại mà suy nghĩ, ngâm ngợi về những chuyện đã và chẳng xảy ra. Công cuộc xét lại đó có thể xuất hiện dưới hình dạng một cuộc nổi loạn tuổi thiếu niên, trá hình bên trong khủng hoảng tiền – trung niên, mà cũng có thể đơn thuần như một cơn gió nhẹ tuổi xế chiều. Khi thời khắc đến, người ta không khỏi ngăn mình tiếc nuối đôi chút. Suy cho cùng, đó là cả một cuộc đời.

Lẽ tất yếu, người ta luôn tìm thấy hình ảnh đời thường nào đó cốt gán lên nó mớ ý nghĩa trôi qua trong khoảnh khắc quá khứ đã bỏ lại sau lưng. Rất nhiều lần Stevens thoát ly thực tại để đi tới công cuộc xét lại đó, và bất kỳ ai cũng dễ dàng làm được. Tất cả những gì người ta cần làm là đứng trước biển, nhưng tại sao lại là biển? Có lẽ bởi sự mênh mang vô bờ bến, cũng có thể sự uốn lượn tuần hoàn của những con sóng, hay sự bàng bạc của mặt nước khi tàn ngày, dù sao thì cảm giác không – thời gian trước biển mang độ siêu thực nhất định, dễ dàng châm ngòi cho quả pháo ký ức.

Stevens đã chọn cầu tàu ven biển để đóng gói cuộc đời. Tại sao không? Đứng trước biển, đám đông tản mác, rặng phi lao gió lộng, rồi một con tàu nơi đường chân trời, rồi thì chỉ còn có bản thân. Người ta sẽ không ngần ngại ban cho con tàu đó ý nghĩa cuộc đời, với vô số bờ biển nó đã đi qua, cuối cùng cập bến nơi người ta đang đứng đây. Luôn luôn là bến bờ tiếc nuối. Mấy ai trong đời chịu từ bỏ những trăn trở khi tàn ngày mà nhìn nhận lại rằng, bờ biển ta đang đứng chỉ là một trong vô vàn mẫu ngẫu nhiên mà tạo hóa dẫn lối mà kiếm tìm cái đẹp trong nó. Rất có thể Stevens đã kiếm tìm một hình ảnh như vậy để vin cuộc đời ông vào. Và có vô số Stevens khác đứng trên cầu tàu đón ánh tàn chiều hôm ấy.

*

Có những ý nghĩ chỉ hiện hữu trong tâm trí mà không thể diễn tả thành lời. Cũng có những lời không thể hiện hữu trong tưởng tượng. Tàn ngày để lại là một câu chuyện như thế, nó thúc ép ta phải trở đi trở lại giữa tâm trí và ngôn từ, hòng kiếm tìm một sự thật khả dĩ về cách sống, cách làm người.  

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: A.N (Thanh Niên)

Đọc bài viết

Cafe sáng