Phía sau trang sách

Mâu thuẫn trong văn học đại dịch: Không phải mất đi nhân mạng, mà là mất đi nhân tính

Những câu chuyện về đại dịch, khi ngôn ngữ hóa vô dụng và con người thành dã thú

Published

on

WHAT OUR CONTAGION FABLES ARE REALLY ABOUT
Jill Lepore

Khi Cái Chết Đen tràn vào thành phố London năm 1665, dân địa phương bỗng chốc hóa rồ. Người cầu viện sự trợ giúp từ chiêm tinh học, lang băm và Kinh Thánh. Người săm soi cơ thể mình, tìm kiếm triệu chứng của căn bệnh: các khối u, vết phồng rộp hay các chấm đen. Người khẩn cầu lời tiên tri; người trả tiền để được đoán mệnh; người cầu nguyện; người tru khóc. Người nhắm nghiền mắt; người bưng kín tai. Người khóc than trên đường phố. Người nghiên cứu những cuốn niên giám đánh động tâm trí: “Hẳn nhiên, sách khiến họ khiếp đảm.” Năm 1722 (cái năm mà dân tình lo sợ rằng một lần nữa dịch bệnh sẽ nhảy vọt qua Eo biển Manche, sau khi đã du hí qua Trung Đông đến Marseille và hướng về phía bắc nhờ các đội tàu thương lái), Daniel Defoe ra mắt A Journal of the Plague Year (tạm dịch Nhật ký năm dịch hạch), một tác phẩm sử thi mà ông viết song song với bản hướng dẫn/ cố vấn mang tên Công tác chuẩn bị thiết yếu phòng ngừa dịch hạch. Defoe viết, để kiểm soát tình trạng hoảng loạn, chính quyền đã cố gắng “ngăn chặn việc In Ấn những Cuốn Sách khiến Người Dân khiếp sợ.” Defoe hi vọng rằng những cuốn sách của mình sẽ trở nên “hữu dụng với người sống cùng thời và cho cả hậu thế, dù bản thân tôi đã được tha bổng khỏi việc nếm trải ly độc dược đắng chát này.” Và năm nay, cái ly độc dược đắng chát kia đã rời tủ.

Defoe hồi tưởng, vào năm 1665, người lo xa hay kẻ khôn ngoan đều đã bỏ chạy khỏi đất nước, và những người ở lại sau có lý do để hối hận: vào thời điểm họ quyết định ra đi thì “cả thành phố chẳng còn con Ngựa nào để họ mua hoặc thuê nữa,” và khi ấy, cổng thành đã đóng và tất cả mọi người bị mắc kẹt. Ai cũng cư xử tệ hại, nhưng những kẻ giàu sang là tệ hại nhất. Lão hàng thịt từ chối trao thịt tận tay cho nàng đầu bếp; cô phải tự tay lấy nó khỏi móc. Và ông ta cũng từ chối chạm tay vào tờ tiền; cô phải thả những đồng xu vào cái xô chứa đầy dấm. Nhớ lấy điều này nếu bạn lỡ hết nước rửa tay nhé.

“Trên Gương Mặt ai cũng chỉ có bi thương và sầu đau,” Dafoe viết. Việc chính quyền cấm cản in ấn những cuốn sách đáng sợ hóa ra vô dụng, bởi đâu đâu cũng là nỗi kinh hoàng. Ai cũng có thể đọc thấy thống kê tử vong hàng tuần, hay đếm những xác người chất đầy trên lối đi. Ai cũng có thể đọc những sắc lệnh của thị trưởng: “Nếu bất cứ Ai từng tiếp xúc với Người bị nhiễm bệnh, hay – bất chấp lệnh cấm – tự ý bước chân vào Căn Nhà đã bị nhiễm: Căn Nhà mà anh ta đang sinh sống sẽ bị phong tỏa.” Và ai cũng có để đọc dấu hiệu trên cửa ra vào của căn nhà bị nhiễm, được lính tuần canh gác, mỗi cánh cửa được đánh dấu bởi chữ thập dài ba mươi centimet, phía trên là dòng chữ in khổ to để thấy được từ khoảng cách xa, “Cầu Xin Chúa Nhân Từ.”

Việc đọc là hành vi truyền nhiễm, là cày bừa lên não bộ: sách có khả năng “gây nhiễm,” nói theo cả phạm trù trừu tượng và vi sinh học. Vào thế kỷ XVIII, khi thuyền trưởng tàu cập bến, họ phải cam kết đã khử trùng tàu bằng cách thề trên Kinh Thánh (đã được nhúng vào nước biển). Trong thời kỳ bệnh lao gây hoang mang dư luận, thư viện công cộng hun khói sách bằng cách niêm phong chúng vào thùng thép chứa đầy khí formaldehyde. Những ngày này, bạn có thể tìm kiếm hướng dẫn khử trùng sách qua bài viết của thủ thư trên Reddit. Phương pháp tốt nhất dường như là dùng khăn lau thấm cồn biến tính hoặc chai phun sương khử trùng nhà bếp; tuy nhiên, nếu bạn cho sách vào lò nướng ở nhiệt độ bảy mươi độ C (khoảng một trăm sáu mươi độ F), thì bạn còn có thể diệt cả bọ giường nữa. (“Đừng có làm hư sách chứ!”) Hay, như những gì đang diễn ra trong giai đoạn đóng cửa do virus Corona, thủ thư chỉ việc tạm ngưng hoạt động thư viện.

Nhưng dĩ nhiên, sách đồng thời là sự xoa dịu và giải khuây. Trong những thế kỷ dài khi Cái Chết Đen đang tàn phá châu Âu, những người cách ly (nếu họ may mắn sở hữu sách) sẽ dành thời gian đọc chúng. Nếu không, và nếu họ đủ khỏe mạnh, họ sẽ kể chuyện. Trong tác phẩm Decameron của Giovanni Boccaccio, viết vào thế kỷ XIV, bảy người phụ nữ và ba người đàn ông thay phiên kể chuyện trong mười ngày trốn tránh khỏi Cái Chết Đen, thứ “Bệnh Độc tử vong cuối cùng làm tổn thương bất cứ ai lỡ mắc phải,” một dịch bệnh khét tiếng đến mức Boccaccio cầu xin độc giả đừng phán xét rằng chỉ cầm sách thôi cũng thấy tởm lợm: “Tôi mong rằng nó không quá kinh khiếp với bạn, sẽ không cản trở quá trình đọc của các bạn.”

Văn chương về dịch bệnh rất hèn mạt. Dịch bệnh giống như phẫu thuật mở thùy não. Nó cắt bỏ những địa hạt cao cấp, những khả năng cao quý nhất của loài người, và chỉ để lại phần con. Trong tác phẩm The Last Man (tạm dịch Người sống sót cuối cùng) ra đời năm 1826, sau khi một căn bệnh đã tàn phá thế giới, Mary Shelley viết, “Vĩnh biệt sức mạnh phi thường của loài người. Vĩnh biệt nghệ thuật, và tu từ.” Mỗi câu chuyện về đại dịch là một câu chuyện về việc đánh mất ngôn từ, khi ngôn ngữ hóa vô dụng và con người thành dã thú.

Nhưng như vậy, sự tồn tại của sách, dù câu chuyện trong đó có tăm tối như thế nào, bản thân nó cũng là một dấu hiệu, một bằng chứng rằng nhân tính sẽ bền bỉ chịu đựng thông qua chính hành vi đọc truyền nhiễm. Việc đọc có lẽ là bệnh nhiễm, tâm trí của người viết thấm vào tâm trí của người đọc, không ngừng được. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là – với bản chất gần gũi được đón nhận, một dạng gần gũi mà nếu theo cách thức khác thì sẽ tuyệt đối bị cấm trong thời kỳ bệnh dịch – một liều thuốc giải, đã được chứng minh, bất bại và tinh tế.

*

Những câu chuyện về dịch bệnh bao hàm mọi sắc thái, từ Oedepus Rex đến Angels in America (tạm dịch Những thiên thần trên đất Mỹ). Một người đàn ông mù đã nói với Oedipus, “Ngươi chính là bệnh.” Nhân vật Tony Kushner nói, “Năm nay là năm 1986 và hiện có một cơn dịch, nhiều người bạn trẻ hơn tôi đã chết, và tôi chỉ mới ba mươi.” Ở đâu cũng từng có dịch, từ Thebes đến New York, tồi tệ và rùng rợn, nhưng chưa bao giờ có một dịch bệnh bùng phát ở khắp mọi nơi, cho đến khi Mary Shelley quyết định đặt bút viết tác phẩm tiếp theo, tiếp nối Frankenstein.

Người sống sót cuối cùng, đặt trong bối cảnh thế kỷ XXI, là tác phẩm lớn đầu tiên giới thiệu viễn cảnh loài người bị diệt chủng bởi đại dịch toàn cầu. Shelley xuất bản sách vào tuổi hai mươi chín, sau cái chết của hầu hết người thân, để lại cho cô, theo như cô nói, “di vật cuối cùng của một chủng tộc được trân trọng, những người bạn đồng hành của tôi, tuyệt diệt trước tôi.” Người kể chuyện trong sách xuất thân là người chăn cừu nghèo khổ và thất học: con người man rợ, bạo lực và coi thường pháp luật, thậm chí quái vật. Khi anh được một nhà quý tộc bồi dưỡng và mở cánh cửa đến sự học – “Một tình yêu tha thiết dành cho tri thức… khiến tôi dành ngày và đêm để đọc và học” – anh đã được nâng tầm nhờ sự Khai Sáng và trở thành một học giả, một người bảo vệ tự do, người ủng hộ chính phủ, một công dân của thế giới.

Và rồi, năm 2092, dịch bệnh ập tới, đầu tiên phá hủy Constantinople. Từng năm từng năm một, mầm bệnh biến mất mỗi mùa đông và tái xuất khi xuân đến, càng ngày càng tàn bạo, càng ngày càng rộng khắp. Nó đặt chân qua rặng núi, nó lan tỏa khắp đại dương. Mặt trời mọc, đen đặc: một dấu hiệu của sự diệt vong. “Qua châu Á, qua bờ sông Nile đến bờ biển Caspian, từ Hellespont đến cả biển Oman, sự hoảng loạn đột ngột lan truyền,” Shelley viết. “Đàn ông chen chật giáo đường; phụ nữ, mặt che mạng, nhanh chân đến hầm mộ, dâng lễ vật cho người chết để cầu xin an lành cho người sống.” Bản chất của căn bệnh này mãi mãi là bí ẩn. “Người ta gọi nó là bệnh dịch. Nhưng câu hỏi quan trọng vẫn chưa có lời đáp là vì sao bệnh dịch này được sinh ra và lan truyền.” Không nắm được cơ chế của căn bệnh nhưng tràn đầy lòng tin sai lầm, chính quyền hành động chần chừ. “Anh Quốc vẫn an toàn. Pháp, Đức, Italy và Tây Ban Nha đã bị phong tỏa, những bức tường canh giữ giữa ta và dịch bệnh vẫn chưa xuất hiện lỗ hổng.” Và sau đó là báo cáo của hàng loạt quốc gia, bị tàn phá và dân số sụt giảm. “Những thành phố lớn ở Hoa Kỳ, những đồng bằng màu mỡ ở Hindostan, những ngôi nhà đông đúc tại Trung Hoa, nay có nguy cơ thành bình địa.” Những con người run sợ cầu cứu lịch sử quá trễ, và tìm thấy trong trang sử, kể cả Decameron, bài học sai lầm: “Chúng ta hãy để tâm đến dịch bệnh năm 1348, khi người ta tính toán rằng một phần ba dân số thế giới đã bị diệt vong. Đến giờ Tây Âu vẫn không bị ảnh hưởng; có phải lúc nào cũng thế?” Không, không phải lúc nào cũng thế. Cuối cùng, dịch bệnh đã đến Anh Quốc, và đến lúc này những người khỏe mạnh đã không còn đâu để chạy trốn, bởi vì, trong dấu chấm kinh hoàng cuối cùng của nạn dịch, “chẳng còn nơi đâu để lưu vong nữa”: “Cả thế giới đều nhiễm bệnh!”

Nếu trong Frankenstein, Shelley tưởng tượng sự ra đời của con người nhờ chắp nối những bộ phận cơ thể, thì trong Người sống sót cuối cùng, cô tưởng tượng sự cắt rời của cả nền văn minh. Từng cái chết một, từng quốc gia một, loài người xuống dốc, từng bậc thang một, trượt dài trên cái thang xưa kia ta từng xây dựng và leo lên. Người kể chuyện của Shelley, người chăn cừu một thuở, là kẻ chứng kiến sự diệt vong và sự ruồng bỏ “phục sức của nhân tính” từng một thời tô điểm cho bản thân trần trụi của anh: luật pháp, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, chính quyền dân chủ (“Chẳng còn quốc gia nào nữa!”), tự do, thương mại, văn học, âm nhạc, sân khấu, công nghiệp, giao thông, truyền thông, nông nghiệp. “Đầu óc của ta, trước kia đã mở rộng nhờ vô số địa hạt và vô vàn tổ hợp suy nghĩ, nay trốn sau thành lũy của bức tường xác thịt, chỉ duy nhất mong được bảo vệ sự an nguy của bản thân.” Và khi dịch bệnh phá hủy hành tinh, số người hiếm hoi sống sót hạ mình thành bộ lạc chiến tranh liên miên, mãi đến khi duy nhất một người, người kể chuyện của ta, còn sót lại, một lần nữa tái sinh dưới hình dạng kẻ chăn cừu. Lang thang giữa những đổ nát của thành Rome, anh bước chân vào ngôi nhà của một văn nhân và tìm thấy bản thảo trên bàn ông: “Nó chứa đựng luận văn uyên thâm về ngôn ngữ của nước Ý.” Cuốn sách cuối cùng là bản nghiên cứu ngôn ngữ, thứ phục sức đầu tiên của nhân tính. Và người kể chuyện của ta sẽ làm gì, khi chỉ còn mình anh trên thế gian này? “Tôi cũng sẽ viết một cuốn sách, tôi òa khóc – vì liệu còn ai có thể đọc nó nữa?” Anh gọi nó là “Lịch sử về người sống sót cuối cùng” và dành tặng nó cho những người đã khuất. Cuốn sách này không có độc giả. Dĩ nhiên, ngoại trừ những độc giả của Người sống sót cuối cùng.

*

Giấc mộng vĩ đại của thời kỳ Khai Sáng là sự tiến bộ; nỗi sợ cường đại của đại dịch là sự thoái trào. Nhưng trong văn học Mỹ, những tàn phá như trên thường đi kèm với bước ngoặt dân chủ: dịch bệnh chỉ là đòn san bằng cuối cùng. Câu chuyện của Edgar Allan Poe vào năm 1842, The Masque of the Red Death (tạm dịch Vũ hội của Cái Chết Đỏ) được đặt trong thời đại trung cổ, khi căn bệnh truyền nhiễm gây tử vong tức thì đang gieo tai họa ở khắp mọi nơi. “Có những cơn đau bén nhọn, tiếp đến là chóng mặt đột ngột, và sau đó xuất huyết tuôn trào qua lỗ chân lông, cùng phân hủy,” Poe viết. “Sắc đỏ tươi nhuộm màu thân thể và gương mặt nạn nhân chính là lời nguyền rủa khốn cùng ngăn anh ta nhận được sự cứu chữa và thương cảm từ đồng bào.” Đặc biệt, người giàu chẳng có mấy thương cảm dành cho kẻ nghèo. (Cũng không phải không liên quan, khi người cha dượng giàu có của Poe đã ngừng trao tiền chu cấp, làm ông trở nên khố rách áo ôm và vợ ông mất vì bệnh lao phổi.) Vị hoàng tử hống hách và những nhà quý tộc và những vị phu nhân rút lui về “chốn ẩn dật thâm sâu tại một trong những lâu đài tu viện,” nơi họ đắm chìm trong sự xa xỉ suy đồi, cho đến một đêm nọ, trong vũ hội hóa trang, một bóng người mang mặt nạ tham dự, chiếc mặt nạ “được chế tác để mô phỏng gương mặt của cái xác khô cứng, thậm chí quan sát kĩ cũng khó lòng phân biệt được.” Người tham dự này chính là Cái Chết Đỏ. Tất cả mọi người trong lâu đài chết trong đêm. Quý tộc không thể trốn thoát khỏi những điều mà người nghèo phải chịu đựng.

Cái chết đỏ của Poe nay trở thành đại dịch trong tiểu thuyết The Scarlet Plague (tạm dịch Dịch bệnh màu đỏ) của Jack London, đăng dài kỳ năm 1912. Căn bệnh khá giống nhau: “Cả gương mặt và cơ thể hóa đỏ tươi sau một tiếng nhiễm bệnh.” Căn bệnh xuất hiện năm 2013 và xóa sạch phần lớn dân số, người thượng lưu và thấp kém, quốc gia hùng cường và yếu ớt, mọi ngóc ngách của địa cầu, và những người sống sót nay bình đẳng trong tình trạng khốn khó và mất tư cách công dân. Một trong số ít ỏi người sống sót từng là học giả của Đại học California, Berkeley, một giáo sư văn chương Anh. Khi dịch bệnh bùng phát, ông đã trốn trong tòa nhà khoa hóa và trở nên miễn dịch. Trong nhiều năm, ông sống một mình tại một khách sạn cũ ở Yosemite, hưởng thụ số lượng đồ hộp dự trữ, cho đến khi ông rời đi và tham dự một nhóm nhạc nhỏ mang tên “Những anh tài xế,” trưởng nhóm là một kẻ cục súc từng là tài xế, và thậm chí ông còn lấy được vợ. Thời điểm tiểu thuyết bắt đầu, vào năm 2073, giáo sư nay đã là một ông lão, một người chăn cừu, tấm áo trên người làm từ da thú – “trên ngực và vai treo duy nhất một mảnh da cừu dơ hầy” – và sống như một con thú. Ông kể lại câu chuyện về dịch bệnh màu đỏ cho những cậu cháu trai, những cậu bé “nói chuyện bằng từ đơn tiết và câu ngắn ngắt quãng, nghe như âm thanh vô nghĩa hơn là ngôn ngữ,” nhưng chúng sử dụng cung tên rất thành thạo. Sự hoang dã của chúng khiến giáo sư khổ sở; ông thở dài và nhìn ra khoảng không từng là San Francisco: “Nơi bốn triệu người từng vui sống, hôm nay sói hoang ngự trị, và đám con cháu man rợ được sinh ra nay phải tự bảo vệ mình khỏi nanh vuốt kẻ thù bằng thứ vũ khí thời tiền sử. Nghĩ mà xem! Tất cả chỉ vì Cái Chết Đỏ.”

Jack London đã mượn tạm cái chết đỏ từ Poe và lấy cốt truyện từ Người sống sót cuối cùng – ngoại trừ, luận điểm của London về quá trình suy tàn và sụp đổ của loài người kém tinh tế hơn của Shelley rất nhiều. “Số phận của loài người tất sẽ chìm sâu, sâu hơn nữa vào đêm ban sơ trước khi, một lần nữa, ta có thể bước những bước đầy máu trên nấc thang tiến đến sự văn minh,” giáo sư giải thích. Với London, không phải động cơ tiến bộ về mặt đạo đức của thời kỳ Khai Sáng, chính chủ nghĩa tư bản công nghiệp và chủ nghĩa đế quốc mới là động lực để con người từ tàn bạo hóa văn minh, từ khan hiếm đến dư dả. Sự xuống dốc của loài người, với London, là sự xuống cấp vào đêm tối mông muội đặc trưng: cháu trai của giáo sư có “nước da nâu.” Trước khi dịch bệnh đến, tầng lớp tư bản và người ủng hộ chủ nghĩa đế quốc đã tích trữ được gia tài khổng lồ. “Tiền là gì?” những cậu bé hỏi ông nội mình khi ông sử dụng từ này để mô tả một đồng xu họ tìm thấy, đúc năm 2012. (“Đôi mắt của ông lão lấp loáng ánh nước khi ông cầm đồng xu.”) Tất cả những thứ này – màu da trắng, gia tài – đã mất rồi! Sự khổ sở lớn lao nhất của giáo sư liên quan đến việc vị cựu tài xế ép cưới vợ cũ của một trùm tư bản: “Nàng đứng đó, Vesta Van Warden, cô vợ trẻ của John Van Warden, áo quần rách nát, đôi tay chai sạn với những vết xước và sẹo, cúi đầu trước ngọn lửa và làm cái việc rửa bát – nàng, Vesta, người được sinh ra trong nhung lụa, trong hàng tước sang giàu nhất mà thế giới từng thấy.” Khổ sở tương đương là khi người da trắng đã chinh phục thành công mọi lục địa, nay cuối cùng đã đánh mất cả phía Đông và phía Tây. Giáo sư cố gắng giải thích cho những đứa cháu hoang dã về sự suy tàn của thành phố nước Mỹ, những thành phố mà kết cục ông đã biết được trong những ngày đầu đại dịch xuất hiện, khi tin tức có thể đến California từ đầu bên kia của đất nước, trước khi nhân viên điều khiển điện báo cuối cùng qua đời:

“Thành phố New York và Chicago trong cơn hỗn loạn… Một phần ba cảnh sát New York đã chết. Cảnh sát trưởng cũng đã chết, thị trưởng cũng thế. Pháp luật và trật tự đã ngừng hoạt động. Xác người nằm trên phố, chưa kịp chôn. Đường tàu hỏa và tàu thủy chuyên chở thực phẩm và những thứ tương tự vào thành phố đã ngừng hoạt động, và những nhóm người đói khổ đã cướp bóc cửa hàng và nhà kho. Ở đâu cũng tồn tại giết người, cướp của và say xỉn. Hàng triệu người đã bỏ chạy khỏi thành phố – đầu tiên là người giàu trong xe hơi và khinh khí cầu, sau đó là đám đông dân cư, đi bộ, mang theo mầm bệnh trong mình, bản thân dần chết đói và cướp bóc nông dân và thị trấn và làng mạc trên đường họ đi.”

Tất cả những thành phố đã hóa tro. Kể cả khinh khí cầu của người giàu cũng nổ thành hoa lửa, thế giới nay trở thành Hindenburg.

Dịch bệnh màu đỏ, xuất bản ngay trước Thế chiến thứ nhất, đồng thời cảnh báo về chi phí của chiến tranh thế giới, thậm chí là chi phí của việc sống. “Cách đây lâu lắm rồi, khi chỉ có một vài người trên thế giới, có rất ít dịch bệnh,” giáo sư giải thích. “Nhưng khi dân số tăng lên và mọi người sống gần nhau trong những siêu đô thị và khu văn minh, những căn bệnh mới xuất hiện, những loại vi trùng mới xâm nhập cơ thể. Vì thế, hàng triệu người hàng tỉ người bị giết chết. Và khi người càng bị dồn ép gần nhau hơn, những căn bệnh mới càng có hậu quả khủng khiếp hơn.” Cháu trai của ông chẳng thể hiểu những điều này. “Điều tra dân số năm 2010 đã thống kê thế giới có tám tỉ người,” ông nói. Chúng không hề tin ông, và không hề biết khái niệm một tỉ người là gì, hay là điều tra dân số, hay là thế giới.

Giáo sư nói, “Mười nghìn năm văn hóa và văn minh biến mất trong chớp mắt.” Ông quyết định cống hiến đời mình để trở thành một thủ thư, người lưu trữ mười nghìn năm ấy. Trong một hang động trên Đồi Telegraph, ông cất giữ tất cả những cuốn sách ông tìm được, mặc dù ông là người duy nhất biết đọc còn sống. “Trong đó là những trí tuệ to lớn,” ông giảng giải cho cháu mình trong chương cuối cuốn sách, bảo rằng ông cũng để lại bảng chữ cái. “Một ngày nào đó loài người sẽ một lần nữa học cách đọc,” ông thề. Chúng chẳng hiểu ông đang nói cái gì. Thế nhưng, độc giả của Dịch bệnh màu đỏ hiểu.

*

Cấu trúc của những tiểu thuyết hiện đại viết về dịch bệnh đều là biến thể của Nhật ký năm dịch hạch (một câu chuyện viết trong bốn bức tường cách ly) hoặc Người sống sót cuối cùng (một câu chuyện lấy bối cảnh trong một nhóm người rách rưới sống sót). Mặc dù bị giới hạn trong hai cấu trúc này, phạm vi kể chuyện vẫn rất rộng, và cùng với đó là phạm vi cho luân thường đạo đức, tranh luận lịch sử, suy ngẫm triết học. Mỗi tiểu thuyết dịch bệnh là một ngụ ngôn.

Albert Camus từng định nghĩa tiểu thuyết là nơi để con người bị bỏ lại trong tay những con người khác. Còn tiểu thuyết dịch bệnh là nơi con người bỏ mặc những người còn lại. Không giống như những hình thái hư cấu bàn về tận thế khác, khi kẻ thù là hóa chất hay núi lửa hay động đất hay những kẻ xâm lăng từ vũ trụ, kẻ thù ở đây là chính là loài người: cái chạm tay của người khác, hơi thở từ người khác, và – rất thường gặp – trong sự cạnh tranh lấy nguồn tài nguyên đang sụt giảm – kẻ thù đơn giản chỉ là sự tồn tại của người khác.

Camus, trong cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1947 The Plague (Dịch hạch), đặt bối cảnh câu chuyện trong bức tường phong tỏa của thị trấn Pháp-Algeria trong Thế chiến thứ hai (năm trong sách là 194-). Với những điềm báo, tiên tri và những con tốt thí, đây hoàn toàn có thể là London năm 1665. Ban đầu, bác sĩ Bernard Rieux cùng với nhiều người khác không nhận ra những dấu hiệu cảnh báo. (Tiểu thuyết cố ý viết từ sổ tay của Rieux, nhật ký năm dịch hạch của ông.) Ông chứng kiến cảnh một con chuột ngả nghiêng trước cửa nhà mình:

“Chúng di chuyển nhát gừng, bộ lông ướt nhèm nhẹp. Con vật ngừng lại và cố gắng lấy lại thăng bằng, một lần nữa cố di chuyển về phía bác sĩ, rồi lại ngừng, rồi quay một vòng với tiếng rít nho nhỏ và ngã sang một bên. Miệng nó hé mở và máu đang trào ra từ đó. Sau khi quan sát nó một lúc, bác sĩ đi lên lầu.”

Chuột thoát ra từ tầng hầm và chết trên đường, chất thành đống. Thế nhưng, bác sĩ và người dân chẳng có hành động nào, mãi đến khi có người chết đầu tiên, một người khuân vác. Và sau đó là hối hận: “Nhìn nhận lại những giai đoạn đầu tiên sau khi đã biết những sự kiện sau đó, người dân thị trấn tôi hiểu rằng họ chưa bao giờ mơ đến việc thị trấn này được chọn là nơi diễn ra một sự kiện quá sức gớm guốc, khi chuột chết hàng loạt giữa ban ngày hay cái chết của phu khuân vác vì căn bệnh ngoại lai.”

Sau đó, người đọc được biết, “cả thành phố đang trải qua một cơn sốt cao.” Số lượng ca nhiễm tăng lên, rồi tăng vọt. Mười một cái chết trong bốn mươi tám tiếng, và hơn thế. Ủy ban sức khỏe của chính quyền muốn trốn tránh việc sử dụng từ “dịch hạch,” nhưng nếu từ này không được sử dụng thì thông báo khẩn cấp không thể được ban hành. Thông báo được đăng lên, nhưng chỉ ở những nơi hẻo lánh, cỡ chữ rất nhỏ, và như những gì bác sĩ quan sát, “rất khó để tìm thấy dấu hiệu rằng chính quyền đang thẳng thắn đối mặt với tình huống.” Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, khi ba mươi người chết trong một ngày duy nhất, chính quyền áp dụng luật “diệt chuột” và đóng cửa thị trấn.

Dịch bệnh, dĩ nhiên, là virus của Phát-xít. Không ai trong thị trấn để tâm đến chuột cho đến khi đã quá muộn – mặc dù dịch bệnh “chối bỏ tương lai, bãi bỏ các chuyến đi, bóp nghẹt sự trao đổi thông tin”. Đây chính là sự dại dột của họ: “Họ nghĩ rằng mình tự do, nhưng chẳng ai có thể tự do khi bệnh tật gần kề.”

Dịch hạch không kể lại tiến trình của một đại dịch toàn cầu theo lý giải rằng căn bệnh chưa bao giờ vượt qua phạm vi thị trấn, nhưng dịch bệnh của Camus là một dịch bệnh không có điểm dứt. Nhưng thông qua ghi chép lịch sử, Rieux biết rằng chỉ duy nhất một căn bệnh trong lịch sử loài người có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác, vượt qua thời gian, từ “thị trấn Trung Hoa dồn nén nạn nhân chịu thống khổ trong câm lặng” đến những những “ổ rơm ẩm ướt, thối rữa dính bết trên nền đất bùn tại những trại hủi ở Constantinople, nơi bệnh nhân được dựng thẳng người dậy trên giường bệnh bằng móc câu,” đến “những xe chất đầy xác người lục đục đi qua đêm tối quỷ ám London – ngày và đêm, nơi và nơi chỉ độc lấp đầy bằng tiếng khóc không dứt của nỗi đau nhân loại.” Sau đó đến đâu? Auschwitz, Dachau, Buchenwald. Dịch bệnh ấy chính là con người.

Bị giày vò bởi phát hiện trên, Rieux, lúc này bị nhốt trong một nhà thương điên, đau khổ do sự cô độc tận cùng, do sự ghét bỏ và tàn bạo của xã hội hiện đại:

“Đôi khi vào nửa đêm, khi thị trấn đã chìm vào giấc ngủ say thinh lặng, bác sĩ bật radio trước khi lên giường, chuẩn bị cho giấc ngủ kéo dài vài tiếng đồng hồ được bản thân cho phép. Và từ tận cùng thế giới, vượt qua hàng ngàn dặm đất liền và biển cả, những phát thanh viên ân cần, thiện chí cố gắng nói lên trăn trở của đồng bạn loài người, và đúng là thế, nhưng cũng đồng thời chứng minh sự bất lực lớn lao của con người khi đứng trước việc sẻ chia những gánh nặng khổ đau mà anh ta không thể chứng kiến.”

Với những người bị cách biệt, không có khái nghiệm thế giới: “dịch bệnh đã nuốt chửng mọi người và mọi thứ.” Họ được cứu vớt vào phút cuối cùng bởi một loại serum, và thị trấn vỡ òa trong sự ăn mừng hoan hỉ. Trong lời kết tiểu thuyết, bác sĩ nghĩ về những gì ông đọc được. “Ông biết rằng đám đông hồ hởi ngoài kia không biết nhưng có thể học được từ cuốn sách: rằng dịch khuẩn que không bao giờ bị tiêu diệt hoặc biến mất hoàn toàn… và ngày nào đó, cái ngày mà nó sẽ khuấy động những con chuột và tiễn chúng đi chết tại một thành phố vui tươi, sẽ lại đến.” Con người luôn luôn, một lần nữa, trở thành chuột.

Nhận xét của Camus về “sự bất lực lớn lao của con người khi đứng trước việc sẻ chia những gánh nặng khổ đau mà anh ta không thể chứng kiến” là chủ đề của cuốn tiểu thuyết xuất sắc Mù lòa của José Saramago, đã tái tưởng tượng câu chuyện dịch bệnh, lấy bối cảnh năm 1995, về một bác sĩ nhãn khoa khá giống Defoe và một căn bệnh biến loài người thành động vật khi tước đoạt thị giác. Như một ngụ ngôn lịch sử, Mù lòa là bản cáo trạng thể chế độc tài thế kỷ XX: sự dồn ép những người yếu nhược vào bệnh viện và nhà tù, sự tàn nhẫn của giới cầm quyền vũ trang. Khi căn bệnh ập đến, chính quyền tập trung người mù lại và khóa nhốt họ trong bệnh viện tâm thần, nơi đó, trong tình cảnh mù lòa, họ xung đột với nhau. Họ trộm cắp, họ cưỡng hiếp. “Người mù lúc nào cũng trong trận chiến, đã luôn luôn ở trong trận chiến,” Saramago viết, trong những chiêm nghiệm u ám nhất của tiểu thuyết.

Nhưng Mù lòa đen tối hơn những bài học lịch sử thực tế rất nhiều. Với Saramago, mù không phải là bệnh; mù lòa là một bản chất con người. Trong tiểu thuyết, chỉ có duy nhất một người có khả năng nhìn. Cô đọc sách cho người mù, và điều này với họ vừa thiên đường vừa là phiền nhiễu: “Đây là những gì ta có thể làm, lắng nghe ai đó đọc cho ta câu chuyện về một lớp người tồn tại trước ta.” Và đó, trong những cuốn tiểu thuyết hiện đại về dịch bệnh, là mối nguy cuối cùng của dịch bệnh tận thế: sự biến mất của tri thức mà hành động đọc là liều thuốc chữa duy nhất. Đây chính là điều vị bác sĩ nhãn khoa của Saramago nhận ra, ngay khoảnh khắc ông đánh mất thị lực của mình trước khi căn bệnh được xác định: ý thức về sự quý giá, vẻ đẹp và sự mong manh của tri thức. Bối rối trước một ca bệnh tại phòng khám, khi bệnh nhân đột nhiên bị mù và tất cả những gì anh ta thấy không phải là màu đen mà là một màu trắng đục như sữa – vị bác sĩ nhãn khoa trở về nhà, và sau bữa tối, tham khảo những cuốn sách trong thư viện cá nhân. “Đêm hôm ấy, ông đặt cuốn sách đang nghiên cứu sang một bên, dụi đôi mắt mệt mỏi và tựa lưng vào ghế,” Saramago viết. Ông quyết định hẳn mình nên đi ngủ. “Nó diễn ra một phút khi ông đang gom gọn những cuốn sách để trả về chỗ cũ trong thư viện. Đầu tiên, ông nhận thức mình không nhìn thấy bàn tay mình, và sau đó, ông biết mình đã mù.”

Tất cả mọi thứ đã hóa trắng xóa. Như một trang giấy trắng.

Hết.

Mèo Heo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jill Lepore, đăng tại The New Yorker

Ảnh đầu bài: Karolis Strautniekas


Bài viết có thể bạn sẽ thích




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng