Giới thiệu sách

Để hiểu vì sao Charles Dickens là một tên tuổi vĩ đại, chắc chắn hãy đọc “Hai Kinh Thành”

Người ta nói cứ mười người Anh Quốc biết đọc thì có một người đọc Charles Dickens và kể lại cho chín người khác cùng nghe.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Có lẽ không quá khi nhận xét rằng “nhà văn quốc dân” Charles Dickens chính là tiểu thuyết gia Anh nổi tiếng nhất mọi thời đại. Một bộ óc thiên tài, nỗ lực sáng tác miệt mài, nhiệt tâm với công chúng, lòng nhân ái bao la, tất cả đã hợp lực để đưa ông trở thành một hiện tượng văn chương sánh cùng thời đại. Trong số những tác phẩm để lại ảnh hưởng sâu rộng như Oliver Twist (1837), A Chrismas Carol (1843), Great Expectations (1861)… thì Hai Kinh Thành (A Tale of Two Cities1859) chính là tiểu thuyết mà nhà văn tự nhận hay nhất mình từng chắp bút. Đặt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Pháp và Thời kỳ Khủng bố (Reign of Terror) cuối thế kỷ 18 loạn lạc, Hai Kinh Thành đã hé lộ những góc khuất nhập nhằng giữa lý tưởng ái quốc và lòng hận thù mù quáng, khám phá những mưu mô hận thù cộng sinh cùng tình yêu lý tưởng.

Charles Dickens sinh ra tại miền quê Portsmouth năm 1812 trong một gia đình tám anh chị em tương đối khá giả. Tuy nhiên lên mười hai tuổi, ông bị gửi vào công xưởng đóng giày sau khi cha ông bị giam giữ vì nợ nần chồng chất. Điều kiện lao động khổ nhọc, cộng thêm thái độ hờ hững từ phía cha mẹ đã khắc sâu những năm tháng đen tối trong tâm trí cậu bé non nớt: “Không gì có thể diễn tả nỗi khổ tâm thầm kín của tôi… cảm giác bị bỏ mặc và tuyệt vọng hoàn toàn; nỗi nhục nhã tôi cảm thấy khi ở vị trí ấy… Toàn bộ bản tính của tôi bị sầu đau và bẽ bàng xuyên thủng.” Tuy vậy chính khoảng thời gian đó đã mài giũa trong ông một lòng bền gan trì chí, với “ý thức rằng mọi sự đều khả thi bằng quyết tâm bền bỉ”; đồng thời làm nảy sinh những quan điểm sắc sảo về công bình và cải cách xã hội, xương sống cho văn nghiệp của ông sau này.

Khởi nghiệp với nghề viết báo, Charles Dickens đã có cơ hội xuất bản các tiểu thuyết đầu tay của mình dưới dạng nhiều kỳ trên tạp chí khi ông hơn hai mươi tuổi. Hoạt động phát hành này đã giúp ông tiếp cận một lượng độc giả lớn chưa từng thấy – đưa lại khả năng tác động và truyền cảm hứng mạnh mẽ không ai sánh bằng. Về phương diện này, ông không đơn thuần là một nhà văn mà còn trở thành một nhân vật công chúng. Các tiểu thuyết của Dickens khéo léo đáp ứng thị hiếu đa dạng của độc giả, liên tục được tái dựng cốt truyện và nhân vật theo tâm tư phản hồi của người đọc. Không mưu cầu ngược dòng, phá cách, ông là người “chiều chuộng đám đông”; ấy thế mà trong tất cả những tác gia Anh Charles Dickens vẫn được mệnh danh là “the inimitable – người không thể bắt chước.”

Không phải ngoại lệ, Hai Kinh Thành cũng được in thành từng hồi trên tuần san All The Year Round do Dickens chủ biên trong vòng nhiều tháng. Xoay quanh số phận của hai cha con bác sĩ Manette gắn liền với hai người đàn ông Sydney Carton và Charles Darnay trải dài khắp London và Paris cuối thế kỷ 18, Hai Kinh Thành là một thiên truyện tuy đồ sộ nhưng có tốc độ dồn dập, kịch tính, cấu thành bởi liên tiếp các biến cố. Bằng việc phát hành dàn trải, nhà văn có cơ hội lắng nghe và tiếp thu cảm nhận của thời cuộc, cho phép độc giả có tiếng nói đối với diễn tiến câu chuyện. Như tác giả John Forster của cuốn tiểu sử The Life of Charles Dickens đã nhận xét: “Dickens cho các nhân vật của ông sự sống, không phải bằng cách miêu tả họ mà cho phép họ miêu tả chính mình.”

Để tăng độ đáng tin cậy cho cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ hai từng sáng tác, Charles Dickens chủ yếu tham chiếu trên tác phẩm The French Revolution: A history của nhà sử học Thomas Carlyle, người có tầm quan trọng rất lớn đối với các diễn biến lịch sử thực tế và tạo hình nhân vật trong Hai Kinh Thành; cũng như tham khảo “hai thùng các tông sách từ Thư viện London.” Cùng với bàn tay tạo tác thiên tài, cuộc Cách mạng Pháp hiện lên dưới ngòi bút Charles Dickens thật sống động như ghim thẳng vào tâm trí người đọc. Ai có thể quên cảnh lầm than của khu phố Saint Antoine: “Ở mọi góc đường, ra vào mọi ngưỡng cửa, đứng trong mọi cửa sổ, quấn mình bằng mọi thứ áo xống rách rưới phần phật trong gió, là những con người đã bị xay nghiền, tán nhừ trong cỗ máy bần cùng. Cái cỗ máy đã nhào nặn họ là cỗ máy biến người trẻ thành già; lũ nhi đồng có bộ mặt lão niên và giọng nói nghiêm trọng; và trên mọi gương mặt trẻ con lẫn người lớn, hằn sâu trên những nếp nhăn tuổi tác, đều lồ lộ một dấu hiệu: Đói.”

Trái ngược với nỗi bần cùng này là sự xa hoa ngạo ngược của giới quý tộc. Chúa công Monseigneur không thể uống sô-cô-la cho trôi họng nếu không có sự trợ giúp của bốn người hầu. Đám bác sĩ làm giàu nhờ kê đủ thứ thuốc đắt giá cho những căn bệnh tưởng tượng không hề có thật.  Đám quân sư mách nước không phát minh được giải pháp làm việc nghiêm túc để tiệt trừ một căn nguyên nào trong những chuyện nan giải của quốc gia.  Đám triết gia vô đạo muốn cải tổ thế giới bằng mồm và dùng lá bài xây tháp chống trời tán chuyện… Đỉnh điểm là việc xe ngựa của ngài Hầu tước Marquis sau khi vô tình cán chết đứa bé một người nông dân, ngài chỉ hờ hững thảy một đồng tiền vàng và nói: “Ta rất lấy làm lạ, lũ dân chúng các ngươi không biết lo thân và lo cho con cái. Lũ bay không đứa này thì đứa khác cứ mãi cản đường ta. Không biết lũ bay có gây thương tích gì cho mấy con ngựa của ta không.”(!)

Những kẻ như Marquis đã gieo gió gặt bão, lòng hận thù sục sôi của công dân Pháp quốc đã đạt đến điểm tới hạn và kết cục là sự kiện tấn công ngục Bastille, mở màn cho cuộc trả thù cuồng loạn sôi máu hận khắp thành Paris. Nhưng chính tại thời điểm này, lòng cảm thông với giới cơ hàn của Charles Dickens đã xói mòn rất nhanh và thay vào đó là một tâm trạng bàng hoàng ghê rợn. Cái máy chém, biểu tượng của nền Cộng hòa, không một ngày nào khô máu, nó tự động hóa việc lấy mạng, rẻ rúng hóa sinh mệnh con người, nó là hiện thân chuẩn xác của cụm từ “hay là Chết” mà Dickens đã thêm vào khẩu hiệu của Nền Cộng Hòa Hợp Nhất Bất Khả Phân Ly: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, hay là Chết. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến hình tượng ám ảnh “bánh xe đá mài” dùng để mài khí giới: Bánh xe đá mài đang được quay điên cuồng bởi hai người đàn ông; vòng quay dữ dội hất ngược mái tóc dài của họ ra sau phơi bày hai bộ mặt tàn bạo và khủng khiếp hơn cả phường man di mọi rợ. Trong lúc đó mấy người đàn bà nâng cốc rượu kề môi hai tên này cho chúng uống; rượu giọt đỏ như vang, rượu giọt đỏ như huyết, thêm dòng tia lửa bắn ra từ phiến đá mài, khiến cả không gian hung ác này như tràn trề máu lửa.”

Tuổi thơ nghèo khó đã hình thành trong Charles Dickens những mầm mống đầu tiên về công bình xã hội, nhưng với ông bình đẳng không phải là luôn ủng hộ tầng lớp cơ hàn. Dickens lên án giới quý tộc tàn ngược nhưng đồng thời cũng phê phán những nhà cách mạng khát máu. Ông cảm thông với người nghèo khi bị người giàu chà đạp và ông cảm thông với người giàu vô tội khi bị người nghèo đẩy lên đoạn đầu đài: Cứ đập bẹp nhân tính một lần nữa thì lập tức nó sẽ oằn oại sinh sôi ngay dưới nhát búa trong cùng hình thù đã bị biến dạng méo mó đó. Cứ gieo xuống cũng một thứ hạt giống đặc quyền tham tàn và bạo ngược thì nhất định nó sẽ mọc ra thứ trái quả tương tự. Charles Dickens chống lại mọi hình thức áp bức ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào và ông cũng nhìn thấy trước kết cục chung quyết cho những kẻ áp bức: “tất cả rồi sẽ đều bỏ mạng dưới cỗ máy trừng phạt này trước khi nó bị loại bỏ không còn dùng tới”. Nhưng Dickens chưa bao giờ là một người yếm thế bi quan. Trong một câu chuyện bị bao trùm bởi vô vàn mảng tối, mảng tối của đêm đen, của ngục tù, của mưu hèn kế bẩn, người ta lại thấy rực rỡ hơn hết ánh sáng đến từ tấm lòng của Lucie Manette, hành động hi sinh của Sydney Carton, hay thậm chí những lời nguyện cầu nhỏ bé của bà vợ Jerry Cruncher. Tất cả những điều đó đều quý báu hơn địa vị cao sang hay lý tưởng mù quáng, vì cuộc cách mạng của tình yêu thương mới là cuộc cách mạng vĩ đại và hào hùng hơn tất thảy.

Quan trọng hơn, Charles Dickens không chỉ đơn thuần dạy chúng ta phê phán những kẻ ác tâm mà còn phải nhìn thấu những động cơ rất người ẩn sâu trong họ. Trong tuyến phản diện của Hai Kinh Thành nổi lên một nhân vật phức tạp  đa diện đầy ấn tượng mà thông qua đó Dickens đã chuyển tải thông điệp này. Là Công dân tận tụy của nền Cộng hòa, mụ vợ Defarge áp dụng kĩ thuật đan len điêu luyện để mã hóa tên của những kẻ quý tộc mà mụ muốn đưa lên máy chém. Ta dễ dàng cảm thông với người cha ám sát gã Chúa công đã cán chết con mình, thương hại bác sĩ Manette bị tống vào ngục Bastille vì dũng cảm đứng lên tố cáo hai anh em Hầu tước. Nhưng ta cũng có thể hoàn toàn thấu hiểu tham vọng cháy bỏng của mụ Defarge là xóa sổ dòng họ đã giáng họa lên gia đình mụ.Cả đời chúng ta chỉ toàn thấy chị em phụ nữ khổ sở thôi, con cái họ cũng khổ sở, toàn nghèo đói, rách rưới, đói khát, đau ốm, cơ cực, áp bức và bị bỏ mặc đủ kiểu thôi mà?” Defarge là sản phẩm và cũng là nạn nhân của bàn tay thế cuộc: thời loạn nhồi nhét vào đầu mụ đầy ý thức về sự bất công và lòng hận thù giai cấp đậm sâu, nhào nặn mụ thành loài hổ dữ sắt đá; nhưng đồng thời cũng triệt tiêu trong mụ lòng xót thương, dù là xót thương cho chính mình. Cũng vì những lý do ấy mà nhân vật này từng được bầu chọn là một trong năm tạo tác xuất sắc nhất của Charles Dickens, đồng thời cũng nằm trong số nhân vật phản diện bất hủ trong lịch sử văn học.

Tinh túy trong câu chữ, sắc bén trong hình ảnh, chan chứa trong ý nghĩa, Hai Kinh Thành là thiên truyện đau thương nhưng đầy tình người, vén màn cho bao thế hệ độc giả không chỉ những sự kiện chính trị xã hội đẫm máu mà còn cả những biến cố trọng đại của bao kiếp người phía sau. Để hiểu thêm những góc khuất của một giai đoạn lịch sử loạn lạc, hãy đọc Hai Kinh Thành; để đồng cảm cùng những kiếp người khổ nạn, hãy đọc Hai Kinh Thành; để hiểu vì sao Charles Dickens là một tên tuổi vĩ đại, chắc chắn hãy đọc Hai Kinh Thành.

Vĩnh Ngân

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng – Ngọt ngào sao những thi vị này

Published

on

By

Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy, gồm 2 phần là tản văn và truyện ngắn. Xuất bản lần đầu năm 2012, tác phẩm ngay lập tức được đón nhận và đã tái bản rất nhiều lần. Ở lần tái bản này, cuốn sách được in ấn với hình thức bìa độc đáo.

Nhẹ nhàng mở những trang sách Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng giữa lòng phố thị xô bồ, bạn sẽ bước vào một khoảng trời chứa đầy ký ức của tác giả, dù rất riêng nhưng sao thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để nhớ, để thương. Giản dị, mộc mạc, từng lời văn như thấm vào trái tim độc giả, để lại những cảm xúc đầy luyến lưu, xao xuyến. Cuốn sách mang đến cảm giác dễ chịu, khiến người ta mỉm cười, thấy ấm áp giữa những ngày mưa lạnh ướt át.

Phần tản văn kể về thuở ấu thơ của tác giả, đan xen những bài học, chiêm nghiệm mà tác giả nhận ra khi nhìn lại các kỷ niệm sau ngần ấy năm. Phần truyện ngắn xoay quanh các nhân vật do tác giả sáng tạo, chứa đựng tình yêu chớm nở trong những năm tháng đầy hoa mộng. Chúng ta như nhìn thấy hai Đặng Nguyễn Đông Vy với những nét tính cách khác biệt. Cả hai đều trong sáng và bay bổng, nhưng một bên là hồn nhiên, nghịch ngợm, một bên lại phảng phất những nỗi niềm man mác. Tuy nhiên, cả hai phần này không tách biệt, mà là một mạch cảm xúc nối liền theo quá trình trưởng thành nơi tâm hồn tác giả.

Hồi ức yên bình tuổi thơ ngây qua những dòng tản văn

Phần tản văn gồm 22 câu chuyện, phần lớn đều đan xen những kỷ niệm thuở ấu thơ của tác giả. Những câu văn mượt mà, mộc mạc, đầy xúc cảm trong trẻo, hồn nhiên, đưa ta quay lại những ngày còn bé bỏng, khi cả gia đình – ông bà, cha mẹ, anh chị em vẫn quây quần trong căn nhà cửa gỗ sơn xanh, tường tróc sơn loang lổ. Qua đôi mắt của tác giả, ta như nhìn thấy người ông móm mém, yêu thích mãng cầu bơ, người bà phúc hậu, ngồi xỏ mành ốc gạo với cháu gái nhỏ, người mẹ chăm chỉ sắp xếp đá trang trí trong vườn nhà, người cha cặm cụi quấy bột sắn thành hồ dán cho con làm thủ công.

Ta như nhìn thấy những người bạn chơi cùng lúc bé nghịch ngợm, nô đùa cùng nhau, rồi xích mích, dỗi hờn. Ta như nhìn thấy góc trường tiểu học với lũ trẻ ồn ào nhốn nháo, tranh nhau xem phim cổ tích trong chiếc hộp gỗ của ông lão hàng rong. Ta như nhìn thấy những mùa thu hoạch khoai mì rộn rã cả miền quê, những mùa Giáng Sinh tưng bừng nơi xóm đạo. Đó là những ký ức rất riêng tư của tác giả, nhưng sao lại gần gũi với tất cả chúng ta đến lạ thường.

Tác giả thổ lộ những điều thoạt đầu nghe hết sức lạ lùng, chẳng hạn như ngày bé tác giả thích nhất chính là… đi chăn bò. Tuy nhiên, khi theo từng câu chữ của cô, đặt chân lên hành trình mơ mộng đầy ắp niềm vui khi lùa bò đi ăn, ta dần ngộ ra thích đi chăn bò là điều vô cùng hợp lý. Làm sao không thích cho được khi bao bọc xung quanh là một thiên nhiên phong phú, đầy chất thơ: dế cồ than nấp dưới hòn đá, chuồn chuồn kim đậu trên ngọn cây, châu chấu hối hả nhảy khỏi mõm của lũ bò, lũ cá rô lượn lờ dưới dòng nước trong… Những ngọn gió thổi qua lớp cỏ xanh mơn mởn trên bờ đê mấp mô, những đồng lúa chín vàng trĩu hạt, những đám mạ non mướt mát… mang theo hơi thở của rơm rạ, hương sen và bùn đất. Linh hồn ta chợt như thoát khỏi thực tại, đến với đồng cỏ điểm xuyết hoa dại nhỏ xinh, hạnh phúc lao nhanh giữa đất trời với đôi bàn chân trần nóng bỏng.

Giữa những kỷ niệm ấm áp, bình yên bên gia đình, bạn bè, và những khung cảnh hồi ức vừa chân thực, vừa mơ mộng, tác giả lồng ghép vào những bài học nhân văn một cách rất tự nhiên. Đó là trận đòn đau vào mùa khoai mì năm ấy, khi ba tác giả tức giận quất roi con vì tội giễu nhại người tàn tật. Đó là chiều ba mươi tết bà nội cùng tác giả dắt nhau ghé thăm từng hộ gia đình khó khăn nằm sâu trong phía núi, tặng cả người lớn lẫn trẻ con những đòn bánh tét xinh xinh. Đó là tinh thần làm ăn chăm chỉ, sáng tạo, cần cù của ông nội, thứ giúp ông từng gây dựng được cả cơ đồ. Đó là ánh mắt buồn bã đến xót lòng của người mẹ khi nghe tác giả thốt lên rằng “Mẹ đúng là chẳng có gì để ngưỡng mộ cả.”

Có những bài học mà mãi đến lớn, sau bao nhiêu thăng trầm, tác giả mới đột nhiên nhận ra. Chiếc hộp con đựng bản di chúc cùng những gì quý giá nhất năm tám tuổi, vốn chỉ là một trò chơi, nhưng giờ nhìn lại, tác giả bỗng hiểu ra rằng nên “làm cho những người khác biết mình yêu thương họ ngay lúc này tốt hơn là ấp ủ tình yêu đó cho tới khi ta không còn cơ hội để trao nó cho họ nữa.” Ngôi nhà ông nội hì hục một mình đào móng, trộn vữa, đặt từng viên gạch… trên mảnh đất tự ông khai phá luôn mở rộng cửa và đầy ắp yêu thương. Nó đón nhận bao lượt khách lỡ đường mà chẳng hề tính phí, giúp đỡ một người đàn bà xa lạ suýt đẻ rớt bình yên hạ sinh con mình, rộng mở vòng tay để một ông lão hành khất xa lạ tá túc. Tác giả nhận ra, qua bao năm, từng lượt người cứ đến rồi đi, ngôi nhà năm xưa vẫn cứ y như cũ, chỉ có những câu chuyện về lòng hào hiệp và nhân hậu mãi chất đầy…

Những bản tình ca dang dở nhưng thi vị trong phần truyện ngắn

Nếu phần tản văn toát lên tình thân, tình bạn và tình người, thì tinh thần chính trong phần truyện ngắn lại là tình yêu đôi lứa. 11 câu chuyện là 11 sắc màu tình yêu, có khi là những rung động mông lung tuổi học trò, có khi là nỗi khắc khoải của người bị bỏ lại nơi dương thế, có khi là giọt nước mắt của mối tình chưa nở đã tàn phai. Đơn giản, không hoa mỹ, nhưng từng câu văn lại thấm vào lòng người đến lạ thường. Ta thấy mình như hóa thân thành nhân vật, cũng cảm nhận được “một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả” khi nhìn thấy hoa tường vi ố vàng trong bụi bặm của đời thực, cũng thấy “quay quắt nhớ” về ai đó với câu tỏ tình dễ thương.

Lồng trong những câu chuyện là đủ sắc màu, đủ âm thanh, đủ mùi vị. Một vườn pensée khoe sắc thắm khẽ lay động trong làn gió nhẹ tựa như tình yêu chân thành ở tuổi sắp xế chiều của một góa phụ mất chồng từ lâu. Một ly tonic “đăng đắng, mằn mặn, lạnh ngắt, và vị ngọt đọng đâu đó, không phải trên môi, không phải trên đầu lưỡi mơ hồ” khiến ta nhận ra tình yêu có thể bắt đầu từ nỗi nhớ, không phải chính con người ấy, mà là khoảng không gian, những cảm xúc bao quanh mỗi khi ta ở bên người ấy. Tiếng chuông nhà thờ đổ vang vang đêm giao thừa nơi Đà Lạt đầy sương lạnh, tràn ngập nỗi lạc lõng của một cô bé mười sáu tuổi lần đầu lang thang giữa nơi xa lạ vào đêm ba mươi. Chúng được miêu tả sống động, như thể ta đang ở ngay đó, nhìn tận mắt, nếm tận miệng, nghe tận tai vậy.

Phần lớn tình yêu trong phần truyện ngắn này đều bỏ ngõ, dở dang. Mỗi câu chuyện đều có gì đó man mác buồn, chứa nhiều nỗi niềm da diết, khắc khoải. Nhưng dù mối tình trong truyện đã vĩnh viễn khép lại, hay vẫn còn lấp lánh chút hy vọng cho ngày sau, thì mối tình ấy vẫn đi vào lòng người đọc, vẫn khiến ta thấy tình yêu, tuy muôn hình vạn trạng, tuy hạnh phúc lẫn đau đớn, vẫn thật đẹp làm sao.

Hình thức bìa sách độc đáo như một bức bình phong

Lần tái bản này, sách ra mắt ở cả hai hình thức bìa mềm lẫn bìa cứng, đều có kích thước nhỏ xinh tựa một quyển sổ tay, dễ dàng bỏ túi mang theo đến bất kỳ nơi đâu. Bản bìa mềm tiện dụng, được in đổi chiều hai nửa nội dung – một tản văn, một truyện ngắn. Trong khi đó, bản bìa cứng là hai quyển sách có bìa nối liền nhau, khi bung mở toàn bộ sẽ tạo cảm giác như đang kéo ra bức bình phong tuyệt đẹp.

Trong mùa dịch vừa rồi, họa sĩ t. hờ đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết để thiết kế bìa sách đầy tính đột phá, sáng tạo này. Khi đọc tác phẩm, anh cảm giác như có hai chị Vy khác nhau, một chị Vy nhỏ và một chị Vy lớn. Vì vậy, anh đã suy nghĩ làm sao vừa phân biệt hai phần tản văn và truyện ngắn, vừa ghép được chúng dính liền với nhau để không làm mất mối liên kết giữa hai chị Vy trong sách. Kết quả là thiết kế phá cách, ngộ nghĩnh dành cho cả hai phiên bản bìa cứng và bìa mềm đã ra đời. 

Có lẽ chất trong trẻo, êm dịu trong từng câu văn của Đặng Nguyễn Đông Vy đã thấm vào lòng của họa sĩ t. hờ, nên từng hình vẽ trong sách, từ ảnh bìa đến ảnh mình họa, đều toát lên vẻ đẹp bay bổng, đầy nghệ thuật. Nếu phần bìa tản văn có màu chủ đạo là xanh lá, với hình ảnh “chị Vy nhỏ” nằm giữa cánh đồng hoa bướm vờn quanh, thì phần bìa truyện ngắn lại mang màu xanh đen huyền bí của bầu trời đêm, điểm xuyết những ngôi sao vàng trên dải ngân hà lam biếc.

Về tác giả

Đặng Nguyễn Đông Vy, sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, là một cây bút quen thuộc trên các tờ báo hướng đến độ tuổi mới lớn như Hoa Học Trò, Báo Sinh viên Việt Nam... Chị vừa làm báo, vừa viết văn, và đã xuất bản rất nhiều tác phẩm sâu lắng, thú vị như Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng, Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn, Những Lối Về Ấu Thơ…

Đọc bài viết

Book trailer

Hack tốc độ hoàn thành công việc: Bí quyết xốc lại tinh thần làm việc sau Tết

Cuốn sách là những kiến thức hết sức thiết thực, được đúc kết từ kinh nghiệm học tập và làm việc của tác giả Phạm Ngọc Thắng

Published

on

By

Trải qua những ngày vui chơi trong kỳ nghỉ Tết, không ít người cảm thấy chán nản vì phải trở lại chốn công sở, bước vào guồng quay cơm áo gạo tiền. Để vượt qua những dư âm lắng đọng từ ngày nghỉ lễ lớn nhất năm, cuốn sách Hack tốc độ hoàn thành công việc sẽ là liều vitamin đúng lúc giúp bạn xốc lại tinh thần, đặt ra mục tiêu cho một năm mới đầy phấn khởi đang chờ đợi phía trước.

Không cố sức thay đổi tư duy của người đọc, cuốn sách đơn giản là những kiến thức hết sức thiết thực, được đúc kết từ kinh nghiệm học tập và làm việc của tác giả Phạm Ngọc Thắng. Hack tốc độ hoàn thành công việc có thể không phải là cuốn cẩm nang đầy đủ nhất, nhưng chắc chắn là cuốn sách thích hợp nhất để bạn bắt đầu thay đổi cách làm việc vốn có của mình và tạo ra các kết quả đột phá, từ đó tăng thu nhập, thăng tiến, bước vào tầng lớp tinh hoa, hoặc ít nhất cũng giúp bạn hạnh phúc với công việc mình đang làm.

Chỉ bằng 4 chương sách được trình bày theo cách ngắn gọn, dễ hiểu, tác giả bước đầu xác định “thế nào là hoàn thành công việc?”, từ đó hướng dẫn người đọc những phương pháp lên kế hoạch để “hack” ý thức làm việc, “hack” tốc độ hoàn thành công việc, thậm chí là “hack” cả… sự may mắn. Cuốn sách chỉ ra cách hoàn thành công việc hiệu quả nhất có thể, dù bạn là người mới đi làm, dân công sở lâu năm hay đang giữ chức vụ cao trong một cơ quan.

Về tên sách, tác giả Phạm Ngọc Thắng chia sẻ: “Tôi rất thích từ ‘hack’ trong ngành công nghệ thông tin. ‘Hack’ theo định nghĩa thông thường là việc lợi dụng những lỗ hổng bảo mật để xâm nhập trái phép vào hệ thống máy tính nhằm thay đổi các chức năng vốn có của nó. Nhưng ngoài ra, ‘hack’ trong ‘life hack’ còn có nghĩa là tìm ra một cách làm đột phá để đạt được những thành tựu khác biệt và khiến cho cuộc sống dễ dàng hơn. Cuốn sách này chính là một cách ‘hack’ như vậy.”

Những điều cuốn sách này sẽ đem đến cho bạn:

● Gạt bay bỡ ngỡ ngày đầu đi làm;

● Tạm biệt chứng ì ạch, trì hoãn và nỗi ám ảnh trễ deadline;

● Lao động thông minh, tạo ra hiệu suất GẤP ĐÔI cách thức thông thường; 

● Biến cơ hội tăng lương, thăng tiến không còn xa tầm với;

● Hạnh phúc với môi trường công sở (sếp hài lòng, đồng nghiệp yêu mến, đối tác tin tưởng & bản thân thành công).

Về tác giả:

Tác giả Phạm Ngọc Thắng có nhiều năm kinh nghiệm trong vai trò quản lý cho các công ty thuộc nhiều lĩnh vực và quy mô khác nhau, từ startup tới các tập đoàn lớn; tiếp xúc và làm việc với nhiều chuyên gia, CEO, lãnh đạo và hàng nghìn nhân viên ở đủ mọi độ tuổi.

Anh từng đảm nhiệm vị trí Phó giám đốc tại Công ty Cổ phần Giải pháp Công nghệ Gadget (thuộc TEKY HOLDINGS), Digital Specialist tại VinFast, Trưởng phòng Marketing và Phát triển sản phẩm tại JupViec.vn;

Hiện là CEO App Mamibabi, app hàng đầu về thai giáo, giáo dục sớm và ăn dặm.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Hai cuốn nhật ký: Sự bất chấp luân thường song hành với đạo nghĩa vợ chồng

“Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”

Published

on

Trong thời gian chiến đấu với bệnh tật và tuổi già, Tanizaki Junichiro vẫn không ngừng sáng tác, trong đó phải kể đến những tác phẩm đặc sắc như Bản dịch mới Truyện Genji của Junichiro, Mộng phù kiều hay Hai cuốn nhật ký. Lần đầu đăng trên tạp chí Chuuō Kōron năm 1956, Hai cuốn nhật ký được trình bày qua lời kể song song của một đôi vợ chồng tuổi trung niên theo hình thức ghi chép cá nhân. Bắt đầu từ ngày mùng một tháng Giêng trong nhật ký của người chồng: “Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”, Hai cuốn nhật ký dần mở ra cánh cửa dẫn vào cuộc sống chăn gối hoan lạc của cặp đôi buổi xế tà đang loay hoay tìm đường khơi lại ngọn lửa tình ái. Một đằng là ông chồng già cũng ham lạc thú tà dâm nhưng thể trạng yếu kém dẫn đến lực bất tòng tâm, một đằng là cô vợ đã một qua một đời sinh nở nhưng vẫn hừng hực sung mãn, ham muốn mạnh mẽ đến mức phi thường. Trạng huống trớ trêu đẩy cặp đôi “đũa lệch” ấy vào bước đường phải tìm đến những thứ “thuốc kích thích” lạ lùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!).

Là người ưa thích tìm hiểu tâm lý bệnh học, Tanizaki tích cực vận dụng kiến thức để viết rất dạn dĩ về đề tài liên quan đến những khoái cảm dị thường do lệch lạc trong tính dục sinh ra. Từ sau khi tác phẩm nhan đề Akuma (Ác ma) (1926) ra đời thì Tanizaki được xem như nhà văn đại diện cho chủ nghĩa ác ma (diabolism) của Nhật Bản. Là một phong trào văn học nghệ thuật nổi lên cuối thế kỷ XIX ở châu Âu, chủ nghĩa ác ma có khuynh hướng đề cao cái đẹp ở những gì đồi bại và kỳ quái. Tương tự, Tanizaki trong hơn nửa thế kỷ đi tìm cái đẹp cũng chỉ tập trung vào “cái đẹp có vấn đề”. Ông khai thác xu hướng ngược đãi và bị ngược đãi trong Người cắt lau, Xâm mình, bái vật trong Bàn chân Fumiko, ái thú trong Con mèo, Shōzō và hai người đàn bà hay phức cảm Oedipus trong Mộng phù kiều… Bản thân Hai cuốn nhật ký, trình bày về cuộc sống tình dục của lớp người già, khi mới xuất bản cũng gây sóng gió dư luận vì bị quy kết là truyện dâm ô. Sở thích tình dục của nhân vật chính là ông giáo sư rất chi là đa dạng: vừa tôn sùng bàn chân phụ nữ, vừa khao khát nhìn ngắm thân thể trần truồng của vợ dưới ánh sáng huỳnh quang. Tuy nhiên động lực tình dục cốt yếu của ông chính là sự ghen tuông, một loại phức cảm có tên “ham muốn bắt chước” hay “ham muốn tam giác” (mimetic desire) do nhà triết học Rene Girard đề xướng. Ở đó, người A chỉ có thể nảy sinh ham muốn vật B nếu có một “người môi giới” C cũng ham muốn vật B kia. Trong Hai cuốn nhật ký, rõ ràng “người môi giới” kích thích ham muốn cô vợ ở vị giáo sư chính là anh chàng Kimura con rể tương lai, một đối thủ tình trường trẻ trung và sung mãn hơn.

"Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!)."

So với Chữ Vạn, các nhân vật trong Hai cuốn nhật ký cũng mắc vào mối tình tay bốn tréo ngoe nhưng phức tạp và chồng chéo hơn rất nhiều. Nếu ở Chữ Vạn, người đẹp Mitsuko là con nhện nằm giữa nhả độc chăng tơ, giăng mắc ba nạn nhân khốn khổ sa lưới, thì ở Hai cuốn nhật ký, cho đến cuối cùng ta vẫn không biết rốt cục ai là người xấu số, ai là kẻ cao tay hơn cả. Toàn bộ câu chuyện là những chuỗi tâm lý vặn xoắn bất ngờ và hồi hộp xuất phát từ động cơ tính toán riêng biệt của cả bốn nhân vật. Ông giáo sư một lòng tôn thờ cô vợ “tốt của” nhưng sẵn sàng tạo điều kiện cho vợ gian díu với con rể tương lai để tăng cường tinh lực. Cô vợ tiết trinh cổ hủ lòng đã mau chóng ngả theo nhân tình nhưng một mực tâm niệm phải làm chồng hưng phấn. Cô con gái Toshiko phần thì căm ghét ông bố biến thái, phần thì ganh ghét với người mẹ xinh đẹp, bề ngoài thờ ơ lãnh đạm với cuộc hôn nhân sắp đặt nhưng lòng dạ ai nào tỏ cho tường? Anh con rể tương lai có lẽ đam mê bà mẹ đầy phong vận hơn nhưng biết đâu cũng chỉ lợi dụng để tiếp cận cô con gái?

Bên cạnh tuyến nhân vật đa chiều, tưởng tĩnh mà động, việc sử dụng hình thức hai ghi chép cá nhân đan lát lại càng góp phần tạo nên sự gay cấn cần thiết cho câu chuyện. Nếu Chữ Vạn chỉ được thuật lại từ một góc nhìn duy nhất, về những việc đã xảy ra và khép lại, thì những sự kiện trong Hai cuốn nhật ký không những đang tiếp diễn mà còn có thể được nhìn nhận cùng lúc từ hai phía. Cùng một ngày tháng, cùng một vụ việc ấy nhưng chồng nói gà, vợ nói vịt, dần dà mới khiến ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau. Tác giả đưa người đọc cùng song hành với diễn biến câu chuyện, nhưng ta đâu có khác gì những kẻ mù lòa, được dắt đi trên con đường lắm lối nhiều ngả bởi hai kẻ dẫn đường bụng dạ khó bề tin tưởng, miệng khăng khăng là mình chân thật nhưng kỳ thực trắng đen thật giả lẫn lộn, chẳng biết đường nào mà lần? Bên cạnh đó, trong nguyên tác Tanizaki còn cố ý để cho người vợ dùng kiểu chữ hiragana truyền thống, còn người chồng viết bằng kiểu chữ katakana hiện đại hơn. Điều này có thể có dụng ý riêng, liên quan đến tính cách của hai người. Người chồng rất thích khám phá và thử nghiệm những cái mới, trong khi người vợ lại rất e dè thủ cựu. Tóm lại có thể nói, lựa chọn hình thức nhật ký cho câu chuyện là một quyết định vô cùng vi tế của Tanizaki.

"...ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau."

Kagi nghĩa là chiếc chìa khóa. Ấy chính là chiếc chìa khóa mở ra cuốn nhật ký chất đầy ẩn ức tâm tư của người chồng, mở ra những ham muốn nổi loạn âm thầm của người vợ, mở ra một cuộc chơi tình ái mưu ma chước quỷ của cuộc sống hôn nhân. Vỏn vẹn chưa đầy 200 trang, Hai cuốn nhật ký đã khắc họa tài tình một cốt truyện gay cấn hấp dẫn, đưa đến cái nhìn mới mẻ về bản chất của tình dục - tình yêu, đặt dấu chấm hỏi về ranh giới mong manh phù phiếm của luân thường đạo lý. Tuy được sáng tác khi nhà văn đã ở những năm tháng cuối đời, nhưng Hai cuốn nhật ký vẫn xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, quan trọng nhất trong văn nghiệp đồ sộ huy hoàng của Tanizaki.

Hết.

*

Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Junichiro




Đọc bài viết

Cafe sáng