Phía sau trang sách

Mùi hương – Câu chuyện một kẻ sát nhân hay con người và tận cùng của cô độc

Published

on

Mùi hương là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn người Đức Patrick Suskind. Xuất bản năm 1985, cuốn sách này ngay lập tức trở thành một hiện tượng trên văn đàn thế giới. Tuy nhiên, cuốn sách không chỉ là một hiện tượng nhất thời như thế giới phù du của ‘mùi hương’ đến và đi không lưu lại chút dấu vết nào, nó đã được các nhà phê bình nhận định là một kiệt tác của văn học đương đại với những thông điệp lớn thông qua câu chuyện kỳ lạ của một kẻ sát nhân tại nước Pháp hơn 200 năm trước.

Nếu chỉ đơn giản là một câu chuyện kinh dị về một kẻ giết người máu lạnh thì có lẽ tiểu thuyết này cũng chẳng có gì hơn là một tiểu thuyết mang tính dọa dẫm thị trường câu khách. Tôi nhớ trên một trang web giới thiệu về 3 cuốn tiểu thuyết: Ring – Vòng tròn ác nghiệt của Suzuki Koji, Sự im lặng của bầy cừu của Thomas Harris và Mùi hương, đã có một độc giả nhận xét ở dưới rằng: “Sau khi đọc 3 cuốn sách này, anh/chị ta thấy chẳng có gì là đáng sợ như lời giới thiệu cả, quá bình thường, và yêu cầu nhà sách hãy xuất bản những cuốn ghê rợn hơn”. Nhắc đến chuyện này, ý của tôi là, nếu như bạn đang định tìm một cuốn sách với những bóng ma luôn chờ trực ở đâu đó lao ra tóm lấy ta, hay một kẻ sát nhân điên cuồng mất trí và đâm chém đẫm máu, thì có lẽ bạn hãy tìm đến với văn hóa kinh dị của Quỷ Cổ Nữ hay đại khái là những tác giả giỏi tạo ra những sự kiện thót tim, những tình tiết làm bạn thậm chí không dám bước ra cầu thang vì sợ có một bóng ma đang nằm sẵn ở đó kéo chân bạn xuống. Đó chỉ đơn giản là lời phân trần trước của tôi để lỡ bạn có đọc 3 cuốn sách này mà không thấy sợ thì cũng đừng cảm thấy thất vọng. Vì đơn giản, cái mà Koji, Harris hay Suskind hướng đến không phải dọa ma độc giả, mà nó hướng tới những nỗi sợ sâu kín nhất, bản chất nhất của mỗi chúng ta.

Vậy những nỗi sợ sâu kín nhất của con người ta là gì vậy? Con người sống trên đời có rất nhiều nỗi sợ hãi: sợ chết, sợ già nua, sợ xấu xí, sợ bóng tối, sợ độ cao, sợ nghèo đói, sợ bị mắng mỏ, sợ mất mát, sợ bị bỏ rơi, sợ cô độc. Trong số những nỗi sợ đó, tầm thường có mà cao quý cũng có, hiển hiện có, mà chôn giấu kỹ đến mức đôi khi đến tự bản thân không nhận ra cũng có. Qua câu chuyện về cuộn băng giết người, Suzuki Koji muốn nói tới những nỗi sợ bản năng đã tồn tại từ khi chúng ta chỉ là một hài nhi, nỗi sợ về một thế giới lan tràn cái ác, nơi mà con người ta phải bất chấp lương tâm để nhân bản cái ác nhằm cứu chính tính mạng của mình. Qua câu chuyện về bác sĩ tâm thần ăn thịt người Hannibal Lecter, Thomas Harris nói về nỗi sợ đối mặt với quá khứ, đó không chỉ là nỗi sợ bị tên bác sĩ nhai mất lưỡi và ăn mất gan, mà đó là nỗi sợ bị hắn kiểm soát, bị hắn thâm nhập vào tâm trí, để cuối cùng đánh mất chính mình. Còn với câu chuyện về kẻ sát nhân với khứu giác thiên tài, Grenouille, cái mà Suskind hướng đến đó chính là nỗi sợ về sự cô độc, nỗi sợ bị ném ra ngoài rìa xã hội, nỗi sợ trở thành một kẻ lạc loài không được chấp nhận.

Một tật xấu mỗi khi viết review của tôi đấy là lúc nào cũng dẫn dắt dài dòng, có lẽ một lúc nào đó, tôi sẽ dành thời gian viết riêng review cho Sự im lặng của bầy cừu và Ring, còn bây giờ, thì tôi sẽ thôi lan man và tập trung vào chủ đề chính của bài viết này.

Mùi hương kể về cuộc đời của Jean-Baptiste Grenouille, một thiên tài được sinh ra với khứu giác siêu phàm có thể nhận biết mọi mùi hương trên thế gian, nhưng bản thân lại không có một mùi hương nào trên người. Với khao khát chế tạo ra một thứ mùi hương cho riêng mình, hắn đã lên một kế hoạch kinh khủng để đánh cắp hương thơm trên những thiếu nữ trẻ. Và đó là sự khởi nguồn về tội ác đầy ám ảnh của một kẻ sát nhân quỷ dữ bị nguyền rủa.

Jean-Baptiste Grenouille là một kẻ cô độc cùng cực, thậm chí hơn cả cô độc, trạng thái cô độc của hắn không thể được diễn tả bằng một từ được, vì nó vượt qua giới hạn của sự cô độc mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Hắn bắt đầu bước vào thế giới này từ một góc chợ gớm ghiếc, bẩn thỉu và tanh lòm, và là đứa duy nhất trong số những anh em của hắn không chết dưới bàn tay giết chóc của chính mẹ đẻ mình. Grenouille đã là kẻ cô độc từ khi sinh ra.

Grenouille được chuyển nuôi từ hết người này sang người kia, chẳng ai muốn giữ hắn lại cả, từ những bà vú em đã quen nuôi sống bọn trẻ mồ côi, cho đến vị cha xứ với lòng bao dung và tình yêu thương của Chúa. Những người giữ hắn lại được, hầu hết đều chỉ vì hắn là kẻ được việc, vì hắn khỏe gấp đôi gấp ba kẻ khác, vì hắn có thể lao động như một con trâu mà tuyệt đối không kêu ca gì, tuyệt đối không mở miệng đòi hỏi bất cứ ân huệ gì, chỉ câm lặng và im lìm, vì hắn làm hùng hục, quần quật đêm ngày như thế mà không ốm đau, mà có ốm đau, dù thập tử nhất sinh, hắn cũng không chết, như một con rận dai dẳng bám víu lấy sự sống; hoặc nếu không thì vì hắn có cái thiên tài kỳ quặc mà người ta có thể khai thác để làm giàu, hắn là cái mỏ vàng ngầm không bao giờ cạn kiệt. Nhưng ngoài tất cả những cái đó, người ta vẫn, một cách nào đó, ghê tớm hắn, chính xác hơn là ghê sợ hắn, họ không muốn đụng chạm tới hắn, họ không coi hắn là một đồng loại của mình.

Grenouille âm thầm lớn lên trong những xó xỉnh của Paris hoa lệ, cùng với cái thiên tài về mùi hương của mình. Hắn xấu xí và gớm guốc, nhưng trên đời có vô vàn kẻ cũng gớm guốc và xấu xí, song không ai như hắn, không ai bị xã hội ruồng bỏ như hắn. Hắn có đủ đặc tính của một con người: chân, tay, mắt, mũi, thậm chí hắn còn là một kẻ có bộ óc thông minh, nhanh nhạy, nhưng cái kẻ có thể ngửi ra ngàn vạn mùi hương trên thế gian, mỉa mai thay, đến lượt mình, chính hắn lại không có một mùi hương nào cả: dù đó là hương thơm hay mùi hôi hám, ô uế, hắn cũng đều không có. Trống rỗng, hơn cả không khí lạnh, đó là Grenouille. Khi còn nhỏ, hắn không có mùi của một đứa trẻ con thông thường. Đến khi lớn lên, mọi thứ vẫn không có gì thay đổi. Người ta nói, hắn là hiện thân của quỷ dữ.

Có thể nói, hình tượng mùi hương xuyên suốt câu truyện này, đó không chỉ là thứ mà khứu giác cảm nhận được. Mang trong mình chất hiện thực huyền ảo (Magic realism) đặc trưng bởi dòng văn học của Mỹ Latin, hình tượng “mùi hương” của Suskind cũng giống như hình tượng “cái đuôi lợn” trong Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez, nó mang tinh thần chủ đạo của tác phẩm, về nỗi sợ hãi sự cô độc. Mùi hương trong Mùi hương đại diện cho danh tính mỗi người. Mùi hương của một người là cái để phân biệt người này với người kia, cũng như tên họ, thậm chí còn hơn cả tên họ, vì tên họ thậm chí trùng lặp (như Jean-Baptiste Grenouille là cái tên quá tầm thường nhưng kẻ sát nhân Jean-Baptiste Grenouille của Suskind chỉ có một mà thôi), nhưng mùi hương mỗi người là duy nhất.

Đến đây, tôi muốn quay trở lại với nỗi sợ đầy ám ảnh của Mùi hương mà tôi đã đề cập tới ban nãy. Grenouille, trái lại với hình ảnh một kẻ sát nhân máu lạnh, tôi cho rằng, chính hắn chứ không ai khác, là nạn nhân của nỗi sợ, tâm hồn hắn chưa đầy nỗi sợ, nếu như hắn cũng được coi là có tâm hồn. Grenouille đánh hơi được mọi mùi trên thế gian – hay nói cách khác, hắn đánh hơi được mọi tội ác trên thế gian. Trong mắt hắn, Paris là thành phố bị nhấn chìm bởi thứ mùi hôi hám, kinh tởm, mùi hôi thối của đường sá, phân chuột, gỗ mủn, bệnh tật, và cả con người, tất cả đều phả ra thứ mùi uế tạp. Nước hoa chỉ là thứ mặt nạ mà những nhà quý tộc hôi như những con dê già, nhà vua hôi như con thú dữ mượn lấy để che lấp mùi hương thật trên cơ thể. Hương thơm như hoa tỏa ra từ một vương tôn giàu có chỉ là dối trá, đằng sau tất cả những hương thơm mê đắm ấy, là một mùi hôi đến tởm lởm mà Grenouille đã có lúc từng không thể chịu đựng nổi. Hắn sợ con người, chính xác hơn là sợ mùi hôi thối của con người, chính xác hơn nữa, có lẽ là sợ sự độc ác của con người, nếu như hắn có quyền lên án kẻ khác là độc ác, và trong bảy năm ròng, Grenouille đã giải thoát mình bằng cách chạy xa khỏi thế giới, hắn đi tìm đến một nơi thật xa xôi, thật hẻo lánh, để tận hưởng sự cô độc của mình.

Hình ảnh Grenouille chạy trốn thế giới khiến chúng ta hoang mang về chính thế giới mà ta đang sống. Liệu những gì ta thấy có phải là sự thực? Đằng sau vẻ hoa lệ lấp lánh liệu có phải những dối trá và tội ác tinh vi mà chúng ta không cảm nhận được? Grenouille muốn tránh xa khỏi con người, càng xa càng tốt, bởi con người là nguồn gốc của tội ác, không phải con rắn trong Kinh Thánh mà Chúa cho rằng là loài mãng xà độc ác đáng bị nguyền rủa, mà chính là con người, vì lòng tham, vì sự vị kỷ, đã làm những điều xấu xa, gian dối, quỷ quyệt. Làm gì có quỷ dữ nào? Chỉ có con người mà thôi.

Grenouille sợ hãi thế giới như thế. Nhưng hắn còn một nỗi sợ khác lớn hơn, đó là nỗi sợ bị thế giới ruồng bỏ. Đúng, hắn đã xuất hiện là kẻ bất cẩn, không cần bạn bè, chẳng cần bằng hữu, chẳng cần yêu thương, nâng niu, hắn chỉ cần ngủ ở chuồng ngựa, ăn những thứ phế phẩm nhất, làm những việc nặng nhọc nhất, nguy hiểm nhất, hắn chưa từng, dù chỉ một thoáng nghĩ về việc được yêu thương, hay căm hờn vì không nhận được tình yêu thương, ngay cả tình yêu thương từ mẹ hắn, nhưng thẳm sâu trong hắn, vẫn là nỗi sợ bị bỏ rơi. Hắn yêu sự cô độc, nhưng cũng đồng thời muốn được là con người. Bởi nếu không phải như thế, hắn đã chẳng sợ hãi đến phát điên khi chết ngập trong thứ mùi-hương-trống-rỗng của bản thân, khi hắn thấy hắn khác tất cả, khi hắn nhận ra lý do hắn bị ruồng bỏ. Bởi nếu không phải như thế, hắn đã chẳng làm mọi cách để chiếm đoạt mùi hương thơm nhất trên trần gian này làm thành mùi hương của mình. Grenouille muốn nhận được tình yêu thương, cho dù đó là chỉ là tinh yêu giả trá, ồ không, còn hơn thế, Grenouille muốn được cả thế giới yêu kính và sùng bái như một vị thánh, như một Đức Chúa vĩ đại.

Grenouille, con cóc ghẻ bẩn thỉu ấy, dù cho không được coi là một con người, thì hắn cũng như mọi con người khác, cũng sợ trở thành kẻ lạc loài. Và mọi con người khác, cũng như Grenouille, sẵn sàng làm mọi thứ để không bị loại ra khỏi xã hội, kể cả việc che đậy con người thật của mình, để đeo một cái mặt nạ giống như ngàn vạn kẻ khác, không biết rằng, có khi ngàn vạn kẻ kia cũng chỉ đang che đậy bộ mặt thật bằng chiếc mặt nạ của riêng mình.

Ban đầu, Grenouille ngụy trang bằng thứ mùi hôi hám để được giống như người bình thường, để họ cảm nhận được sự tồn tại của hắn, để họ chấp nhận hắn là đồng loại của họ. Nhưng tham vọng của hắn, như đã nói, không dừng lại ở việc được chấp nhận, hắn còn muốn trở thành Grenouille Vĩ Đại được ngợi ca, được cả thế giới quỳ móp dưới chân. Và hắn quyết tâm đánh cắp mùi hương thơm nhất trên thế gian này, hương thơm của những thiếu nữ trẻ. Hương thơm của những thiếu nữ trẻ, ngọt hơn mật ong, dịu dàng hơn thủy tiên, tươi mát hơn nước nguồn, đó chính là ẩn dụ về phần thiện của con người, không chút ô hợp, chỉ tồn tại ở những cô gái thánh thiện, hiện thân của Đức mẹ Maria. Đó là mùi hương khác biệt hoàn toàn so với mùi hôi thối khác của loài người, và đó chính là thứ mà người ta tôn sùng, là tôn giáo, là Chúa mà chúng ta tôn thờ. Sau tất cả những tội ác đã gây ra, con người vẫn sợ hãi khi nhắc đến Chúa, vẫn đến xưng tội với Đức cha, vẫn bị khuất phục trước sự lương thiện của Chúa. Và Grenouille – hiện thân của satan, muốn đánh cắp điều đó.

Grenouille, kẻ sát nhân đáng lẽ bước ra pháp trường để chờ xử tử, cuối cùng lại đến nơi hành hình bằng xe ngựa, ăn vận như một hoàng tử, và tất cả những người có mặt lẽ ra phải căm giận nguyền rủa hắn cuối cùng lại quỳ rạp dưới chân hắn, tôn hắn làm vị thánh của họ. Ồ, một kẻ với hương thơm mê đắm đến thế, ngây thơ và trong sáng đến thế, hắn đâu thể là kẻ giết người ác độc như cáo buộc được, ngay cả những kẻ căm thù hắn nhất vì đã giết hại con gái họ, cũng ôm hắn trong vòng tay và nức nở. Đó là giờ phút vinh quang nhất trong đời của Grenouille, và lẽ ra là khoảnh khắc hạnh phúc nhất trong cuộc đời hắn, một kẻ tận cùng của cô độc, hơn cả bị chà đạp và ghê tởm, hắn bị ruồng bỏ và lãng quên, kẻ chưa từng nhận được bất kỳ một mảnh vụn tình yêu nào, giờ đây đang được cả thế giới yêu kính tôn sùng. Nhưng ngược lại:

“Nhưng vinh quang lại khiến gã kinh hoàng. […] Trong lúc gã bước xuống quảng trường chói nắng, phủ trên người lớp nước hoa mà gã đã thèm khát cả đời và phải mất hai năm làm việc ròng rã mới có được, thứ nước hoa khiến người ta yêu thích… trong lúc gã nhìn và ngửi thấy nước hoa ấy tỏa nhanh như gió, chế ngự mọi người quanh gã, không ai cưỡng lại được, thì cũng chính lúc ấy tất cả sự kinh tởm đối với con người lại cuồn cuộn lên trong gã, làm ô uế mọi vinh quang […] Trong cái khoảnh khắc của thành công thì nỗi khao khát được con người yêu thích trở nên không thể chịu đựng nổi, vì gã không yêu họ, gã ghét họ. […] Nhưng sự thù ghét gã dành cho con người không được con người đáp lại. Giờ đây gã càng ghét họ thì họ càng tôn sùng gã bởi vì họ không cảm nhận được gì từ gã ngoài cái tinh hoa vay mượn, cái mặt nạ mùi của gã, cái nước hoa ăn cướp của gã […] Gã chỉ muốn tiêu diệt bọn người ngu xuẩn, hôi hám, dâm ô này […] Gã mong họ nhận ra rằng gã ghét họ biết mấy […] Gã muốn được bộc lộ một lần trong đời. Gã muốn được một lần bộc lộ cõi lòng như mọi người khác. Một lần, chỉ một lần duy nhất thôi, gã muốn rằng sự hiện hữu thật sự của gã được ghi nhận và sự thù ghét, tình cảm thật duy nhất của gã được đáp lại.”

Giả trá biết bao, thế giới này, giả trá đến mức, đến Chúa cũng có thể là giả trá, và người ta có thể tôn sùng một con quỷ satan đội lốt Chúa chỉ vì nó có mùi hương giống như Chúa. Những kẻ đó không nhìn ra sự thật, bởi vì bản chất của chúng cũng độc ác, cũng đen tối, nông cạn, và chỉ cầu nguyện mà trong lòng vẫn đầy dục vọng xấu xa.

Còn Grenouille, hắn vẫn cô độc ngay cả trong vòng tay yêu thương, ngay cả khi được sùng kính. Hắn, sau rốt, vẫn chỉ là một kẻ vô danh tính, không được thừa nhận, cái mà họ thừa nhận đâu phải hắn, mà chỉ là hương thơm mà hắn phủ lên người, còn Grenouille-thực-sự chỉ là kẻ vô hình trong mắt họ. Nỗi khát khao được bộc lộ của Grenouille chính là nỗi tận-cùng-cô-độc của hắn. Carl Jung, một nhà tâm lý học nổi tiếng, từng nói: Loneliness does not come from having no people around you, but from being unable to communicate the things that seem important to you. (Quả thực, bỗng dưng tôi ngồi viết review cho cuốn sách này, cũng vì tình cờ đọc được câu nói trên, và nó gợi tôi nhớ về câu chuyện của kẻ sát nhân cô độc Grenouille). Phải, không có gia đình là cô độc, không có bạn bè là cô độc, bị ghẻ lạnh xa lánh là cô độc, không được yêu thương là cô độc, nhưng không được bày tỏ chính mình mới là tận cùng của cô độc.

Ở một góc nhìn khác, có thể cho rằng, Grenouille là đứa con của giai đoạn đầu Thời kỳ Khai Sáng (Age of Enlightenment) đã xuất hiện ở châu Âu từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, thời đại gắn với những cuộc Cách Mạng Khoa Học, Triết học, Văn hóa, Nghệ thuật, khi Giáo hội dần mất vị trí của mình và thay vào đấy là sự lên ngôi của Khoa Học – Lý Tính – Cá Nhân – Tự Do. Cách Grenouille trở về góc chợ nơi hắn sinh ra, nhớp nhúa như đống ruột cá, đổ toàn bộ lượng nước hoa còn lại lên người mình, để rồi bị một bầy người tôn sùng đến mức ngốn ngấu hắn không còn một mảnh xương nào, đó chính là cách mà nhân loại đã khai tử Thời Kỳ Đen Tối (Dark Ages) với những phi lý, mê tín dị đoan và độc tài mà Giáo Hội đã áp đặt lên xã hội hàng trăm năm, khiến cho con người chết mòn trong tội ác, sự cô độc, đê hèn và không có quyền có tiếng nói, thậm chí không có quyền được làm chính mình.

Kết cục lại, Mùi hương, cũng giống như Ring hay Sự im lặng của bầy cừu, không phải một tác phẩm kinh dị điển hình, trong quá trình đọc, độc giả có thể sẽ không cảm thấy những cơn ớn lạnh dọc sống lưng, thậm chí sau khi gấp sách lại, cũng không thấy có gì sợ hãi. Nhưng rất có thể, một ngày nào đấy, nghĩ lại câu chuyện về kẻ bị ruồng bỏ Grenouille, bạn lại bất chợt thấy vã mồ hôi, đó là lúc nỗi sợ sâu kín nhất trong lòng mỗi chúng ta chợt trỗi dậy và nhấn chìm ta trong sự mênh mông đến vô tận của nó. Rốt cuộc, chẳng có bóng ma nào đeo bám chúng ta cả, chỉ có sự cô độc ám ảnh mà thôi.

Hết.

Hiền Trang

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Công bố danh sách rút gọn Giải Booker 2022: Phái nữ chiếm phần hơn

Published

on

Đến hẹn lại lên, cuộc đua không khoan nhượng để bình bầu ra “tác phẩm văn chương trác tuyệt nhất thế giới” (dĩ nhiên, với ràng buộc sách phải được dịch sang ngôn ngữ Anh) đã công bố sáu ứng cử viên — từ 153 đề cử — lọt vào danh sách rút gọn. Tác phẩm thắng cuộc sẽ nhận được khoản tiền mặt 50.000 bảng Anh (tương đương 1,49 tỉ Việt Nam đồng), được chia đều cho tác giả và dịch giả.

Hòa vào xu hướng đa dạng văn hóa và sắc tộc trong văn chương, sáu cái tên cạnh tranh Giải Booker năm nay đến từ sáu đất nước với sáu ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt. Nhiều cái tên quen thuộc với độc giả Việt Nam như Olga Tokarczuk (chủ nhân giải Nobel Văn chương năm 2019) và Mieko Kawakami (tác giả của Ngực và trứng). Phái nữ chiếm ưu thế trong danh sách, với sự xuất hiện của năm tác giả và ba dịch giả nữ. Văn đàn đồng thời đổ dồn ánh nhìn vào bộ đôi Olga Tokarczuk và dịch giả Jennifer Croft – liệu hai người phụ nữ phi thường này có thể lặp lại chiến thắng của Bieguni, những người không ngừng chuyển động vào năm 2018 (Giải Man Booker International) không? Kết quả Giải Booker 2022 sẽ được công bố vào ngày 26 tháng Năm.

Một giải thưởng danh giá như Booker chưa bao giờ phù hợp với những chuyến cưỡi ngựa xem hoa, nhưng đọc hết cả sáu tác phẩm — bằng tiếng Anh — vẫn là nhiệm vụ tương đối khó nhằn. Thông qua bài viết giới thiệu này, với sự đa dạng trong chủ đề và cách viết của sáu đề cử năm nay, hy vọng bạn có thể lựa chọn một cuốn sách để đích thân đọc và cảm nhận.

*

1. The Books of Jacob: Công trình để đời của Olga Tokarczuk

Đặt bối cảnh vào giữa thế kỷ XVIII, The Books of Jacob viết về cuộc đời của đấng cứu thế tự xưng — chàng Jacob Frank trẻ tuổi, quyến rũ — người Do Thái du hành qua đế chế Hapsburg và Ottoman, vừa lôi kéo vừa khước từ sự chú ý của quần chúng và chính quyền.

The Books of Jacob

Jacob, chàng là một gã lạ đời: vạm vỡ, cao ráo, má lúm đồng tiền. Bộ râu rậm rạp lóng lánh trong nắng trời. Duyên dáng như một chú nai đỏ. Vừa bí ẩn vừa phàm trần, không ngừng ngân nga những khúc ca có lời tục tĩu. Đám đông quay quanh chàng như hành tinh mắc kẹt trong sức hút của mặt trời: được phân tầng rõ ràng trên nấc thang thứ bậc là những người vợ, người tình, những ả lạc loài, những kẻ lăng xăng và các loại bám đuôi lì lợm. Dường như có một vầng hào quang gợi tình (đến mức lố bịch) choàng lên thân thể chàng.

“Frank Jacob” được xây dựng dựa trên một nhân vật lịch sử có thật; tác giả rõ ràng đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Tokarczuk bám sát những khúc ngoặt số phận Frank, khi anh cải đạo sang Hồi giáo, sau đó là Công giáo và – tiện đường – trở thành một người ủng hộ chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Tuy nhiên, The Books of Jacob không chỉ khắc họa chuyến lang bạt rối rắm của một tay lãnh tụ giáo phái. Đây là cuốn tiểu thuyết phóng túng, choáng ngợp và lập dị; tinh vi, lớp lang và tràn ngập tính dí dỏm mượn cảm hứng từ văn học dân gian. Cuốn sách cũng không ngần ngại khai thác những chủ đề tăm tối hơn. Người Do Thái bị săn lùng và truy đuổi khắp mọi nơi. Những hình mẫu sơ khai của cuộc diệt chủng Do Thái vẫn hiện diện. Tấn hài kịch trong tác phẩm pha trộn với bi kịch thuần túy, của tra tấn, bội phản, giam cầm, chết chóc.

Olga Tokarczuk | Ảnh: The Monthly

The Books of Jacob, xuất bản bằng tiếng Ba Lan 2014, được Viện hàn lâm Thụy Điển đánh giá là “kiệt tác để đời” của Olga Tokarczuk. Với độ dài khổng lồ 1.000 trang, cuốn sách là “chuyến hành trình tuyệt vời qua bảy lãnh thổ, năm ngôn ngữ và ba tôn giáo lớn, chưa kể các giáo phái phụ”.

2. Heaven: Bức tranh tàn khốc về bạo lực học đường

So sánh với Ngực và trứng — bộ ba truyện ngắn biến đổi liên tục giữa các góc nhìn và tuyến thời gian để giải quyết mệnh đề nữ quyền và quyền tự chủ sinh sản của giới nữ, Heaven có cấu trúc và nội dung ít phức tạp hơn. Ở đây, nhân vật chính 14 tuổi chịu sự bắt nạt tàn bạo từ bạn cùng lớp. Trong chương đầu tiên, cậu bé bị đánh đập, chế nhạo, bị ép ăn phấn và nhốt vào tủ đựng đồ. Đau lòng thay, cậu bé dường như đã quen với những cực hình này. Bên dưới lớp mặt nạ kiên cường ấy, sự khổ sở của cậu thấm đẫm từng trang sách.

Heaven

Heaven, cuốn sách thứ hai của Mieko Kawakami được dịch sang tiếng Anh, mở đầu với một tờ giấy nhắn nhét bên trong hộp bút chì: “Chúng mình nên làm bạn với nhau”. Thoạt tiên, nhân vật chính — người bị các học sinh khác gọi là Con Mắt vì cậu mắc chứng nhược thị (mắt lười) — cho rằng tờ giấy trên chỉ là trò đùa ác ý của băng bắt nạt. Nhưng tin nhắn ấy đến từ Kojima, cô học sinh cũng bị bắt nạt vì lười tắm rửa, dơ hầy. Hai đứa trẻ cùng khổ tạo thành một liên minh bí mật.

Con Mắt và Kojima dường như đang cùng sống trong một thực tại tàn nhẫn, một hoàn cảnh và số phận bi đát tương đồng (thậm chí, nếu Heaven là một tiểu thuyết young adult khác, Kojima hiển nhiên sẽ trở thành mối tình đầu của Con Mắt). Nhưng đi sâu hơn, Mieko Kawakami phơi bày những mệnh đề triết học phản chiếu và đối lập, giữa quyền lựa chọn và bị ép buộc, giữa chấp nhận và phản kháng.

Được Sam Bett và David Boyd chuyển ngữ một cách hoàn hảo, cuốn sách chứa đầy những tình tiết bạo lực được dàn dựng công phu, những phân cảnh bắt nạt vô nghĩa được mô tả rõ mồn một, đến mức bản thân độc giả cũng cảm nhận được nỗi đau của Con Mắt. Những kẻ hành hạ cậu gần như không có diện mạo; bạo lực nằm trong DNA của chúng: từ khi chúng chào đời, hẳn chúng đã biết cách đánh đập người khác mà không để lại dấu vết, tra tấn đồng bạn mà không bị tóm tận tay.

Khi Con Mắt, khập khiễng và lắp bắp, hỏi một người bạn học về lý do bắt nạt mình, đứa trẻ kia đã phát biểu cả một đoạn độc thoại. “Địa ngục không tồn tại. Tất cả đều là dựng chuyện. Kẻ yếu không dám đối mặt với thực tế. Chúng nó không thể đối mặt với nỗi đau hay nỗi buồn, chứ đừng nói đến tiếp thu sự thật hiển nhiên rằng không có gì trên đời thực sự có ý nghĩa cả”. Kẻ bắt nạt là Nietzsche còn Kojima là Lão Tử. Triết học không bao giờ được đề cập trực tiếp, nhưng nó mang lại cảm giác thuần khiết, cấp bách hơn cả — thông qua phương thức truyền đạt rõ ràng của một thiếu niên.

Mieko Kawakami | Ảnh: Kinfolk

Cái kết của Heaven không phải là một kết thúc có hậu, nhưng lần đầu tiên, Kawakami cho phép một chút ánh sáng le lói hiển hiện trên trang sách. Những chương cuối cùng an ủi tâm hồn độc giả, nhưng không hề thay đổi sự thật tàn khốc. Nó hứa hẹn với ta rằng, một ngày nào đó, cậu bé 14 tuổi ấy sẽ có một tương lai, cái tương lai mà — không lâu trước đó — cả bản thân cậu và người đọc đều lo sợ rằng cậu bé không thể sống sót và đón nhận.

3. Elena Knows: Quyền lựa chọn của phụ nữ

Chẳng ai nghĩ rằng bà già Elena — 63 tuổi và đang bị bệnh Parkinson — có thể làm thám tử. Nhưng sau khi thi thể cô con gái sùng đạo, Rita, được phát hiện trong tư thế treo cổ trên tháp chuông nhà thờ mà cô thường đi lễ, các nhà chức trách vội vàng thông báo đây là một vụ tự tử. Elena, một người không có đức tin, từ chối chấp nhận kết luận này.

Được một số người ca ngợi là “Hitchcock của River Plate”, Claudia Piñeiro là nhà văn trinh thám tội phạm nổi tiếng ở quê hương Argentina và trên thế giới. Tuy nhiên, dù sách của bà bán chạy toàn cầu cùng bốn cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Anh Quốc, nhiều độc giả nói tiếng Anh vẫn chưa mấy quen thuộc với tên tuổi của bà.

Claudia Piñeiro | Ảnh: Manuel Cortina

Elena Knows, cuốn tiểu thuyết ngắn gọn và phong cách được Frances Riddle dịch sang tiếng Anh, là cách thức lý tưởng để làm quen với Piñeiro. Thoạt nhìn, đây là hành trình giải mã bí ẩn chặt chẽ và súc tích, với nhân vật chính quyết đoán và bướng bỉnh. Nhưng đồng thời, tác phẩm chứa những lời bình sắc nhọn về mối quan hệ giữa mẹ và con gái, sự phẫn nộ nhắm đến bộ máy quan liêu, hệ thống y tế và những gánh nặng giáo điều mà tôn giáo đặt lên vai người phụ nữ. Quyền lựa chọn phá thai trong một xã hội Công giáo bảo thủ sâu sắc chính là chìa khóa quan trọng để gỡ nút thắt câu chuyện này.

Cuốn sách được chia thành ba phần, tiêu đề lần lượt là “Buổi sáng”, “Buổi trưa” và “Buổi chiều” — bám sát lịch uống thuốc của Elena mà bà buộc phải tuân thủ, để kiểm soát được “kẻ thù” sống bên trong cơ thể mình. Elena không phải là một bà lão ngọt ngào và tử tế. Cha Juan, linh mục của con gái bà, từng cáo buộc Elena tội “kiêu căng và ngạo mạn, khi nghĩ rằng bà biết tất thảy mọi chuyện, ngay cả khi sự thật cho thấy điều ngược lại”. Ông nói không sai; Elena đầy thiếu sót, nhưng Piñeiro vẫn có thể khiến độc giả ủng hộ bà – nhân vật chính có tính nết khó ưa.

Elena Knows

Khi Elena bước về điểm cuối cuộc hành trình, những tiết lộ thật tàn bạo xuất hiện. “‘Không bao giờ’ không phải là một từ áp dụng cho giống loài chúng ta,” Isabel nói. “Có rất nhiều điều chúng ta nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ làm nhưng khi bị đặt vào tình huống nhất định, chúng ta sẽ làm thế”.

Những tác phẩm khác lọt vào danh sách rút gọn Giải Booker 2022

Cursed Bunny là tuyển tập truyện ngắn của tác giả người Hàn Quốc Bora Chung. Từ chối bị đóng khung trong một thể loại nhất định, tác phẩm xóa nhòa ranh giới giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, kinh dị và khoa học viễn tưởng. Bora Chung kết hợp tài tình các yếu tố kỳ ảo và siêu thực để khắc họa thực trạng kinh hoàng và tàn nhẫn của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa tư bản trong xã hội hiện đại. Tác phẩm do Antor Hur dịch sang tiếng Anh.

Cursed Bunny


Tomb of Sand của Geetanjali Shree, được Daisy Rockwell dịch từ tiếng Hindi, kể về cuộc hành trình của một phụ nữ Ấn Độ 80 tuổi tới Pakistan sau khi chồng bà qua đời. Chủ đề nghe qua có vẻ sầu thảm, nhưng cuốn sách ngược lại – rất hài hước, sâu lắng, tràn đầy cảm hứng tự do và hiện đại.

Tomb of Sand


A New Name: Septology VI-VII do Jon Fosse - một nhà văn và nhà viết kịch người Na Uy rất nổi tiếng tại quê nhà - chắp bút. Được dịch bởi Damion Searls, cuốn sách là ấn phẩm cuối cùng trong loạt truyện kể về cuộc đời Asle, người họa sĩ già sống cô độc bên bờ đại dương trong những năm tháng cuối đời.

A New Name: Septology VI-VII

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ tạp chí New York Times và NPR.

Đọc bài viết

Cafe sáng