Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Khi thiên hạ rao bán (và bẻ răng) tiểu thuyết dystopia

Dystopia đã chuyển từ phê bình chính trị công khai sang một hình thức giải trí giật gân và thương mại hóa – vậy chúng ta có thể làm gì?

Published

on

DYSTOPIA FOR SALE: HOW A COMMERCIALIZED GENRE LOST ITS TEETH
Brady Gerber

Khi Chuyện người tùy nữ của Hulu thắng giải Emmy, hạng mục Phim truyền hình xuất sắc năm 2017, người dẫn chương trình Bruce Miller đã mời Margaret Atwood – tác giả cuốn tiểu thuyết ra đời năm 1985 truyền cảm hứng cho bộ phim – lên sân khấu để nhận giải. Trong buổi tối hôm đó, loạt phim kể về nước Mỹ chế độ độc tài, cưỡng ép phụ nữ làm nô lệ cho mục đích sinh sản được ca ngợi không ngớt; sê-ri phim này còn giành thêm vài giải thưởng bổ sung và Hulu trở thành dịch vụ phim trực tuyến đầu tiên giành danh hiệu Emmy cao nhất. Đối với phần đông dân số Mỹ, Chuyện người tùy nữ đã tóm lược quang cảnh ảm đạm và đáng chán của thế giới năm 2017. Chiến thắng giải Emmy lần này biết đâu chừng đã xác nhận cảm giác rằng thời điểm này đang rất tồi tệ và người ta cần phải làm điều gì đó. Tuy nhiên, khoảnh khắc này thuộc về Hulu.

Tại hậu trường, Atwood đã nói chuyện với cánh phóng viên về chiến thắng của mình. “Đúc kết của tôi là đừng bao giờ nghĩ rằng viễn cảnh này sẽ không bao giờ trở thành sự thật. Chẳng có bất kỳ điều gì tồn tại trong sách vở mà con người chưa từng hiện thực hóa trong một thời điểm nào đó, tại một nơi nào đó.” Những bình luận của bà mang tính truyền cảm hứng nhưng lại khá mơ hồ. Và rồi Atwood, sau khi thảo luận về bộ phim Chuyện người tùy n do Volker Schlöndorff thực hiện năm 1990, bắt đầu liệt kê những phiên bản chuyển thể khác từ tiểu thuyết của mình:

“Nó đã được chuyển thành một vở ô-pê-ra, một vở ba-lê; và giờ đây đã trở thành một cuốn tiểu thuyết bằng tranh… Ngoài ra trên YouTube còn có một đoạn phim ngắn mang tên: ‘Rốt Cuộc Họ Đã Thực Hiện Một Chuyện Người Tùy Nữ Cho Đàn Ông’. Vì thế, câu chuyện thoát ra khỏi cái khung sẵn có. Mọi người đã gửi cho tôi những chú gà dệt kim mặc những trang phục hầu gái nho nhỏ, cùng với những bức ảnh về chó và mèo của họ [được hóa trang]. Nó ở đâu đó ngoài kia trên thế giới. Nó cũng trở thành chủ đề cho cuộc biểu tình đến cơ quan lập pháp tiểu bang. Bạn có thể nói rằng những người hầu gái đã trốn thoát. Họ ở ngoài kia. Nhưng họ sẽ lại đến với bạn một lần nữa trong phần hai!”

Khi Atwood kết thúc lời phát biểu với việc đề cập đến phần hai của loạt phim Chuyện người tùy n, dù có chút hóm hỉnh, nhưng đó không phải là điều tôi mong đợi. Với sự kiêu ngạo – hay ngây thơ – của bản thân, tôi đang trông chờ Atwood – người đã vẽ ra một tương lai đáng sợ nhưng cũng khả dĩ – sẽ đưa ra một lời kêu gọi hành động và cho tôi biết mình có thể làm gì để ngăn chặn viễn cảnh của bà trở thành hiện thực. Chẳng phải Atwood hẳn nên biết làm cách nào để ngăn chặn nó ư?

Tôi biết đáng nhẽ mình nên mừng cho Atwood. Chuyện người tùy n là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời và cần thiết, hiện đã tiếp cận với nhiều khán giả mới thông qua loạt phim truyền hình. Atwood xứng đáng được hưởng thành quả cần lao của mình và bà ấy chẳng nợ tôi điều gì cả. Tôi rất muốn tin rằng có ai đó xem chương trình này sẽ được thôi thúc hành động thay vì ngồi khắp nơi và đan những con gà dệt kim trong lúc chờ đợi phần hai và những điều tồi tệ sẽ xảy ra ở đó. Nhưng chúng ta đang sống trong thế giới của vô số màn hình. Dù muốn hay không, chúng ta vẫn không thể tránh được bộ phim. Việc chấp nhận hòa theo dòng chảy và theo dõi những diễn biến sắp tới hóa ra dễ dàng hơn nhiều.

*

Thành công gần đây của Chuyện người tùy n cũng như việc tác phẩm 1984 của George Orwell đã nhảy vọt trở lại danh sách bán chạy nhất, và sự bùng nổ của các tiêu đề nhai đi nhai lại rằng mọi thứ đột nhiên đang xảy ra “hơn bao giờ hết” hướng về một kết luận: chúng ta đang sống trong thời dystopia1 (không-tưởng-đen/ phản-địa-đàng).

Từ dystopia, trong thời kỳ nước Mỹ đang bị chia cắt về mặt chính trị, đã điềm nhiên thành mốt. Thành mốt, quá đà, và ngay lúc này bị lạm dụng.

“Thói bi quan nay trở nên thời thượng”, tờ Vulture tuyên bố vào tháng Tám trong danh sách 100 tác phẩm vĩ đại nhất thuộc thể loại hư cấu dystopia. Bất kể mối quan tâm lớn nhất của bạn là gì – mâu thuẫn chính trị, biến đổi khí hậu, người da màu và phụ nữ bị áp bức, sự phát triển không kiểm soát được của công nghệ – thì vẫn có một viễn cảnh tương lai ác mộng đang chờ đón bạn. Nếu bạn thực sự muốn nắm rõ tình hình, bạn có thể bao bọc bản thân với mọi kết cục ảm đạm tiềm tàng. Mọi người đều được phép tạo ra một dystopia của riêng mình; họ dễ dàng cá nhân hóa nó như một danh sách iTunes.

“Thói bi quan nay trở nên thời thượng”

Từng là phương tiện đầy tham vọng để chỉ trích xã hội và chính trị, nhưng giờ dystopia đã bị giáng xuống thành phổ ngữ có thể đắp vào bất cứ thứ gì để nghe có vẻ theo kịp thời đại. Tuy thế, từ này vẫn chưa biến thành hoàn toàn vô nghĩa; nó vẫn gợi lên một nỗi sợ nhất định – và nghệ thuật dystopia cao quý vẫn còn đang sinh sôi. Nhưng nó đã trở nên quá thừa mứa. Chúng ta đã biết có vô vàn lý do để sợ hãi, rằng chẳng có ai đơn độc hành động mà có thể thay đổi tương lai. Chúng ta đang bị bão hòa với dystopia.

Nhiều người thuộc thế hệ của tôi lần đầu định hình quan niệm về dystopia từ việc đọc 1984Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley ở trường. Chúng tôi trưởng thành với Big Brother2, và bây giờ chúng tôi lại trốn tránh vào những thế giới hư cấu đáng sợ khi mọi thứ trong đời thực bắt đầu giống với những viễn cảnh ấy. Khi những câu chuyện này (rất nhiều trong số đó chứa đựng lời phê bình chống tư bản hoặc chống chủ nghĩa tiêu thụ) ngày càng phổ biến, chắc chắn chúng sẽ được chuyển thể thành các chương trình truyền hình, điện ảnh, hoặc quảng cáo của Apple. Giống như việc mỗi năm chúng ta có một bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới cho đến khi ngày tận thế, chúng ta được nghe kể về những câu chuyện từa tựa dystopia mà mình đã học hết ngày này qua ngày khác vào năm nhất trong trường trung học, nhiều trong số đó đã được viết từ lâu và, như Angelica Jade Bastién chỉ ra, tuyền một màu trắng. Chúng ta đã thực sự mắc kẹt khi nhìn thế giới như tuổi-mười-lăm.

Dystopia từng là tiểu thuyết của sự phản kháng,” chuyên gia sử học Jill Lepore đã viết cho tờ New Yorker vào tháng 6, “[bây giờ] nó trở thành tiểu thuyết của sự quy phục, về một thế kỷ 21 không đáng tin cậy, cô đơn và ủ rủ, tiểu thuyết của những tin giả và chiến tranh thông tin, tiểu thuyết về sự bất lực và vô vọng.” Lepore tiếp tục:

“[Dystopia] không thể vẽ nên một tương lai tốt hơn, và nó không yêu cầu bất cứ ai phải bận tâm nghĩ cách tạo ra một tương lai như thế. Nó nuôi dưỡng sự bất bình và phẫn nộ; nó không kêu gọi sự can đảm; nó thấy rằng hèn nhát là đủ. Lời khuyên duy nhất của nó là: Hãy tuyệt vọng nhiều hơn. Nó hấp dẫn cả cánh tả và cánh hữu, bởi vì, sau tất cả, nó chẳng mấy khi đòi hỏi về mặt văn chương, chính trị hay trí tưởng tượng của đạo đức mà chỉ yêu cầu bạn tận hưởng sự bầu bạn của những người có chung nỗi sợ về tương lai với bạn.”

Theo quan điểm của Lepore, hiện nay chúng ta khơi gợi lại dystopia là để trốn tránh chứ không phải để phản kháng.

Nhưng Hollywood, quan tâm nhiều đến việc trung thành với thương hiệu hơn là tạo ra những suy nghĩ tiến bộ, họ muốn khiến ta tin rằng chiến thắng của một chương trình bình đẳng giới kiểu dystopia hẳn nhiên chính là một đổi thay ý nghĩa.

Đặc biệt với Chuyện người tùy nữ, khi những người biểu tình hóa trang thành hầu gái và diễu hành khắp các tòa thủ phủ của bang, đôi lúc, ngoài ý nghĩa phản kháng thì việc đó lại tình cờ quảng cáo miễn phí cho Hulu. Thực tế, cuộc biểu tình hầu gái trọng yếu đầu tiên là một chương trình quảng cáo của Hulu theo đúng nghĩa đen. “Chúng tôi không hề cố tạo ra một tuyên bố chính trị,” một trong những người đứng đầu bộ phận marketing của Hulu cho hay đương lúc cuộc biểu tình diễn ra vào cuối năm ngoái tại SXSW3.

Trong một quốc gia đầy những kẻ đam mê chính trị, việc bênh vực nghệ thuật dystopia nay trở thành lựa chọn hàng đầu cho những ai muốn thể hiện lập trường chính trị mà không cần thật sự làm bất cứ điều gì. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận rằng mình đang sống trong dystopia, vậy đã quá muộn rồi. Cuộc đời chỉ phỏng theo nghệ thuật thôi.

Đây không phải là một lời kêu gọi ngừng đọc văn học dystopia. Thế giới cần các nhà văn như George Orwell và Margaret Atwood để đặt ra những câu hỏi khó về quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta. Nhưng như thế là chưa đủ. Chúng ta cũng cần tưởng tượng một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân, không đơn giản với tư cách là người tiêu dùng – dẫu tiêu dùng nghệ thuật hay văn học – mà như một công dân.

*

Dystopia là từ trái nghĩa của utopia4, thuật ngữ do Sir Thomas More miêu tả một trạng thái hư cấu hoàn hảo dùng làm tiêu đề bản châm biếm chính trị cổ điển năm 1516 của ông. Utopia, ở dạng ban đầu, nghĩa đen là “không đâu cả”. Nếu utopia là lý tưởng không thể đạt được, thì dystopia đi ngược lại: cơn ác mộng không thể tiến tới. Năm 1868, nhà triết học và kinh tế học người Anh John Stuart Mill đã xác nhận định nghĩa này khi ông trở thành người đầu tiên sử dụng dystopia như một từ riêng biệt.Trong bài phát biểu tại Quốc hội để chỉ trích sự cai trị của người Anh ở Ireland, Mill đã tuyên bố: “Nếu gọi [những người cai trị này] là utopia thì quá khen ngợi rồi. Phải gọi họ là dystopia… vì những gì họ tỏ vẻ ủng hộ là quá tồi tệ để được hiện thực hóa.”

Các tài liệu dystopia đầu tiên đều dựa trên quan điểm của More và Mill, và trong khi bản đồ thế giới ngày càng mở rộng, họ dùng khoảng cách địa lý để tạo ra những nơi chốn không thể chạm tới và không mong đợi. Những dystopia hư cấu đầu tiên là những địa điểm cụ thể hiện hữu song song với thế giới thực của tác giả, như hòn đảo kỳ lạ trong Gulliver du ký của Jonathan Swift, vùng đất Darwinian hữu danh vô thực ở Erewhon của Samuel Butler, hay nền văn minh tương lai của H.G. Wells trong bước nhảy thời đại tại Cỗ máy thời gian. Sức mạnh của những tác phẩm đầu tiên là chúng cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa bản thân thế giới thời bấy giờ và thế giới như nó có thể trở thành. Lemuel Gulliver đã phiêu lưu đến nhiều nơi khác nhau như Lilliput, nhưng anh ta luôn quay trở lại nước Anh thời hiện đại để suy ngẫm về những gì anh ta đã thấy và nó làm thay đổi thế giới quan của mình như thế nào. Người đọc có thể không đồng ý với kết luận của Swift, nhưng ông đã đưa ra một lời phê bình rõ ràng.

Vào đầu thế kỷ 20, những tiến bộ công nghệ (máy bay của anh em nhà Wright, xe hơi đầu tiên của Ford, tín hiệu vô tuyến xuyên Đại Tây Dương của Marconi) và Chủ Nghĩa Tân Đế Quốc khiến thế giới trở nên nhỏ hơn và phức tạp hơn, đầy tiềm năng và ít tiền lệ. Những câu chuyện mới phải được viết nên, vì vậy thế hệ các nhà văn tiếp theo của dystopia sẽ hướng về tương lai để chỉ trích và chạy trốn thế giới hiện đại. Từ The Machine Stops của E. M. Forster (con người chỉ biết dựa vào máy móc để nói chuyện với nhau), đến tiểu thuyết Chúng tôi của Yevgeny Zamyatin (tất cả bị kiểm soát và không hề có tự do) và cuối cùng là Thế giới mới tươi đẹp (chúng ta sống trong một khuôn khổ sẵn có), những câu chuyện này không còn là sự châm biếm chính trị thời cuộc mà là những dự đoán táo bạo về “chuyện gì sẽ xảy ra”. Người đọc được trao quyền để rút ra những điểm tương đồng giữa tác phẩm và thực tế để xác thực xem những câu-chuyện-tương-lai-xa có phải là cảnh báo nghiêm trọng hay chỉ là những câu chuyện ngớ ngẩn.

Khi Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima, và rõ ràng rằng giờ đây thế giới có thể kết thúc chỉ với một cú bấm nút, thì những câu chuyện mới cần phải được viết ra. 1984, xuất bản năm 1949, đã kết thúc “thời kỳ hoàng kim” dystopia nghệ thuật, trước khi các nhà văn chuyển trọng tâm sang bối cảnh tận thế kịch tính thời Chiến tranh Lạnh. Làn sóng mới trong văn chương dystopia – bao gồm 451 độ F của Ray Bradbury, I Have No Mouth and I Must Scream của Harlan Ellison, và The Girl Who Was Plugged In của Alice Sheldon – bắt đầu có cảm giác như là tiểu thuyết khoa học viễn tưởng sến súa, mặc cho nhiều tác phẩm đa dạng và đầy thách thức ra đời, như là Neuromancer của William Gibson (khai sinh ra cyberpunk), A Clockwork Orange của Anthony Burgess (phong cách Orwell với niềm hân hoan phản văn hóa), và, tất nhiên, Chuyện người tùy nữ (một câu chuyện ảm đạm về kỳ thị nữ giới trong một thể loại quá ư đực tính). Vào cuối những năm 80, dystopia đã phát triển từ một thể loại cá biệt nghiêm ngặt trở nên phổ biến, tuy thế vẫn có tác dụng cải biên cho bất kỳ tiểu thuyết nào muốn tiên đoán về một tương lai chết chóc.

Một bước tiến đáng kể của dystopia, tuy thế, đã xảy ra không chỉ trong sách mà trên cả màn hình. Bộ phim dystopia vĩ đại đầu tiên là Metropolis (1927) của đạo diễn Fritz Lang, nhưng bắt đầu từ những năm 70, một số tiểu thuyết về dystopia đã được chuyển thể thành phim rất có sức ảnh hưởng, nổi bật nhất là A Clockwork OrangeNgười máy có mơ về cừu điện không? của Philip K. Dick (đổi tên thành Blade Runner). Ngoài ra còn có những câu chuyện mới về dystopia như THX 1138 (tác phẩm đầu tay của đạo diễn George Lucas), Born in Flames của Lizzie Borden và Brazil của Terry Gilliamine. Trên màn hình, tương lai vẫn ảm đạm, nhưng giờ đây nó đang bùng nổ, chải chuốt và có thể được tiêu thụ trong khoảng hai giờ.

Quả bom dystopia lớn kế tiếp tập trung ở trẻ em và thanh thiếu niên. Cuốn tiểu thuyết Người truyền ký ức (1993) của Lois Lowry đã trở thành một trong những tiểu thuyết dystopia nổi tiếng đầu tiên viết cho khán giả trẻ với nhân vật chính là một cậu thanh niên, và nó đã mở ra cánh cửa cho vô số tiểu thuyết dystopia dành cho giới trẻ – có lẽ đạt đến đỉnh cao khi cuốn tiểu thuyết Đấu trường sinh tử năm 2008 của Suzanne Collins được chuyển nhượng truyền thông (tương tự với nhiều cuốn sách ăn theo). Đối với người lớn, thì dystopia tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên màn hình hơn là trên trang giấy. (Battle Royale của Koushun Takami và Mãi đừng xa tôi của Kazuo Ishiguro là hai ngoại lệ đáng chú ý).

Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt, nhưng thế giới vẫn đang chán nản, và xuất hiện nhiều dystopia mới có nội dung giống hệt nhau – thoát ly khỏi cái đáng chán ấy. Các bộ phim như bản chuyển thể Ghost in the Shell của Mamoru Oshii, Strange Days của Kathryn Bigelow, và The Matrix của Wachowskis xảy ra trong tương lai gần với sự thấu-hiểu-hết-thảy, kiểm-soát-hết-thảy những công dân bất-lực-hết-thảy. Trong sự toàn cầu hóa thế kỷ 21, cái tương lai gần đôi khi rất buồn cười (Idiocracy của Mike Jugle) nhưng thường thì nó chỉ ảm đạm (bản chuyển thể của Alfonson Cuarón từ Children of Men của P. D. James, District 9 của Neill Blomkamp và Snowpiercer của Bong Joon-ho).

Và TV giờ đây, nhắm chừng là phương tiện ảnh hưởng hơn cả bởi lãnh địa trực tuyến mới mẻ, dần trở thành nơi trú ngụ cho nguyên tác hay bản làm mới của những câu chuyện dystopia. Chuyện người tùy nữ sẽ trở lại với phần hai, sắp tới là 451 độ F trên HBO, và chúng sẽ chiếm suất cạnh bên một loạt những chương trình dystopia mới và chuyển thể và các chương trình tiên đoán cổ điển khác và các bộ phim sẽ được quảng bá kịp thời, lặp đi lặp lại.

*

Dystopia đã chuyển từ phê bình chính trị công khai sang một hình thức giải trí giật gân và thương mại hóa – vậy chúng ta có thể làm gì? Thật sự là rất nhiều.

Vào đoạn cuối 451 độ F, nhân vật chính của Bradbury, Montag tìm thấy một nhóm những người mê sách đang lưu vong nhưng đã ghi nhớ những cuốn sách; họ chờ đợi xã hội cũ chấm dứt để có thể xây dựng lại thế giới bằng trí tuệ của văn học. Điều này thực sự đến, và Montag trở lại với những người yêu sách để xây dựng một thế giới mới. Đây là một cách gọn ghẽ để hoàn thành một cuốn sách, nhưng chúng ta không cần chờ đợi thế giới kết thúc để tạo ra một sự thay đổi có ý nghĩa.

Mặc dù thế giới cần những nhà văn – những người đặt ra những câu hỏi khó và thách thức những giải pháp sơ sài, nhưng thế giới cũng cần những phóng viên phát ngôn cho những người không thể lên tiếng hoặc tiếng nói bị phớt lờ. Thế giới cần các tổ chức 350.org, Trung tâm Luật Giffords, RAINN và các chương trình tình nguyện để mở rộng việc giáo dục công dân. Thế giới cần chúng ta bỏ phiếu, đặc biệt ở quy mô nhỏ lẻ, nhưng ta cũng phải đứng sau sắp xếp những căn nguyên cụ thể và kêu gọi hành động. Thế giới cần chúng ta có những hành động tạo ra thay đổi nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn thay vì từ bỏ khi mọi thứ thay đổi quá nhanh. Thế giới cần chúng ta cố gắng hơn, và thông minh hơn.

Những khoảnh khắc hy vọng hiếm hoi trong dystopia thường ám chỉ rằng để  cứu vãn tương lai, tất cả phụ thuộc vào nhân vật chính – người phải bất chấp những tỷ lệ bất khả thi để đánh bại kẻ xấu trong cuộc đấu một mất một còn. Trong thực tế, tiến bộ là công việc của nhiều cá nhân có đầu óc nhưng không hoàn hảo; họ muốn cải thiện cuộc sống của chính mình và người khác, theo những cách khác nhau. Điện đàm với các vị thượng nghị sĩ chẳng thú bằng việc F5 danh sách chờ xem trên Netflix hay trông quyến rũ lộng lẫy như khi mang trên mình cái huy hiệu “Time’s Up”. Học cách để hành động chính xác là khó khăn, rất áp lực, và thường làm ta thất vọng. Nhưng nó hoàn toàn xứng đáng.

Hết.

Hoài Ân dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Brady Gerber, đăng tại Literary Hub.

Chú thích:

  1. Dystopia (phản-địa-đàng) là từ chỉ một cộng đồng hoặc xã hội tiêu cực đến đáng sợ. Những đặc điểm thường gặp tại dystopia là nhân tính bị đánh mất, chính quyền bạo ngược chuyên chế, thảm họa môi trường hoặc những đặc trưng khác của một xã hội đang xuống dốc đến bến bờ diệt vong.
  2. Big Brother là nhân vật giả tưởng trong tác phẩm 1984 của George Orwell, là lãnh đạo của chế độ độc tài Oceania.
  3. SXSW (South by Southwest) là một chương trình hội nghị điện ảnh, truyền thông tương tác và lễ hội âm nhạc tổ chức thường niên vào tháng Ba tại Texas, Hoa Kỳ.
  4. Utopia là một cộng đồng hoặc xã hội gần lý tưởng hoặc hoàn hảo trên mọi mặt.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khách không mời: Khi mọi thứ đều cong

Published

on

By

khach khong moi

  Em thường nhìn vào những khu nhà cao mới xây, em thấy không cái nhà nào thẳng cả […] Nàng chưa bao giờ thấy ai có sống mũi thẳng một trăm phần trăm. Cũng đúng như bạn chẳng bao giờ thấy một cái cây, một bức tường, một cái chân bàn, hay một cây cột điện thoại nào thẳng một trăm phần trăm.

Tôi đọc Geling Yan rất vô tình. Trong một lần lướt xem những đầu sách nào chuẩn bị được in ở các thị trường lớn trên thế giới, thì The Secret Talker lọt vào mắt tôi với cái bìa khá ấn tượng cùng tên tác giả gợi nhớ nhiều tới gốc gác Trung Quốc. Thông thường, những thị trường lớn này hay ưa chuộng các tác giả châu Á có phần đặc biệt – họ viết hoặc phản ánh những điều bị cấm (trường hợp Diêm Liên Khoa, Lý Dực Vân) hoặc thật sự khác biệt với phong cách nổi trội (trường hợp Tàn Tuyết, Dư Hoa…). Và cũng vì thế, Geling Yan để lại một ấn tượng sâu sắc nhưng tôi vẫn chưa có khái niệm gì về bà sau lần chạm mặt tình cờ ấy.            

Tiếp sau đó, trong một lần đi tìm sách cũ ở những ngõ ngách Saigon, tôi bỗng lại gặp một quyển sách khác của bà, Khách không mời. Thú thật đây không phải là lần đầu tiên tôi bắt gặp nó, nhưng với chiếc bìa không để lại quá nhiều ấn tượng thì tôi đã lướt qua nó rất nhiều lần trước đây. Nhưng dĩ nhiên duyên phận đã lôi kéo vào vòng xoáy này khi tuần trước nhớ tên tác giả, tuần sau đã gặp sách của bà, thêm vào đó là dịch giả vô cùng tiếng tăm, nên tôi đã thử và đọc cuốn này. Khách không mời thật sự mới lạ, vì so với hầu hết những tiểu thuyết Trung Quốc khác tôi từng đọc qua viết về Cách mạng Văn hóa, hậu Phong trào Tứ Thanh hay thời chuyển giao quyền lực của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay biến cố Thiên An Môn… thì Khách không mời lại tập trung vào một quãng thời gian mới hơn, gần đây hơn nhưng cũng đầy vận động với một Trung Quốc đương thời.

Không thể phủ nhận chính việc đặt Khách không mời vào bối cảnh của thời “mở cửa” đã trở thành một trong những lý do khiến nó mới mẻ, độc đáo và không bị nhàm chán. Nếu văn chương Xô Viết dễ bị hình dung như văn chương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Trung Đông là tiếng nói mới của phụ nữ bị áp bức thì Trung Quốc như phần lãnh thổ rộng lớn của mình, lại có nhiều cái tên - từ văn chương hậu Cách mạng văn hóa, làn sóng linglei đến trào lưu tiểu thuyết quan trường… Geling Yan cũng từ đó phát triển và phối trộn những màu sắc đặc trưng rất Trung Hoa. Bà lùi về quá khứ một chút với thời nghèo đói, bà tiến vài bước đến kì tương lai, và hay ho là Khách không mời nằm được ở giữa, với chủ đề mới, rặc tính Đông phương nhưng hầu như rất ít tác phẩm nào từng gợi nhớ đến, mà gần đây nhất có thể coi Parasite của Bong Joon-ho như sự thấu cảm cùng chung chủ đề.

Nếu ai tìm hiểu về Geling Yan thì chắc sẽ không thể quên gia tài đồ sộ những cuốn tiểu thuyết của bà. Về nhà (tựa gốc Coming Home) hay Kim Lăng Thập tam thoa (The flowers of war) từng được Trương Nghệ Mưu chuyển thể, đã lấy đi nhiều giọt nước mắt lãnh đạm, khi thì trong chiến tranh Trung – Nhật, khi thì là tình yêu và sự cứu rỗi. Phần lớn những nhân vật của bà đều là phụ nữ. Họ bị bán đứng, xem thường, rẻ rúng và trở thành trò tiêu khiển trong chiến tranh hay như phụ nữ nông thôn thường thấy – vất vả, cơ cực. Bước ra từ Khách không mời, bà phá vỡ motif thường thấy của mình, khi không đặt chân bước vào chiến tranh, cũng không tạc thù miêu tả phụ nữ, mà rộng ra hơn và linh hoạt hơn với những vấn đề lớn hơn, vĩ mô hơn và nhất quán hơn.

Nhân vật chính của Khách không mời là Đan Đông, một người đàn ông ưa nhìn ở độ tuổi trung niên sống trong xí nghiệp sản xuất nay phải hoạt động cầm chừng ngày có ngày không. Hơn 10 tháng nay họ không nhận gì ngoài những phiếu lương có vẻ như vô giá trị. Được ở đấy với Tiểu Mai – người vợ xinh đẹp, họ có giá thuê chỗ ở rẻ, được ăn cắp điện để nấu nướng, có nước nóng rửa ráy, mua được thịt thà không phải qua kiểm định và có cá hộp hết hạn để trả thay lương. Sống trong tận cùng của những nghèo xơ xác ấy, trong một lần đi phỏng vấn làm bảo vệ khách sạn, một con đường mới đã mở ra cho Đan Đông – đó là đóng giả phóng viên để được ăn tiệc miễn phí và nhận về tiền “xin lỗi đã làm phiền”.

Geling Yan mô tả khá hay hình tượng người đàn ông này. Bà không chỉ nêu bật cái khổ, bà còn dồn ép nhân vật của chính mình vào con đường khốn đốn, tận cùng. Trong những buổi ăn tiệc ấy, ngoài Đan Đông thì những con rệp ăn tiệc khác nay cũng đánh mồi thấy được sự béo bở. Chúng cướp quyền sở hữu trí tuệ là mánh khóe làm giả danh thiếp của anh, chúng thuê thêm người làm thợ chụp ảnh, và dĩ nhiên, cảnh sát không thể ngó lơ. Một vài tuần sau chiến lược càn quét của ngành công an đã tàn phá mâm cổ miễn phí, và cũng như bao kẻ khác, Đan Đông hay Tiểu Mai cuối cùng cũng phải chui vào tấm lưới muôn phương vây bủa.

Song song với việc bị đẩy đi đến đường cùng, Đan Đông cũng phải đối mặt với những thứ khác đang kềm giữ anh. Có thể tưởng tượng người đàn ông ấy là một miếng cam nay bị vắt kiệt, mà bàn tay ấy, khốn thay không phải bởi những tầng lớp giàu sang – mà là những người còn nghèo hơn anh. Đó là nỗi thương cảm của một người nghèo dành cho những người nông dân nghèo còn kiết xác hơn cả mình với những tham nhũng, bắt bớ, quan liêu. Đó còn là sự mông lung giữa dục tính thật sự và việc lợi dụng người cùng khổ khác, mà hiển hiện nhất chính là Mười Khó với lời thỉnh cầu về một bài báo vách trần sự thật, trong khi anh chỉ là một tay lừa bịp không hơn không kém. Anh tự nhủ rằng Mày phải cẩn thận trong những ngày này, hoặc mày sẽ bị đẩy vào tình huống mà ở đó phải chạm trán với cái nghèo khó trên mọi nẻo đường.

Vượt thoát ra khỏi Đan Đông, Geling Yan xây dựng một bầu không khí được chia ra thành hai tầng lớp dựa trên nhận thức, giữa một bộ phận những người cảm được trò mèo của nhịp sống hiện đại (như Đan Đông, người họa sỹ già Trần Dương) và một bộ phận những người còn lại. Mối quan hệ một mặt thâm giao với Trần Dương – người phản đối những trò mê dụ, người bị tổn thương khi giá trị con người đã xuống thấp nhất - giữ anh lơ lửng cùng mối quan tâm với những bác nông dân, những người cùng khổ và không có gì. Đan Đông đã bị dồn nén từ cả 2 phía, không chỉ người giàu, mà là kẻ hèn trong cơn quằn quại.

Một người không phải cứ bán thân mình thì mới là mãi dâm. Một người thậm chí có thể trở thành một con điếm còn bẩn thỉu hơn bằng cách bán một thứ gì đó quý hơn cả thân xác mình, dường như là lời miêu tả đúng nhất những trò điêu ngoa của lớp thị dân được thời sung túc. Khi bị đồng tiền chi phối, họ có thể làm những bữa tiệc ăn thịt chim công; nặng hơn một chút họ mua thánh bán thần, họ mua chuộc báo chí để mọi sự thật thành ra bẻ cong. Đau đớn hơn cả khi họ lừa dối cùng chung một dòng giống người, họ bắt bớ, chiếm đoạt; họ lừa đảo từng đồng lương ít ỏi, từng căn họ xây thêm để làm giàu nữa cho bản thân mình.

Nhưng ngay cả khi những người giàu có nhất ấy chường mặt ra ngoài, trong bản thân họ luôn là tình thế chông chênh lo sợ ngai vàng ấy một ngày bị cướp đi mất. Trong họ luôn là nỗi bất an nghe tin một cơn bão tới. Tầng lớp dưới cùng thì sợ chiến dịch dọn dẹp loài con rệp ăn tiệc, tầng lớp giàu sang thì sợ phanh khui trốn thuế, đầu tư lừa bịp hay ti tỉ những công việc khác. Tất cả bọn họ đều có một tật: Trần Dương thì bứt đầu lông cọ vẽ, tổng giám đốc Võ thì bóp que diêm, Hồng Ngọc thì đùa giỡn với chiếc dép lê đi trong nhà. Họ làm những điều không cần suy nghĩ này để tự trấn tĩnh bản thân. Để hiểu được cái gì làm cho họ rối trí.

Với Khách không mời, Geling Yan hay Nghiêm Ca Linh đã mang đến một bữa tiệc khỏa thân trong chính trải nghiệm của việc nói lên sự thật.Với cuốn sách này bà một lần nữa chứng minh được tên tuổi mình, khi luôn linh hoạt với đời sống và mở thế giới quan một cách rộng khắp lướt qua thực tại. Hiện đại, sắc sảo, tinh tế và vô cùng mạnh mẽ; có thể nói đây là một trong những cuốn sách có tầng sâu nhất của bà, vượt thoát khỏi những tiểu thuyết thời hậu Cách mạng văn hóa thường thấy, nhưng dẫu sao cũng dễ thấy rằng, nó còn thiếu một chút đột phá với những thể nghiệm trên cùng.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu – Một hành trình mạnh mẽ

Published

on

By

thao go phep mau featured

Tháo gỡ phép màu của Julie Yip – Williams có lẽ là một tựa sách gây nhiều băn khoăn khi ta lần đầu bắt gặp. Thế nhưng khi đã đi hết hành trình của người phụ nữ đầy bản lĩnh và kiên cường này, ta sẽ hiểu vì sao đến cuối cùng thì Phép màu cũng cần được tháo gỡ, và điều quan trọng nhất không phải là ta có được điều gì từ sự kỳ diệu, mà là ta hiểu được gì từ sau cuộc sống vốn luôn hạn hữu này.

Được viết như một ghi chép về cuộc đời mình, Julie - người mẹ, người vợ, người bạn, người phụ nữ tràn đầy cảm hứng – đã kể về quá trình trưởng thành, nhận thức, buông bỏ và thấu hiểu chính cuộc sống này. Sinh ra với bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh mà bước ngoặt đầu tiên đã là thử thách, liệu cô có giữ được mạng sống ở tuổi lên 3?

Những năm miền Nam Việt Nam mới được giải phóng, cuộc đời của một đứa trẻ không thể nhìn thấy là rất khó đoán, và đó cũng là lý do vì sao bà nội vẫn luôn nghĩ rằng cái chết là thứ quá đỗi êm dịu với một đứa bé như cô. Như một phép màu bỗng chốc xảy ra, vị thầy thuốc từ chối ban phát vị thuốc chết; và cũng chính sự kiện ấy đã làm nảy sinh một sự cố thủ từ chính mẹ cô – người phụ nữ vốn được dạy bảo phải phục tùng chồng – nay lần đầu tiên đứng lên bảo vệ con mình, và đi đến quyết định di cư sang Mỹ.

Với gốc gác là dòng tộc Hoa, sau cơn chính biến Nạn kiều 1978, cô cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, đến Hongkong và sau cùng là thẳng đến Mỹ. Với một đứa trẻ gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể, hành trình lênh đênh đến hơn 3 tháng trên một chiếc thuyền ọp ẹp mà vẫn bình yên kỳ thực là một phép màu. Như sau này cô cũng thừa nhận, quá nhiều phép màu đã đến với cô, là thứ tạo ra, tái sinh và giúp cô sống tiếp trong cuộc đời này.

Và dĩ nhiên, Phép màu chưa dừng ở đó. Sau khi được các bác sỹ ở Mỹ phẫu thuật can thiệp dẫu cho không thể hoàn toàn sáng mắt, cô phần nào có lại thị lực dẫu bị sa sút, ở một trạng thái mà ta vẫn gọi là ‘mù pháp lý’. Cô chăm chỉ học tập, gạt bỏ hết mọi định kiến người khác áp đặt lên mình, tốt nghiệp Havard và trở thành luật sư ở một hãng luật danh tiếng. Chưa dừng ở đó, cô còn gặp được Josh – người đàn ông của đời mình, có một căn nhà ở khu Brooklyn và hơn hết là 2 thiên thần nhỏ - Mia và Bella.

Thế nhưng một ngày năm 2013 khi 37 tuổi, cô được chuẩn đoán mắc phải ung thư đại tràng, và tình hình còn xấu hơn nữa khi đó là giai đoạn IV đang có dấu hiệu di căn ra khắp cơ thể. Trong những ngày nằm ở bệnh viện đối mặt ban đầu với ung thư, những con số thống kê nhấp nháy trên màn hình Ipad được Josh đưa ra chỉ có khoảng 0.08% phụ nữ dưới 40 tuổi có thể mắc phải bệnh này, và tỷ lệ sống sót là 6-15%. Phép màu lại một lần nữa tiếp tục hiển hình khi có tới 99% khả năng Julie không mắc ung thư; nhưng lần duy nhất này thật sự khắc nghiệt.

Một điểm đặc biệt là với cuốn hồi kỳ này, Julie không cố che giấu một điều gì cả. Cô không tự an ủi bản thân với chút hy vọng hão huyền, khi việc di căn từ nơi màng bụng đã lan ra đến tử cung, phổi và sau này là xương và gan. Cô đã thử đến 3 lần thí nghiệm lâm sàng với các loại thuốc khó tìm khác nhau, các phương pháp mới mẻ, các loại đông – tây y,,, cô không từ chối bất cứ điều gì. Thế nhưng ung thư ngày càng tai ác, sau cơn hòa giải với những lần xạ trị tưởng chừng bình yên thì ngay lập tức nó quay trở lại và tấn công cô.

Trong những ngày chiến đấu với những hạch nhỏ xuất hiện nơi phổi và đầu thời kỳ di căn vào xương, trong Julie là một vũ trụ của những cảm xúc. Cô khóc than, bất lực cho số phận mình; cô nổi đóa với Chúa – nếu Ngài có tồn tại – vì việc chọn cô; cô giận dữ với bất cứ một yêu cầu nào không được đáp ứng và cả ganh tị với ‘Cô vợ Hai Lẳng Lơ’ – biệt hiệu của người sẽ thay cô chăm sóc Josh cùng các con gái khi cô rời đi.

Từ người du lịch 5 châu đến tận Nam Cực nay chuyến đi cuối cùng là quần đảo Galapagos, nơi những nguyên sơ vẫn được bảo tồn - nơi cô cảm nhận được Josh trong mối quan hệ và là tình yêu cuối đời của mình. Trong những tháng ngày đối chọi ở trên giường bệnh, cô vẫn níu kéo một chút hơi sức để các con gái không thấy mình đã từ bỏ. Cô dũng cảm chiến đấu với ung thư, nhưng theo một cách thực tế, lý trí và cũng mạnh mẽ.

Thay vì than khóc vì chính cái tạ mình đang đeo phải, thay vì mù quáng tin tưởng vào việc điều trị ở giai đoạn cuối; cô ở đó và lên kế hoạch cho những người thân yêu nhất. Hợp nhất căn nhà để các con gái có không gian riêng khi chúng lớn lên, nhờ vả chị gái chăm sóc hai cô gái nhỏ, nhắn gửi cô giáo phụ trách về việc học đàn, gửi gắm đến Josh về niềm hạnh phúc, tự lên kế hoạch cho tang lễ mình… Tất cả được cô chăm chút kỹ càng như chuyến cuối cùng bên lề cái chết, là chốn hội ngộ với bà cố tổ – nơi cô vốn nghĩ không quá đáng sợ mà chỉ đơn thuần là dịp gặp mặt như những ngày xưa.

Nhà văn trinh thám Sidney Sheldon từng nói ‘Phép Màu có thật trong cuộc sống này... với điều kiện, ta phải tự mình tạo ra chúng’, và cuộc đời của chính Julie là một Phép màu. Biết rằng Phép màu đã đến rồi đi, cô đã trân trọng, yêu thương và tận dụng hết mọi khoảnh khắc; để khi cánh cửa mới mở ra, những Phép màu sẽ được tháo xuống, gỡ ra và truyền tiếp cho thế hệ sau bằng chính niềm tin, sự hy vọng cũng như niềm hân hoan. Dũng cảm, thẳng thắn và rất xúc động – hành trình của Julie Yip – Williams là niềm ham sống, khát khao tự do, vươn lên số phận. Một chặng đường vô cùng mạnh mẽ.

Hết.

Chiêu Dương

Ảnh đầu bài: Kafla Bookstore

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Cafe sáng