Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ: Chúng ta tưởng mình đã biết hết về chiến tranh

“Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình”

Published

on

Tôi gấp cuốn sách lại trong một ngày giáp Tết, khi không khí của mùa xuân tràn vào nhà nhà, từng góc phố con đường. Nắng vàng nhưng không khí có chút se lạnh. Tôi nhìn đồng hồ, những vòng thời gian liên tiếp qua đi, cứ thế, đều đặn. Thời gian, tuổi trẻ, cuộc đời, con người,… tất cả tạo nên cuộc sống. Thật may mắn khi giờ đây chúng ta được sống trong hòa bình. Tiếng súng bom đã dứt nhưng đâu đó dư âm của nó vẫn còn.

Có rất nhiều câu chuyện, cuốn sách viết về chiến tranh. Ở Việt Nam tiêu biểu nhất có lẽ là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; ở nước ngoài lại có Những thứ họ mang của Tim O’Brien, Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque, Cuộc chiến đã qua – Niềm đau và nỗi nhớ vẫn còn của Anthony Loyd, Hẹn gặp lại trên kia của Pierre Lemaitre,… Mỗi cuốn sách mang một câu chuyện, một góc nhìn, nhưng có bao nhiêu cuốn sách là lời của nhân vật nữ, câu chuyện của phụ nữ và góc nhìn nữ từ chiến tranh?

Ở Việt Nam, năm 40 Hai Bà Trưng đã cưỡi voi khởi nghĩa. “Từ thế kỷ thứ tư TCN, ở Athens và Spartes đã có phụ nữ chiến đấu trong những binh đoàn Hy Lạp. Sau đó họ tham gia các chiến dịch của Alexandre de Macédoine.” Thế nhưng, trong văn chương, ai mà muốn nghe đàn bà kể về chiến tranh khi những người đàn ông đã viết được những thiên sử chói loà? Ai đó bảo tôi: “Đàn ông kể về chiến tranh bằng chiến thắng, phụ nữ kể chiến tranh bằng cảm xúc.” Thực sự có đúng như người ta nói hay không? Tôi muốn tự mình kiểm chứng qua Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của nữ nhà văn, nhà báo Svetlana Alexievich. Đây là tác phẩm lệch giữa hai bờ vực: một nửa là văn chương, một nửa là báo chí. Nó giống như tuyển tập những câu chuyện đi trên dấu vết của đời sống nội tâm và ghi âm lại tâm hồn của những người phụ nữ trở về sau Thế chiến thứ hai, nơi cuộc chiến của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Không phải lịch sử chiến tranh hay lịch sử nước nhà mà là lịch sử của những con người bình thường với cuộc sống bình thường, thời đại họ bị xô vào những biến cố khổng lồ.

Lúc Svetlana Alexievich tìm đến xí nghiệp kéo sợi, nơi một nữ xạ thủ bắn tỉa hiện đang làm việc thì đã nghe những người đàn ông bình luận: “Hết đàn ông hay để hỏi rồi sao? Tại sao cô lại cần đàn bà? Nghe họ nói mê… nghe chuyện đàn bà nạ dòng thì phỏng được gì…” Đến một gia đình khác, chồng và vợ đều tham gia chiến tranh. Họ gặp và cưới nhau ở ngoài mặt trận. Khi tác giả hỏi chuyện người vợ, ông chồng dặn bà: “Kể như tôi đã bày cho bà ấy. Không có nước mắt, cũng đừng có kể những chi tiết ngu ngốc, kiểu: ‘Tôi cứ muốn đẹp. Tôi đã khóc khi bị người ta cắt mất bím tóc.’” Người vợ đã thú nhận rằng: “Ông ấy đã nhồi nhét cho tôi suốt đêm cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại. Ông ấy lo cho tôi. Ngay cả bây giờ nữa, ông ấy lo tôi không nói được các kí ức cần thiết.”

Hình như những người phụ nữ đã náu mình lãng quên trong chiến tranh. Những câu chuyện về họ vẫn chưa được kể, hoặc đâu đó một vài câu chuyện được kể nhưng là những người mẹ kể cho con, người bà kể cho cháu. Đó là những câu chuyện đậm dấu ấn cá nhân chứ chưa có một tổng quan đúng nghĩa thật sự ở phương diện xã hội.

Cuộc chiến tranh của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Quả thật là đàn ông náu mình sau các sự kiện, chiến tranh thu hút họ; còn phụ nữ cảm nhận chiến tranh qua cảm xúc. “Cuộc sống của con người trở thành lịch sử và lịch sử được cắt ra thành hàng trăm, hàng ngày cuộc đời con người. Người ta bắn và người ta chết, người ta có lòng tin và người ta vỡ mộng.” Những mảnh ghép, những montage về mặt tự sự được ghi lại bởi Alexievich. Những buổi phỏng vấn với một máy ghi âm, một cuốn sổ, những người phụ nữ và câu chuyện được kể. Nó như một bộ phim tài liệu cảm xúc vẽ cuộc sống của những người phụ nữ Liên Xô trước, trong và sau chiến tranh.

Hành trình qua hơn 100 vùng từ nông thôn đến thành phố, các khu dân cư, làng mạc, những gương mặt phụ nữ lần lượt hiện ra, họ kể những câu chuyện của họ, đủ các câu chuyện với các cung bậc cảm xúc, từ một cô bé 12, 13 tuổi khi nghe tin chiến tranh, đến những cô gái 15, 16 khai sai tuổi để được đi đánh giặc, điều kiện sống thiếu thốn, chứng kiến cái chết, cứu người, lần đầu giết người (địch), những người mẹ đã hi sinh đứa con mình vừa mới sinh, tình yêu trong quân đội, ám ảnh lúc hoà bình,… tất cả đều được ghi lại với cái nhìn nhân bản nhất. “Tôi đã ghi âm hàng trăm câu chuyện, trên cái giá của tôi xếp hàng trăm băng cát xét và hàng nghìn trang in. Tôi chông tai và tôi đắm mình đọc.”

Cuốn sách là nỗ lực của tác giả và những thanh âm thầm lặng bấy lâu chưa một lần lên tiếng. Hồi ức của họ nhìn thẳng vào chiến tranh, nhìn thẳng vào cái chết, có những gương mặt chưa từng được kể, để khi biết chúng ta nhận ra mình sai khi nghĩ mình đã biết hết về chiến tranh. Chiến tranh bắt đầu khi “Sương còn chưa kịp khô trên lá cây mà người ta báo tin chiến tranh đã được tuyên bố, và giọt sương khi tôi đột ngột nhận ra trên cây khi người ta đột ngột báo tin chiến tranh thường trở lại trong tâm trí tôi khi ở ngoài mặt trận.” Cái khoảnh khắc đó, lúc cuộc sống vẫn đang bình thường, mặt trời rạng rỡ, cây ra hoa, cây ra lá, những giọt sương long lanh, thiên nhiên bỗng đối kháng với những gì đang xảy ra ngoài mặt trận, sống trong doanh trại, chiến đấu với quân thù thì chiến tranh vẫn là sự việc người ta không tin được và sững sờ khi nhớ đến giọt sương.

Và họ, những cô gái trẻ vì lòng yêu nước, họ bỏ lại tất cả. Những bím tóc dài bị cắt ngắn đi, những chiếc váy xếp cất vào tủ và khoác lên mình chiếc áo varơi cùng ủng chiến đấu, họ mặc những chiếc áo quá rộng, đi giày quá size. Họ trở thành những bác sĩ, y tá, xạ thủ bắn tỉa, xạ thủ phòng không, trung sĩ cận vệ, thợ máy không quân, điện thoại viên, lái xe, liên lạc, du kích,… họ có thể làm được tất cả, trong môi trường sống và điều kiện đầy những thiếu thốn. Thiếu ăn, thiếu mặc, ba ngày chỉ có bánh mì dã chiến để ăn, ăn đến rộp lưỡi lên không còn nói được, thậm chí chẳng có gì để ăn, chết đói.

“Người ta cắt tóc họ như con trai. Chi tiết ấy không ai quên nhắc lại: và bao giờ cũng là chuyện bím tóc dài bỏ lại trên sàn nhà bẩn thỉu của phòng tuyển quân. Người ta mặc cho họ bộ quân phục may cho đàn ông, áo khoác, ủng, vớ portianki, khó khăn tìm cho ra một kiểu hòa hợp coi được, rất thường cung cấp những thứ quá cỡ hai đến ba số. Ủng số 40 thay vì 36…”

Chiến tranh lúc đầu chỉ để dành cho đàn ông. Phụ nữ bị cuốn vào, môi trường quân đội mặc định người phụ nữ giống như những người đàn ông, chẳng có một chế độ riêng nào dành cho họ. Có những cảnh tưởng chừng như chẳng thể tưởng tượng nổi.

“Chúng tôi đi bộ bốn mươi cây số… cả một tiểu đoàn phần lớn là phụ nữ. Nóng chết người. Đến ba mươi độ. Nhiều cô gái đang có… Nói thế nào… cái thứ mà phụ nữ nào cũng có… chảy nhỏ giọt dọc chân… Người ta chẳng cấp gì cho chúng tôi cả, đúng không? Chẳng cách gì chữa được. Chúng tôi đến một điểm có nước. Chúng tôi nhìn thấy một con sông… và những cô gái ấy, tất cả họ lao xuống sông. Nhưng bọn Đức bên kia nổ súng ngay. Chúng ngắm chính xác… Chúng tôi cần tắm rửa, vì chúng tôi quá xấu hổ trước mặt đàn ông. Chúng tôi không muốn ra khỏi nước, và một cô gái đã bị bắn chết …” 1  

“Tôi sẽ không bao giờ quên cái ngày, sau một trận đánh trở về anh hỏi tôi: “Em có một cái áo ngực không? Mặc vào đi, xin em. Hãy để cho anh được nhìn em khi em mặc áo ngực.” Nhưng tôi chẳng có chiếc áo nào cả, ngoài cái áo varơi tôi đang mặc.”

Trong cái “nghề” nam tính là “chiến tranh”, họ vẫn là chính họ, họ vẫn giữ một lãnh địa bên trong mình, thậm chí một số người bảo vệ thiên tính nữ bằng cách thêu thùa, buộc ruy băng đỏ. Trong một lần hành quân, một nữ xạ thủ bắn tỉa rất giỏi vì muốn buộc sợ ruy bay đỏ giữa nền tuyết trắng màu đỏ nổi bật, cô đã bị quân địch phát hiện và bắn chết. Có vẻ như chiến tranh biến phụ nữ không còn là phụ nữ, khát khao làm đẹp bé nhỏ của họ, của nữ xạ thủ là được buộc chiếc ruy băng đỏ cũng là lí do cho cái chết của cô. Ngoài ấy, mọi cái đều ở cạnh nhau, cái cao cả và cái thấp hèn, cái bình dị và cái hung bạo, sự sống và cả cái chết. Tôi khám phá ra cái chết, nó đơn giản và chẳng có chút đắn đo nào.

Khắc nghiệt, ngả nghiêng, cán cân lịch sử tồn tại hay không tồn tại. Người phụ nữ đến với thế giới cùng thiên chức tạo ra con người, nhưng chiến tranh buộc họ phải giết người. Có nỗi đau nào hơn một người mẹ giết con? Người ta thường bảo bản năng làm mẹ mạnh hơn tất cả. Nhưng ở đây lí tưởng còn mạnh hơn.

“Cùng chúng tôi có một nữ điện báo viên. Cô vừa sinh dậy. Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho bú. Nhưng người mẹ không đủ ăn, thiếu sữa là đứa bé khóc. Bọn SS 2 ở rất gần… Với cả chó. Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết. Cả đội. Ba chục người… Cô hiểu không?

Chúng tôi có một quyết định…

Không ai dám truyền đạt lệnh của người chỉ huy nhưng tự người mẹ đoán ra. Cô nhận đứa bé địu trên người xuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lên nữa. nó đã chết. Và chúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa. Về phía người mẹ và bất cứ người nào trong chúng tôi…”

Người kiểm duyệt đã nói với tác giả rằng: “Tất cả những chi tiết sinh học này để làm gì? Cô hạ thấp người phụ nữ với thứ chủ nghĩa tự nhiện sơ đẳng. Người phụ nữ anh hùng. Cô tước vòng hào quang của họ. Cô biến họ thành phụ nữ tầm thường.

Chủ nghĩa anh hùng khiến con người ta chỉ nhìn được mặt hào quang. Nó không quan tâm đến sinh lí, sinh học, không chỉ có tinh thần bị thử thách mà cả cơ thể nữa – cái vỏ vật chất của con người. Tất nhiên, đó là những thứ trước giờ không ai kể đến cả. Họ đều kể về chiến thắng, về ánh hào quang, đồng nhất con người với lí tưởng, chiến tranh là nơi con người ta trở nên anh hùng. Những người phụ nữ trên kia, tất cả họ đều có chiến công của riêng mình, tất cả họ đều giỏi. Nhưng sao phải theo cái lối mòn kể về ánh sáng chiến tranh mà không phải là góc khuất đau thương? Trước khi là anh hùng, là hào kiệt, ai cũng là con người trước cả.

“Tôi có thể kể cho cô nghe tôi đã chiến đấu thế nào. Nhưng tôi đã khóc ra sao thì không thể. Cái ấy sẽ mãi mãi không nói được.

Cô là nhà văn. Hãy sáng tạo một cái gì đó. Một cái gì đó đẹp. Không tàn bạo như cuộc đời.”

Một đôi mắt trần chẳng đủ để nhìn tất cả và làm sao chỉ đơn thuần là sáng tạo không thôi, sáng tạo cũng trên cơ sở, căn cứ chứ, nhưng tôi biết, các bà ấy đã quá khổ, quá mệt mỏi khi nghĩ về nó rồi.

Hoà bình trở lại, nhưng ai đâu biết rằng vẫn đang còn một cuộc chiến đợi họ kể từ phút giây hoà bình. Chiến tranh có thật sự diễn ra một lần trên chiến trường? Những người lính trở về cuộc sống thường nhật nhưng không thể nào hòa mình với nhịp sống bình yên. Đó là lúc một nữ xạ thủ bắn tỉa mua bánh mì nhưng quên trả tiền vì họ đã quen với chế độ cấp phát. Cô ấy rất xấu hổ và chẳng biết làm sao để thoát khỏi những thói quen quân đội. Những người đàn ông không muốn lấy những cô gái từ chiến trường trở về, những bà mẹ cũng không muốn con trai mình lấy những cô gái đó, có người còn xé cả giấy tờ để không ai biết mình từng là chiến sĩ. Dù họ là những người anh hùng – những cô gái đã hi sinh tuổi trẻ, khát khao, máu xương của mình cho tổ quốc, quê hương và cả những con người đang xa lánh họ – thế giới vẫn không chấp nhận họ, lịch sử đang bỏ quên họ chăng hay họ đã bị tước đi một thế giới? Lục địa của những người phụ nữ, điều gì ngăn cản cái sự bình thường đến với cuộc sống của họ?

“Bà không có gia đình, tất cả người thân trong gia đình bà đều đã mất. Bà sống khó khăn, bà làm thuê các công việc nội trợ để có miếng ăn. Nhưng bà không cho ai biết bà là thương binh chiến tranh. Bà đã xé hết giấy tờ quân đội của bà. Một hôm, tôi hỏi bà: ‘Tại sao bà lại xé giấy tờ đi?’ Bà òa khóc: ‘Nhưng ai sẽ lấy tôi? – Ôi, đúng rồi, bà đã làm đúng.’ Nhưng bà càng nức nở: ‘Hôm nay, tôi lại cần chúng, các giấy tờ ấy. Tôi ốm nặng. Cô có hình dung ra không?’”

Những vết sẹo là những kỉ niệm chiến tranh, khi họ bay trên đầu mục tiêu thì ở dưới là địa ngục. Khi họ bắn địch thì kẻ chết tiếp theo cũng có thể là họ. Ngày mai đó, ai còn, ai đã mất. Có người may mắn trở về, còn lành lặn đủ tay đủ chân, có thể lập gia đình, họ vẫn còn người thân, nhưng có nhiều người không may mắn như vậy, họ trở về được người thân đưa cho xem giấy báo tử, cả những người mẹ không nhận ra con của mình, có những người sống cô đơn đến lúc chết, ôm theo tháng ngày những kí ức chiến tranh…

Ngực đỏ huy chương sẽ tốt hơn hay cỏ xanh nấm mồ sẽ tốt hơn? Thực sự chiến tranh chưa từng chấm dứt, vinh quang chỉ thuộc về những người lính vĩnh viễn bị chôn sâu…

Tình yêu là sự kiện cá nhân duy nhất trong chiến tranh. Tất cả những cái khác đều là của tập thể, kể cả cái chết. Nhưng tôi đồ rằng ngay đến cả tình yêu cũng chẳng còn lại bao nhiêu chất cá nhân nữa. Từ sâu bên trong nó, có lẽ cái sự tập thể hóa, xã hội hóa đã biến nó thành một mô-típ kiểu tuyên giáo – khi tình yêu bị đem đi phục vụ mục đích chiến tranh. Dù sao thì cái vỏ tình yêu cũng thật đẹp.

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữBạn nghĩ gì về nhan đề đó?

Ở cái vẻ bề ngoài, tôi cho rằng nhan đề hướng đến gì khác ngoài sự đề cao đến vô lý cái giá trị “đàn ông” của nam giới. Ớ đó, chiến tranh hiển nhiên không có khuôn mặt phụ nữ. Từ ngàn xưa, phụ nữ đã bị cấm (một luật bất thành văn nhưng rất hiệu quả) tham gia vào bất cứ công việc gì có tính chất xã hội: từ chính trị, quân sự cho tới chuyện học hành, khoa cử. Khi thời đại nông nghiệp thay cho thời nguyên thủy, khi hái lượm không còn là nguồn nuôi sống chính cho xã hội, vai trò của người phụ nữ bị xóa mờ đến cùng cực, và trong chiến tranh, nó hoàn toàn không hiện diện. Tôi cho rằng đó là sự bảo vệ của đàn ông dành cho phụ nữ mà sâu xa hơn, tôi đồ rằng đó là sự thương hại cho cái yếu đuối trời sinh của phụ nữ (đàn ông thường nghĩ vậy), cũng là để bảo vệ cho cái vị thế người chủ gia đình, đất nước, xã hội của nam giới. Plato từng nói rằng con người được cấu thành từ hai nửa nam và nữ, nhưng Chúa trời đã chia cắt chúng ra để rồi chúng mãi đi tìm nhau. Tôi thì cho rằng chính con người, chứ chẳng phải Chúa trời đã từ bỏ nửa kia của mình.

Ở đây có một phần là trong chiến tranh, người phụ nữ, cũng như nam giới đều cắt tóc ngắn, quân phục giống nhau, những người phụ nữ hi sinh thiên tính nữ của mình nên họ không còn là phụ nữ, mà cũng chẳng phân biệt nam nữ nữa.

Và một điều nữa, những câu chuyện ghi lại đều có tên, chức vụ của người kể, mỗi người một câu chuyện, một hoàn cảnh nhưng bạn có nhận ra rằng khi đọc chúng, ta không còn quá quan tâm đến tên tuổi, chức vụ của họ không? Những gương mặt của họ như bị xoá nhoà, dù ám ảnh về câu chuyện vẫn còn trong người đọc. Những người phụ nữ trở về thời bình thường xưng chúng tôi hơn là xưng tôi – có lẽ môi trường tập thể đã làm thay đổi họ nhiều.

Chiến tranh là thế, bao giờ cũng gieo đau thương lên mọi người, chẳng trừ một ai, nó cướp đi nhiều thứ và để lại nhiều ám ảnh. Ngày tháng máu tanh, đêm nằm mộng mị mơ về xác chết nơi chiến trường của quân thù và những người đồng đội. Bác sĩ nào có thể chữa khỏi cho họ? Họ bị bệnh gì? Họ nằm mơ những gì và có thể không mơ về chiến tranh không? Làm sao để trở lại một cuộc sống bình thường như những con người bình thường… một cách thực sự.

“Sau chiến tranh tôi mất nhiều năm để xua đi mùi máu. Nó bám theo tôi khắp nơi. Tôi giặt quần áo, tôi nấu ăn, nó vẫn ở đấy… Có ai cho tôi một cái áo sơ mi màu đỏ, thời thiếu vải ấy là của rất hiếm. Nhưng tôi không bao giờ mặc, nó khiến tôi buồn nôn. Tôi không thể đi mua đồ ở các cửa hàng nữa. Ở quầy thịt, nhất là vào mùa hè… Và nhìn thấy thịt gia cầm… Cô hiểu đấy… Nó rất giống… Nó cũng trắng như thịt người…”

Cái ta thấy và hiểu về chiến tranh tổng quát hơn là cuộc sống và cái chết. Cuốn sách một đóng góp lớn cho dòng văn học hậu chấn thương. “Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” 3. Vậy nên người lính, những người phụ nữ trở về sau chiến tranh họ lại có một cuộc chiến khác, trong tâm trí họ không có được hoà bình. Chúng ta nhìn chiến thắng bằng hào quang, vậy ai sẽ nhìn những khuôn mặt con người đây? Những người lính hay những người phụ nữ, ai cũng có quyền được hạnh phúc, họ sinh ra trên cuộc đời lẽ ra là để yêu và được yêu. Chiến tranh sau cùng nó cũng là một thử thách, nó tồn tại như sự bất tận của nhân loại vậy, có vận hành, có thay đổi, có phát triển, tất cả những vận hành đôi khi xỉn màu của lịch sử, chiến tranh trở thành bình thường của bình thường và con người đôi khi cũng chỉ là công cụ để chiến đấu. Thời đại đã tạo nên những con người như thế.

Tôi đã nói với mẹ tôi rằng tôi muốn cắt tóc ngắn, mẹ tôi không đồng ý. Thật ra tóc của tôi, tôi nghĩ mình muốn làm gì cũng được, nên… tôi đã cắt, nhưng không ngắn lắm. Vì đọc xong cuốn sách, tôi đã suy nghĩ lại khá nhiều thứ, về cả chiến tranh, về câu chuyện của những người phụ nữ đó, về tính nữ bên trong con người mình, và các thứ khác. Tôi hi vọng bạn sẽ một lần đọc nó, và viết nên cảm nhận của riêng mình.

Cảm ơn vì bạn đã đọc bài viết.

Hết.

Hoàng Anh

Chú thích:

  1. Là phần bị kiểm duyệt
  2. Bọn SS (Schutzstaffel)  “đội cận vệ” là tổ chức vũ trang của Đảng Quốc xã, mặc đồng phục màu đen nên còn được gọi là “Quân áo đen” để phân biệt với lực lượng SA là “Quân áo nâu”.
  3. “Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” là câu nói trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

Tất cả ảnh trong bài viết đều là của người viết.

21.06.2019


Đọc những bài viết của Hoàng Anh


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng