Phía sau trang sách

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ: Chúng ta tưởng mình đã biết hết về chiến tranh

“Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình”

Published

on

Tôi gấp cuốn sách lại trong một ngày giáp Tết, khi không khí của mùa xuân tràn vào nhà nhà, từng góc phố con đường. Nắng vàng nhưng không khí có chút se lạnh. Tôi nhìn đồng hồ, những vòng thời gian liên tiếp qua đi, cứ thế, đều đặn. Thời gian, tuổi trẻ, cuộc đời, con người,… tất cả tạo nên cuộc sống. Thật may mắn khi giờ đây chúng ta được sống trong hòa bình. Tiếng súng bom đã dứt nhưng đâu đó dư âm của nó vẫn còn.

Có rất nhiều câu chuyện, cuốn sách viết về chiến tranh. Ở Việt Nam tiêu biểu nhất có lẽ là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; ở nước ngoài lại có Những thứ họ mang của Tim O’Brien, Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque, Cuộc chiến đã qua – Niềm đau và nỗi nhớ vẫn còn của Anthony Loyd, Hẹn gặp lại trên kia của Pierre Lemaitre,… Mỗi cuốn sách mang một câu chuyện, một góc nhìn, nhưng có bao nhiêu cuốn sách là lời của nhân vật nữ, câu chuyện của phụ nữ và góc nhìn nữ từ chiến tranh?

Ở Việt Nam, năm 40 Hai Bà Trưng đã cưỡi voi khởi nghĩa. “Từ thế kỷ thứ tư TCN, ở Athens và Spartes đã có phụ nữ chiến đấu trong những binh đoàn Hy Lạp. Sau đó họ tham gia các chiến dịch của Alexandre de Macédoine.” Thế nhưng, trong văn chương, ai mà muốn nghe đàn bà kể về chiến tranh khi những người đàn ông đã viết được những thiên sử chói loà? Ai đó bảo tôi: “Đàn ông kể về chiến tranh bằng chiến thắng, phụ nữ kể chiến tranh bằng cảm xúc.” Thực sự có đúng như người ta nói hay không? Tôi muốn tự mình kiểm chứng qua Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của nữ nhà văn, nhà báo Svetlana Alexievich. Đây là tác phẩm lệch giữa hai bờ vực: một nửa là văn chương, một nửa là báo chí. Nó giống như tuyển tập những câu chuyện đi trên dấu vết của đời sống nội tâm và ghi âm lại tâm hồn của những người phụ nữ trở về sau Thế chiến thứ hai, nơi cuộc chiến của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Không phải lịch sử chiến tranh hay lịch sử nước nhà mà là lịch sử của những con người bình thường với cuộc sống bình thường, thời đại họ bị xô vào những biến cố khổng lồ.

Lúc Svetlana Alexievich tìm đến xí nghiệp kéo sợi, nơi một nữ xạ thủ bắn tỉa hiện đang làm việc thì đã nghe những người đàn ông bình luận: “Hết đàn ông hay để hỏi rồi sao? Tại sao cô lại cần đàn bà? Nghe họ nói mê… nghe chuyện đàn bà nạ dòng thì phỏng được gì…” Đến một gia đình khác, chồng và vợ đều tham gia chiến tranh. Họ gặp và cưới nhau ở ngoài mặt trận. Khi tác giả hỏi chuyện người vợ, ông chồng dặn bà: “Kể như tôi đã bày cho bà ấy. Không có nước mắt, cũng đừng có kể những chi tiết ngu ngốc, kiểu: ‘Tôi cứ muốn đẹp. Tôi đã khóc khi bị người ta cắt mất bím tóc.’” Người vợ đã thú nhận rằng: “Ông ấy đã nhồi nhét cho tôi suốt đêm cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại. Ông ấy lo cho tôi. Ngay cả bây giờ nữa, ông ấy lo tôi không nói được các kí ức cần thiết.”

Hình như những người phụ nữ đã náu mình lãng quên trong chiến tranh. Những câu chuyện về họ vẫn chưa được kể, hoặc đâu đó một vài câu chuyện được kể nhưng là những người mẹ kể cho con, người bà kể cho cháu. Đó là những câu chuyện đậm dấu ấn cá nhân chứ chưa có một tổng quan đúng nghĩa thật sự ở phương diện xã hội.

Cuộc chiến tranh của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Quả thật là đàn ông náu mình sau các sự kiện, chiến tranh thu hút họ; còn phụ nữ cảm nhận chiến tranh qua cảm xúc. “Cuộc sống của con người trở thành lịch sử và lịch sử được cắt ra thành hàng trăm, hàng ngày cuộc đời con người. Người ta bắn và người ta chết, người ta có lòng tin và người ta vỡ mộng.” Những mảnh ghép, những montage về mặt tự sự được ghi lại bởi Alexievich. Những buổi phỏng vấn với một máy ghi âm, một cuốn sổ, những người phụ nữ và câu chuyện được kể. Nó như một bộ phim tài liệu cảm xúc vẽ cuộc sống của những người phụ nữ Liên Xô trước, trong và sau chiến tranh.

Hành trình qua hơn 100 vùng từ nông thôn đến thành phố, các khu dân cư, làng mạc, những gương mặt phụ nữ lần lượt hiện ra, họ kể những câu chuyện của họ, đủ các câu chuyện với các cung bậc cảm xúc, từ một cô bé 12, 13 tuổi khi nghe tin chiến tranh, đến những cô gái 15, 16 khai sai tuổi để được đi đánh giặc, điều kiện sống thiếu thốn, chứng kiến cái chết, cứu người, lần đầu giết người (địch), những người mẹ đã hi sinh đứa con mình vừa mới sinh, tình yêu trong quân đội, ám ảnh lúc hoà bình,… tất cả đều được ghi lại với cái nhìn nhân bản nhất. “Tôi đã ghi âm hàng trăm câu chuyện, trên cái giá của tôi xếp hàng trăm băng cát xét và hàng nghìn trang in. Tôi chông tai và tôi đắm mình đọc.”

Cuốn sách là nỗ lực của tác giả và những thanh âm thầm lặng bấy lâu chưa một lần lên tiếng. Hồi ức của họ nhìn thẳng vào chiến tranh, nhìn thẳng vào cái chết, có những gương mặt chưa từng được kể, để khi biết chúng ta nhận ra mình sai khi nghĩ mình đã biết hết về chiến tranh. Chiến tranh bắt đầu khi “Sương còn chưa kịp khô trên lá cây mà người ta báo tin chiến tranh đã được tuyên bố, và giọt sương khi tôi đột ngột nhận ra trên cây khi người ta đột ngột báo tin chiến tranh thường trở lại trong tâm trí tôi khi ở ngoài mặt trận.” Cái khoảnh khắc đó, lúc cuộc sống vẫn đang bình thường, mặt trời rạng rỡ, cây ra hoa, cây ra lá, những giọt sương long lanh, thiên nhiên bỗng đối kháng với những gì đang xảy ra ngoài mặt trận, sống trong doanh trại, chiến đấu với quân thù thì chiến tranh vẫn là sự việc người ta không tin được và sững sờ khi nhớ đến giọt sương.

Và họ, những cô gái trẻ vì lòng yêu nước, họ bỏ lại tất cả. Những bím tóc dài bị cắt ngắn đi, những chiếc váy xếp cất vào tủ và khoác lên mình chiếc áo varơi cùng ủng chiến đấu, họ mặc những chiếc áo quá rộng, đi giày quá size. Họ trở thành những bác sĩ, y tá, xạ thủ bắn tỉa, xạ thủ phòng không, trung sĩ cận vệ, thợ máy không quân, điện thoại viên, lái xe, liên lạc, du kích,… họ có thể làm được tất cả, trong môi trường sống và điều kiện đầy những thiếu thốn. Thiếu ăn, thiếu mặc, ba ngày chỉ có bánh mì dã chiến để ăn, ăn đến rộp lưỡi lên không còn nói được, thậm chí chẳng có gì để ăn, chết đói.

“Người ta cắt tóc họ như con trai. Chi tiết ấy không ai quên nhắc lại: và bao giờ cũng là chuyện bím tóc dài bỏ lại trên sàn nhà bẩn thỉu của phòng tuyển quân. Người ta mặc cho họ bộ quân phục may cho đàn ông, áo khoác, ủng, vớ portianki, khó khăn tìm cho ra một kiểu hòa hợp coi được, rất thường cung cấp những thứ quá cỡ hai đến ba số. Ủng số 40 thay vì 36…”

Chiến tranh lúc đầu chỉ để dành cho đàn ông. Phụ nữ bị cuốn vào, môi trường quân đội mặc định người phụ nữ giống như những người đàn ông, chẳng có một chế độ riêng nào dành cho họ. Có những cảnh tưởng chừng như chẳng thể tưởng tượng nổi.

“Chúng tôi đi bộ bốn mươi cây số… cả một tiểu đoàn phần lớn là phụ nữ. Nóng chết người. Đến ba mươi độ. Nhiều cô gái đang có… Nói thế nào… cái thứ mà phụ nữ nào cũng có… chảy nhỏ giọt dọc chân… Người ta chẳng cấp gì cho chúng tôi cả, đúng không? Chẳng cách gì chữa được. Chúng tôi đến một điểm có nước. Chúng tôi nhìn thấy một con sông… và những cô gái ấy, tất cả họ lao xuống sông. Nhưng bọn Đức bên kia nổ súng ngay. Chúng ngắm chính xác… Chúng tôi cần tắm rửa, vì chúng tôi quá xấu hổ trước mặt đàn ông. Chúng tôi không muốn ra khỏi nước, và một cô gái đã bị bắn chết …” 1  

“Tôi sẽ không bao giờ quên cái ngày, sau một trận đánh trở về anh hỏi tôi: “Em có một cái áo ngực không? Mặc vào đi, xin em. Hãy để cho anh được nhìn em khi em mặc áo ngực.” Nhưng tôi chẳng có chiếc áo nào cả, ngoài cái áo varơi tôi đang mặc.”

Trong cái “nghề” nam tính là “chiến tranh”, họ vẫn là chính họ, họ vẫn giữ một lãnh địa bên trong mình, thậm chí một số người bảo vệ thiên tính nữ bằng cách thêu thùa, buộc ruy băng đỏ. Trong một lần hành quân, một nữ xạ thủ bắn tỉa rất giỏi vì muốn buộc sợ ruy bay đỏ giữa nền tuyết trắng màu đỏ nổi bật, cô đã bị quân địch phát hiện và bắn chết. Có vẻ như chiến tranh biến phụ nữ không còn là phụ nữ, khát khao làm đẹp bé nhỏ của họ, của nữ xạ thủ là được buộc chiếc ruy băng đỏ cũng là lí do cho cái chết của cô. Ngoài ấy, mọi cái đều ở cạnh nhau, cái cao cả và cái thấp hèn, cái bình dị và cái hung bạo, sự sống và cả cái chết. Tôi khám phá ra cái chết, nó đơn giản và chẳng có chút đắn đo nào.

Khắc nghiệt, ngả nghiêng, cán cân lịch sử tồn tại hay không tồn tại. Người phụ nữ đến với thế giới cùng thiên chức tạo ra con người, nhưng chiến tranh buộc họ phải giết người. Có nỗi đau nào hơn một người mẹ giết con? Người ta thường bảo bản năng làm mẹ mạnh hơn tất cả. Nhưng ở đây lí tưởng còn mạnh hơn.

“Cùng chúng tôi có một nữ điện báo viên. Cô vừa sinh dậy. Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho bú. Nhưng người mẹ không đủ ăn, thiếu sữa là đứa bé khóc. Bọn SS 2 ở rất gần… Với cả chó. Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết. Cả đội. Ba chục người… Cô hiểu không?

Chúng tôi có một quyết định…

Không ai dám truyền đạt lệnh của người chỉ huy nhưng tự người mẹ đoán ra. Cô nhận đứa bé địu trên người xuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lên nữa. nó đã chết. Và chúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa. Về phía người mẹ và bất cứ người nào trong chúng tôi…”

Người kiểm duyệt đã nói với tác giả rằng: “Tất cả những chi tiết sinh học này để làm gì? Cô hạ thấp người phụ nữ với thứ chủ nghĩa tự nhiện sơ đẳng. Người phụ nữ anh hùng. Cô tước vòng hào quang của họ. Cô biến họ thành phụ nữ tầm thường.

Chủ nghĩa anh hùng khiến con người ta chỉ nhìn được mặt hào quang. Nó không quan tâm đến sinh lí, sinh học, không chỉ có tinh thần bị thử thách mà cả cơ thể nữa – cái vỏ vật chất của con người. Tất nhiên, đó là những thứ trước giờ không ai kể đến cả. Họ đều kể về chiến thắng, về ánh hào quang, đồng nhất con người với lí tưởng, chiến tranh là nơi con người ta trở nên anh hùng. Những người phụ nữ trên kia, tất cả họ đều có chiến công của riêng mình, tất cả họ đều giỏi. Nhưng sao phải theo cái lối mòn kể về ánh sáng chiến tranh mà không phải là góc khuất đau thương? Trước khi là anh hùng, là hào kiệt, ai cũng là con người trước cả.

“Tôi có thể kể cho cô nghe tôi đã chiến đấu thế nào. Nhưng tôi đã khóc ra sao thì không thể. Cái ấy sẽ mãi mãi không nói được.

Cô là nhà văn. Hãy sáng tạo một cái gì đó. Một cái gì đó đẹp. Không tàn bạo như cuộc đời.”

Một đôi mắt trần chẳng đủ để nhìn tất cả và làm sao chỉ đơn thuần là sáng tạo không thôi, sáng tạo cũng trên cơ sở, căn cứ chứ, nhưng tôi biết, các bà ấy đã quá khổ, quá mệt mỏi khi nghĩ về nó rồi.

Hoà bình trở lại, nhưng ai đâu biết rằng vẫn đang còn một cuộc chiến đợi họ kể từ phút giây hoà bình. Chiến tranh có thật sự diễn ra một lần trên chiến trường? Những người lính trở về cuộc sống thường nhật nhưng không thể nào hòa mình với nhịp sống bình yên. Đó là lúc một nữ xạ thủ bắn tỉa mua bánh mì nhưng quên trả tiền vì họ đã quen với chế độ cấp phát. Cô ấy rất xấu hổ và chẳng biết làm sao để thoát khỏi những thói quen quân đội. Những người đàn ông không muốn lấy những cô gái từ chiến trường trở về, những bà mẹ cũng không muốn con trai mình lấy những cô gái đó, có người còn xé cả giấy tờ để không ai biết mình từng là chiến sĩ. Dù họ là những người anh hùng – những cô gái đã hi sinh tuổi trẻ, khát khao, máu xương của mình cho tổ quốc, quê hương và cả những con người đang xa lánh họ – thế giới vẫn không chấp nhận họ, lịch sử đang bỏ quên họ chăng hay họ đã bị tước đi một thế giới? Lục địa của những người phụ nữ, điều gì ngăn cản cái sự bình thường đến với cuộc sống của họ?

“Bà không có gia đình, tất cả người thân trong gia đình bà đều đã mất. Bà sống khó khăn, bà làm thuê các công việc nội trợ để có miếng ăn. Nhưng bà không cho ai biết bà là thương binh chiến tranh. Bà đã xé hết giấy tờ quân đội của bà. Một hôm, tôi hỏi bà: ‘Tại sao bà lại xé giấy tờ đi?’ Bà òa khóc: ‘Nhưng ai sẽ lấy tôi? – Ôi, đúng rồi, bà đã làm đúng.’ Nhưng bà càng nức nở: ‘Hôm nay, tôi lại cần chúng, các giấy tờ ấy. Tôi ốm nặng. Cô có hình dung ra không?’”

Những vết sẹo là những kỉ niệm chiến tranh, khi họ bay trên đầu mục tiêu thì ở dưới là địa ngục. Khi họ bắn địch thì kẻ chết tiếp theo cũng có thể là họ. Ngày mai đó, ai còn, ai đã mất. Có người may mắn trở về, còn lành lặn đủ tay đủ chân, có thể lập gia đình, họ vẫn còn người thân, nhưng có nhiều người không may mắn như vậy, họ trở về được người thân đưa cho xem giấy báo tử, cả những người mẹ không nhận ra con của mình, có những người sống cô đơn đến lúc chết, ôm theo tháng ngày những kí ức chiến tranh…

Ngực đỏ huy chương sẽ tốt hơn hay cỏ xanh nấm mồ sẽ tốt hơn? Thực sự chiến tranh chưa từng chấm dứt, vinh quang chỉ thuộc về những người lính vĩnh viễn bị chôn sâu…

Tình yêu là sự kiện cá nhân duy nhất trong chiến tranh. Tất cả những cái khác đều là của tập thể, kể cả cái chết. Nhưng tôi đồ rằng ngay đến cả tình yêu cũng chẳng còn lại bao nhiêu chất cá nhân nữa. Từ sâu bên trong nó, có lẽ cái sự tập thể hóa, xã hội hóa đã biến nó thành một mô-típ kiểu tuyên giáo – khi tình yêu bị đem đi phục vụ mục đích chiến tranh. Dù sao thì cái vỏ tình yêu cũng thật đẹp.

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữBạn nghĩ gì về nhan đề đó?

Ở cái vẻ bề ngoài, tôi cho rằng nhan đề hướng đến gì khác ngoài sự đề cao đến vô lý cái giá trị “đàn ông” của nam giới. Ớ đó, chiến tranh hiển nhiên không có khuôn mặt phụ nữ. Từ ngàn xưa, phụ nữ đã bị cấm (một luật bất thành văn nhưng rất hiệu quả) tham gia vào bất cứ công việc gì có tính chất xã hội: từ chính trị, quân sự cho tới chuyện học hành, khoa cử. Khi thời đại nông nghiệp thay cho thời nguyên thủy, khi hái lượm không còn là nguồn nuôi sống chính cho xã hội, vai trò của người phụ nữ bị xóa mờ đến cùng cực, và trong chiến tranh, nó hoàn toàn không hiện diện. Tôi cho rằng đó là sự bảo vệ của đàn ông dành cho phụ nữ mà sâu xa hơn, tôi đồ rằng đó là sự thương hại cho cái yếu đuối trời sinh của phụ nữ (đàn ông thường nghĩ vậy), cũng là để bảo vệ cho cái vị thế người chủ gia đình, đất nước, xã hội của nam giới. Plato từng nói rằng con người được cấu thành từ hai nửa nam và nữ, nhưng Chúa trời đã chia cắt chúng ra để rồi chúng mãi đi tìm nhau. Tôi thì cho rằng chính con người, chứ chẳng phải Chúa trời đã từ bỏ nửa kia của mình.

Ở đây có một phần là trong chiến tranh, người phụ nữ, cũng như nam giới đều cắt tóc ngắn, quân phục giống nhau, những người phụ nữ hi sinh thiên tính nữ của mình nên họ không còn là phụ nữ, mà cũng chẳng phân biệt nam nữ nữa.

Và một điều nữa, những câu chuyện ghi lại đều có tên, chức vụ của người kể, mỗi người một câu chuyện, một hoàn cảnh nhưng bạn có nhận ra rằng khi đọc chúng, ta không còn quá quan tâm đến tên tuổi, chức vụ của họ không? Những gương mặt của họ như bị xoá nhoà, dù ám ảnh về câu chuyện vẫn còn trong người đọc. Những người phụ nữ trở về thời bình thường xưng chúng tôi hơn là xưng tôi – có lẽ môi trường tập thể đã làm thay đổi họ nhiều.

Chiến tranh là thế, bao giờ cũng gieo đau thương lên mọi người, chẳng trừ một ai, nó cướp đi nhiều thứ và để lại nhiều ám ảnh. Ngày tháng máu tanh, đêm nằm mộng mị mơ về xác chết nơi chiến trường của quân thù và những người đồng đội. Bác sĩ nào có thể chữa khỏi cho họ? Họ bị bệnh gì? Họ nằm mơ những gì và có thể không mơ về chiến tranh không? Làm sao để trở lại một cuộc sống bình thường như những con người bình thường… một cách thực sự.

“Sau chiến tranh tôi mất nhiều năm để xua đi mùi máu. Nó bám theo tôi khắp nơi. Tôi giặt quần áo, tôi nấu ăn, nó vẫn ở đấy… Có ai cho tôi một cái áo sơ mi màu đỏ, thời thiếu vải ấy là của rất hiếm. Nhưng tôi không bao giờ mặc, nó khiến tôi buồn nôn. Tôi không thể đi mua đồ ở các cửa hàng nữa. Ở quầy thịt, nhất là vào mùa hè… Và nhìn thấy thịt gia cầm… Cô hiểu đấy… Nó rất giống… Nó cũng trắng như thịt người…”

Cái ta thấy và hiểu về chiến tranh tổng quát hơn là cuộc sống và cái chết. Cuốn sách một đóng góp lớn cho dòng văn học hậu chấn thương. “Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” 3. Vậy nên người lính, những người phụ nữ trở về sau chiến tranh họ lại có một cuộc chiến khác, trong tâm trí họ không có được hoà bình. Chúng ta nhìn chiến thắng bằng hào quang, vậy ai sẽ nhìn những khuôn mặt con người đây? Những người lính hay những người phụ nữ, ai cũng có quyền được hạnh phúc, họ sinh ra trên cuộc đời lẽ ra là để yêu và được yêu. Chiến tranh sau cùng nó cũng là một thử thách, nó tồn tại như sự bất tận của nhân loại vậy, có vận hành, có thay đổi, có phát triển, tất cả những vận hành đôi khi xỉn màu của lịch sử, chiến tranh trở thành bình thường của bình thường và con người đôi khi cũng chỉ là công cụ để chiến đấu. Thời đại đã tạo nên những con người như thế.

Tôi đã nói với mẹ tôi rằng tôi muốn cắt tóc ngắn, mẹ tôi không đồng ý. Thật ra tóc của tôi, tôi nghĩ mình muốn làm gì cũng được, nên… tôi đã cắt, nhưng không ngắn lắm. Vì đọc xong cuốn sách, tôi đã suy nghĩ lại khá nhiều thứ, về cả chiến tranh, về câu chuyện của những người phụ nữ đó, về tính nữ bên trong con người mình, và các thứ khác. Tôi hi vọng bạn sẽ một lần đọc nó, và viết nên cảm nhận của riêng mình.

Cảm ơn vì bạn đã đọc bài viết.

Hết.

Hoàng Anh

Chú thích:

  1. Là phần bị kiểm duyệt
  2. Bọn SS (Schutzstaffel)  “đội cận vệ” là tổ chức vũ trang của Đảng Quốc xã, mặc đồng phục màu đen nên còn được gọi là “Quân áo đen” để phân biệt với lực lượng SA là “Quân áo nâu”.
  3. “Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” là câu nói trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

Tất cả ảnh trong bài viết đều là của người viết.

21.06.2019


Đọc những bài viết của Hoàng Anh


Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng