Từ Sách đến Phim

Battle Royale – Dù là thực hay mơ, chúng ta vẫn sẽ sống…

…. cho đến khi chúng ta thôi không sống.

Published

on

“Cho dù là bao xa đi chăng nữa, hãy chạy hết sức cho những gì mà mình xứng đáng. Chạy thôi.”

Thế rồi Shuya và Noriko cùng chạy đi về con đường phía trước, không biết con đường ấy có dài rộng hay không, nhưng họ vẫn cứ chạy đi, cũng không còn cách nào cả. Đó là câu thoại cuối cùng của Battle Royale. Song bộ phim vẫn chưa kết thúc ở đó. Sấn khấu khép vào rồi lại mở ra, cảnh đầu tiên: cảnh đội bóng rổ lớp 9B thi đấu trong sự reo hò của những cô bạn gái, cảnh thứ hai: một cậu bé hứa với người bạn thân rằng cậu ấy sẽ bảo vệ người con gái 2 người cùng yêu, cảnh thứ 3: một vị thầy giáo trò chuyện cùng cô học trò của mình, trên tay hai người là hai cây kem cắn dở.

Ba khúc Requiem vang lên, cứ như thể đó là một bộ phim thanh xuân tươi đẹp đến não nề, cứ như thể nó là câu chuyện về một tình yêu rất ngây ngô, với một chàng trai và một cô gái đứng chung dưới một chiếc ô.

Không hiểu sao, mình cảm thấy từ đầu đến cuối, Battle Royale đã luôn bình thản như thế và xao xuyến như thế. Và khi đến hồi kết, mình tắt đi và cảm thấy yên lòng. Nếu là giờ này một năm trước, hẳn là mình sẽ bị những thước phim ấy ám ảnh vào cả giấc mơ, mình sẽ cảm thấy hoài nghi thế giới, mình sẽ đau khổ rút ra kết luận rằng: người ta không thể cứ tốt mãi được, sẽ đến lúc người ta phải trở nên xấu xa thôi. Rồi mình lại giở ra những câu thơ của Lưu Quang Vũ, càng đọc càng thấy thấm thía hơn:

Tôi khát khao yêu người
Mà không sao yêu được
Cuộc đời như một bà già dâm đãng
Một núi dây thừng bẩn thỉu rối ren
Tôi chán cả bạn bè

Nhưng mình đã xem nó vào lúc này, cho nên tất cả những gì mình thấy chỉ là một sự bình tâm đến lạnh lùng. Đời sống lạnh tanh như vậy đấy.

Cho những ai chưa xem, Battle Royale có thể khiến bạn nghĩ tới Chúa ruồi của William Golding, hoặc Đấu trường sinh tử của Suzanne Collins. Nhưng nghe nói Đấu trường sinh tử từng bị cáo buộc đạo nhái lại tác phẩm của người Nhật, còn cá nhân mình thấy Chúa ruồi, dù đã là một sự hạ nhục truyền thống, cũng không thể nào phức tạp bằng. Battle Royale kể về lớp 9B của một trường trung học, trong một lần đi dã ngoại, bị người thầy giáo cũ mà họ từng đối xử không ra gì, Kitano, bắt đưa tới một hoang đảo. Ở đây, họ bị buộc phải tham gia vào một trò chơi sinh tử: 42 người được trang bị vũ khí và tìm cách triệt hạ lẫn nhau. Sau 3 ngày, người duy nhất còn sống sẽ là người chiến thắng. Nếu còn hơn 1 người còn sống, tất cả sẽ chết.

Bạn mình bảo xem phim này không ăn được cơm. Có thể vì nó có những cảnh chém giết dã man quá, mà lại toàn là những cô cậu học trò đâm chém nhau, giá như là một nhóm những kẻ to cao lực lưỡng trong phim điện ảnh Mỹ, thì có khi nó đã chẳng ghê tới mức ấy. Người lớn giết nhau thì không sao, vì ai cũng biết người lớn sẵn sàng giết nhau. Nhưng Không ai nghĩ trẻ con sẽ giết nhau, cho nên họ mới sợ. Cái gì người ta không ngờ tới thì người ta sợ.

Thỉnh thoảng giữa bộ phim, một nhân vật nào đó lại đặt ra một câu hỏi, kiểu như: Chúa ơi, tôi có thể nói thêm một điều nữa không? hay Làm sao tớ có thể biết? Em nói xem, một người lớn biết nói gì với một đứa trẻ con trong tình huống này đây? Đại khái, dù là trẻ con hay người lớn, đều có thể buột miệng nói ra những câu hỏi ấy, cùng một câu hỏi, nhưng vào những lúc khác nhau trong đời, những câu trả lời lại chẳng giống nhau.

Ngày trước cứ nghĩ có thiện và ác. Rồi sau đó mấy năm, lại tin chắc rằng cái thiện và cái ác lẫn lộn đan xen, như vì có ánh sáng mà có bóng tối, và vì có bóng tối mà ánh sáng mới ra đời. Nhưng giờ này, ngồi xem Battle Royale, mình lại nghĩ: có khi chả có cái gì là thiện, mà cũng chả có cái gì là ác. Chả có ánh sáng mà cũng chả có bóng tối. Khi ai đó làm một việc gì đấy, nó không xuất phát từ lương tâm phải trái, mà việc đó chỉ diễn ra bởi vì mọi thứ trên đời phải diễn ra. Không diễn ra, nó không tồn tại. Chỉ có sự diễn ra là quan trọng. Tất cả những thứ đạo đức, phi đạo đức, tất cả chỉ là những khái niệm mà loài người tự ngồi bịa đặt với nhau.

Nhìn xem, Shuya phải giết người khi đã đến lúc phải giết người. Những người bạn khác của cậu cũng như vậy thôi. Còn thầy Kitano có điên đâu? Ông ấy thích ăn bánh quy. Noriko nói thầy Kitano có vẻ cô đơn lắm. Quên đi những ranh giới mà người ta quy ước đi, quên hết đi, nào là thiện, nào là ác, nào là người lớn, nào là trẻ con. Người lớn nào chả từng là trẻ con, trẻ con nào chả sẽ là người lớn. Nếu một đứa trẻ là tốt như thế, làm sao sự trưởng thành lại biến nó thành kẻ xấu xa? Sự trưởng thành không nhẽ không phải bản chất hay sao? Nếu nói bản chất của con người là tốt, vậy thì cũng có thể nói bản chất của con người là phải từ tốt thành xấu, cho nên bản chất đích thực chính là sinh ra để trở thành người xấu. Để giải thích cái mâu thuẫn ấy, tốt nhất cứ nghĩ là không có xấu hay tốt trên đời này cả. Và những đứa trẻ con cũng có thể giết người. Hoàn toàn không phải vì chúng độc ác. Mà chỉ vì khi đến lúc cần làm, người ta phải làm. Còn khi cần phải làm mà lại không làm, cách duy nhất là tự vẫn, như một nhân vật nào đó trong Battle Royale đã nói: nếu không muốn giết ai, thế thì cậu đi chết đi.

Lâu rồi mình mới xem một bộ phim thanh thoát như Battle Royale. Không phải kiểu thanh thoát của một nhà làm phim nghệ thuật, say ngủ giữa những mộng mơ, những luồng ánh sáng, những nỗi hoài niệm ủy mị và lãng mạn. Battle Royale thông minh như điện ảnh Mỹ, tinh tế như điện ảnh châu Âu, siêu thực như người Tây Ban Nha, ướt át như người châu Á, cô đơn như người Nhật. Nó thanh thoát vì nó có tất cả những sắc thái ấy, sắc thái nào cũng thật phi thường. Nó chẳng giống như cuộc đời, cũng chẳng giống một giấc mơ. Nó hoàn toàn không phải thực lồng trong mơ hay mơ giữa đời thực. Nó chỉ là nó. Những chuỗi sự kiện diễn ra. Không có thiện, không có ác, và giờ, không có mơ, không có thực. Hãy chấp nhận đi. Bạn làm sao mà biết cuộc đời mà chúng ta ngày ngày vật lộn là thật hay chỉ là ảo ảnh? Hàng nghìn năm trôi qua, những nhà hiền triết sinh ra rồi chết, vậy mà cũng không ai chứng minh được. Không ai chứng minh được khi chúng ta tỉnh dậy là chúng ta bước vào thế giới thực hay chỉ đang lạc vào một cõi mơ khác. Là thực hay mơ cũng được, chúng ta chỉ biết điều cần làm vẫn là tiếp tục để mình trôi đi theo diễn tiến của thời gian. Chúng ta không biết sự vật lộn hàng ngày có ý nghĩa gì không, nhưng chúng ta vẫn phải vật lộn, vật lộn cho đến lúc không thể nào vật lộn được nữa. Đấy là điều duy nhất chúng ta có thể chắc chắn. Là điều duy nhất chúng ta có thể tin vào.

Battle Royale cứ như một bản giao hưởng vậy. Những đoạn cao trào, rồi những đoạn andante chậm rãi. Những cảnh rùng rợn máu me. Rồi ngay sau đó là cảnh người con trai ôm người con gái trong lòng, dưới buổi hoàng hôn, trên một cây cầu.

Cô gái: Cậu có thích người nào không Hiroki?
Chàng trai: Có.
Cô gái: Không phải tớ đúng không?
Chàng trai: Ừ, không phải.
Cô gái: Vậy thì, hãy ở bên tớ như lúc này. Sẽ không lâu đâu. Chúa ơi, con nói thêm một điều nữa có được không? Cậu ngầu lắm, Hiroki.
Chàng trai: Cậu cũng vậy. Cậu là cô gái ngầu nhất mà tớ biết.
Cô gái: Cảm ơn.

Rồi cô gái gục xuống vai chàng trai, trút hơi thở cuối cùng.

Đoạn đó chỉ diễn ra sau một đoạn tàn sát thật khủng khiếp. Rồi âm nhạc lại vang lên, Auf dem Wasser zu singen, một khúc nhạc thơ của Franz Schubert thế kỷ 19. Tiếng piano dạt dào, nhẹ bẫng như nước chảy. Lời nhạc kể về một người nằm trên con thuyền, nghĩ về thời gian trôi:

Ngày mai với đôi cánh nhòa mờ
Ngày hôm qua và ngày hôm nay, thời gian sẽ lại chạy trốn khỏi tôi
Cho đến khi tôi trên đôi cánh cao ngất rạng ngời của mình
Tự tôi sẽ chạy trốn khỏi thời gian thay đổi

Tất cả đều là thời gian, thứ đánh dấu những sự kiện tiếp nối. Không cần lí do, không cần hệ quả, chỉ là những đoạn thời gian nối liền với nhau, cuốn con người đi theo dòng chảy mãi không bao giờ đứt đoạn. Có phải Gabriel Garcia Marquez từng nói: “Đừng khóc khi một điều gì đó tới, mà hãy cười lên vì nó đã tới.” không? Chỉ cần biết rằng sẽ đến một lúc, cái cần diễn ra sẽ diễn ra, có ai ngăn cản được nào?

Những khoảnh khắc đẹp nhất luôn song hành cũng những khoảnh khắc tồi tệ nhất. Có thể hiểu rằng cái đẹp sinh ra từ cái tồi tệ cũng được. Người ta cứ nghĩ cái đẹp phải xuất phải từ một tâm hồn lương thiện ngây thơ, không phải thế đâu, bên trong một cục cứt cũng có thể có một ý thức hệ để sản sinh ra cái đẹp đấy. Nhưng điều này không phải ai cũng hiểu. Những giai điệu thanh thoát như Blue Danube Waltz giữa một cảnh đầu rơi máu chảy, thì sao? Vẻ đẹp của Blue Danube sẽ không bao giờ bị lấm lem, cảnh giết người cũng không bao giờ trở nên lãng mạn. Chi bằng tốt nhất lại nghĩ, chẳng có cái gì đẹp đâu, và chẳng có cái gì xấu, một vật chỉ là một vật như nó vốn thế. Như ở đoạn đầu phim, giữa một nước Nhật hỗn loạn, lớp 9B vẫn đang chơi bóng rổ, họ nói:

Cuộc sống ngoài kia thế nào thì chúng ta ở đây vẫn đang hạnh phúc.

Không có điều gì đúng hơn. Thế giới ngoài kia ngày ngày họ giết nhau bằng súng đạn, một số người phát cuồng về những diễn biến chính trị mới nhất trên biển Đông, tất cả mọi thứ kiểu kiểu như thế. Nhưng tất cả chỉ nằm ở bên ngoài ô cửa sổ. Khép cửa vào, chúng ta biết mình đang hạnh phúc. Ai hạnh phúc thì vẫn hạnh phúc. Ai không, vẫn không. Không cần phải tỏ ra mình có những mối quan tâm to lớn, cuộc sống của mình, ít ra là mình, không nằm ở nơi nào đó xa xôi, nó chỉ nằm ngay tại đây, với chiếc màn hình máy tính trước mặt, một bộ phim Nhật Bản 15 năm trước, với những nhân vật lần lượt giết nhau. Người chết đã chết. Người sống sẽ sống. Nó không hề giả tạo. Đừng cố gắng đau thương cho những điều chúng ta không hề cảm thấy đau thương. Ý mình không phải bảo những người cảm thấy đau thương là giả tạo. Ý mình chỉ là, cứ sống với cảm xúc thật của chính mình. Cho dù người ta có nói đó là một việc rất đáng buồn, nếu bạn không buồn thì cũng đừng nghĩ mình là đồ cặn bã. Như Midori trong Rừng Nauy đã không hề đau buồn khi mẹ cô mất. Hay như nhân vật chính trong 69 của Ryu Murakami, cậu nổi loạn không phải vì thật sự quan tâm tới diễn biến chiến tranh ở Việt Nam, mà vì cậu muốn lấy lòng Lady Jane của cậu.

Không phải vì một giây trước đó nhân vật cô gái trong Battle Royale là một kẻ giết người, mà sau đó lại trở nên lãng mạn ngây thơ trước chàng trai mà cô ấy yêu, thì có nghĩa một trong hai tính cách đó phải sai. Nó không hề sai. Tốt xấu đều chỉ là ảo tưởng. Đó không phải là sự phức tạp của con người. Đó chỉ là cách mọi thứ sẽ diễn ra. “Hòn đảo thật là tươi đẹp, cho dù nó là nơi mọi người đã chết.”. Noriko đã nói vậy khi sống sót trở về và nhìn hòn đảo từ đằng xa.

Mỗi người có đủ thứ để lo cho cuộc đời mình. Đừng trách họ nếu không đủ thời gian lo lắng cho người khác. Không có thiện, không có ác, không có thực, không có mơ, không có người lớn, không có trẻ con, không có đẹp, không có xấu. Không có gì cả. Cái duy nhất có là cuộc đời.

Và cuộc đời sẽ luôn tiếp diễn. Chúng ta chỉ có thể chạy về phía trước thôi.

Hết.

Hà Nội, ngày có thể là tận thế
Hiền Trang

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Vĩnh Biệt Mùa Hè… chỉ mới cách đây một năm

Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá.

Published

on

By

Vẫn như Em còn nhớ hay em đã quên?, Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá. Nó thể hiện sự so sánh, đồng thời cũng là quá khứ và hiện tại xen kẽ. Nó thể hiện nỗi buồn, sự luyến tiếc giữa kí ức và thực tế.

Cảnh đầu phim, tôi cứ nghĩ là hiện tại vì có vẻ như rất liền mạch khi Hằng ngồi buồn trong lớp một mình rồi nghe tiếng gọi của Hạ mà chạy ra ngoài sân trường. Không ngờ đến kết phim mới biết, đó chỉ là hồi ức của cô. Chi tiết để liên kết hai cảnh đầu và cuối phim giúp khán giả biết đó thực ra chỉ là một nằm ở bàn học: bàn học khắc hình bông hoa có bốn cánh là bốn chữ H. Ở đầu phim, Hằng phủi bụi trên bàn học, người xem thấy hình ảnh bông hoa. Ở cuối phim, khi Hằng ngước nhìn xuống bàn, vẫn là bông hoa đó, sáng rõ trên lớp bàn đã quét đi một phần bụi, rồi cô rơi nước mắt xuống bàn, ướt bông hoa. Nếu không nhờ chi tiết cái bàn kết nối, có thể người xem sẽ cảm thấy mơ hồ hơn, không đủ nhận biết, sẽ chỉ nghĩ cảnh đầu phim khi Hằng ngồi trong lớp học một mình là thực sự thuộc về quá khứ chứ không phải kết thúc khi cô hồi tưởng. Nhờ cái bàn, bông hoa ấy, người xem – hay là tôi mới biết được hóa ra hai cảnh đầu và cuối phim diễn ra cùng một khoảng thời gian. Khi biết được tiếng gọi ở đầu phim chỉ nằm trong trí tưởng tượng của Hằng để làm cái cớ nhớ về quá khứ, dù là quá khứ rất gần, có thể chỉ mới là mùa hè của cách đây một năm trước thì người xem càng thêm xót xa. Chỉ một chi tiết nhỏ như thế mà tạo dư âm cảm xúc đến khi dòng chữ credit hiện ra, đến tận từng giây cuối cùng. Một lựa chọn điện ảnh rất thông minh của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Về cách thể hiện, điểm tôi thích nhất ở phim này chính là ở đó.

Phim Việt Nam thời kì thập niên 90 hay quá. Sao tự nhiên hết thời kì phim mì ăn liền, có khoảng thời gian phim Việt Nam xem chán quá chừng, tôi cũng không hiểu nổi. Thời đó, tôi thấy Việt Nam làm phim cũng ngắn gọn súc tích. Không nói điện ảnh hay phim video tape, phim truyền hình cũng ngắn thôi, khoảng chừng 10 – 11 tập. Nói chung lúc nào xem cũng thấy vừa vặn, không thấy dài lê thê như phim truyền hình Việt Nam bây giờ, phim nào ít nhất cũng 30 tập, chán chết. Dần dần tôi đã nhớ lại rồi, có thời hồi nhỏ tôi rất thích xem phim truyền hình Việt Nam: Những nẻo đường phù sa, Người đẹp Tây Đô, Giao thời... Xem mà kiểu hồi hộp chờ đợi, trông ngóng mỗi ngày luôn, bỏ tập nào là tiếc hùi hụi tập đó. Còn bây giờ, tôi không xem được nữa, thấy mất kiên nhẫn kinh khủng. Dù tôi thích một số phim của Vũ Ngọc Đãng nhưng vừa rồi xem đến tập 4 của Vừa đi vừa khóc là phải chịu thua đầu hàng vì dài dòng quá. Từng tập thoại nhiều ơi là nhiều mà diễn biến không bao nhiêu. Cảm giác ngồi đợi nói hết một đoạn thoại trong khi nội dung không nhiều thật mỏi mòn. Không phải chỉ với Vừa đi vừa khóc, nhiều phim truyền hình Việt Nam khác cũng câu giờ bằng thoại.

Diễn viên Việt Nam hồi xưa sao đẹp thế nhỉ. Tôi xem phim này vì Lê Công Tuấn Anh mà rồi thấy Việt Trinh thời trẻ đẹp quá, Thiệu Ánh Dương mặt cũng rất cưng. Phim Việt Nam thập niên 90 có nhiều diễn viên đẹp thật. Có thể việc lồng tiếng hạn chế một phần diễn xuất của họ, khớp miệng không tự nhiên nhưng ánh mắt của họ thật tuyệt vời. Như ánh mắt của Việt Trinh trong Vĩnh biệt mùa hè thật buồn, còn Thiệu Ánh Dương thì ánh mắt đúng kiểu bất cần đời.

Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Chơi Vơi – Khi nỗi đau không thể gột rửa

Tôi hiểu sự cô đơn của Duyên khi muốn một người nào đó chạm vào cơ thể cô để cô cảm nhận cơ thể mình. Nhưng không khí của phim chưa cho người ta thấy sự cô đơn ấy là điều gì đó hệ trọng khiến cô phải vội vàng quyết định mọi thứ như vậy, khiến cô phải khóc rồi yêu rồi đau…

Published

on

By

Tôi vừa xem xong Chơi vơi và cảm thấy khá thất vọng. Bởi vì đọc nhiều lời khen của báo chí nên tôi đã rất kì vọng vào phim. Chơi vơi không sâu như tôi nghĩ. Phim không gợi một chút cảm xúc nào đặc biệt trong tôi. Mặc dù, tôi hiểu rằng điện ảnh nghệ thuật không cần nhất thiết phải gợi cảm xúc, nhưng có lẽ ít nhất cũng cần phải gợi suy tư. Nhưng Chơi vơi cũng không gợi chút suy nghĩ nào trong tôi. Tôi không hiểu vì sao nhiều người xem phim này lại nhận xét nó khó hiểu nhưng tôi thấy chẳng có gì khó hiểu. Mọi thứ cứ bày tuồn tuột ra trước mắt người xem đó thôi. Đôi khi, phim còn nói quá nhiều nữa và quá rõ nữa. Đâm ra tôi cảm thấy hơi buồn cười. Đây đúng là kịch bản đầu tay, viết hồi còn trẻ của Phan Đăng Di. Nội dung còn non quá. Nỗi đau chưa tới. Sau này Bi, đừng sợ hay hơn nhiều. Nhưng cách Bùi Thạc Chuyên bố cục câu chuyện, không khí trong Chơi vơi cũng chẳng hay. Tôi biết ông muốn tạo cảm giác chơi vơi đúng như tên phim, mọi thứ chẳng có gì rõ ràng cả, cứ lơ lửng thế, không biết rồi sẽ tới đâu. Tuy nhiên, sự chơi vơi này giống như thứ hình ảnh minh họa cho cảm xúc hơn là một thực thể sống với những tâm trạng ngổn ngang của nó. Với tôi, nó chẳng gợi được chút chiều sâu và suy nghĩ nào cả. Ừ thì, tôi vẫn thấy nhân vật buồn, có gì điều gì đấy làm cuộc sống của họ chán nản, rơi vào vòng buồn tẻ, rơi vào những nỗi đau mà họ không hiểu tại sao họ lại có nó; nhưng chẳng có gì chạm vào tôi được cả. Tôi hiểu sự cô đơn của Duyên khi muốn một người nào đó chạm vào cơ thể cô để cô cảm nhận cơ thể mình. Nhưng không khí của phim chưa cho người ta thấy sự cô đơn ấy là điều gì đó hệ trọng khiến cô phải vội vàng quyết định mọi thứ như vậy, khiến cô phải khóc rồi yêu rồi đau. Mọi thứ trong phim cứ giả giả. Quả thực, cuối cùng phim cũng tạo được cảm giác Chơi vơi nhưng chẳng có một điểm nhấn nào đọng lại trong lòng tôi cả. Tôi nghĩ rằng chỉ cần một chi tiết để mọi thứ lóe sáng thôi là tất cả sẽ khác. Nhưng những khoảnh khắc đó không có.

Trong phim, tôi chỉ thích nhất mỗi câu thoại của cô bé có người cha chơi đá gà.

"Em thích tắm vòi sen, cảm giác những làn nước qua khuôn mặt mình dễ chịu lắm, có không khí cho mình thở. Em không thích tắm trong bồn đâu. Hồi nhỏ, bố cứ dìm mạnh đầu em xuống bồn nước làm em sợ."

Cô bé ấy khi gặp Hải, đã vào nhà tắm của anh, nhìn vòi sen say sưa và thử tắm trong đó, thử cảm giác dễ chịu mà cô hằng mường tượng. Để rồi kết thúc cuối phim, cô lại về với bồn tắm làm từ hộp nhựa dơ bẩn ở nhà mình, lại hít thở một hơi thật sâu trước khi vùi đầu mạnh xuống nước... Có lẽ là buồn và nghẹt thở lắm phải không em? Chỉ mỗi chi tiết nhỏ đó làm tôi thấy xúc động và thấy kịch bản hay. Chỉ chuyện tắm vòi sen hay tắm trong bồn nước không ngờ có thể làm người ta đau đớn như vậy. Vòi sen là một nguồn nước nhẹ nhàng, thanh thản, trong khi bồn nước thì cứ phải vục mình trong đó, úp đầu xuống dưới nước thật sâu mới mong gột rửa thật sạch toàn bộ cơ thể...

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng