Phía sau trang sách

Tứ Thư: Bốn cuốn sách cấm về bản tính con người

Published

on

Có người đặt câu hỏi: “Sách cấm có đáng đọc không?” Vừa có mà lại vừa không. Có vì nó xâm nhập vào những góc khuất sâu nhất của bản chất con người, bởi nếu không phải vì cái góc khuất đó, thì người ta đã chẳng cấm cuốn sách ấy.

Sự cấm ngay bản thân nó đã chứa đựng một bí mật, và con người – loài sinh vật tò mò bậc nhất – thật không nên bỏ qua cơ hội khám phá. Nhưng tại sao lại không nên? Cũng bởi chính vẻ ngoài đầy cám dỗ của bí mật, nó mị hoặc con người, nó thôi thúc chúng ta úp mặt vào mà soi, và giữa cơn mê, không ít người sẽ như anh chàng Narcissus kia, tìm đến ảo ảnh chính mình mà chẳng thể nào thoát ra được. Trong Tứ Thư, Diêm Liên Khoa cân bằng hai yếu tố này một cách hoàn hảo. Ông tạo ra một câu chuyện siêu thực đến hoang đường nơi tất cả đắm mình trong nỗi dằn vặt tất yếu của thời đại, nơi tất cả đi giữa hai lựa chọn nhớ và quên, chấp nhận và chối bỏ.

1. Kẻ sĩ hóa phàm phu

Tứ Thư vốn là bốn trước tác kinh điển của Nho học Trung Hoa, cùng với Ngũ Kinh làm thành cột trụ của Nho Giáo. Với tầm vóc lớn lao như thế, không có gì lạ khi nó trở thành kim chỉ nam cho bao đời kẻ sĩ. Nhưng Diêm Liên Khoa chủ trương viết một Tứ Thư hoàn toàn khác, đối lập với bộ sách kinh điển kia. Trong Tứ Thư của mình, ông ghi chép tỉ mẩn những việc làm, hành động, suy ngẫm của kẻ sĩ thời mạt thế chuyển ngược trở lại thành sách, thành một phản Tứ Thư. Và ở trung tâm của sự biến đổi ấy, không khó đoán, đó là những kẻ sĩ.

Lấy bối cảnh Cách mạng Văn Hóa ở Trung Quốc những năm 60, 70 của thế kỷ trước, những người trí thức buộc phải rời khỏi thành thị tới những trại tập trung dọc bên bờ Hoàng Hà để tiến hành “giáo dục mới.” Họ bị đàn áp, bóc lột nặng nề tưởng chừng như tái hiện lại quang cảnh của chế độ thực dân hơn trăm năm trước, và thậm chí còn tệ hơn. Họ không những phải chịu đựng sự dày vò về thể chất, mà thứ làm họ kiệt lực nhanh nhất chính là sự vò xé tinh thần. Mọi sách vở, nếu không phải nói về công cuộc lập quốc của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đều bị cấm. Văn chương không, tôn giáo không, khoa học không, âm nhạc không, y học cũng không. Tất tần tật cái gì có liên quan đến phương Tây đều là phản động. Chính sách “giáo dục mới” bỗng chốc biến đất nước Trung Hoa năm ngàn năm văn hiến trở về con số 0 tròn trĩnh, tựa như xưa kia những bộ lạc man di phương Bắc xóa sổ nền văn minh Hy-La. Song ở Trung Quốc, mọi chuyện được đẩy đến cùng cực – nhổ cỏ phải nhổ tận gốc – và thời Phục Hưng không hề có cơ hội ở đất nước này. Trong cái đêm trường tăm tối vô tận ấy, người trí thức bị lột sạch tất cả, gột bỏ hết những thứ làm nên con người trí thức của họ, để rồi phơi ra trên mình mỗi người chỉ còn lại hai tay hai chân phục vụ cho gieo trồng bừa cấy – vốn là công việc của nông dân, hay “long trời lở đất, đại luyện gang thép” – vốn chỉ dành cho công nhân. Từ những kẻ sĩ rường cột của cả quốc gia, chỉ sau một thời gian ngắn họ nhanh chóng khoác lên mình bộ đồng phục mới: trở thành phàm phu. Môi trường thi đua ái quốc trong trại cải tạo nhanh chóng làm bừng lên ngọn lửa phàm phu trong họ: “Năm bông hoa nhỏ đổi được một bông hoa nhỡ, năm bông hoa nhỡ đổi một ngôi sao năm cánh, năm ngôi sao năm cánh là các ông được về nhà.”

Đứng ở bình diện người quan sát, chúng ta dễ dàng nhận ra phương cách nhà cầm quyền tước đoạt lương tri con người: bằng cách tước đoạt đi tư tưởng. Không có tư tưởng, chúng ta chẳng khác nào bầy cừu trong chuồng, ngày ngày nhìn đồng loại mất mạng, đêm đêm chỉ biết nỉ non khóc thầm. Không có tư tưởng, chúng ta từ bỏ nền văn minh tốn hàng ngàn năm xây dựng để trở về với xã hội mông muội nguyên thủy, sống trong hỗn loạn khi mỗi người tự thỏa mãn dục vọng của mình. Đừng lầm tưởng, đó đâu phải tự do, đó chỉ là phiên bản phóng chiếu của sở thú, một cái sở thú con người. Tự do dưới những nguyên tắc, tự do được cấp trên chỉ dẫn, tự do làm những việc mình bị ép buộc, kẻ thống trị bóp méo chúng thành những thứ tự do dị dạng. Và người trí thức – những người hiểu rõ cái sự ngụy biện, sự mị hoặc đó nhất – tất yếu sẽ bị thanh trừng đầu tiên. Muốn thắng phải bắt được tướng địch, đánh rắn phải đánh vào đầu, người Trung Quốc, đặc biệt những kẻ thống trị am hiểu điều đó hơn ai hết, rằng một khi “cải tạo” tận gốc tầng lớp trí thức, nghiễm nhiên sẽ không còn ai dám chống đối nữa, không còn ai dám nghi ngờ sự tự do nữa. Ở bình diện người quan sát, chúng ta mới nhận thấy một trăm hai mươi lăm bông hoa đó ghê gớm đến mức nào. Kẻ thống trị tạo ra một phần thưởng tưởng tượng treo tít trên tận trời xanh hòng dẫn dụ những người trí thức. Tất nhiên, kẻ sĩ chân chính chẳng bao giờ bị lợi nhỏ thuyết phục. Nhưng phàm phu thì ngược lại, phàm phu hám lợi, vì lợi có thể dẫm đạp lên người khác. Để đẩy nhanh công cuộc phàm phu hóa kẻ sĩ, nhà cầm quyền sử dụng một phương cách cổ xưa, cách mà Chúa Trời từng sử dụng với thành Babylon: đó là trao cho họ đầy đủ nguyên vật liệu để xây tháp Babel nhằm chạm tới phần thưởng. Chuyện gì đến cũng đã đến, sự hỗn loạn tất yếu xảy ra. Vì là ý tưởng của Chúa, lẽ dĩ nhiên không ai thoát được, hoặc chủ tâm hoặc vô tình bị kéo vào. Một khi đã bước một chân vào rồi thì không thể rút ra được nữa. Tháp Babel cứ thế cao dần lên, và tình người ngày càng đi xuống, cho đến lúc ai đó chợt nhận ra, như ông nhà văn chẳng hạn, thì chẳng còn gì cứu chuộc được nữa. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh anh chàng thí nghiệm ngày đêm rình mò ông học giả và cô nhạc sĩ, cốt để bắt tại trận họ gian dâm với nhau, nhằm lãnh mười, hai mươi bông hoa nhỏ. Hình ảnh ấy đau đớn thay lại là hình ảnh phổ quát của cả khu trại. Một trăm hai mươi lăm bông hoa tưởng chừng như con số khổng lồ, là việc bất khả thi không thể thực hiện được, nhưng trên thực tế chuyện lại trái ngược hẳn: một trăm hai mươi lăm bông hoa là con số vừa đủ để người ta bán đi lương tri của mình.

2. Phàm phu hóa kẻ sĩ

Người Trung Quốc có thuyết âm dương rất hay, mà Diêm Liên Khoa lồng ghép rất mực tài tình. Cả cuốn Tứ Thư là một Thái cực đồ thống nhất với mở đầu bằng cách nhại lại những câu trong Sáng thế ký và kết thúc với sự lặp lại của mở đầu: từ hư không xuất hiện tất cả (khu trại, tội nhân, giáo dục mới, hoa đỏ,…) rồi tất cả lại trở về hư không (những người đói khát chạy trốn khỏi nơi cư trú gặp nhau). Nổi lên trên khung cảnh xám xịt đó là hai đặc trưng rõ nét: 

Thứ nhất, có âm ắt hẳn có dương. Đã có kẻ sĩ tất có phàm phu, kẻ sĩ hóa phàm phu thì lẽ đương nhiên phàm phu phải hóa kẻ sĩ. Con Trời sinh ra chính là như thế. Nó có cái tố chất đặc trưng cho kẻ phàm phu: không biết gì. Kẻ như nó, đáng lý ra cả đời được hưởng những đặc ân đó, được sống sung sướng tự do theo ý mình – cũng là theo ý nhà cầm quyền. Nhưng bất hạnh thay, Con Trời lại được giao cho quyền lực, được đưa lên làm quản lý khu trại cải tạo. Bi kịch của nó nằm ở đó. Nó bỗng nhiên từ kẻ không biết gì trở nên biết tất cả, từ kẻ chỉ biết hám lợi chuyển thành kẻ háo danh, và từ phàm phu hóa thân thành kẻ sĩ. Con Trời bị nào là giấy khen, nào là bông hoa đỏ mị hoặc. Nó mong muốn được lên tỉnh, lên thủ đô, muốn gặp cấp trên, gặp cấp trên của cấp trên, gặp cấp trên cao nhất nhất. Nó muốn được xoa đầu và tuyên dương. Đặc biệt, nó thà mất mạng chứ không mất danh, và khi chết nó muốn chết như một anh hùng, người đổ về phía trước. Tuyền là những biểu hiện háo danh, bị danh hão làm cho mờ mắt, chạy theo danh hão mà quên đi bản chất thật của mình. Con Trời chạy, chạy mãi như thế về phía cái chết, và kéo theo lắm kẻ lầm than. Thế nhưng than ôi, người như nó nhiều vô kể xiết. Con Trời là ví dụ tuyệt vời để nhìn nhận giới cầm quyền hữu danh vô thực – những kẻ không biết gì nhưng nắm tất cả trong tay, những kẻ dễ bị ngộ độc, bị sốc bởi danh hão – nhất là trong một xã hội đi đến hồi mạt kỳ như Tứ Thư.

Thứ hai, thịnh cực tất suy. Hết âm lại đến dương, hết dương lại đến âm. Tại thời điểm đen tối nhất của Nạn Đói Lớn, khi người phải ăn cỏ cây, ăn đất, thậm chí ăn thịt người chết mà sống, thì cũng chính lúc đó, có những kẻ phàm phu tìm lại được căn tính kẻ sĩ của mình. Tôi đang muốn tới ông nhà văn. Ông ta là mẫu người để ta nhìn nhận sự rộng lớn trong bản tính người: thời xây tháp Babel, nhà văn là tên gián điệp đê hèn ghi chép lại mọi sự báo về cấp trên lĩnh hoa đỏ, rồi chính ông ta là kẻ thực sự đã tố cáo học giả và nhạc sĩ gian dâm – biểu hiện của kẻ gian hèn như Tần Cối, thế nhưng ông ta cũng là kẻ hối lỗi đến cùng cực, khi cắt thịt đùi của mình nấu cho học giả và nhạc sĩ để tạ tội – một việc mà tưởng chừng chỉ có bậc đại sĩ như Giới Tử Thôi mới làm. Bản tính con người rộng lớn thế đấy, nó rộng hơn tất thảy những gì chúng ta chiêm nghiệm qua vẻ bề ngoài. Bản tính người đến từ nơi sâu thẳm mỗi cá nhân, không phải trái tim cũng không phải khối óc, nó không thực sự hữu hình, nó đi giữa tồn tại và không tồn tại: vào những lúc không ngờ nhất nó sẽ xuất hiện và vào những hồi rõ ràng nhất nó đột nhiên biến mất. Sự nhìn nhận đúng mực về bản tính người rất quan trọng, giúp chúng ta thâm nhập vào quyển cuối cùng trong Tứ Thư: Thần thoại Sisyphus mới.

3. Kiếp người

Thần thoại Sisyphus mới là quyển cuối cùng trong Tứ Thư, giống một bản tổng kết ngắn lại toàn bộ những chuyện xảy ra cuối cuốn sách, đồng thời nó cũng hiện diện tại khắp mọi ngõ ngách. Với phần cuối này, Diêm Liên Khoa muốn kể một câu chuyện mới, một góc nhìn mới về bi kịch của Sisyphus dưới thế giới quan của ông học giả. Nếu như Albert Camus dùng hình ảnh Sisyphus để đặt ra câu hỏi về tính sống còn của con người thì ông học giả, cũng dùng Sisyphus để tiếp cận những suy tư của chính ông, của những tội nhân cùng khu, nhằm làm sáng tỏ bản chất điên rồ của thời đại mà ông đang sống. Thời ông đang sống – thời Cách mạng Văn hóa – khi người ta chạy theo cơn mê của lòng đố kị, sự nghi hoặc, lòng tham và danh hão thì câu hỏi về sự tồn tại càng trở nên cấp thiết. Ông học giả không muốn như Camus, chỉ mải ngày đêm lăn đá lên đỉnh núi để rồi gần tới đỉnh thì lại tuột dốc lăn xuống, sự vô nghĩa của cuộc sống đó làm ông không chấp nhận được, nhất là khi ông đã trải qua cơn thập tử nhất sinh của Nạn Đói Lớn (hay ít nhất ông vẫn sống đến cuối truyện). Ông học giả, hay Diêm Liên Khoa, muốn chọn một cách tiếp cận khác để tạo ra cái kết khác. Ngọn núi của Sisyphus – hay cũng chính là một trăm hai mươi lăm bông hoa đỏ – trên sườn núi ấy đột nhiên có một đứa trẻ, và sự tồn tại của đứa trẻ cùng cái hành động ngắm nhìn đứa trẻ làm cho Sisyphus biết mình vẫn đang còn sống, biết rằng cuộc sống của mình còn có nghĩa. Tôi cho rằng đứa trẻ kia không ai khác ngoài cô nhạc sĩ người tình của ông học giả (có thể lắm chứ, khi người ta sống vì tình yêu). Nhưng rồi các vị thần (mà cũng có thể là cấp trên lắm chứ), biết được chuyện tình vụng trộm của hai người, biết được trong cơn đọa đày lăn đá (mà cũng có thể là trồng tiểu mạch hay luyện gang thép), tội nhân của họ vẫn được hưởng niềm vui, coi đó như lạc thú thì tức giận không chấp nhận được. Họ bèn chuyển Sisyphus đến một ngọn núi mới, lăn đá từ đỉnh xuống chân núi và khi hòn đá sắp xuống tới chân núi thì bật ngược trở lại với trọng lực ngược. Ông học giả cũng trải qua tình cảnh tương tự, thay vì đấu tranh giành những bông hoa chuyển thành đấu tranh để giữ mạng sống trong Nạn Đói Lớn. Lúc này, những phi lý cuộc đời bỗng chốc trở ngược đầu càng thêm phi lý tợn, và ông học giả lại phải tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Ông không bao giờ trông thấy đứa trẻ nào nữa, đứa trẻ hiện sinh của ông đã bị nạn đói làm cho chết tươi. Mất đi chỗ dựa làm ông tuyệt vọng, ông càng tuyệt vọng bao nhiêu thì các vị thần cấp trên của ông càng sảng khoái bấy nhiêu. Cuối cùng, ông đã nghĩ ra điều mà các vị thần không ngờ tới: ông bấu víu vào chính cơn tuyệt vọng ấy, rồi tưởng tượng ra những đứa trẻ, ra những khu làng. Câu chuyện của ông là câu chuyện của “sự thích nghi”. Kiếp người là sự thích nghi vô hạn: khi đã thích nghi với tuyệt vọng, chúng ta bèn tạo ra hy vọng. Chúng ta cứ đi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác như thế, bất kể các vị thần có trừng phạt bằng cách nào, thì họ cũng chẳng thể ngăn trí óc ta, ngăn sự thích nghi của ta lại. Tạo ra hy vọng từ tuyệt vọng, tạo ra một sự phi lý để đối chọi lại một phi lý khác trong một xã hội phi lý là cách ông học giả giữ cho mình tồn tại. Và sự tồn tại của ông, hay của Sisyphus, hay của chính chúng ta, là thứ duy nhất có ý nghĩa trong cuộc đời này.

Hết.

3V

Ảnh: Tao Đàn


Đọc tất cả những bài viết của 3V.


Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng