Trà chiều

Từ Sách đến Phim: Một lít nước mắt (2005)

Gửi đến những bạn đã hoặc đang có suy nghĩ bi quan giống tôi. Hãy yêu đời nhé.

Published

on

Tôi đã khóc thật nhiều khi xem bộ phim 1 Litre of Tears. Khóc bắt đầu từ tập 8 cho đến cuối tập 11. Có lẽ, tập khiến tôi khóc nhiều nhất là tập 11. Tôi khóc hầu như suốt 45 phút. Lần đầu tiên, tôi coi phim mà phải bấm nút pause nhiều đến như vậy. Không phải bấm pause để dò từ điển mà là bấm pause để tôi có thể… khóc. Tôi khóc lúc nào mà chẳng hay… đến khi biết được thì nước mắt đã tràn ra quá nhiều làm nhòe cái mắt kiếng. Tôi phải dừng lại cũng là để lau mắt kiếng, lau những giọt nước mắt đang chảy dài trên khoé mắt.

Khóc… khóc nhiều đến nỗi tôi có cảm giác chưa bao giờ tôi được khóc thoải mái như thế. Đã một năm rồi tôi không khóc. Tôi còn nhớ lần cuối cùng tôi khóc đó là khi tôi ở ngay trước ghế đá của văn phòng đoàn trường mình. Trước đó, tôi đã đứng ở ngoài sân một vài phút để khóc trong mưa, để nước mưa có thể lau đi những giọt nước mắt của tôi. Ừ… thì đúng là nó đã lau thật. Nhưng rồi chỉ một vài phút sau khi ngồi vào băng ghế đá… tôi lại khóc tiếp tục.

Lần đó… tôi cứ ngỡ là mình sẽ không bao giờ khóc được nữa. Cho dù từ đó tới nay, đã có rất nhiều chuyện buồn xảy đến với tôi, tôi cũng đã đọc… đã coi thêm rất nhiều câu chuyện buồn nhưng…vẫn không khóc. Thật là một lời cảm ơn kì lạ nhưng… tôi vẫn muốn cảm ơn 1 Litre of Tears vì đã cho tôi khóc, cho tôi những giọt nước mắt để tôi biết hóa ra những nỗi đau mà mình đã gánh chịu còn nhẹ hơn mây trời…

Chọn một con đường dài cũng không phải là một việc quá ngốc

Nếu như tôi có thể làm một bông hoa, tôi sẽ chọn làm một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Khi xem 7 tập đầu, tôi cứ ngỡ mình là người cứng rắn vì tôi đã không khóc một chút gì cả trong khi tôi nghe dân tình trên mạng nói là họ khóc suốt bộ phim. Nhưng rồi… không ngờ… cuối cùng nó cũng đã đánh gục tôi ở tập 8.

Tuy những tập trước đó tôi không khóc nhưng mà khi xem vẫn cảm thấy rất buồn. Ngay từ tập 1 đã thế.

Aya cùng với Haruto được phân công làm người đại diện cho lớp (có thể hiểu nôm na là lớp trưởng, lớp phó). Có một buổi lễ của trường mà mỗi lớp phải chọn ra một bài nhạc để trình diễn. Đương nhiên là Aya và Haruto phải có trách nhiện về việc này nhưng khi Aya hỏi ý kiến,  ai trong lớp cũng từ chối việc tham gia.

Khi xem đến đoạn đó, tôi như thấy được hình ảnh của mình trong đó. Mà không phải chỉ mình tôi, tôi nghĩ hầu hết (không phải là toàn bộ) các học sinh đều không mấy nhiệt tình khi tham gia vào các phong trào chung của lớp. Đặc biệt là khi học cấp III, do bận bịu việc học, ai cũng sợ rằng tham gia vào các hoạt động như thế thì sẽ mất đi quỹ thời gian học tập quí báu của mình. Hậu quả là mỗi khi lớp có phong trào gì thì cũng chỉ có một thành phần nhất định trong lớp năng nổ tham gia. Đó là một thực tế mà lớp nào cũng có, trường nào cũng có. Đặc biệt với Nhật lại càng đúng khi có thành ngữ “ 4 đậu, 5 rớt” dành cho các học sinh cấp III. Nghĩa là một học sinh nếu một ngày chỉ ngủ 4 tiếng thì sẽ đậu đại học còn nếu như ngủ từ 5 tiếng trở lên thì sẽ rớt đại học.

Đáng lẽ ra, Aya chỉ cần ôm công việc một mình nếu như cả lớp không chịu làm. Nhưng…cô vẫn đứng trước lớp cố thuyết phục mọi người, không phải vì cô sợ làm một mình, cô chỉ là muốn cả lớp cùng làm. Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó:

“Ba của tớ hiện đang mở cửa tiệm là đậu phụ…  ừm… nhưng trước đó ba đã không muốn làm công việc này chút nào dù đây là nghề mà bà nội tớ đã làm và luôn bắt ba tớ phải làm như thế. Ba đã chọn làm một công việc trong văn phòng. Nhưng dường như việc cứ ngồi một chỗ không thích hợp với ba. Rồi ba lại làm cho một tiệm đồng hồ, sau đó ông lại bỏ và đi làm cho một tiệm sửa quần áo… ba tớ đã làm rất nhiều công việc nhưng rồi cuối cùng ông lại quay trở về làm đậu phụ và thành công làm cho tới bây giờ. Có thể nói là ba tớ đã đi một con đường vòng khá dài nhưng bây giờ những công việc ngày xưa mà ông làm chẳng hề lãng phí chút nào cả. Ông làm cho tớ một cái đồng hồ… những bộ quần áo mà mọi người bảo rằng lỗi thời…nhưng mà… tớ… tớ chỉ nghĩ rằng đi một con đường dài như thế cũng không hẳn là một điều ngu ngốc. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà. Tại sao chúng ta không thử làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ làm. Tớ chỉ muốn cả lớp có thể tham gia cùng nhau thôi chứ không muốn một cá nhân riêng lẻ nào…”

Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó. Ai cũng muốn chọn cho mình một con đường ngắn nhất, dễ đi nhất. Ai cũng sợ đường dài, đường vòng dù họ cũng biết là hầu như không thể đi một con đường đời bằng phẳng nhưng vẫn cố gắng trốn tránh việc đó… Tại sao chúng ta không nghĩ rằng trong khi chúng ta tránh đi những con đường dài thì bản thân chúng ta cũng đang mất thời gian vì phải trốn tránh? Tôi nghe đắng nơi cổ họng vì biết mình luôn trốn tránh. Tôi cũng đã trốn tránh ước mơ của chính bản thân mình vì tôi sợ con đường của tôi đi quá dài…

Nhưng mà… khi Aya nói câu: chúng ta vẫn còn rất nhiều thời gian thì lúc đó phim lại chiếu tới đoạn mẹ của Aya nhe bác sĩ nói rằng cô bị mắc bệnh  Spinocerebellar Degenaration. Căn bệnh quái ác này không làm người ta chết ngay mà dần dần giết đi các khả năng của người bệnh: đầu tiên sẽ là đi không vững, rồi sau đó sẽ gặp khó kăn trong việc nói nhìn… rồi phải ngồi xe lăn… rồi không đi được nữa… nói cũng không được… mất dần… mất dần… cuối cùng là…

… chết!…

Đối với mọi người thì thời gian còn rất dài nhưng với Aya, chỉ có một tương lai duy nhất đang đợi cô ở phía trước vì căn bệnh này là không thể chữa khỏi được.

Nếu tôi có thể là một bông hoa, tôi sẽ chọn là một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Chỉ cần yêu thương và được yêu thương đã là một việc đáng tự hào

Trong 1 Litre of Tears, không chỉ có tình yêu mà tất cả mọi tình cảm giữa người và người đều được thể hiện một cách xúc động. Tôi thật sự xúc động với tình cảm gia đình của Aya.

Khi Aya bắt đầu không thể đi lại một cách bình thường, những bước đi của cô luôn chậm chạp và trông giống như một con chim cánh cụt. Mọi người đều nhìn cô bằng ánh mắt thương hại. Bạn nghĩ sao khi có một người chị như thế? Tự hào hay xấu hổ?

Hiroki là em trai của Aya. Cậu rất thích chơi đá banh ở vị trí tiền đạo nhưng có điều… cậu vẫn chưa được vào đội tuyển. Khi thấy em trai mình tập đá ngoài bãi sân trống không khung thành, Aya đã chỉ phương pháp để tập luyện hiệu quả hơn: đó là lấy phấn vẽ một khung thành giả lên bức tường, cậu chỉ cần luyện tập bằng việc đá banh vào khung thành ấy. Aya bảo:

“Em không thể đá mà không có mục tiêu cụ thể nào được. Bằng việc làm như thế này, em sẽ tập luyện hiệu quả hơn.”

Kết quả là trình độ đá bóng của cậu tiến bộ hẳn và cậu được chọn vào đội tuyển. Lúc đó, đám bạn của câụ đã rất ngạc nhiên vì đó là lần đầu tiên Hiroki được chọn. Khi được bạn bè hỏi tại sao lại tiến bộ nhanh như thế, cậu đã tự hào mà trả lời rằng:

“Là chị Aya của tớ đã chỉ tớ phương pháp tập luyện. Chị ấy rất xinh, thông minh, học giỏi và cả chơi thể thao cũng giỏi nữa.”
“Ngưỡng mộ quá. Cậu có thể cho chúng ta gặp chị ấy một lần được không?”

Một khoảng lặng vì đó là hình ảnh của chị cậu ngày xưa. Bây giờ chị cậu đã không còn được như thế nữa. Điều đó làm cậu cảm thấy xấu hổ, không muốn cho bạn bè của mình gặp chị.

Nhưng một đám bạn của cậu cũng đã tình cờ gặp được Aya. Và thế là chúng dè bỉu chị cậu trước mặt cậu…cậu cố chịu đựng vì cho rằng không còn sự lựa chọn nào khác.

“Cậu là đồ nói láo. Chị của cậu không được như câu đã nói. Đi đứng còn không vững, cứ như chim cánh cụt ấy thì làm sao mà chơi thể thao giỏi cho được.”

Nhưng Ako-chị của cậu và là em của Aya thì lại không thể chịu đựng như thế:

“Tại sao em lại im lặng? Tại sao lại để cho chúng xỉ vả chị Aya trước mặt em như thế. Chẳng lẽ em không hề có một chút tức giận gì sao?”
“Bởi vì em không có sự lựa chọn nào khác.”

“Không có à… Nếu là chị thì chắc chị sẽ hét toáng lên mất… Em… thật ngốc đấy. Chị Aya của chúng ta rất đáng ngưỡng mộ. Chị tự hỏi nếu là chị mắc căn bệnh giống như chị Aya, chị thậm chí sẽ không dám đi ra ngoài đường… sẽ không thể mỉm cười khi có một ai nói những lời trêu chọc mình…và em biết gì nữa không, chị Aya đã khâu tên của em lên chiếc áo em sẽ bận để thi đấu vào ngày chủ nhật này đấy. Chị ấy rất khó khăn để làm việc đó nhưng vẫn cố gắng làm vì em…vì chị ấy nói làm như thế coi như để tập trị liệu cho ngón tay. Vì làm chậm nên chị ấy đã phải hi sinh cả khoảng thời gian ngủ của mình, thức trắng đêm để khâu cho em… vậy mà… tại sao em lại nỡ đối xử với chị ấy như thế?”

Và Aya đã tình cờ nghe hết mọi chuyện. Cô vốn dĩ rất muốn xem em mình thi đấu nhưng khi biết em mình xấu hổ về mình, Aya không trách em mà chỉ trách bản thân mình đã làm gánh nặng cho em, trách mình vì sao chỉ nghĩ đến cảm xúc của mình là rất muốn đi xem mà không nghĩ đến cảm xúc của em.

“Chủ Nhật này chị tình cờ có việc bận nên sẽ không thể đi coi em thi đấu được đâu. Chị phải đi xem phim với Mari.”

Nhưng buổi sáng chủ nhật ấy, Hiroki đã viết một mẩu giấy để lại trên bàn cho Aya:

Em rất muốn chị xem em chơi bóng. Chị Aya hãy đi xem em chơi bóng. Chị nhất định phải đi đấy. Nhất định

“Con…con có thể đi xem em thi đấu được hả mẹ..?”
“Được mà. Nó đã cảm thấy hối hận rồi và  không phải nó đã để lại mẩu giấy viết nó muốn như thế rồi còn gì…?”

Lúc này, khi Aya đến xem thì cậu đã không còn xấu hổ nữa mà tự hào giới thiệu với tất cả mọi người trong đội bóng:

“Đây là chị Aya của tớ-người đã chỉ tớ cách tập bóng.”

Tôi chợt hiểu ra sự khác nhau trước và sau khi Hiroki nghe những lời nói của Ako có lẽ là sự nhận thức của cậu về tình yêu thương mà Aya dành cho mình và.…có lẽ chỉ cần yêu thương  và được yêu thương cũng là một việc đáng tự hào rồi…

Tôi biết rằng cuộc sống của tôi bây giờ đã khác trước rất nhiều nhưng tôi vẫn muốn tin trong hàng ngàn con mắt nhìn tôi soi mói…vẫn có những người quan tâm và luôn dõi theo tôi.

Hạnh phúc là khi giúp đỡ được những người xung quanh

“Se..nsei…sắ..p.. đ..i kh..ỏi bệ..nh v..iện nà..y?”
“Đâu có.”
“Vậ..y l..à se..nsei vẫ..n.. ở lạ..i?…T..hậ..t… t…ốt q..uá…”
“Ừ. Tôi sẽ ở lại đây mãi.”
“Vậ…y s…ensei… có t…hể …lấ…y …em.. r…a …cho… v…iệc.. ng..hiên …cứ…u củ…a …sen..sei… đư…ợc… khôn…g?”

“Ý em là tôi có thể sử dụng cơ thể của em để nghiên cứu phương pháp trị liệu à?”
“Ừm….V…ì e…m mu..ốn.. ma..u …ch…óng… giúp… n…hững… ng…ười… c…ũng …mắ…c …că…n …bệ..nh …giố…ng… nh…ư …mì…nh… c…ó ..th…ể ch…ữa.. k…hỏi… ..E..m …cũ…ng …m..uốn… g..iúp… se…nsei… n..ữa …vì.. se..ns..ei đã.. t…ận.. t..âm …cứ…u c..hữ..a …ch..o.. e..m ..nh…ưn..g ch..ưa ba…o gi..ờ e…m ..cả…i th…iện đư…ợc s…ức …kh…ỏe.. c..ủa.. m..ìn..h ..cả…”

Đó là đoạn gần cuối phim khiến tôi khóc nhiều nhất. Aya lúc đó đã không còn có thể nói chuyện một cách rõ ràng nữa. Cô cứ bập bẹ từng tiếng một cách thật khó khăn nhưng vẫn cố gắng nói ý nguyện của mình. Vì cô luôn cảm thấy mình có lỗi với mọi người, là gánh nặng của mọi người. Trong khi mọi người luôn giúp đõ cô thì cô chẳng thể làm được vì để giúp đỡ lại họ cả.

“Mẹ à… con sống là để làm gì hả mẹ?”
“Con không thấy sao… đây là những cuốn nhật kí mà con đã viết. Con vẫn còn có thể làm công việc này mà. Hãy cố gắng viết đi con.”

Và thế là, dù ngay cả đôi tay bây giờ cũng không còn dễ dàng cho việc cầm bút, ngày ngày cô vẫn cặm cụi bên giường bệnh viết nhật kí. Có hôm viết đến quên nỗi ngồi ngủ gục. Tôi thương lắm những con chữ to đùng, nguệch ngoạc mà Aya đã viết. Có thể nó xấu xí nhưng người chủ nhân viết nó có một tâm hồn thật đẹp…

Cuốn nhật kí 1 littoru no namida đã được liệt vào hàng sách best-seller của Nhật Bản. Dù đã được xuất bản hơn chục năm nay nhưng đến bây giờ vẫn còn ăn khách. Phim dựa trên chuyện có thật của một cô gái tên là Kito Aya. Dù bị căn bệnh hành hạ từ năm 15 tuổi nhưng cô vẫn cố gắng sống cho đến năm 25 tuổi.

Xin kết lại bài viết của tôi bằng lời bài hát cuối phim có tên là Only Human do K trình bày:

Bên kia nỗi buồn là nụ cười

Phía bên kia nỗi buồn có những điều được gọi tên bằng nụ cười…
Nhưng trước khi chúng ta có thể đến được đó, điều gì sẽ chờ đợi ta ở phía trước?

Để theo đuổi ước mơ của mình, chúng ta  không có quyền chạy trốn
Chúng ta đã bước qua, quá xa rồi những ngày hè ấy…

Nếu đợi đến ngày mai mới nhận ra, chúng ta sẽ thở dài
Bởi vì như chiếc xuống trên dòng suối
Chúng ta phải đi thẳng về phía trước

Ở một nơi bị bao trùm bởi đau buồn
Vẫn còn điều gì đó gọi là kì tích, là chờ đợi…
Phải! Chúng ta vẫn đang tìm kiếm
Bông hoa hướng dương nở vào cuối xuân
Như một người chiến sĩ chờ đợi ánh nắng mặt trời
Trước khi anh ta có thể ôm những tia nắng đó, nước mắt anh long lanh rơi…

Dù chúng ta đã trưởng thành từ cô đơn
Chỉ cần dựa vào ánh sáng của mặt trăng
Chúng ta phải bay xa với một đôi cánh không có lông…
Chỉ cần đi về phía trước, dù chỉ đi xa hơn được một chút

Khi những đám mây mang cơn mưa tan đi
Những con đường loang loáng nước
Dù có lẽ nó chỉ đem lại bóng tối
Một nguồn sáng đang lớn dần…lớn dần…
Sẽ soi sáng đường chúng ta đi.

Hết.

Kodaki

1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng