Phía sau trang sách

Rừng Na-uy: Những dạng thức cô đơn…

Vì đối với tôi, con người sống không phải là để được hạnh phúc, để tuyệt đối khất trừ mọi khổ đau. Con người sống là để lựa chọn cái thích hợp cho mình. Một hạnh phúc thích hợp, một nỗi đau thích hợp, một bản thể thích hợp.

Published

on

Gửi người bạn thân nhất của tôi,

I once had a girl, or should I say, she once had me.
She showed me her room, isn’t it good, norwegian wood?

Khi tôi viết những dòng suy nghĩ này, trí nhớ của tôi về Rừng Na-uy không còn được rõ như lúc trước nữa. Không hẳn là nó phai nhạt dần, chỉ là với riêng tôi, hình như việc quá yêu nó khiến tôi không thể nào viết được cảm nhận về nó khi trí nhớ còn quá rõ ràng. Bởi vì như vậy, nó sẽ làm tôi đau, đau lắm…

Giờ đây, khi những câu chữ kia trói buộc tôi đang dần nơi lỏng, chính thứ giai điệu bàng bạc nỗi cô đơn của bài hát ấy mới là cái gợi tôi nhớ đến Rừng Na-uy. Nó đã cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng nhưng vẫn cô đơn. Nỗi cô đơn có nhiều dạng thức. Có những nỗi cô đơn có thể giao hòa với nhau. Khi ấy, những con người cô đơn gặp nhau sẽ được cảm thông và chia sẻ. Nhưng có những nỗi cô đơn như hai mặt phẳng trơ trọi trong không gian. Khi ấy, những con người cô đơn gặp nhau sẽ càng cô đơn hơn.

Những con người trong Rừng Na-uy đã gặp nhau, yêu nhau để rồi bất lực không đến được với nhau vì nỗi cô đơn trong mỗi người khác nhau. Có thể nói, Rừng Na-uy như cuốn từ điển sống về nỗi cô đơn mà ở đó Murakami Haruki đã giải nghĩa thật tinh tế, ngắn gọn mà đầy đủ…

…đó là cái chết của người bạn thân nhất và duy nhất

Câu chuyện bắt đầu được kể lại bằng dòng hồi tưởng về những sự kiện diễn ra cách đó khá lâu. Nó là những mảnh kí ức của Toru qua năm tháng. Vì vậy, nó không chỉ bàng bạc nỗi cô đơn tự thân vốn dĩ của những con người trong thế giới đó, mà còn chất chứa niềm nhớ thương không nguôi cho những gì đã qua đi, không thể trở lại.

…đó là tình yêu dành cho người yêu của người bạn thân ấy.

…đó là sự ra đi của người con gái ấy.

Trong mối quan hệ giữa ba người Toru – Kizuki – Naoko, Kizuki chính là người đóng vai trò trung tâm. Anh luôn biết cách điều khiển câu chuyện nhịp nhàng giữa ba người, không bỏ mặc ai, không để ai cảm thấy cô đơn. Anh luôn tìm được sự thú vị trong những câu chuyện tưởng chừng như nhàm chán nhất, khiến cho người kể câu chuyện ấy cũng cảm giác mình thật đặc biệt. Đó là một dạng tài năng mà không phải ai cũng có thể phát hiện. Nhưng Toru đã nhận ra được và cảm thấy thật uổng phí vì Kizuki không giao thiệp rộng. Anh băn khoăn tự hỏi một người bình thưởng chỉ thích đọc sách, nghe nhạc như mình tại sao lại được Kizuki để mắt.

Tôi nghĩ, có lẽ đó là lực hút của sự cô đơn. Trong câu chuyện ngày ấy giữa ba người theo cách kể của Toru, có vẻ như Kizuki là người bình ổn nhất, biết cách hòa nhịp với cuộc sống nhất. Điều đó diễn ra tự nhiên đến nỗi không ai lại nghĩ một người như thế có thể tự tử. Cái chết của Kizuki đã khiến Toru suy nghĩ rất nhiều về ngày hôm ấy…

Có lẽ trong ba người chính Kizuki mới là người cô đơn nhất. Anh cô đơn nhất vì phải che giấu nỗi cô đơn của mình để làm chỗ dựa tinh thần cho người khác. Nhưng điều đó không khiến cho Kizuki mạnh mẽ hơn mà chỉ khiến cho anh yếu đuối hơn. Những người quá cô đơn nhìn vào ai cũng biết được họ đang cô đơn như Toru thật ra vẫn còn một hạnh phúc: đó là họ sống thật với bản thân mình. Vì họ sống thật, và vì cái tôi của họ không được xã hội chấp nhận nên họ mới cô đơn. Nhưng ngay cả khi đã như thế, họ vẫn không thay đổi hay giả vờ thay đổi để được xã hội chấp nhận. Họ vẫn là chính họ. Vậy chẳng phải là mạnh mẽ hay sao?

Còn những người cô đơn mà giấu nỗi cô đơn của mình là vì họ sợ bị tổn thương khi cái tôi của mình không được chấp nhận. Khi làm như thế, không hẳn là vì họ muốn hòa nhập với xã hội hơn, chỉ là vì khi phơi bày nỗi cô đơn của mình ra, dù muốn dù không, ai cũng có chút cảm giác hi vọng sẽ tìm được người hiểu mình. Họ sợ cảm giác thất vọng vì cho đến cuối cùng vẫn chẳng ai hiểu mình. Nhưng có cần nhất thiết phải tìm được người hiểu mình không, khi mình vẫn có thể tìm được niềm vui bên cạnh những người rất yêu thương mình, dù họ không nắm bắt được cái cơ bản nhất trong tâm hồn của mình?

Có lẽ đó là cách suy nghĩ của những người mang nỗi cô đơn như thế, là cách suy nghĩ của Kizuki. Nếu quả thật như thế thì đáng buồn thật. Dù cho bên ngoài, anh là một con người như thế nào đi nữa, một khi anh đã không sống thật với chính bản thân mình, sẽ đến lúc nào đó anh cảm thấy như có thứ gì đó đang chết đi trong con người anh mà anh không hay biết. Cứ sống và cho đến một ngày nhận ra mình đã mất đi điều gì đó cốt lõi trong tâm hồn, mình không biết điều gì có ý nghĩa nữa, mình cảm nhận đã đến lúc cuộc đời mình mãn hạn… Kizuki đã sống, tồn tại và biến mất như thế.

Cách thức này, khiến tôi có cảm giác tương đồng với chị của Naoko. Chị tài giỏi, được nhiều người yêu mến, là một dạng người mà ai cũng nghĩ không có bất cứ nỗi buồn nào sâu sắc với xã hội, không có nỗi cô đơn. Vậy mà một ngày, tâm hồn vốn đã nhỏ bé của Naoko bị tổn thương khi phải chứng kiến cảnh chị mình treo cổ tự tử chết chính trong căn phòng của chị ấy. Nó đã để lại nhiều ám ảnh trong Naoko sau này.

Nỗi cô đơn của Naoko lại khác với nỗi cô đơn của Kizuki. Naoko không cố che giấu nỗi cô đơn của mình nhưng lại không biết cách để bộc lộ nó. Tôi hiểu được cảm giác này, cảm giác suy nghĩ nhiều đến nỗi mình không nắm bắt kịp mình đang nghĩ gì. Khi một câu chuyện chưa được hình thành rõ ràng trong tâm trí thì nó đã là nhịp cầu nối để bắt đến những câu chuyện khác, những câu chuyện khác lại là nhịp cầu nối để bắt đến những câu chuyện khác nữa… Phải chơi trò chơi rượt bắt với chính ý thức của mình thật là mệt mỏi, để rồi đa phần khi “ta” không bắt được “ta”, ta đau khổ. Những lúc đó, đối với tôi và có lẽ là với cả Naoko nữa, chỉ mong sao có được một hạnh phúc nhỏ nhoi: hiểu được chính bản thể của mình.

Hạnh phúc theo quan niệm của nhiều người, nếu được chia ra ở dạng cơ bản nhất thì có lẽ nó có hai dạng:

Khi người ta mơ ước, người ta thực hiện được ước mơ của mình, nói một cách khái quát là khi có được những điều bấy lâu nay mình không có và luôn mong muốn có thì người ta sẽ hạnh phúc.

Khi người ta mơ ước, người ta không thực hiện được ước mơ của mình. Đối với họ, điều đó cũng không đồng nghĩa với việc không có được hạnh phúc. Vì hạnh phúc không nằm trong những thứ ngoài kia, những thứ họ không nắm bắt được, mà nằm ở đây, ở chính những gì họ có. “Hạnh phúc xuất phát từ những điều đơn giản nhất và bình dị nhất”… có ai đã nói với tôi như thế.

Dù vậy, hạnh phúc mà tôi và Naoko mong muốn có, tôi chẳng biết xếp nó vào dạng nào. Bản thể của mình đương nhiên là thứ thuộc về mình nhưng như vậy cũng không đồng nghĩa với việc mình luôn có nó. Khi không nắm bắt được chính nó, mình chỉ còn nhận biết được nó có tồn tại đâu đó trong mình. Nó chỉ thuộc về mình thôi, không chắc là mình hoàn toàn có được nó. Cảm giác không hiểu được chính mình nghĩ gì, cần gì, muốn gì khiến người ta cảm thấy cô đơn, lạc lõng.

Sự lạc lõng của Naoko lại xuất phát từ việc thực sự không có con đường nào để chọn. Có thể trong một nơi nào đó của tiềm thức, Naoko có một con đường để đi nhưng cô lại không biết được. Mất Kizuki, Naoko không chỉ mất đi người mình vô cùng yêu mến mà còn mất đi khả năng để nhận thức chính bản thân mình. Tựa hồ giống như một người con gái đang bước đi trong bóng tối. Vì không có một chút ánh sáng nào, chung quanh là màu của hư vô, tịch mịch, cô cứ nghĩ mình đang bước đi trên một con đường vô định. Dù mình không muốn đi con đường này nhưng nó chỉ có một, hoàn toàn không có bất kì một ngã rẽ nào khác. Cho đến khi ánh sáng chợt bừng lên, cho dù chỉ là một nguồn sáng nho nhỏ, những con đường từ mọi nơi đang dần hiện ra… Điều đó khiến cô vui, cô đã nhìn thấy những con đường khác. Cô đã có thể chọn lựa. Thế nhưng vì đi một con đường quá lâu, khi chợt có nhiều ngã rẽ như thế, cô không biết phải chọn ngã nào. Bước đầu, có lại được chút ánh sáng trong cuộc sống của mình, cô quyết định chọn con đường của người đã mang lại ánh sáng đó cho cô.

Vậy mà Kizuki lại rời bỏ Naoko quá sớm, quá sớm để Naoko có thể tập nhận thức một cách rõ ràng hơn về bản thể của mình, tự chọn cho mình một lối đi, tự tạo ra ánh sáng của chính mình. Con đường ấy giờ lại như năm xưa, chìm trong bóng tối. Dù vậy, trong cái bóng tối triền miên không dứt của đời người, Naoko vẫn nhận ra được có những thứ đã mãi mãi mất đi. Nỗi cô đơn một khi đã cố gắng giao hòa với một nỗi cô đơn khác mà không thể được, cuối cùng khi trở về một mình, nó đã lớn hơn trước gấp nhiều lần. Từ người chị gái thân yêu của mình, cho đến người bạn trai mà mình yêu mến… kết quả chỉ có một, không thể nào thay đổi được sự thật đó. Khi không tìm được bản thể của mình, họ đã không thể tiếp tục tồn tại. Giờ đây, Naoko cũng đã bất lực và lựa chọn sự ra đi giống họ…

Trong xã hội Nhật Bản thời kì chuyển đổi quá mạnh mẽ ấy, thanh niên Nhật cô đơn, lạc lõng. Họ không biết phải làm gì với chính cuộc đời mình. Điều đó dễ khiến người ta tìm đến tự sát vì cuộc đời quá nhàm chán. Vậy phải làm gì để tồn tại được?

Trong thế giới của Rừng Na-uy, người tôi khâm phục nhất là Toru. Không phải vì anh là một người đặc biệt. Anh chỉ là một người bình thường như chính anh thú nhận. Nhưng anh đặc biệt nhất vì anh dám sống với chính bản thể của mình. Anh không hề che giấu việc mình là một người cô đơn, ít bạn, suốt ngày chỉ mải mê đọc sách. Anh cũng không cố giao tiếp với những người mình không hợp, cái mà xã hội gọi đó là xã giao. Anh cô đơn và anh dám sống với chính sự cô đơn của mình, không hề cố gắng để thay đổi vì đó chính là bản thể của anh. Đó có lẽ là điểm mà anh đã thu hút được Kizuki, Nagasawa và cả Naoko nữa. Họ thích anh vì họ không làm được như anh. Khi ở bên anh, họ cảm thấy bình yên vì anh là chính anh. Ở xã hội ngoài kia, có mấy người sống thật sự là chính mình? Không tính đến chuyện lừa dối nhau, vì nhiều lí do, có lẽ chúng ta chỉ đang “hơi” sống thật với chính bản thân mình. Sự thật một nửa, hay gần sự thật cũng đều không phải là sự thật. Sự thật chỉ là sự thật khi nó trọn vẹn là chính nó.

Toru đã sống thật. Midori đã sống thật. Hai người đã sống thật sự là chính mình nên khi họ yêu nhau, họ yêu chính con người của đối phương và được đối phương yêu lại chính con người của mình. Dù hai người đến với nhau đều riêng mang những nỗi cô đơn trong tâm hồn nhưng với một tình yêu như thế, dù hiện tại có mang một chút sắc u buồn, khi biết cùng nhìn về tương lai chắc chắn nó sẽ ánh lên màu của tươi sáng, màu của hi vọng.

Sau khi trải nghiệm thế giới của Rừng Na-uy, nhìn lại mình, tôi ngạc nhiên khi thấy trong từng giai đoạn biến đổi của cuộc đời mình, tôi nhận ra nỗi cô đơn mà mình đã từng và đang mang có một chút giống Kizuki, một chút giống Naoko, một chút giống Toru…

Tôi là một đứa bé khi mới sinh ra đã không hòa nhập được với xã hội vì nhiều lí do. Suốt những năm mẫu giáo, cấp một, cấp hai, tôi luôn cô đơn, không có một người bạn thật sự nào cả. Nhưng khi còn ở mẫu giáo hay cấp một, tôi chưa bao giờ một lần bất mãn với chính nỗi cô đơn của mình, chính bản thân mình. Vì khi đó, tôi được sống yên bình ngày qua ngày. Tôi biết là mọi người chỉ không quan tâm tôi, tôi không hề có cảm giác là mình đang bị xã hội chối bỏ.

Cho đến năm cấp hai, khi tôi không còn được sống yên bình trong thế giới nhỏ bé của mình, tôi bị mọi người cười nhạo, quấy rối, giẫm đạp lên chính bản thể của mình. Khi phải sống một cuộc sống địa ngục trần gian về mặt tinh thần như thế, tôi bắt đầu quay lại tự vấn và bất mãn với chính bản thân mình. Tại sao tôi lại phải mang cái tôi này để đổi lại cuộc sống như thế? Chính vì vậy, khi lên cấp ba, đến với một môi trường mới, có cơ hội để thay đổi mình, tôi đã chọn sự thay đổi. Lúc ấy, tôi đã gặp một người bạn nhìn tôi bằng ánh mắt khác với mọi người: bạn ấy chấp nhận tôi. Đó là người tôi vô cùng yêu mến. Lần đầu tiên, tôi cảm thấy thực sự muốn bước vào thế giới của một người nào đó. “…I feel my soul. Take me you way…”  

Cảm giác đó có lẽ như Naoko lúc mới gặp Kizuki. Nhưng nếu như thế giới của Naoko và Kizuki mang nhiều điểm tương đồng, khi ở bên cạnh Kizuki, Naoko cảm nhận được tâm hồn của mình nhiều hơn thì ở đây, thế giới của tôi và người bạn đó khác nhau quá xa. Phần nhiều là tôi học cách để đi vào con đường của bạn ấy nhiều hơn là cảm nhận chính tâm hồn của mình. Để làm được điều đó, tôi phải thay đổi.

Lúc trước, tôi cứ nghĩ đơn giản rằng mọi thứ đều có thể thay đổi được chỉ cần có cố gắng. Nhưng giờ đây, tôi mới nhận ra, đúng như Marc Levy đã từng viết: Có những thứ có thể thay đổi được nhưng cũng có những thứ không thể thay đổi được, con người đau khổ vì không phân biệt được cái nào có thể thay đổi, cái nào không thể thay đổi. Lúc đó, tôi cứ hăm hở thay đổi tất cả mọi thứ thuộc về bản thân tôi để được sống trong thế giới của người ấy. Tôi thay đổi một cách hoàn hảo đến mức chính bản thân tôi cũng bị lừa gạt bởi cái hình ảnh tôi tự tạo ra lúc đó. Bây giờ, khi nhìn lại, những thay đổi đó không phải là hoàn toàn vô ích với tôi hiện tại; nó vẫn còn để lại những ảnh hưởng tích cực. Nhưng đồng thời, tôi đã không nhận ra được rằng tôi cũng thay đổi luôn những thứ vốn không thể thay đổi, những thứ thuộc về chính bản thân tôi.

Lúc này, tôi lại đồng cảm với nỗi cô đơn của Kizuki. Nỗi cô đơn khi phải che giấu chính con người thật của mình, sống không được thật sự là chính mình. Dù trong tiềm thức tôi không nhận ra, nhưng đâu đó trong con người tôi, cơ chế hoạt động của não tôi phản kháng lại sự thay đổi cái quan yếu của bản thân tôi. Nó diễn ra chầm chậm, từ từ, tôi không thể nào nhận ra  được. Bắt đầu cuối năm cấp ba, tôi mỗi ngày một trầm tính hơn, mỗi ngày trở lại với bản thể ngày xưa của mình một chút.

Bây giờ, khi đã là một sinh viên năm hai, tôi hoàn toàn trở nên trầm lặng, trầm lặng hơn cả trước khi tôi cố gắng thay đổi. Tôi cô đơn, tôi có rất ít bạn, tôi mãi đắm chìm trong thế giới nghệ thuật. Bây giờ, nhiều lúc tôi không hiểu nổi chính bản thân mình đang nghĩ gì giống như Naoko vậy. Có lẽ đó là cái giá tôi phải trả cho tội lỗi của mình lúc trước: đã sống không thật với chính mình.

Bây giờ, nhiều lúc tôi sống thật với bản thân mình đến mức cực đoan: chỉ làm những điều mình muốn, chỉ nói những điều mình nghĩ, khiến cho không ít những người bạn lúc trước của tôi bất bình bảo rằng tôi chẳng khác gì trẻ con. Vì chỉ có trẻ con mới làm mọi thứ theo bản tính tự nhiên của nó mà không suy nghĩ đến xung quanh.

…và sống như trẻ con thì rất dễ bị đau, bị tổn thương. Dù vậy, tôi sẽ làm tất cả để được sống là chính mình, để nâng niu, yêu thương bản thể của mình – cái mà tôi đã một lần đánh mất, giờ vẫn đang tìm lại dẫu rằng có thể mãi mãi tôi không tìm lại được nó trọn vẹn.

Vì đối với tôi, con người sống không phải là để được hạnh phúc, để tuyệt đối khất trừ mọi khổ đau. Con người sống là để lựa chọn cái thích hợp cho mình. Một hạnh phúc thích hợp, một nỗi đau thích hợp, một bản thể thích hợp. Bây giờ, tôi đau… tôi vẫn đang đau nhưng tôi tin, tôi vẫn đang tin, tôi yêu, tôi vẫn đang yêu cuộc đời này. Vì vậy, tôi hoan nghênh nỗi đau này. Để được sống là chính mình, được thực hiện ước mơ của mình, được yêu nghệ thuật thì nỗi đau này có là gì đâu. Sẽ ổn cả thôi khi tôi vẫn được là chính mình dù có đau như thế nào…

Vì đó là cách duy nhất để tôi có thể tiếp tục tồn tại trong xã hội này, để được sống trong cuộc đời này. Đó cũng là cách mà Toru đã chọn để tồn tại trong thế giới đó. Nếu không làm như thế, có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ không thể tiếp tục tồn tại và rồi sớm biến mất khỏi cuộc đời như Kizuki, Naoko…

Người yếu đuối nhất không phải là người cho người khác thấy sự yếu đuối của mình mà là những người đang cố che giấu đi sự yếu đuối đó. Làm sao có thể gọi những người ta thấy yếu đuối là yếu đuối khi họ đã dám sống thật với chính bản thân mình?

Ít nhất, đó là bài học mà tôi đã học được một cách rõ ràng trong một thế giới có quá nhiều điều mơ hồ, khó có thể dùng lời diễn tả rõ ràng như Rừng Na-uy.

Tôi đã đọc ở đâu đó một bình luận về Rừng Na-uy đại ý như thế này: làm sao có thể gọi Rừng Na-uy là cuốn sách thanh xuân bất diệt được khi có quá nhiều nỗi buồn, nỗi cô đơn đến nỗi con người không thể chịu được và đã có rất nhiều người tự tử trong đó.

Tôi nghĩ ý kiến đó là do người ấy đã nhìn những cái chết trong thế giới đó. Nhưng nếu nghĩ về Rừng Na-uy mà nhìn vào những con người có thể tiếp tục sống được, tồn tại được trong thế giới đó như Toru, như Midori… ta sẽ thấy lời nhận xét của báo Đọc sách Trung Hoa hoàn toàn đúng:

Rừng Na-uy sẽ là cuốn sách thanh xuân bất diệt, bầu bạn với hết thế hệ này qua thế hệ khác”

Hết.

Kodaki

Chiều Sài Gòn, 3.10

*

Muôn màu của Haruki Murakami





2 Comments

2 Bình luận

  1. Pingback: 1Q84 – Thế giới đa chiều, sự tối giản và tình yêu – Bookish

Viết bình luận

Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Always Day One – Cái nhìn trực diện về “thành công”

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox… biến mất?

Published

on

By

always day one - cong thuc thanh cong cua amazon, Facebook, Google, Microsoft

“Bạn không ngừng cố gắng làm cho mình bị thất nghiệp. Bạn không nên làm một việc gì đó lặp đi lặp lại, hết ngày này qua ngày khác. Một khi bạn làm một việc như vậy thì bạn cần tìm cách để sáng tạo và đơn giản hóa việc đó.” - Lời khuyên Bezos dành cho nhân viên của mình, cũng như là mục tiêu mà ông hướng tới. Những “ngày đầu tiên” mà sáng tạo luôn được đặt lên hàng đầu.

Những cái tên thân thuộc như Yahoo!, Internet Explorer, Firefox,... ắt hẳn không có gì xa lạ với các thế hệ 8x, 9x. Những tiện ích trên đều là kỉ niệm và người đồng hành tuyệt vời của chúng ta. 

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chúng ta ít khi nào bắt gặp những cái tên ấy nữa. Thay vào đó, mọi người luôn tất bật với Facebook, học hỏi nhiều điều mới mẻ với Google hay mua sắm mọi thứ với Amazon. Liệu trong tương lai chúng ta có thể nhìn thấy những cái tên khác không? Hay liệu những “gã khổng lồ công nghệ” này sẽ thống trị nền công nghệ của thế giới mãi mãi? 

Để có một góc nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của thế giới công nghệ, hãy cùng lắng nghe câu chuyện được tác giả Alex Kantrowitz kể thông qua quyển Always Day One.

Xây dựng một nền văn hóa thành công

Kantrowitz đề cao văn hóa làm việc. Các tổ chức, công ty, hay doanh nghiệp giống như những xã hội thu nhỏ vậy. Việc doanh nghiệp đó có tỏa sáng và đứng vững hay không phụ thuộc rất nhiều vào phương cách lãnh đạo và sự tương tác lẫn nhau giữa những “công dân” trong doanh nghiệp ấy. Vậy tại sao văn hóa tại nơi làm việc lại đóng vai trò quan trọng?

Trước tiên hãy nhìn vào nền văn hóa hoàn thiện của Apple. Trong khi các doanh nghiệp đang từng bước thích nghi với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và áp dụng chúng vào hệ thống của mình, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác thì Apple vẫn đang tập trung hoàn thiện hai sản phẩm của mình là iPhone và Mac PC. Tuy nhiên, việc sở hữu một chiếc iPhone mới nhất bây giờ không mấy quan trọng nữa, như nhiều người nhận xét: “Tôi thấy iPhone 8 là đủ rồi.” Chúng ta có nhiều sự lựa chọn thay thế với giá cả hợp lý mà vẫn đáp ứng được những tiện ích cơ bản. 

Tại Apple, việc phát triển sản phẩm diễn ra trong bí mật. Nhân viên ở bộ phận này sẽ không biết được quá trình hay kế hoạch làm việc của bộ phận khác. Phương cách làm việc này là một con dao hai lưỡi, từng giúp Apple tỏa sáng một thời, nhưng giờ đây lại làm Apple đứng trước nguy cơ bị chôn vùi giữa vũ trụ công nghệ ngày càng đa dạng. 

Sự thất vọng từ chiếc HomePod chẳng-khác-gì-Siri-dạng-loa cũng như tương lai không mấy tươi sáng của chiếc ô tô tự lái Apple Car có thể khiến công ty này trượt khỏi đường đua bất cứ lúc nào, nếu Apple cứ khăng khăng giữ vững cách làm việc độc lập và thiếu giao tiếp giữa các bộ phận.

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox... biến mất?
Always Day One - Alex Kantrowitz.

Vậy chúng ta có gì trong nền văn hóa của những gã khổng lồ? Nổi bật nhất có thể kể đến nền văn hóa sáng tạo của Jeff Bezos tại Amazon, nền văn hóa phản hồi của Mark Zuckerberg tại Facebook và nền văn hóa hợp tác của S.Pichai tại Google.

Amazon có những bản đề xuất ý tưởng đến từ nhân viên của tất cả cấp bậc, và những ý tưởng này luôn được lắng nghe và có cơ hội được biến thành hiện thực; tại Facebook, bạn luôn nhận được những phản hồi chân thành, đồng thời, phản hồi của bạn cũng sẽ được nghiêm túc cân nhắc; ở Google, ta dễ dàng thấy được sự liên kết chặt chẽ và tinh thần hợp tác mạnh mẽ. Cụ thể, chúng ta có thể lưu, chia sẻ và chỉnh sửa Google Docs, Spreadsheets hay Slides từ Drive, và Drive sẽ gợi ý khéo léo về những tài liệu mà ta có thể cần. Và Google Assistant sẽ giúp bạn làm những việc này chỉ với giọng nói.    

Tương tự, mỗi gã khổng lồ có một môi trường làm việc khác nhau, một nền văn hóa khác nhau, nhưng đan xen trong ấy, đều thấm đượm tinh thần hợp tác, không ngừng sáng tạo, và tiếp nhận những phản hồi để làm mới mình.

Chú trọng vào tương tác đa chiều, đẩy mạnh hợp tác giữa các bộ phận và các cấp bậc, luôn làm mới mình, để mỗi ngày đều là một “ngày đầu tiên”, chính là vũ khí giúp các công ty lớn đứng vững trên đỉnh cao.

Tương lai xán lạn hay “Ngày tận thế”?

Vậy tương lai phía trước sẽ như thế nào đây? Khi mà công nghệ máy học, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa đang ngày ngày hòa hợp và dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ta? 

Kantrowitz cũng đưa ra nhiều phiên bản “Ngày tận thế” của ông, rằng việc những gã khổng lồ ngày càng nắm giữ nhiều kĩ thuật tiên tiến, rằng sự tập trung quyền lực sẽ bóp nghẹt các doanh nghiệp nhỏ lẻ khác, chi phối kinh tế - xã hội - chính trị; rằng AI sẽ cắt giảm hết việc làm của đa số chúng ta khi mọi thứ đều được đưa vào dây chuyền và tự động hóa; rằng số người vô gia cư sẽ tăng lên, tỷ lệ thuận với số người tự tử,...

Như Tiến sĩ Frankenstein - người chỉ nhận ra sự nguy hiểm của việc tạo nên một thực thể sống nhân tạo khi nhiều người đã phải bỏ mạng, chúng ta chỉ có thể thấy được những nguy hại từ phát minh của mình khi phải trả cái giá thật đắt cho những hậu quả mà nó gây ra.  

Để tương lai đen tối này mãi nằm trong tâm trí của những người hay lo lắng thái quá, chúng ta cần hành động. Cần phải nhìn lại hệ thống giáo dục, khuyến khích sáng tạo cho học sinh từ sớm, đồng thời cũng nên trang bị cho bản thân ta tinh thần hợp tác, phản hồi, và sáng tạo, như cách những gã khổng lồ công nghệ vẫn đang ngự trị trên ngai vàng đã và đang thực hiện. 

*

Dù viễn cảnh phía trước có phần u ám, tác giả vẫn giữ một góc nhìn tích cực về tương lai, như cách mà các CEO đã từng cố gắng ở những Ngày Đầu Tiên, vượt qua bao khó khăn để vươn lên được vị trí đỉnh cao hiện tại. Lo lắng, thất vọng và nếm trải thất bại là điều đương nhiên, quan trọng là chúng ta cần tiếp thu cái mới, thuyết phục bản thân cố gắng và kiên định. Không có một công thức chung nào cho thành công, chúng ta không thể áp dụng một quy trình, một biểu thức hay lý thuyết cụ thể nào để thay đổi chính mình sau một đêm.  

Always Day One không phải là một quyển self-help như ta thường thấy, Kantrowitz đã không “giải mã” công thức thành công theo nghĩa đen, thay vào đó, ông tiếp cận những ngôi sao của các công ty công nghệ ở nhiều khía cạnh khác nhau, ông không ngần ngại nêu lên quan điểm, nhận xét của bản thân về các khuyết điểm mà một số công ty có thể mắc phải. Nói đúng hơn, xuyên suốt quyển sách, Kantrowitz cố đào sâu vào hệ thống, những sự kiện, liên kết giữa những thành tựu và thất bại từ quá khứ với hiện trạng để đưa ra nhận xét và phân tích chúng. 

Chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều nhờ những ví dụ sinh động, nắm bắt và hệ thống được toàn bộ nội dung quyển sách nhờ vào sự sắp xếp khéo léo của ông. Đừng thất vọng vì không nắm được công thức của thành công, hãy bắt lấy mọi cơ hội để mơ ước và hành động, để tiến tới thành công theo cách của chính chúng ta.

“Không ai đánh thuế giấc mơ, nên tôi sẽ nói ‘có’ với bất kỳ cơ hội nào để mơ mộng.”

-Hết-

Như Nguyễn
Ảnh đầu bài: Valerie Niemeyer

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Về Huế: Mải mê với Huế bằng một tấm lòng trân trọng

Published

on

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cuộc đời con người là những hành trình”, có những người sẽ muốn đi đến những nơi thật xa để tìm kiếm và khám phá những vùng đất mới, cũng có những người lại muốn đi thật sâu, tìm và hiểu rõ nơi mình sinh ra và lớn lên.

Chúng ta tìm kiếm những vẻ đẹp tiềm ẩn mà không phải ai sống ở đó cũng dễ dàng nhìn ra; tôi sợ đến cuối đời, khi bản thân đã có tuổi hay không còn đủ sức đi trên đôi chân của mình rồi giật mình nhận ra mình chẳng hiểu gì, biết gì về vùng đất được sinh ra và lớn lên – đất Huế cả. Giữa đợt Covid thứ tư, mọi người hạn chế ra khỏi nhà, có lẽ đọc sách là cách hiệu quả nhất để chúng ta bước lên những chuyến xe du lịch, có thể trở về quá khứ, tìm kiếm những thứ thú vị ở hiện tại, thả hồn mơ mộng cho tương lai…

Tại sao lại là “về Huế?”

Người dân Việt Nam lớn lên cùng những câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa bà và mẹ thường hay kể, nên dường như con người, món ăn, tình cảm, tình yêu cũng có phần đượm màu cổ tích. Trong khu rừng thần thoại của những câu chuyện kể, Huế nhỏ bé, xinh xinh và tinh tế như chiếc hài của cô Tấm.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế, cũng ở mảnh đất Hương Trà - quê hương tác giả Trần Kiêm Đoàn. Đọc Về Huế, tôi thấy Huế thân thuộc như tác giả nói hộ nỗi lòng, giãi bày cảm nhận của mình vậy. Một giọng kể tâm tình của người con xa quê ngày trở về, mười năm trở lại một lần, gặp lại mẹ già, gặp lại Huế thân thương. Rồi tự hỏi, mỗi lần nghĩ đến Huế, chẳng biết con người đang về với Huế hay chính Huế đang từ từ tiến đến ôm người vào lòng. Ai nghĩ đến Huế, ai nhớ nhung ai đâu còn quan trọng nữa, bởi Huế và người đã được gặp lại nhau.

Về Huế là chiếc bánh nhỏ gói cả tâm can, nỗi lòng, sự mộc mạc và quý tộc cùng sự linh thiêng của vùng đất Thần Kinh. Ai đã ở Huế rồi, xa Huế mới thấu, cái sự nhớ nhung ngàn năm khắc khoải, như bóng cây phượng buồn dựa bên sông mà hát mãi câu Nam bằng. Những con người gắn bó vài năm với Huế đã đành, khách du lịch một lần ghé Huế cũng vậy, còn đến như kẻ ly hương ngày trở về thì mừng mừng, tủi tủi, mà nước mắt cứ ứa ra chẳng biết vì răng. Vì răng rứa?

Huế vừa là quê mẹ để nhớ, để về, vừa là chiếc nôi tình cảm trong suốt một đời người. Khi nhiều lần cố quên Huế thì mảnh đất ấy lại hiện hữu dịu dàng một tình mẫu tử đơn phương, rồi có lúc lại bâng khuâng như người tình cũ cười nhẹ nhớ thời dĩ vãng. Nhưng cũng lạ rằng, khi nhớ Huế, Huế lại mơ hồ cái bóng dáng mờ nhân ảnh rất thơ, để rồi mất hút xa xăm lúc nào chẳng hay. Tưởng gần mà xa, tưởng xa mà vẫn ở đâu đó trong tim. Tưởng yêu thương hững hờ mà lại chất nặng tình trên vai.

Tôi tự hỏi, tại sao lại là “Về Huế?” “Dù tôi có vô tận Sài Gòn thì cũng là Ra Huế. Có ra Hà Nội thì rồi cũng Huế. Có về làng với mẹ thì cũng là Qua Huế. Và, có xuống tận Thuận An thì cũng sẽ là Lên Huế mà thôi. Còn với người khách phương xa viễn xứ thì cũng Tới Huế là cùng”. Chúng ta bắt gặp về quê, về nhà, có lẽ vì vậy mà có Về Huế. Về Huế, về với quê hương, về với những bến bờ xưa cũ, với nơi “chôn nhau cắt rốn” dẫu phong ba có lớn, bão tố có mạnh, thì vẫn còn có Huế, có nhà, có mẹ. Chẳng phải đứa con nào cũng thế ư?

Về Huế - một thoáng kí ức ngày xưa

“Huế mà không thơ là thờ ơ với Huế”. Mỗi người sẽ có những cách cảm khác nhau về nét thơ và hồn thơ của Huế, có thể qua thành quách rêu phong, đền đài cổ kính, hay qua cách trang trí, trình bày những món ăn, có khi lại là con người nơi đây, và có khi là cả những điệu hò, câu hát say mê lòng người.

“Trở lại Huế yêu lần theo ân tình câu hát...
Tìm người con gái áo tím mộng mơ.
Sông Hương tấp nập tìm răng được chừ,
Không nguôi kỷ niệm vòng tay học trò”

Huế dịu dàng, Huế trầm tư, Huế cũng thướt tha với tà áo trắng thoáng nhịp Trường Tiền, chiếc nón bài thơ và dòng Hương Giang lững lờ.

Áo trắng ngày xưa thuở tìm em mà không thấy
Mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền nắng lên
Nắng lên từ phía nón em nghiêng qua cầu”.

Sự e ấp, nét duyên của người con gái xứ Huế là một góc khuất người đời ưa khám phá. Trong tiếng “dạ”, tiếng “thưa” và nét duyên như điệu nước dòng Hương, “nước trong, sóng lặng mới soi được bóng con đò”. Rồi cả mối tình với nàng thơ “Thuở tiên Đồng Khánh”, tình yêu chín hườm thuở học trò mùa xuân tuổi mười sáu, “Cô bé nhà dối diện, với mái tóc đen dài, dáng thanh…”. Tình yêu đẹp và buồn như thơ, để sự dang dở ngày gặp lại vươn nét buồn nơi cõi tạm trần ai.

Tôi đã sững sờ và im lặng hồi lâu trong khoảnh khắc tác giả gặp lại “nàng Tiên Đồng Khánh”, nhưng cũng buồn thay, trong một thoáng bất chợt gặp lại quá khứ, chẳng còn là tâm hồn Quốc Học, Đồng Khánh ngày nào, giờ đây những mái đầu muối tiêu nhuộm phai màu phôi pha, con người và thân phận đã có một sự ly phân. Một người sinh ra để làm “một thuở Tiên Đồng Khánh”, một người là mụ Bé bán bánh lá, cái chết, sự tái sinh không biết phải đặt ở đâu trong kiếp luân hồi. Tuổi già nhắc chuyện ngày xưa như muốn mình trẻ lại, lấy hồn nhiên đối mặt với vô thường. Rồi cũng một kiếp người, kỉ niệm cũng chỉ là kỉ niệm.

Ẩm thực Huế - chẳng chốn nào bằng

Nhắc đến Huế mà thiếu đi ẩm thực Huế quả là một thiếu sót lớn không gì bù đắp được. Cái ăn ở Huế thường nổi danh từ những vô danh. Những gánh hàng nhỏ, tạm bợ với tên người bán như bún bò Mụ Rớt, cơm hến Mụ Bòng, bánh chưng Mệ Tóc Bạc… Ngày nay những “Mụ”, “Mệ” được kế thừa bằng thế hệ trẻ hơn nhưng những cái tên ấy đã tạo nên thương hiệu rất Huế.

“Thiên nhiên đã tác dụng một cách kì bí” để tạo nên đủ các loại mắm, không chỉ từ thủy sản mà còn cả nông sản và thổ sản, những thứ mắm “ngon quá trời độ”. Mùa nào mắm đó, từ mắm bình dân đến mắm quý tộc. Vào những ngày mưa, ăn cơm với mắm thì ngon không gì ta nổi, với đủ các cung bậc cảm xúc tả vị ngon, “ngon ngậm mà nghe”, “ngon nhức răng”, “ngon đáo để”, “ngọn dễ sợ” … Đâu chỉ mỗi mắm, Huế còn có Chè Huế với đủ loại, chè từ các loại hạt, chè từ tinh bột các loại củ và cả những thứ chè lạ, độc đáo “chè bột lọc heo quay”, quý tộc nhất là chè sen hồ Tịnh bọc nhãn lồng Thành Nội. Rồi bún bò Huế, cả một biểu hiện văn hóa Huế trong truyền thống nấu ăn “khi cho bò nổi heo chìm, lẫn lộn trong hai tính mâu thuẫn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở’”. “Dân Huế và những người Huế xa quê, có tô cơm hến nằm ở một góc nào đó trong mớ hành trang kí ức”. Cả cơm Hến và cơm Âm Phủ những món ăn bình dị nhưng gói gọn tinh hoa của đất trời.

Có một đặc trưng của những món ăn ở Huế rằng, các món ăn, từ chè, cơm hến, bún hến hay bún bò, đến các loại bánh: bèo, nậm, lọc… tất cả đều be bé, xinh xinh. Ăn để thưởng thức cái hương, cái hoa là chính chứ chẳng phải ăn no, ăn ngán. Cách trang trí cung đình, lối sống cung đình vẫn còn tàn dư trong ẩm thực. Vậy đấy, đôi khi, trong ẩm thực gói ghém nhiều thứ, ẩm thực cũng là một nét văn hóa.

Huế riêng

Có nhiều cái riêng ở Huế không lẫn vào đâu được. Huế với những người lần đầu ghé đến sẽ phải ngạc nhiên vì thành phố này sao mà buổi tối buồn đến vậy. Chẳng dễ dàng tìm chốn chơi vào buổi tối, đêm ở Huế chưa khuya mà đường đã vắng hoe, chỉ còn đèn vàng, cây lá và vài chiếc xe chạy đường dài. Ở bờ Bắc1 cây cối um tùm nhìn còn buồn hơn bờ Nam nữa.

Có những vạt nắng riêng trong đời, có những cơn mưa riêng trên trời. Mưa Huế vừa là sự đối xử khắc nghiệt, lại như một đặc sản riêng chẳng nơi nào có được. Vào mùa mưa thực sự, những cơn mưa ở Huế kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, có khi non tháng, đi cùng với cái lạnh tê buốt của mưa dầm gió bấc. Trong những cơn mưa chứa cả kho tàng kỉ niệm cũng ngả màu rêu phong vì những cơn mưa Huế. “Nghe mưa lâm thâm chảy dầm trên má lẫn với giòng nước ấm làm mặn môi mình”. Rồi mưa dầm dề, tụi nhỏ lại có thú vui không hẹn trước… ngày lũ.

Trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người ta thấy dáng dấp và điệu chảy của sông Hương, điệu chảy của dòng sông phần nào ảnh hưởng đến tính cách và lối sống con người Huế. Dòng sông Hương cũng như đời người, chia thành nhiều khúc. Thượng nguồn là tuổi trẻ, khúc Thiên Mụ, Kim Long là trung niên, khúc Đông Ba, Gia Hội là giai đoạn trưởng thành. “Từ đó sông Hương rẽ về hai ngả: ngả Đò Cồn, Vỹ Dạ mang dáng dấp trầm tư của con quan về vườn quy ẩn. Ngả Bao Vinh, Ba Sình giống như tuổi sắp già bon chen, nhưng vẫn còn duyên nợ với cuộc đời…”. Và cuối đời, cũng như những con sông, mọi con sông đều đổ ra biển cả. Luôn có một chút gì đó trang đài, khoan thai, nhẹ nhàng trong cách sống đó.

Kết.

Giữa cuộc đời trần ai tân khổ này, mỗi người, mỗi sự vật trong cuộc sống quanh ta có thể sẽ rất quý giá nếu được ta cảm nhận giá trị quý giá ấy. Một tác phẩm nghệ thuật có thể không có giá trị với người không thưởng thức hay với người hững hờ với nó. Những ai quan tâm, dành cho Huế một chút tình, muốn “gặp” Huế một lần chắc hẳn không thể bỏ qua “VỀ HUẾ” của Trần Kiêm Đoàn, câu chuyện và góc nhìn của một người con xứ Huế ở viễn phương, một màu sắc rất Huế, một giọng văn mộc mạc, một tấm lòng trân trọng với Huế thương yêu.

Hết.

Chú thích:

  1. Bờ Bắc, Bờ Nam là cách phân chia của người Huế tính từ vị trí dòng Hương.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng