Chuyện người cầm bút

Những giai thoại lý thú về nhà văn lắm tài nhiều tật Ernest Hemingway

Về chuyện nhậu nhẹt, ẩu đả, hôn nhân và những chuyện riêng tư khác của một trong những văn hào vĩ đại nhất nước Mỹ.

Published

on

Những nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là Ernest Hemingway (1899-1961). Sau đây là những giai thoại về Hemingway mà tôi đã trích đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ tác phẩm Writers Gone Wild (tạm dịch Nhà văn đại náo) do Bill Peschel biên soạn.

1. Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)

John Steinbeck thích truyện ngắn The Butterfly and the Tank của Hemingway nên viết thư khen ngợi và ngỏ ý muốn gặp Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu, Steinbeck và Hemingway tình cờ gặp nhà văn John O’Hara. O’Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng gỗ mận gai mà Steinbeck đã tặng cho ông trước đó. Mận gai (blackthorn) là một loại gỗ nổi tiếng cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ mận gai.” Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O’Hara là ông có thể bẻ gãy cây gậy bằng cái đầu của mình. O’Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để gậy lên đầu, dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ của cây gậy vào góc quán và chế nhạo, “cái này mà ông dám bảo là mận gai.”

Steinbeck giận sôi gan, không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè của ông thường giật mình khi thấy một Steinbeck vốn rất dịu dàng lại nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway. Sự căm ghét này kéo dài hằng chục năm. Steinbeck lấy cuốn sách Mặt trời vẫn mọc trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng đều đều làm nó dở đi và khó nghe, rồi bảo, “tôi không sao người ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”

Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận) – đoạn người đàn ông vì quá đói nên đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối – rằng đây “không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,” Steinbeck viết, “lời phân tích của ông Hemingway không hẳn có giá trị nhưng quả nhiên rất buồn cười.”

2. Hemingway đánh nhau với Wallace Stevens (1936)

Người Mỹ có câu“Sticks and stones may break my bones but words never hurt me” (“Gậy gộc và đá tảng có thể làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm nhò gì”) thường được dùng để biện bãi khi bị người khác dùng lời nói làm tổn thương. Thật ra lời nói còn gây tổn thương hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì còn có thể đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.

Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula, Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó đoán phần thắng sẽ về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu, nhưng ông cao hơn và đô con hơn. Ông cũng là một tay đấm quyền Anh cừ khôi. Stevens lúc ấy đang say và Hemingway cũng đã ngà ngà.

Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao” rồi thụi cho Hemingway một cú, Hemingway lập tức đấm trả lại. Sau khi tàn cuộc, chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy, ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.

Lo ngại cho danh tiếng của mình (Stevens là giám đốc của một hãng bảo hiểm nổi tiếng), Stevens yêu cầu Hemingway đừng tiết lộ với ai việc này. Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông cho chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong The Short Happy Life of Francis Macomber, sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy, ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể lại với ai điều này.

“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát… Yêu cầu chúng tôi ‘đừng kể lại chuyện này’ là một hành động đáng chê.”

Stevens dường như không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết thư cho một người bạn, “tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc sách của ông ấy.”

3. Hemingway chơi khăm vợ

Hemingway là một kẻ ích kỷ; ông cư xử tệ hại với nhiều người, kể cả vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ tường thuật ngày tổng tấn công (D-day). Tuy không phải cận chiến với Phát xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.

Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau. Hemingway nhậu nhẹt nhiều hơn, viết lách ít hơn, và – trái ngược với bà – không hề muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán Thế chiến thứ nhất và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.

Tuy nhiên, khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier’s rằng bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn trên cơ vợ nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí Collier’s thuê ông: ông đã cướp cơ hội độc quyền tường thuật chiến tranh từ chính vợ mình. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho ông.

Trước tình huống này, Gellhorn đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển, vừa đi vừa tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này chở đầy chất nổ.

Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau một tai nạn xe hơi trên đường phố đã tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway được đưa lên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn để sắp xếp hồ sơ truyền tin.

Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác. Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng minh gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân, bà hỗ trợ bác sĩ và y tá thông dịch tiếng Pháp và tiếng Đức, mang nước và đút thức ăn cho bệnh nhân.

Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo đội cứu thương vào đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông đặt súng đại bác bị vỡ toang, và việc vận chuyển quân nhân và nhu yếu phẩm liên tục băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.

Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier’s trước khi bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi phạm vi của phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà. Khi Berlin thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.

4. Hemingway thiết lập đường dây do thám

Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám tại Cuba trong chiến tranh để thu thập tin tức về hoạt động của Đức quốc xã. Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của mình, rồi lênh đênh trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức quốc xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của Hemingway.

5. Tuần trăng mật của Hemingway (1921)

Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; bà hai mươi chín tuổi và là “Nesto” của ông. Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.

Hai người cưới nhau ở vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới, họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có nhà nghỉ mát mùa hè. Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng rượu vang.

Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức ăn. Ông mua hai kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời đất gì cả.

Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn trên của hồ. Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest. Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát một bài quân ca Ý.

Ông cũng chẳng đáng yêu mấy khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng cao địa vị ông trong mắt bà, nhưng bà cho hành động ấy là một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.

Tuần trăng mật – bà thú nhận – “phần lớn là thảm bại.”

6. Hemingway buổi tối trời

Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục lại chẳng khác tư tưởng thời Victoria mấy. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm, vì thế nên phân chia đều những tột đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người chờ sẵn khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.

William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt xuất sắc triết lý hôn nhân của Hemingway: “Cái sai của Hemingway là ông ta cứ nghĩ mình phải cưới tất cả các bà tình nhân.”

Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh quyền và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chuyện chăn gối. Một phần vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley, bà vợ đầu tiên, cho rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá lơ đãng khi đang yêu đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ bậc nữ nhi nào.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà dịch.

Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild – the Feuds, Frolics, and Follies of Literature’s Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes  (Nhà văn đại náo – Những chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình, kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người), do Bill Peschel biên soạn.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Trăn trở về nghề dịch: Nỗi lòng mấy ai hiểu?

Published

on

Hôm gửi đi bản dịch cuốn sách, nhắn tin khoe Thầy, Thầy nhắn lại: “Chúc em luôn vui thú với công việc bạc bẽo này”.

“Công việc bạc bẽo này” ấy là dịch sách. Năm cấp hai, khi vốn tiếng Anh chỉ nằm trong phạm vi chia thì hiện tại hay quá khứ, thêm /s/ hay /ed/ vào động từ, mình đã mơ trở thành dịch giả tiếng Anh. Ước ao đó nằm ngay ngắn trên trang giấy học trò bên cạnh những mộng tưởng khác như du hành trong thiên hà và cưới hoàng tử đẹp trai siêu cấp vũ trụ.

Hồi vào Đại học, thấy bạn bè thành phố bắn tiếng Anh rào rào, mình ngẩn tò te. Những lúc tránh nhìn vào trang giấy đặc con chữ lạ, tránh nghe những đoạn trò chuyện không hiểu mô tê, mình nghĩ mình sẽ là dịch giả tiếng Anh duy nhất trên đời không biết tiếng Anh. Và mình, tất nhiên, đã chôn vùi mộng tưởng đó.

Nhưng vì thích đọc sách, đến một lúc mình thấy muốn đọc sách ngoại văn, nhưng làm gì biết chữ mà đọc. Cảm thấy dốt tiếng Anh như thế đủ rồi, mình dẹp hết sách Cambridge, tài liệu luyện IELTS và nghiêm túc đọc bộ Harry Potter 7 tập mà bản tiếng Việt mình gần như thuộc. Những quyển sách tiếng Anh tiếp theo, đọc hiểu chừng 20-30% nhưng hiếm khi nào mình dừng lại để tra từ vựng. Mình đọc kiêu kỳ như một độc giả tiếng Anh tinh hoa (giả vờ).

Bốn năm gần như chỉ đọc sách tiếng Anh cho đến một lúc đột nhiên cảm được phong cách tưng tửng của Joseph Heller trong Catch-22. Bốn năm ám ảnh với tiếng Anh cho đến một hôm trong mơ thấy mình nói tiếng Anh. Bốn năm tập tành dịch dọt cho đến một ngày sếp không còn nhìn bài dịch của mình và bảo: “Em bị điên à?” (Không, mình đùa đó. Cảm ơn những người sếp những ngày đầu đã không đuổi việc vì mình dịch dở quá. Và đến bây giờ vẫn vậy.) 

Bao nhiêu thời gian cho đến hôm nay, thấy mộng tưởng ngông cuồng thuở nào được vật chất hoá trong hình hài một cuốn sách. Cảm giác thật khó tả. Nhưng trớ trêu, mộng tưởng hết ngông cuồng lại hoá thành hiện thực bạc bẽo.

Nghề dịch bạc bẽo vì không biết có ai sống tốt nhờ nó không. Nhuận dịch của nhóm dịch giả giỏi nhất trong nghề này chắc bằng lương của một vị trí thường thường bậc trung trong những ngành “thời thượng” khác. Cô Diệp đùa: “Nghề dịch con làm tay trái thôi, đừng làm hai tay. Trong một bài phỏng vấn, dịch giả Thiên Nga nói cổ sống ổn với nghề dịch, nhưng té ra cổ sống có một mình”.

Nghề dịch bạc bẽo vì người dịch dại dột từ bỏ vị thế quyền lực của người đọc để trở thành mục tiêu bị mổ xẻ, xâu xé. Độc giả - được miễn trừ khỏi quá trình chuyển hoá bản dịch đau đớn của dịch giả - có xu hướng đánh giá bản dịch bằng tâm thế của người đọc tiếng mẹ đẻ. Và có nhận xét từ những “nhà phê bình” mà Clifford E. Landers trong cuốn Literary Translation nói là có thể khiến dịch giả mới vào nghề bẻ bút và quay xe sang ngành khác.

Nghề dịch bạc bẽo vì mỗi lần dịch là mỗi lần bước vào một cuộc vật lộn mà dịch giả biết trước mình sẽ thua. Hành động dịch - dù dịch giả vắt kiệt bản thân đến đâu - cũng sẽ chỉ giống như “nhìn tấm thảm thêu Flemish từ hướng lộn ngược” (lời của Cervantes).

Giống quyển sách này, tiêu đề gốc là Frankly In Love, nhân vật chính là cậu thiếu niên tên Frankly đang yêu, nhưng tình yêu của cậu chồng lớp những lời nói dối. Nên Frankly In Love vừa là câu chuyện Frankly đang yêu nhưng cũng là lời cảnh cáo: Này, thật thà mà yêu! Tiêu đề tiếng Việt chỉ chuyển tải được một nghĩa. Dịch giả - một bàn thua.

Dịch giả mà mệt thật. Bạc bẽo thế vẫn có người “vui thú” làm, nếu không vui thú mắc gì mang nghiệp chướng này vào thân? Có những công việc làm xong thấy nhẹ như vừa trả được món nợ đời, nhưng mỗi lần chấm hết câu cuối trong bản dịch một quyển sách dù hay dù dở, mình đều thấy buồn như chia tay một người bạn.

Thế bao giờ người dịch dịch xong một quyển sách? Dịch giả Nham Hoa bảo là “không bao giờ”. Người dịch có nhu cầu khẩn thiết để chỉnh sửa bản dịch liên tu bất tận - thậm chí khi nó đã xuất bản. Lúc cầm trên tay quyển sách này, mình thấy xấu hổ, vì nhận ra có nhiều chỗ mình đã có thể làm tốt hơn, kĩ hơn. Nhưng thôi để bạn ra đi và hy vọng mình trở thành người đồng hành tốt hơn trong quyển sách kế.

Tính đến lúc này, câu chuyện nghe có vẻ giống một nỗ lực tự thân đạt thành quả (nếu mình kể chuyện không quá tệ). Nhưng chính là mình làm màu, quyển sách là sự hợp thành của vô số mối duyên lành. Khi gửi sách cho người bạn giúp mình nhiều trong quá trình dịch, bạn đùa: “Thế tên tao để đâu?” Có thể chỉ duy nhất tên mình xuất hiện trên bìa sách, nhưng còn nhiều cái tên khác - tên người anh, người chị, người bạn, người thầy, người cô - mình xin được ghi trong lòng, để cảm tạ.

Nguyễn Bích Trâm

Bạn có thể tìm mua sách Thật thà mà yêu đã được xuất bản ở Việt Nam theo đường dẫn dưới đây:

Thật Thà Mà Yêu

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Những ngày lạc trong thế giới ma cà rồng

Chuyện là năm 2015, tôi dịch xong một cuốn sách có tên “Phỏng vấn Ma cà rồng” (Interview with the Vampire).

Published

on

Dưới đây đơn giản là những dòng lảm nhảm về việc tôi đã sống thế nào trong thời gian dịch cuốn sách trên.

Chuyện cũ năm ấy – 2014

Nếu bắt chước lối hành văn kiểu Thôn Thượng Xuân Thụ, có thể tôi sẽ mở đầu thế này:

Theo chỗ tôi được biết, “nỗi” là danh từ được dùng để biểu thị một trạng thái cảm xúc của con người. “Nỗi” tương đương với “feeling” trong Anh ngữ và 感觉 trong Hán ngữ. Rõ ràng, “nỗi” là một từ trung tính ở cả mặt ngữ nghĩa lẫn từ loại, có nghĩa là đứng trước danh tính từ mang sắc thái tiêu cực hay tích cực đều được.

Nhưng không, người ta không dùng “nỗi” như vậy.

“Nỗi” chỉ được dùng trước những từ mang sắc thái tiêu cực. Người ta nói “nỗi buồn”, “nỗi cô đơn”, “nỗi đau”… chứ không nói là “nỗi vui”, “nỗi hạnh phúc”, “nỗi cực khoái”. Đó rõ ràng là một sự bất công, tựa như một con mèo mà suốt đời bị bắt đi lon ton chứ không bao giờ được phép nhảy tót xuống đất từ lầu ba của một tòa nhà.

“Niềm” thì khác. “Niềm” là danh từ chỉ dùng trước danh tính từ mang sắc thái tích cực. Điều này đã được ghi rõ trong từ điển và được đông đảo người Việt Nam công nhận như một lẽ tự nhiên là con chó không thể nhảy từ dưới đất lên cây và đứng trên đó mà sủa được.

Tôi hết sức thông cảm cho “nỗi”. Vì thế, tôi quyết định cho “nỗi” đứng trước một thứ lẽ ra phải là “niềm” vui.

Nỗi cô độc là niềm vui của tôi.

Tôi đã sống với nỗi cô độc như thế nào?

Mấy ngày nay, tôi quyết định chia tách hai phần mình ra để sống với những công việc đang cần hoàn thiện: việc công ty và việc dịch sách.

Vào tối muộn và sớm mai, tôi nghe R&B và khởi sự khám phá một phần của thế giới K-pop. Tôi tìm hiểu kĩ và sâu hơn về anh trai có nghệ danh G-Dragon – thần tượng đỉnh cao của rất nhiều cô cậu thanh thiếu niên thời nay. Tôi mở bài Crooked và nhắm mắt tưởng tượng cảnh anh nắm tay Kiko nhảy múa như hai con khỉ xổng chuồng trên đường phố Seoul.

Kế tiếp, tôi tìm hiểu về Kahi. Kahi là một ca sĩ kiêm vũ công khá nổi tiếng ở Hàn. Năm nay chị đã hơn 30 tuổi, cao, gầy, cung Ma Kết, có má lúm đồng tiền giống Liu Wen. Tôi đặc biệt thích chị trong mv It’s Me

Từ chiều đến tối chưa muộn lắm, tôi nghe Jazz và nhạc cổ điển. Khoảng hơn tuần trước, tôi dành nhiều thời gian nhất cho Frank Sinatra, mặc dù người ta vẫn còn tranh cãi về việc ông có phải ca sĩ hát nhạc Jazz hay không. Bài My Kind Of Town của ông tình cờ lại có đoạn dạo đầu hết sức Ghibli.

“Now this could only happen to a guy like me
And only happen in a town like this
So may I say to each of you most gratefully
As I throw each one of you a kiss

This is my kind of town, Chicago is
My kind of town, Chicago is
My kind of people, too
People who smile at you…”

Từ tuần vừa rồi và cho đến bây giờ, tôi chọn nhạc cổ điển để giải trí buổi chiều. Tôi chưa bao giờ nghe kĩ Bach, Beethoven, Chopin, Mozart, Vivaldi, Debussy, Haydn và Schubert đến như vậy. Nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại… Tôi cố gắng thẩm thấu từng nốt nhạc (hoặc ngược lại) và học cách phân biệt từng người. Phải gió, tôi chả có tí kiến thức gì về nhạc lý và nhạc cổ điển thì càng không. Tôi chỉ ngệt mặt ra nghe như một con ngỗng. Đến lúc ấy, tôi mới thực hiểu điều bác Xuân Thụ muốn truyền đạt khi vẽ ra cảnh bạn Hoshino đến quán cà phê nghe nhạc cổ điển. Lần thứ nhất Hoshino đắm chìm trong bản tam tấu Archduke:

“Một số ý nghĩ chợt đến trong đầu hắn – phần lớn là liên quan đến bản thân hắn. Nhưng càng nghĩ về bản thân, hắn càng thấy đời mình có vẻ thiếu thực chất. Hắn bắt đầu cảm thấy mình như một thứ phụ tùng vô nghĩa”.

Lần thứ hai Hoshino nghe một bản Concerto của Haydn:

“Người ta sinh ra là để sống phải không nào? Nhưng càng sống mình càng mất đi cái gì ở bên trong mình, và rốt cuộc mình trở thành trống rỗng. Và mình dám chắc là càng sống, mình sẽ càng trống rỗng hơn, vô giá trị hơn”.

Kiểu như người lâu nay bị điếc tự dưng khỏi hẳn một bên tai phải không bác Xuân Thụ?

Trong lúc nghe nhạc cổ điển, tôi xoay vần với những con chữ nói về New Orleans và ma cà rồng. New Orleans, giả như bị bệnh gì đó sắp chết đến nơi, tôi nhất định phải cho Go to New Orleans vào To Do List Before Become Nothing của mình.

Sau một vài ngày nghe và đọc sâu, tôi nhận ra nhạc của Beethoven là phù hợp nhất với những câu chuyện ma quái về ma cà rồng và một thành phố của những linh hồn. Trong khi đó, nhạc Mozart có vẻ hợp với việc phân tích số liệu và Schubert thì hẳn là dành cho việc viết nhảm nhí (khi trời đang mưa).

Trong phim The Shining, sau một thời gian giam mình tìm ý tưởng sáng tác thì tác giả vẫn không thu hoạch được gì ngoài bệnh khùng.

Ngoài ra, tôi uống cà phê và trà xanh. Tất nhiên là tôi có ăn cơm, nhưng việc này mờ nhạt đến nỗi tôi không chắc là có tưởng tượng ra hay không nữa. Tôi phải ăn cơm, vì nếu không có cơm thì cà phê sẽ bào mòn dạ dày và trà xanh sẽ đục thêm vài lỗ thủng nữa. Hiện giờ dạ dày tôi vẫn chưa đau, có vẻ vẫn chưa thủng nên chắc việc ăn cơm là có thật.

“Uống trà ư? Đúng là một người phụ nữ nhạt nhẽo!”

Hôm qua và hôm nay có mấy cô gái nhắn tin, gọi điện cho tôi để hỏi việc khóa Facebook hơi lâu (so với trước kia). Tôi chẳng biết nói gì hơn từ “bận”. Nhưng không hẳn, đó là một sự giải thoát. Đó chắc chắn là một sự giải thoát đối với tôi.

Hiện tại năm ấy – 2017

Thật ra để nói cho công bằng, trong những ngày cuối sống cùng ma cà rồng, dòng nhạc symphonic metal mà đặc biệt là các ca khúc của Within Temptation mới thực sự nâng tôi sống dậy mà làm cho xong việc. Còn ở khoảng giữa của công chuyện đó thì là Enya. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi nghe bài Marble Halls của bà và đọc những dòng chữ viết về vùng núi hoang lạnh ở Đông Âu – nơi được cho là cội nguồn của ma cà rồng. Cảm giác ấy rất kỳ lạ, giống như tôi vừa mở được hai cánh cửa vốn dĩ chẳng liên quan gì tới nhau nhưng lại thông tới cùng một thế giới. Trước đó nữa, ở phần đầu câu truyện thì tôi mới gắn bó nhiều với Jazz. Có lẽ vì bối cảnh lúc ấy vẫn còn ở New Orleans.

Khá nhiều mùa của American Horror Story được quay tại New Orleans. Và tương tự vậy là tả pín lù các thể loại phim ma cà rồng và người sói nổi tiếng khác.

Khi ma cà rồng của tôi đến Paris là lúc tôi chuyển sang nghe Chopin và Beethoven nhiều hơn hết thảy. Chưa bao giờ tôi thấy rõ được sức tác động của âm nhạc lên khả năng đọc hiểu và cảm nhận ngôn từ đến thế. Có lẽ đó là một phần lý do khiến người ta say mê và thậm chí sẵn sàng đánh đổi một đời cho âm nhạc. Mỗi giai điệu, mỗi chất nhạc, mỗi ca từ… sẽ dẫn ta đến một nơi chốn, thời đại và tư tưởng khác nhau. Âm nhạc có thể vực ta dậy từ đáy sâu vực thẳm hoặc nhận ta xuống bùn sâu từ thiên đường.

Bởi vì nhận thức này và nhiều nhận thức khác nữa, tôi cho rằng những ngày sống cùng ma cà rồng, đi từ nước Mỹ sang Đông Âu, dừng lại ở Paris rồi quay về Mỹ chính là trải nghiệm đáng quý nhất của quá trình dịch thuật. Kiến thức mới về nhiều lĩnh vực là thành quả đáng kể hơn hết, chứ không phải cuốn sách được xuất bản.

Và còn một điều cực kỳ quan trọng mà tôi thu vén được sau quãng thời gian ấy, đó là người ta có thể sống ổn, thậm chí ổn hơn rất nhiều khi không còn phụ thuộc cảm xúc vào mạng xã hội.

Đôi lời cảm ơn

Khi dịch xong Phỏng vấn Ma cà rồng, tôi tưởng đã biến luôn thành ma cà rồng. Trong vài năm, dù có vô vàn ý nghĩ, tôi không thế thốt ra điều gì cụ thể về tác phẩm này. Có thể tôi bị quá tải hoặc đơn giản là… lười. Vì vậy, tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt đến Kodaki  – người đã dành thời gian nghiền ngẫm và biên một bài phân tích chất lượng cao cho Phỏng vấn Ma cà rồng.

Nói thật, đọc áng văn này của cô Anne Rice mệt và nản phết đấy! Bạn không tin thì cứ thử lên Goodreads lướt qua phần review sách là rõ thôi. Tuy nhiên bộ phim chuyển thể lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Tôi đố bạn tìm ra phim nào khác quy tụ được Brad Pitt, Tom Cruise, Kristen Dunst, Antonio Banderas và Christian Slater về chung chỗ như thế. Ngầu dễ sợ! Không đọc sách thì thôi nhưng phim Phỏng vấn Ma cà rồng nên thử tìm xem bạn nhé.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Linda Lê – Khi nỗi buồn lấp lánh như những hạt ngọc nơi khóe mắt

Linda Lê là một tác giả cần phải đọc với những ai luôn băn khoăn, trăn trở về nghề viết

Published

on

By

Tuần trước, khi đọc những dòng tin ngắn gọn thông báo về sự ra đi của Linda Lê, trong lòng tôi bồi hồi nhớ đến nhiều câu chuyện cũ. Buổi tối hôm đó, tôi đã đọc lại Vượt sóng – một tác phẩm bày tỏ nhiều băn khoăn, trăn trở về nghề viết rất hay của bà. Tôi nhận ra nhiều điều bà viết vẫn rất đúng và chưa bao giờ cũ. Đó không chỉ là câu chuyện của riêng nhân vật Antoine Sorel, hay của bà, đó có lẽ còn là câu chuyện chung của những người cầm bút.

Tôi biết đến Linda Lê lần đầu tiên vào năm 2011 do một bạn văn giới thiệu. Khi ấy, tôi còn loay hoay trong việc định hình văn phong, chưa đủ tự tin để đánh giá những gì mình viết liệu có ổn không, cần phải sửa chữa những gì cho lần tới, làm sao để tạo dựng phép tu từ độc đáo hơn. Thế là, bạn giới thiệu cho tôi cuốn Vu khống của Linda Lê và hết lời ca ngợi bà. Thời điểm đó, Việt Nam chỉ mới có hai tác phẩm của bà được dịch và xuất bản là Vu khống Lại chơi với lửa. Bạn nói cả hai cuốn đều hay nhưng tôi nên bắt đầu đọc Vu khống trước, rằng việc đọc văn của bà sẽ giúp tôi ngộ ra rất nhiều điều về văn chương có ích cho cách hành văn của tôi. Nhưng ở thời điểm ấy, khi tôi tìm thì cả hai quyển này cũng đều đã khan hiếm trên thị trường, hầu như không còn bất kì bản in nào nữa. Bạn đã cho tôi mượn hai quyển này với lời dặn dò tôi sớm đọc để trả lại bạn vì tuy bạn luôn sẵn sàng cho mọi người mượn sách (thậm chí là tặng) nhưng với hai quyển này thì bạn đặc biệt muốn giữ lại chỉ đơn giản vì trong đó có nhiều ghi chú riêng tư bên lề trang sách mà bạn không muốn bất kì ai đọc được. Tôi biết hai cuốn sách đó rất quí giá với bạn. Tôi nhớ rằng mình đã cố tình đặt cả hai quyển ở vị trí luôn lọt vào tầm mắt mỗi lần nhìn tủ sách để sớm đọc và trả lại bạn. Nhưng tôi không nhớ rõ vì sao mình đã không đọc vào thời điểm ấy – ngay khi bạn vừa mới cho mượn. Tôi cứ đọc những quyển sách khác rồi quên bẵng đi sự tồn tại của chúng trên kệ sách từ lúc nào không hay. Cho đến lúc không còn giữ được liên lạc với bạn, tôi vẫn chưa kịp đọc để trả lại bạn như lời đã hứa. Và tận bây giờ, sau mười một năm, cả hai quyển này vẫn ở trên kệ sách của tôi, tôi vẫn chưa đọc – nhưng nó ở đó giống như một lời nhắc nhở rằng Linda Lê là một trong những tác giả bạn tôi vô cùng yêu mến.

Có tồn tại khái niệm gọi là “diễn viên của một bộ phim”, “nghệ sĩ của một tác phẩm”, tức là người diễn viên sau khi đóng xong một vai diễn trong một bộ phim thì không thoát vai được, không thể tiếp tục diễn một vai khác trong một phim khác – hoặc nếu có diễn thì vẫn không để lại ấn tượng; “nghệ sĩ của một tác phẩm” cũng tương tự như thế. Nếu hiểu như thế thì đối với Linda Lê, trong vai trò là người đọc, tôi đang tạm giữ chức danh gọi là “độc giả của một tác phẩm”. Khi nghĩ đến danh xưng này, tôi cảm thấy hơi buồn cười một chút vì từ đó đến nay, tôi chưa nghe bất kì ai gọi như thế, có lẽ đơn thuần vì thông thường người ta sẽ không biến việc này thành một danh từ mà chỉ đơn giản giữ nó ở mức là một động từ, cách nói này sẽ phổ biến hơn: “Tôi chỉ mới đọc một tác phẩm của tác giả A,” đại loại như thế. Khi giữ mọi thứ ở mức động từ tức là các hành động ấy còn trong trạng thái tiếp diễn, có thể thay đổi, nó không cứng nhắc và gò vào một cái khung như khi đã được định danh. Thực tế ấy cũng phản ánh nguyên nhân vì sao người ta không có nhu cầu lập danh từ cho hành động này: đơn giản vì ở vị thế của một người đọc, việc phá vỡ định danh “độc giả của một tác phẩm” là điều rất dễ dàng, đọc là một hành động dễ dàng, dễ hơn viết hay bất kì hoạt động nghệ thuật nào khác rất nhiều – bạn chỉ cần đọc thêm một tác phẩm nữa của người đó thôi thì cái danh xưng “độc giả của một tác phẩm” sẽ không còn đúng nữa. Ấy vậy mà từ lúc đọc Vượt sóng vào đầu năm 2018 đến nay đã bốn năm, tôi vẫn chưa tìm được cách để thay đổi điều đó dù rằng trong tay có sẵn phương tiện là hai quyển sách bạn cho mượn. Điều này khiến tôi cảm thấy mình không có đủ tư cách để viết cảm nhận về bà – cho dù chỉ là dưới góc nhìn cá nhân – bởi lẽ sách bà đã viết so với số lượng một cuốn tôi đọc được thì khoảng cách quá lớn. Tuy nhiên, ở thời điểm này tôi lại cảm thấy thôi thúc muốn viết về bà, viết cho bà. Tôi nghĩ có lẽ bà cũng có thể thông cảm mà bỏ qua cho người “độc giả của một tác phẩm” như tôi.

2018 là một năm tôi đang ở điểm trũng của cuộc đời và việc đọc Vượt sóng ở thời điểm đó đã mang lại cho tôi sự khích lệ đáng kể. Ngay từ những trang đầu của quyển sách, ta biết được nhà văn tài năng Antoine Sorel – nhân vật trung tâm của câu chuyện đã tự sát bằng cách nhảy lầu. Một phóng viên trẻ mến mộ tác phẩm của Sorel đã hết sức bàng hoàng, anh quyết định tìm hiểu toàn bộ cuộc đời Sorel trước đó để biết được nguyên nhân vì sao câu chuyện đau lòng này lại diễn ra. Giống như tác phẩm Nhật kí chim én của Amélie Nothomb, câu chuyện khởi sự bằng một cái chết, bằng sự tiếc nuối khôn nguôi của người ở lại – đặc biệt khi người đó chỉ vừa mới biết và mến mộ người quá cố – nhưng có lẽ cuộc sống phần nào cũng tương tự như thế. Thông qua cuộc gặp gỡ giữa người phóng viên và những thân nhân của Sorel, bức tranh về cuộc đời nhà văn bất hạnh này dần sáng tỏ. Có thể thấy Linda Lê gửi gắm rất nhiều tâm tư về văn chương, về việc viết, việc đọc thông qua cuộc đời của Sorel.

Sorel rất nghèo khó, anh phải làm nhiều công việc cực khổ kiếm sống để đổi lại vài giờ ngắn ngủi được đọc sách. Dù vậy, chỉ cần có khoảng thời gian ít ỏi đắm mình vào văn chương với anh đã là hạnh phúc.

“Anh bắt đầu công việc lúc bình minh và chỉ lên giường vào một giờ sáng, mệt lả đến mức anh ngủ thiếp đi sau khi chỉ đọc được hai trang sách. Dù cực khổ anh vẫn hạnh phúc vì đã trốn xa bố anh.

Mỗi khi anh lãnh lương, anh mua gom những cuốn tiểu luận nói về những chủ đề khác nhau ở các cửa hiệu sách cũ. Vào mỗi Chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất của anh, anh ngồi dính vào chiếc ghế cứng mà Malek cho anh mượn và đắm chìm vào những trang sách ấy, chúng làm anh quên mọi thứ. Anh không còn là đứa con trai của Martin. Anh không còn là tên túng thiếu không có lấy một đồng để mua sách nếu Malek không cho anh ăn miễn phí. Anh không phải bị rét cóng trong căn phòng băng giá của anh vào mùa đông đến mức anh phải ủ người trong chiếc áo khoác anorac, mang những đôi găng tay hở ngón và thòng vào chân nhiều đôi vớ. Anh không còn là gã bồi bàn quán cà phê chạy lăng xăng để thỏa mãn khách, chạy từ bếp ra sảnh nhiều đến nỗi chân của anh rộp những bọng nước. Anh không còn là người thanh niên bị buộc phải làm việc trong khi đó anh ước ao trở thành sinh viên văn khoa, chỉ quan tâm đến việc ghi chú các trang sách, biết rõ tiểu sử của các nhà tri thức bách khoa, dịch các truyện thơ tiếu lâm cổ trung đại sang ngôn ngữ hiện đại và tìm hiểu các nhà hình thức chủ nghĩa Nga.”

Tuy vậy, Sorel lại không tự tin vào tài năng văn chương của mình và gần như xa rời mọi cuộc giao lưu với giới văn sĩ Pháp.

“Thậm chí sau khi xuất bản vài cuốn sách, anh vẫn không có được niềm tin vào tài năng viết văn sẽ được giới văn học công nhận, nhất là anh không bao giờ đặt chân lên Paris mỗi tuần và không tới lui những quán cà phê nơi tụ tập của các nhà văn. Anh không rời Le Havre - ở tỉnh vẫn dễ dàng xoay xở hơn khi không giàu có. Anh luôn kiếm được vài ba đồng đây đó, anh xoay xở với những gì anh có, buổi trưa anh ăn bánh mì thịt nguội trét bơ hay dùng những miếng rau củ chiên, và tối anh ăn mì ăn liền. Món sang của anh đó là thuốc lá và rượu. Vào những lúc anh xuống tinh thần, anh đi ngắm sóng vỗ vào đê biển.”

“Antoine chỉ đến những bữa tiệc cocktail vì có rượu ngon để uống. Anh không bắt chuyện làm quen với một ai. Khi ai hỏi anh về công việc, anh thậm chí không trả lời anh viết sách. Isabelle kể lại cho Jean những chuyện đó và cho rằng anh không phải là một người biết hòa đồng.”

Giống như phần lớn mọi nhà văn, anh không có được sự ủng hộ từ bậc song thân.

Với người cha thì:

“Hẳn ông dám đánh cược năm ăn một rằng con trai ông sẽ thất bại, nó sẽ chết trẻ, và chẳng làm được gì khác ngoài việc làm thất vọng những độc giả của mình qua việc chỉ ra hai thực tế: họ chỉ là trò bịp, họ cố thổi phồng nhân sinh quan của cá nhân, nhưng họ chỉ đẻ ra những thứ tiểu tiết.”

Với người mẹ thì:

“Bà cảm thấy tiếc cho trí thông minh của anh, anh đã không trèo lên địa vị cao trong xã hội, anh lại chọn cuộc sống mộng mơ trong túng quẫn. Những cuốn sách không mang lại may mắn, bà nói thế. Càng đọc, anh càng trở nên gần như điên loạn. Giá như anh tự bằng lòng với việc đọc thôi, đằng nay anh lại đi vào con đường viết sách. Bà không đọc báo, bà không thể hình dung người ta có thể sống bằng văn chương. Tại sao Antoine không có một nghề nghiệp nào như bao người quen khác? Bà ấy đỏ mặt tía tai khi người ta hỏi về anh. Và khi những cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời, một vài người nói với bà rằng thằng Antoine “của bà” muốn làm “như Parisian” nhưng đâu dễ. Bà còn không được tặng sách, dù gì bà cũng chẳng đọc, vì bà không tán thành chuyện Antoine chọn con đường sự nghiệp nhiều rủi ro như vậy, theo bà đa số các nhà văn chỉ là những người làm công bấp bênh. Anh đã có thể gửi sách đến cho bà, xem như để cho bà biết tin tức, vì anh đã bỏ đi sống ở đâu bà cũng không biết.”

Tuy nhiên, Sorel cũng có một quãng thời gian hạnh phúc, đáng nhớ với vợ. Linda Lê đã khắc họa mối tình này rất kĩ lưỡng, có thể thấy ở đây là một khuôn mẫu điển hình của tình yêu giữa nhà văn và độc giả. Thông qua hình ảnh của Isabelle – vợ của Sorel, Linda Lê cũng cho thấy kiểu độc giả lí tưởng của một nhà văn sẽ là người như thế nào. Gia đình của Isabelle không có đam mê văn chương như cô, thói quen đọc của họ khác hẳn cô.

“Cô tự nhủ có lẽ cô không có cùng gen với bố. Cô đam mê nghệ thuật và văn chương, nhưng những nhà thơ cô ngưỡng mộ là những “tên xấu xa” dưới con mắt bố cô, họ tự cho mình quyền được nhàn rỗi và vô trách nhiệm, sống bám xã hội. Dĩ nhiên ông không đọc những tác phẩm của họ, ông chỉ đọc những tạp chí về trang trí nội thất, để bắt kịp các xu hướng mới, ông cũng đọc các báo về kinh tế để biết nên đầu tư vào nơi nào. Kiểu nói văn vẻ về tình yêu, theo như ông ấy nói, là thứ keo dán, ngay ông có lẽ cũng rất tiết kiệm những lời nói yêu đương. Mẹ của cô đặt mua một nguyệt san về chiêm tinh học, để bà có thể trao đổi trong những bữa tiệc trà về những tiên đoán của một bà tiên tri nổi tiếng (“Theo như quan sát vị trí của Pluton, đảng xã hội sẽ thua đậm trong cuộc bầu cử”), về tính thực dụng của Xử Nữ, sự kiên cường của Bạch Dương, sự công minh của Bảo Bình. Bà cũng đặt mua một tuần báo chủ yếu nói về các đám cưới hoàng gia và các ngôi sao quay lại sàn diễn với những bài hát đánh dấu quãng đời niên thiếu của bà.”

Có thể thấy chỉ bằng việc miêu tả thói quen đọc của từng người, Linda Lê đã phác họa được khoảng cách khác biệt giữa các thành viên trong gia đình lớn như thế nào. Chính vì vậy, Isabelle dễ dàng tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn với Antoine và cô đã yêu anh trước hết bằng tình yêu của một độc giả với một tác giả.

“Khi được biết anh là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết và một tuyển tập thơ được xuất bản với số lượng ít ỏi nhưng được những người am hiểu khen ngợi, dù không may đấy không phải là những người có tầm ảnh hưởng lớn, cô đã hứa sẽ mua các tác phẩm của anh và đọc chúng một cách say mê, bởi vì cô biết chắc rằng nếu như vậy cô sẽ được khai sáng về tinh thần. Cô cũng biết chắc rằng sau khi đọc xong cô đủ khôn khéo để gửi cho Sorel một bức thư sẽ lay động anh.

Ngay sáng hôm sau, cô nhanh chóng đi ra một hiệu sách để mua cho mình ba cuốn sách đó. Chúng đóng bụi trên một kệ sách ở phía cuối trong một góc tối của cửa tiệm. Cô mang chúng về nhà, đặt chúng gần chiếc gối và trong nhiều đêm liên tiếp, cô đắm mình vào việc đọc chúng và ngày càng bị chinh phục. Cô nghĩ: “Tôi sẽ có được người đàn ông này. Cho dù gia đình họ hàng sẽ không thích.” Cô chưa bao giờ làm những gì người khác bắt cô làm. Nếu cô đã sống như những người phụ nữ dại khờ trong cái thế giới của mình, cô sẽ chỉ là một cô bé đáng thương, chỉ nghĩ đến việc có được những bộ đầm như những minh tinh màn bạc được các thợ săn ảnh chụp, đi chơi với những tên trẻ tuổi trong những chiếc xế hộp của chúng và lui tới những nơi cần đến để được người ta chú ý. Cô không phải là những phụ nữ kiều diễm không có đầu óc, với tương lai mù mịt, một con búp bê đẹp nhưng không có tầm nhìn sâu. Cô đón nhận những thông điệp chứa đựng trong các tác phẩm của Sorel dù văn chương của anh không phải kiểu văn chương truyền tải thông điệp: anh viết nhiều về bản thân mình, nhưng anh không phải là một người ngạo mạn và không thiếu sự chua cay. Ngay từ đầu cô xếp anh trong số những nhà văn có tài, có cái nhìn sáng suốt và đã phải làm việc rất nhiều để viết ra những tác phẩm hoàn hảo.”

“Trong những bài phỏng vấn của anh với một số báo, anh không nói nhiều về anh mà cũng không tỏ ra mình quan trọng. Anh nói rằng anh luôn bị bao vây bởi những nghi vấn, chúng đè nặng lên anh và đã rất nhiều lần anh có ý định buông tất cả để sống bụi. Chính điều này đã làm anh trở nên thân thuộc dưới con mắt cô. Cô tiếc vì đã không đọc sách của anh sớm hơn, trong khi đó cô luôn đi tìm những gì mới, cô không thể sống nếu cô không tự mình đi khắp nơi tìm cái đẹp ẩn náu, cô thấy trong thơ ca những lí lẽ để không phải đi theo con đường của bố mẹ cô. Cô hãnh diện đã không như hai chị em gái mình, xa lạ với nghệ thuật, không như bố của cô, hám tiền, và không như mẹ của cô chỉ làm những công việc nhàm chán, như chuẩn bị thực đơn cho bữa tiệc hay lương thưởng cho người hầu, vào những lúc bà không xem tử vi, chắc rằng mình đang làm những thứ siêu việt.”

“Trong suốt nhiều ngày, Isabelle hoàn thiện bức thư trong đó cô nói với Sorel rằng cô như bị phê thuốc sau khi đọc xong sách của anh. Cô chỉ có một ham muốn: kết bạn với anh. Cô viết nhiều về tính khí nóng nảy của cô, về việc cô cảm thấy cô đơn trong chính gia đình mình, một gia đình vô cảm trước cái đẹp, chỉ quan tâm đến “những thú vui trần tục”, cô viết về nhu cầu được thăng hoa và tình yêu của cô đối với những tác phẩm nghệ thuật đã giúp cô cách xa những thứ “vật chất tầm thường”. Việc liên lạc thư từ giữa hai người sẽ mang lại cho cô nhiều niềm vui lớn. Antoine sẽ giúp cô khai sáng. Những điều anh viết từ ngòi bút của anh dù nhỏ thôi cũng chứa đựng vô vàn điều hay…”

Tình yêu đẹp tuyệt vời là thế; tuy nhiên, khi hai người đã đến được với nhau thì cảnh tượng đau lòng tương tự như nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao một lần nữa lại diễn ra.

“Nhiều đêm cô khóc, vùi đầu vào gối, trong khi đó, anh ngồi ở bàn làm việc chỉnh sửa bản viết tay mà anh tính vứt vào thùng rác. Cô thấy qua thái độ đó một lời trách móc thầm lặng nhắm vào cô: do sống chung anh đã phải hy sinh cuộc sống độc lập và nỗi đam mê viết của anh ngày càng lụi dần. Trước khi trở thành vợ của Sorel, cô không biết rằng có một đối thủ sẽ như thế nào, cô nói, cô nhanh chóng khám phá ra một đối thủ mang tên văn chương, và đó là một đối thủ có sức mạnh đáng gờm.”

Cuối cùng, Sorel rơi vào cảm giác chán nản không thể kháng cự nổi nữa:

“Anh la lớn anh chán ngấy cuộc đời này. Anh sẽ kết liễu nó nếu như anh đủ can đảm. Ngay những cuốn sách cũng không an ủi anh phần nào. Anh luôn tìm kiếm trong những cuốn kinh điển anh đã đọc nhiều lần lí do để bám lấy ảo tưởng rằng anh phải hoàn thành một nhiệm vụ trên thế gian này, rằng việc anh đam mê viết là hoàn toàn chính đáng, rằng chưa phải là mất tất cả khi nào anh vẫn còn tìm thấy câu chữ để có thể trấn an nỗi sợ hãi bên trong mình và quyết chiến với sự giả tạo bên ngoài. Nhưng ở tuổi ba mươi, anh có cảm giác ‘thể xác và tâm hồn’ đã kiệt quệ, như theo ai đó đã nói… Jean không còn nhớ là ai. Những năm tháng cực khổ đã vắt kiệt mọi sức lực của anh. Nhà văn không quan tâm đến tiền vì với anh, nuôi mộng bất tử là điều hoang tưởng. Anh đã sống cả một thập niên mà thậm chí không có gì để bỏ bụng và anh đã viết sách vào những lúc có lẽ anh nên bắn một phát vào đầu thay vì sống lay lắt như vậy. Nếu anh không chết ngay, ít ra anh cũng không muốn tham gia cuộc chơi của những người hợm hĩnh, mà anh không đi tìm nữa, như những tác giả trẻ mong muốn được đứng phía trước sân khấu, anh mong muốn có những thứ thỏa mãn nho nhỏ này khi đọc những phê bình ca ngợi anh. Hai cuốn tiểu thuyết đầu của anh chưa đủ táo bạo, anh tỏ ý tiếc nuối. Anh là người đánh giá khắt khe nhất, anh không tự cho mình là một người độc nhất vô nhị, nhưng anh cũng không ra vẻ khiêm tốn như những người thích tìm kiếm những lời ca ngợi. Anh hành xử không như một người tài năng thiên phú cảm thấy mình ưu việt. Anh không bao giờ đi rải những lời ca thán khi anh lại bị những thừa phát bám gót, anh không bao giờ nghĩ mình là nạn nhân của chủ nghĩa bài xích thơ ca khi sách của anh không được ai biết đến. Khi anh bị trầm cảm nặng, anh trốn trong nhà, tắt điện thoại sau khi báo cho các em trai biết anh cần được ở một mình, và trong những ngày như thế, anh cố gắng bằng mọi cách chiến thắng tình trạng mệt mỏi này và tránh làm phiền bất kì ai. Anh tin tưởng vào khả năng kháng cự của mình: nó chỉ phản bội anh nếu anh không tập hợp đủ năng lượng để sáng tác. Những tác phẩm của anh ra đời trong những giây phút kiệt quệ chán nản như thế.”

Và cuối cùng, anh đã chọn đến giải pháp là kết liễu chính cuộc đời mình.

Nhưng khác với nhân vật của mình, Linda Lê đã không lựa chọn giải pháp này. Dù đời sống có khó khăn thế nào, bà vẫn quyết tâm theo đuổi văn chương đến cùng, làm một nhà văn chuyên nghiệp chỉ sống bằng việc viết. Nhìn vào văn nghiệp của bà, ta có thể thấy cứ đều đặn một, hai năm bà lại cho ra mắt một tác phẩm. Vào năm ngoái, tác phẩm mới của bà có tên Toutes les colères du monde: La colère cũng vừa được xuất bản. Và bằng cách lao động miệt mài như thế, dù phải ra đi ở một độ tuổi vẫn còn trẻ, bà đã thực sự chiến thắng được tử thần với những tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.

Tôi mong trong một ngày gần nhất, mình sẽ không còn là “độc giả của một tác phẩm” của bà nữa. Vì bà xứng đáng được ta dành nhiều thời gian hơn, đọc đi đọc lại, để đắm chìm vào văn chương, đắm chìm vào thế giới mà ở nơi đó, nỗi buồn cũng thật lấp lánh, tựa như những hạt ngọc nơi khóe mắt.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng