Chuyện người cầm bút

Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn

Published

on

Trần Tiễn Cao Đăng – dịch giả của những tác phẩm nổi tiếng như Biên niên ký chim vặn dây cót, Mãi đừng xa tôi, Nếu một đêm đông có người lữ khách… đã trở lại vai trò nhà văn với tập truyện ngắn Những gặp gỡ không thể được công ty sách Tao Đàn phát hành.

Vì sao anh đặt tiêu đề tập truyện ngắn mới nhất là Những gặp gỡ không thể có? Đây có phải là tựa đề đầu tiên anh nghĩ ra cho tập truyện này hay trước đó còn có những lựa chọn khác, anh có thể chia sẻ vì sao cuối cùng anh lại chọn tiêu đề này?

Nhan đề này đến một cách tự nhiên, và khi nó đến, tôi cảm thấy không thể khác được. Bởi vì các truyện trong tập, không truyện nào có cái nhan đề đủ “sức nặng” như thế.

Được biết ban đầu Những gặp gỡ không thể có còn có thêm một tiêu đề phụ là “Chuyện kể lúc cận kề tận thế”, vì sao cuối cùng anh quyết định bỏ tiêu đề này?

Tôi bỏ nó đi bởi vì xét thấy, với khuôn khổ các truyện trong tập này, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một cái áo hơi quá rộng. Thật ra, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một tiêu đề liên quan đến một dự đồ lớn hơn của tôi. Có thể tôi sẽ dùng lại nó ở một chỗ khác – có thể là nhan đề cho một tập truyện khác hoặc một tiểu thuyết.

Bốn truyện trong Những gặp gỡ không thể có đều có chung bầu không khí buồn khi cái đẹp bị đối xử thô bạo, một dự cảm về tận thế; khi viết, anh có ý thức ngay từ đầu là sẽ xây dựng một bầu không khí chung như thế để tạo sự thống nhất cho toàn tập truyện hay đây là một sự ngẫu nhiên do tiềm thức chi phối?

Chỉ đến khi tập hợp các truyện viết rải rác vào những lúc khác nhau vào cùng một tập dựa trên vài cái chung giữa chúng, tôi mới dần dần nhận ra rằng, bên cạnh những cái chung khác, chúng đều bao hàm một dự cảm về tận thế. Đó là do tâm thế xuyên suốt của tôi, hay là do “tiềm thức chi phối” như bạn nói. Giả như tôi làm vậy một cách chủ ý, tỉnh táo, có tính toán, tôi không chắc rằng hiệu quả cuối cùng sẽ mạnh hơn.

Có người xếp tập truyện mới này vào dòng fantasy, có phải thể loại này cũng là dòng truyện anh nhắm đến cho Những gặp gỡ không thể có ngay từ khi viết?

Viết ra tác phẩm là việc của nhà văn, xếp loại tác phẩm là việc của nhà làm sách và nhà phê bình. Tuy nhiên, nhìn lại tác phẩm của mình với con mắt của người ngoài, tôi không cảm thấy gọi chúng bằng cái tên “fantasy” là phù hợp – hẳn cũng giống như bạn không thể dùng từ fantasy để phân loại Hóa thân của Kafka vậy. Nhưng dù sao đi nữa, điều đó chẳng quan trọng – quan trọng là niềm tin của người viết vào tính chân thực của câu chuyện anh kể, bất kể nó “phi thực” đến đâu.

Các truyện trong Những gặp gỡ không thể có đều kết thúc bằng cái chết – khi thì cái chết được nói rõ, khi thì được ám gợi, nhưng nhìn chung đều là sự kết thúc. Có phải anh đang quá bi quan về thế giới?

Chingiz Aitmatov, nhà văn người Kyrgystan thuộc Liên Xô cũ mà nhiều người thuộc thế hệ 6X, 7X hẳn từng đọc và yêu mến, có nói (đại ý): “Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn.” Câu ấy hẳn tôi có thể dùng để nói về mình. Chẳng phải là tôi không thích vui cười – tôi rất thích truyện tiếu lâm và thỉnh thoảng xem các show hài trên truyền hình. Tuy nhiên, với tôi, cái hài không bao giờ có nổi chiều sâu như cái bi – trừ khi đó là cái hài để tự giễu mình. Bên cạnh đó, có lẽ là tôi hay suy nghĩ nhiều hơn người khác về bản chất phù du của mọi vật và mọi sự.

Nếu có người nói văn của anh toàn thoát ly hiện thực, hình như anh là người dùng văn chương để trốn tránh những vấn đề gai góc của cuộc sống thực tế, thì anh sẽ nói gì?

Chúng ta đã qua từ lâu cái thời nhà văn chỉ được khuyến khích viết về thành tích và đời sống của quần chúng công nông binh, và chúng ta nên chóng vượt qua cái thời nhà văn chỉ được thừa nhận nếu họ viết về “những vấn đề gai góc của đời sống thực tế”. Những nền văn chương thực sự trưởng thành là những nền văn chương phong phú, phồn phức giống như bản thân loài người.

Mặt khác, điều thú vị là khá nhiều người mặc nhiên cho rằng nếu tác phẩm của nhà văn “toàn là chuyện ở đâu đâu” thì trong cuộc sống hằng ngày ông/bà ta cũng là một người luôn ở trên mây. Dường như theo họ trên đời không thể có một người chỉ viết những truyện tình đẹp đẽ ở một xứ tưởng tượng nào đó và đồng thời là một nhà hoạt động xã hội tích cực.

Văn của anh có cảm giác như văn Tây – anh chịu ảnh hưởng phương Tây nhiều quá, nên người đọc Việt khó tìm thấy sự đồng cảm. Điều này có phải xuất phát từ việc các tác phẩm anh dịch hầu hết đều là văn học phương Tây? Ngay cả một tác giả phương Đông mà anh từng dịch là Murakami Haruki cũng là một người viết rất Tây. Anh có bao giờ nảy ra ý định dịch một tác phẩm văn học phương Đông thuần túy hoặc làm cách nào đó để văn của anh có sự pha trộn tỉ lệ Đông – Tây hài hòa hơn không?

Hồi đang học đại học, tôi dịch Cố đô của Kawabata từ bản tiếng Nga (một bản dịch thuần túy vì yêu tác phẩm, chưa từng được xuất bản). Khi tôi bắt đầu thực sự đến với văn chương vào khoảng 7-8 tuổi, một trong những nhà văn đầu tiên tôi đọc và “phải lòng” cho đến tận bây giờ là Akutagawa. Hẳn bạn sẽ đồng ý với tôi rằng đó là hai trong số những nhà văn “Nhật Bản” nhất.

Nếu bạn đã đọc hết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, chắc hẳn bạn có gặp ở đó những đoạn, những chương khiến bạn có cảm giác mạnh mẽ rằng người viết ra chúng không thể nào là một người Mỹ hoặc người Pháp; y chỉ có thể là một người Việt.

Mặt khác, nghĩ kỹ bạn sẽ thấy, quan niệm cho rằng “nhà văn Việt thì phải viết thứ văn gần gũi với người Việt” chính là một trong rất nhiều vòng kim cô trói chặt nhà văn Việt từ trước tới nay.

Kể cả nếu tôi đồng ý với ai đó rằng văn của một tác giả Việt nhất thiết phải có ít nhiều “tính Việt”, thì chúng ta vẫn phải nhìn thấu một điều rằng “tính Việt” hay “dân tộc tính” không phải là cái gì đó nhất thành bất biến. Nếu nó thực sự có sức sống, nó sẽ như một sinh thể, trường tồn, phát triển, mở rộng, tự làm mới, tiến hóa. Những tác phẩm như của tôi là một phần của sự mở rộng, tự làm mới, tiến hóa đó.

Được biết, anh rất thích phim kinh dị. Những cảnh bạo lực trong truyện của anh, đặc biệt là cảnh hồn ma xuất hiện trong truyện “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi”, có phải là ảnh hưởng hay được gợi cảm hứng từ phim kinh dị? Cùng với trinh thám, kinh dị vẫn là một thể loại thường bị đánh giá thấp trong địa hạt văn chương, vậy anh đã từng có ý định viết truyện kinh dị thuần túy chưa? Hoặc là nảy ra ý định làm một cuộc cải tiến khiến mọi người có cái nhìn mới về thể loại kinh dị như cách Paul Auster đã làm với thể loại trinh thám?

Tôi không chắc rằng Tibor trong “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi” là một hồn ma (cười). Đó cũng có thể là một người (sống) có tài phá khóa như thần chứ. Đúng là y có nói đến “nằm dưới mộ”, nhưng có thể đó chỉ là một cách nói.

Tuy nhiên, đúng là tôi thích phim kinh dị, cũng như thích phim khoa học giả tưởng và phim hành động võ thuật. Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện viết truyện kinh dị “thuần túy” hoặc kinh dị “cách tân”, tuy nhiên, bất cứ cái gì thuộc về con người đều có thể là chất liệu văn chương của tôi vào một lúc nào đó. Và cái kinh dị, nỗi sợ và đồng thời sự háo hức muốn biết cái kinh dị, nó là một thứ “xưa như Trái đất” thuộc về con người.

Có người cho rằng nhà văn chỉ nên viết về những gì mình biết rõ. Văn của anh thì bao quát những bối cảnh trải rộng nhiều nước, nhiều thực tại khác nhau. Anh nghĩ sao về điều này? Và khi viết về những nơi chưa từng đặt chân đến, anh sử dụng phương pháp nào để tưởng tượng và miêu tả chi tiết? Chẳng hạn, khi James Hadley Chase. một nhà văn Anh, viết tiểu thuyết hình sự You’ve Got It Coming (đã dịch sang tiếng Việt với tiêu đề Dã tràng xe cát) với bối cảnh đặt tại Mỹ, ông đã dựa vào những công cụ như từ điển bách khoa, bản đồ du lịch chi tiết, du ký nước Mỹ, từ điển tiếng lóng Mỹ… Anh có dùng những công cụ tương tự như thế không khi viết truyện có bối cảnh nước ngoài?

Margaret Mitchell, tác giả tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió, sinh năm 1900, mất năm 1949. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của bà có bối cảnh cuộc Nội chiến Mỹ từ 1861 đến 1865. Lev Tolstoy sinh năm 1828, mất năm 1910. Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của ông diễn ra trong thời kỳ cuộc kháng chiến của nước Nga chống quân đội Napoléon vào các năm 1805 và 1812. Nếu như quan niệm “nhà văn chỉ nên viết về những gì mình đã trực tiếp nhìn thấy/kinh qua và bởi vậy biết rõ” là thước đo vàng cho chất lượng văn chương, thì hai cuốn tiểu thuyết nói trên là đồ bỏ – vì chúng chỉ là chuyện bịa tạc vô giá trị.

Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian (xuất bản 2016) là tiểu thuyết đầu tay của anh nhưng tập truyện ngắn đầu tay của anh không phải là Những gặp gỡ không thể có mà là Baroque và ẩn hoa (xuất bản 2005). Như vậy là có sự gián đoạn khá dài nếu tính từ tập truyện ngắn đầu tiên đến tiểu thuyết đầu tiên, và nếu tính khoảng cách giữa hai tập truyện ngắn thì thời gian gián đoạn lên đến 13 năm. Vì sao anh lại có sự gián đoạn này?

Từ 2005 đến 2006 là khoảng thời gian tôi tạm ngưng viết, để tìm đường đi đúng nhất cho mình. Baroque và ẩn hoa về cơ bản là tập truyện “hiện thực” thuần khiết, và tôi sớm nhận ra rằng đó không phải là chỗ mạnh của tôi. Cuối 2006, tôi bắt tay viết cuốn tiểu thuyết “thực sự” đầu tiên của mình, với nhan đề (tạm đặt) là Cospolist Nổi Loạn mà đến nay chưa hoàn tất vì một số lý do. Có thể coi đó là mốc đánh dấu “bước ngoặt” trong đời văn của tôi – từ đó trở đi, tôi không còn hoài nghi về con đường của mình.

Life Navigator 25… thật ra được khởi đầu muộn hơn Cospolist Nổi Loạn, vào năm 2010, và hoàn tất vào năm 2014. Những gặp gỡ… thì gồm những truyện được viết rải rác trong một thời gian dài, từ trước 2010 cho đến sau 2014. Như vậy, thật ra, sự gián đoạn của tôi không phải trong 13 năm mà ngắn hơn nhiều. Về cơ bản, suốt trong nhiều năm qua, tôi không ngừng viết.

Hết.

Kodaki thực hiện phỏng vấn.
Theo Style-Republik.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Abdulrazak Gurnah – nhà văn đoạt giải Nobel không ai biết tới

Published

on

Tôi muốn viết một chút về việc Abdulrazak Gurnah – nhà văn đã đoạt giải Nobel năm 2021. Như hầu hết mọi người ở đây, tôi chưa bao giờ nghe nói về ông trước đây. Cũng không sao cả, có điều tôi tự nhận mình là người đọc nhiều, và tôi bị hấp dẫn bởi những tác giả/tác phẩm/thể loại không quen thuộc với số đông, bao gồm cả văn học châu Phi.

Nhưng có một điều thú vị là chưa ai từng nghe nói đến Abdulrazak Gurnah. Ông không nằm trong shortlist những tác giả nổi bật nào cả (dù rõ ràng tên ông xuất hiện trong list lưu hành nội bộ của giải Nobel). Cược Stephen King thắng còn dễ hiểu hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Đã có nhiều tác giả gây ra cú sốc lớn khi đoạt giải Nobel. Tôi nghĩ đến Kertesz (2002). Tương tự với Tranströmer (2011). Có điều là chắc chắn, giờ đây, Gurnah sẽ được biết đến nhiều hơn khi ông thắng giải Nobel.

Và có rất nhiều nhà văn lớn hội đủ các yếu tố nhưng không giành được giải, bao gồm: Joyce, Tolstoy, Twain, Ibsen, Zola và Proust. Tôi xin mạnh miệng khẳng định rằng tất cả họ đều đóng góp cho văn chương nhiều hơn Winston Churchill (người đoạt giải Nobel năm 1953). Vì vậy, nếu nhà văn yêu thích của bạn không thắng giải, dù đó là Atwood hay Ngugi, thì họ cũng không đơn độc. Đã có khoảng 120 giải Nobel được trao kể từ khi Sully Prudhomme thắng giải lần đầu tiên năm 1901 (không có giải nào được trao trong Thế chiến 2). Và một lần nữa, hiện nay, hầu hết mọi người cũng chưa từng nghe đến cái tên Sully Prudhomme.

Gurnah có xứng đáng không? Tôi không biết. Tôi chưa đọc bất kì tác phẩm nào của ông. Nhưng dường như ông đã gây ấn tượng với nhiều người. Sự lựa chọn này có phải vì lý do chính trị? Có lẽ. Sự thật là vô số tác phẩm ở các quốc gia khác đã bị làm ngơ trong nhiều năm trời vì Nobel được xem là giải thưởng của giới tinh bông châu Âu. Bao nhiêu tác giả Ấn Độ đã thắng giải kể từ thời của Tagore năm 1913? Zero. Bao nhiêu tác giả Trung Quốc được xướng tên kể từ khi Cao Hành Kiện đoạt giải năm 2000? Một – Mạc Ngôn. (Công bằng mà nói, tôi kiểu đã hy vọng Tàn Tuyết sẽ là người phụ nữ châu Á đầu tiên giành giải này. Một ngày nào đó. Biết đâu…). Tuy nhiên, Ấn Độ và Trung Quốc chiếm đến một phần tư dân số thế giới và cả hai quốc gia này đều có truyền thống văn học lâu đời, phong phú. Thực tế mà nói, truyền thống văn học Trung Quốc có lẽ cũng phong phú và đa dạng như phương Tây. Chỉ là không được tiếp cận rộng rãi.

Vậy, đây là quyết định mang tính chính trị? Vâng, theo một giác độ nào đó thì tất cả những tác phẩm hay đều mang tính chính trị. Nó phản ánh đời sống và các chuẩn mực xã hội, nó là tấm gương phản chiếu thế giới mà chúng ta đã tạo ra.

Thế thì Abdulrazak Gurnah có xứng đáng không? Có thể. Ủy ban Nobel đã công bố rằng Gurnah giành giải vì “sự thâm nhập không khoan nhượng và nhân ái của ông đối với những tác động của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa.” Số phận của những người tị nạn và những người bị gạt ra bên lề xã hội là một trong những vấn đề lớn trong thế giới của chúng ta, và tôi tin rằng nó sẽ còn trở nên quan trọng hơn do hậu quả của tình trạng quá tải dân số và biến đổi khí hậu. Đây chắc chắn là một vấn đề ở Hoa Kỳ. Ở châu Âu vấn đề này thậm chí còn đáng chú ý hơn. Châu Âu đang thay đổi. Scandinavia đang thay đổi (hai bộ phim tôi làm gần đây nói về một người tị nạn Afghanistan ở Đan Mạch và một người tị nạn Chile ở Thụy Điển). Chúng ta đang thay đổi. Thế giới của chúng ta đang thay đổi. Và những người hàng xóm mới của chúng ta cũng đang thay đổi.

Nhưng tôi bận tâm điều gì? Đó là Gurnah rất khó tìm. Tôi đã tìm trên eBay. Chỉ có duy nhất hai bản của cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – Paradise (được đề cử giải thưởng Booker và Whitbread ở Hoa Kỳ) với giá là 127 đô la. Tôi chắc rằng sớm muộn gì cũng sẽ thay đổi thôi, nhưng hiện tại, rất khó tiếp cận Gurnah.

Vì vậy, tôi khá vui khi ông chiến thắng. Ông mở ra cánh cửa đi vào một phần thế giới đang thay đổi của chúng ta – thế giới mà đã bị che khuất quá lâu. Và điều này ngày càng trở nên quan trọng hơn. Tôi đang bắt đầu cuộc hành trình vào thế giới của Gurnah với cuốn “Memory of Departure”. Đây là cuốn sách đầu tiên ông viết và tôi thích cái bìa của nó – đây là cách tôi thường dùng để đánh giá một cuốn sách… Tôi tự hỏi không biết có ai muốn đọc chung với tôi không?

Nguyễn Bích Trâm
dịch từ bài viết của Danny Wool
Tiêu đề do dịch giả tự đặt.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Về thơ

Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối.

Published

on

By

Tôi muốn viết về thơ vào những ngày đầu tiên của tuổi mới. Thực ra, tôi muốn viết về thơ vào những ngày cuối cùng của tuổi cũ. Chính xác hơn thì tôi muốn viết về thơ vào ngày 15.6 khi vừa viết xong hai bài thơ mới sau khoảng thời gian khá lâu không viết được dòng thơ nào thì ý tứ cho hai bài thơ ấy bất ngờ đến với tôi vào một ngày thứ sáu buồn bã, nhiều nước mắt và tôi viết một mạch là xong không những một mà hai bài. Điều này đối với tôi thật đặc biệt. Vì từ trước đến nay, tôi luôn viết thơ rất chậm, cũng giống như viết bất kì thứ gì khác, review về sách hay phim, truyện ngắn hay tiểu thuyết (đã quá lâu rồi tôi không viết tiểu thuyết, đã năm năm có chẵn). Tôi đã không thể viết được thơ một mạch trong vòng vài chục phút hay vài tiếng đồng hồ như bao người. Đa phần những bài thơ tôi viết nhanh thì mất một, hai ngày hay một tuần, lâu thì có khi mất cả tháng hoặc đến hai, ba tháng cũng có nếu tính từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi thận trọng viết một câu rồi hai câu, rồi gọt giũa lại câu từ, hình ảnh và rồi hoàn tất cả bài. Tôi viết thơ mà chậm như người ta viết truyện ngắn vậy, thế nên đến ngày nay, nhiều khi tôi vẫn còn phân vân không biết những gì mình viết ra có phải là thơ không, bởi lẽ dường như thơ là chỗ cho những khoảnh khắc và cảm xúc, hoặc suy tưởng trong những khoảnh khắc, một lát cắt thời gian ngắn gọn hơn là một dòng chảy chậm chạp, rề rà, trôi ngắc ngoải lâu lắc lâu lơ như thế. Càng ngày tôi càng làm mọi thứ một cách chậm chạp và trì hoãn. Chẳng hạn như những dòng này cũng là một ví dụ điển hình cho sự chậm chạp và trì hoãn ấy, lẽ ra tôi đã phải viết nó từ cách nay một tháng hơn, ngay lúc cảm xúc còn mãnh liệt, cuồng nhiệt, dữ dội, hân hoan và buồn bã rồi lại được giải phóng khỏi buồn bã sau khi viết hai bài thơ ấy. Nhưng tôi đã trì hoãn, để rồi bây giờ sau một tháng mới khởi sự viết lại, tôi giống như một người thấy cơm ngon, nóng hổi trước mặt lại không chịu ăn ngay, để khi nó nguội rồi lại dụng công hâm nóng mặc cho việc thưởng thức sự nguội lạnh đôi khi cũng là một cái hay, nó nhắc nhở ta về những điều đã mất nhưng không mất đi hoàn toàn đôi lúc còn tạo ra những cảm xúc ngang trái hơn là việc phải chịu cảnh nó vĩnh viễn không còn hiện diện nữa: cơm vẫn còn đó, nó không thay đổi về lượng, những phép tính về vật chất, nhưng nó thay đổi về tính, nó không còn nóng nữa, nó đã nguội, dù hâm nóng nó thì trạng thái nóng sau khi đã từng nguội lạnh vẫn rất khác so với cái nóng nguyên sơ ban đầu. Vậy nên, tôi không đoan chắc những gì tôi sắp viết dưới đây còn giữ được đầy đủ tinh chất của cái nóng trong hạt cơm vào tháng sáu ngày hôm ấy hay không; nhưng chí ít, tôi sẽ cố gắng tái tạo lại hình dạng vật chất của nó, hình dạng của bát cơm ấy, của thơ, của nỗi buồn, của bầu trời màu cam đỏ ngoài khung cửa sổ như muốn đốt cháy hết những tòa nhà nó bao trùm.

Vì sao tôi muốn viết về thơ?

Đơn giản vì tôi chợt nhận ra mình đã viết kha khá về sách, phim, nhạc, về việc viết, việc đọc, về ti tỉ những thứ vụn vặt tôi góp nhặt trong cuộc sống, nhưng hình như tôi chưa từng một lần nghiêm túc viết về thơ, về việc viết thơ của tôi, một lần trải lòng dông dài về nó thật sự theo kiểu cách của tôi. Trước đây, tôi chỉ viết vài ba phiến đoạn lắn ngắn về thơ vào khoảng năm 2012 khi đang buồn tình. Không hẳn là bây giờ, tôi đã có thêm những suy nghĩ mới, nghiêm túc hơn về thơ so với hồi đó. Có lẽ, tư duy trong thơ tôi vẫn vậy. Chỉ là đột nhiên tôi muốn hồi tưởng lại mối quan hệ giữa tôi và thơ, những gì chúng tôi đã trải qua cùng nhau để suy nghĩ về tương lai. Nếu không viết ra thì tôi sẽ khó lòng hệ thống được những suy nghĩ trong đầu mình.

Hồi học cấp hai và cấp ba, đôi lúc tôi cảm thấy mình thích viết thơ còn hơn cả truyện ngắn hay tiểu thuyết. Với suy nghĩ trẻ con khi đó thì lí do chỉ đơn giản là vì thơ viết nhanh, dễ, thiên về cảm xúc hơn so với hai thứ kia: vừa mất thời gian hơn, vừa khó hơn, vừa dụng công và tính toán nhiều hơn. Tôi vẫn còn nhớ vào những năm cuối cấp hai, tôi mua một loạt tuyển tập thơ in thành cuốn nhỏ do nhà xuất bản Đồng Nai làm, với những nhà thơ Việt Nam chủ yếu từ phong trào Thơ Mới. Tôi đọc say sưa và có những bài thích quá, còn cố gắng lẩm nhẩm đọc nhiều lần để học thuộc, không hiểu sao khi ấy tôi rất thích việc có thể đọc làu làu những bài thơ mình thích cho người khác nghe, tôi cũng thích hình ảnh một người tri thức hễ đụng đến nhà thơ nào là đều có thể trích dẫn ra vài câu thơ của nhà thơ đó, tôi cho rằng việc ấy rất ngầu và muốn mình cũng làm được. Thời ấy, tôi vẫn còn sến súa (có lẽ bây giờ vẫn vậy) và hay mơ mộng yêu đương nên một trong những bài thơ mà tôi thích nhất lúc chuyển giao giữa học cấp hai và cấp ba là bài Em gần gũi, em xa xôi của Tế Hanh. Không hiểu sao tôi lại thấy rất đồng cảm khi đọc bài này, có lẽ vì khi ấy tôi yêu đơn phương nhiều quá chăng.

Vào năm cấp ba, không nhớ rõ là lớp 10 hay 11, tôi làm thơ liên tục, kiểu thơ tình con cóc nhảy ra nhảy vào mà đến bây giờ đọc lại, tôi vẫn còn thấy xấu hổ, chỉ muốn độn thổ, không hiểu sao lúc ấy mình lại có thể viết như thế. Chính vì là thơ tình (có lẽ không thể gọi là thơ) nên tôi viết rất nhanh, chỉ cần có cảm xúc thì ào ào mấy chục phút là xong. Khi ấy, tôi không hề biết đến việc gọt giũa câu chữ, chọn từ cho thật kĩ, hình ảnh cho thật đắt, tôi chỉ viết theo cảm xúc và khi đọc lại thì sửa sao cho nghe có tí vần điệu là được. Tôi vẫn còn nhớ mình lấy một xấp giấy khổ A4 có kẻ sẵn hàng ngang đã ố vàng được kế thừa từ hai bà chị để viết lên đó những bài thơ tình sến súa bằng chữ viết tay nguệch ngoạc xấu xí của mình. Tôi viết có lẽ cũng khoảng vài chục bài với xấp giấy đó. Không phải khi ấy tôi không biết gõ máy tính, sự thực thì tôi đã viết thơ trên máy tính được một khoảng thời gian trước đó, nhưng tự tôi cũng nhận thấy chúng thật sự dở. Rồi tôi nghe nói rằng quay về viết tay có khi sẽ viết hay hơn vì khi viết tay, bạn được kết nối trực tiếp với những gì bạn viết, con chữ không phải đột nhiên hiện lên như nhảy xổ vào bạn trên màn hình trắng với con chuột nhấp nháy đằng sau, tôi nhớ rằng có ai đó đã nói viết tay như một dòng chảy, bạn tạo ra một dòng chảy xuyên suốt từ não xuống bàn tay, xuống những đầu ngón tay cầm bút, xuống cây bút, xuống ngòi bút, xuống những dòng mực, và những dòng mực truyền xuống những trang giấy, miên man, bất tận không ngừng. Chính sự liên tục và kết nối mật thiết này sẽ khiến cho bạn có khả năng xuất thần hơn khi viết bằng tay so với đánh máy, bạn dễ nảy ra những ý tưởng táo bạo hơn vì dòng chảy mạnh mẽ đó đôi khi sẽ cuốn trôi bạn đến những bến bờ bạn không thể ngờ tới. Vân vân và mây mây. Vì những lập luận hết sức thuyết phục đó, tôi cũng thử thay đổi một phen, trong vòng một, hai tháng viết liền tù tì mấy chục bài thơ bằng tay lên giấy. Tôi cố gắng không đọc lại chúng quá nhiều khi vừa viết xong để giữ cho bản thân sự bất ngờ trong tương lai khi đọc lại lúc nhập liệu vào máy tính. Và khi nhận thấy đã viết đủ nhiều, tôi quyết định đánh máy lại. Khoảnh khắc đó, tôi nhận ra một sự thật chua chát: dù đã viết tay, thơ tôi dở vẫn hoàn dở; thậm chí, có vẻ như vì chữ viết tay của tôi xấu quá, tôi khiến chính tôi mất đi cảm hứng, những bài thơ viết tay dường như còn dở tệ hơn so với những bài thơ đánh máy. Tôi vốn ghét sự xấu xí và nguệch ngoạc, tôi thích sự cẩn thận, chỉn chu, tươm tất, vì thế tôi ghét chữ viết của chính mình bởi nó luôn chỉ ra điều ngược lại. Vừa viết và vừa liên tục nhìn thấy thứ mình ghét mỗi lúc một xuất hiện dày đặc thêm có lẽ là nguyên nhân khiến tôi cảm thấy thơ viết tay của mình dở hơn thơ đánh máy. Chưa kể, vấn đề còn nhọc nhằn hơn khi giờ đây tôi phải rị mọ đọc lại những dòng chữ xấu xí của mình, cố đoán già đoán non ở một số chỗ xem tôi đã viết gì, và rồi phải nhập lại những dòng thơ chính mình cũng không thấy có gì thú vị. Nhưng tôi không thể bỏ phứt nó đi luôn mà không nhập, với bản tính cố hữu là một người thích sưu tầm, nhặt nhạnh, thích giữ lại hơn là vứt đi, tôi vẫn cứ gõ lại những gì chính tôi cũng không thích lắm, nỗi thất vọng của tôi, sự kì vọng hoài công. Trải nghiệm không mấy vui vẻ đó khiến tôi quyết định sau này, tôi sẽ đánh máy trong hầu hết các trường hợp có thể nếu không bị bắt buộc phải viết tay. Với nét chữ xấu xí của mình, tôi vừa khiến cho việc viết tay dở hơn đánh máy, vừa khiến cho mình mất thời gian nhiều hơn khi phải gõ lại những gì mình đã viết. Đương nhiên, đó chỉ là sự bao biện của tôi: viết dở là viết dở, chẳng liên quan gì đến tay hay máy, vấn đề nằm ở tư duy và trải nghiệm đọc, sự chịu khó tìm tòi học hỏi – đó là tất cả những thứ tôi đã thiếu vào năm cấp ba (bây giờ, cũng không hẳn là tôi đã có vẹn toàn những phẩm tính này mọi lúc, mọi nơi).

Tôi vẫn còn nhớ vào năm cấp hai, khi tôi cố gắng viết truyện, cố gắng viết sao cho hay và hấp dẫn, đồng thời cũng cố gắng cải thiện điểm văn lẹt đẹt năm phẩy mấy ở trường để không bị khống chế học sinh giỏi thì tôi đã rất thất vọng khi hai bà chị - những độc giả duy nhất của tôi lúc đó bảo truyện tôi chán, còn điểm văn trong trường thì chính thức biến tôi thành học sinh khá dù điểm trung bình các môn cộng lại là trên tám phẩy. Mọi thứ dường như khựng lại, ở yên một chỗ, không sao tiến triển được. Chị ba khi ấy khuyên tôi: “Muốn viết hay, trước hết em cần phải đọc nhiều đã. Không cần phải cố gắng viết quá nhiều đâu, cứ đọc nhiều rồi tự dưng một lúc nào đó sẽ viết hay.” Tôi biết lời khuyên này cũng chí lí (sau này thì tôi nhận ra rằng nó quá chính xác, đến nỗi gần như một thứ chân lí), nhưng không hiểu sao đứa tôi lúc đó lại không chịu nghe theo. Tôi đã ham viết hơn ham đọc. Tôi nhớ ngày ấy mình có thích một ca sĩ nào đó, và người ấy có nói câu này (chẳng biết có phải là Đàm Vĩnh Hưng không): “Hát hay không bằng hay hát.” Thế là tôi cũng đem câu ấy áp dụng y hệt vào việc viết: “Viết hay không bằng hay viết.” Đó giống như câu thần chú của tôi mỗi lần tôi buồn vì bị điểm văn kém, mỗi lần tôi nản lòng không muốn viết truyện nữa khi về nhà sau những giờ học hay trong suốt ba tháng hè lủi thủi một mình. Tôi đã niệm câu thần chú đó để trấn an mình, để tiếp tục viết những câu chuyện cứ đè nén trong đầu, những câu chuyện mà tôi nghĩ mình không thể không viết ra (ngày nay, khi đọc lại những truyện tôi đã viết hồi cấp hai, cấp ba và thậm chí là cấp một, tôi cảm thấy rất xấu hổ, tôi sẽ chỉ giữ lại nó cho riêng mình như một tập album lưu lại những hình ảnh về đời sống văn chương đã xa xưa của tôi). Nhưng đương nhiên, kì tích không thể xảy ra ngay trong những năm cấp ba ấy chỉ vì tôi cố gắng viết nhiều, cứ cắm đầu cắm cổ mà viết trong khi chẳng chịu đọc gì, chất dinh dưỡng nạp vào không đủ thì những gì xuất ra làm sao thơm ngon được. Giá mà lúc ấy, tôi có thể thay câu: “Viết hay không bằng hay viết” thành “Viết hay không bằng hay đọc” sớm hơn. Vào những năm đại học, khi tôi cố gắng dành thời gian để đọc nhiều hơn, kiềm nén ham muốn viết thì khi viết trở lại, tôi thấy kết quả thay đổi rõ rệt. Sự thay đổi đó đến với tôi thật bất ngờ. Tôi bỏ viết hẳn năm đầu đại học chỉ để đọc, rồi khi so sánh những gì mình vừa viết với những gì đã viết một năm trước đó, tôi gần như không tin được là lối viết của mình đã thay đổi nhiều như thế. Tôi có cảm giác giống như một kì tích, giống như một năm đã qua không hề tồn tại, nó chỉ là cái chớp mắt, đêm trước tôi vẫn còn viết rất ngô nghê, ngủ một giấc tỉnh dậy và thử viết thì chợt nhận ra sự ngô nghê đó đã bớt đi chút ít, theo một cách không ngờ tới, tôi bỗng dưng biết được mình sẽ viết như thế nào, sắp xếp câu chữ ra sao. Nhưng dù có cảm giác như thế, tôi biết nó không phải là một kì tích, nó là sự hồi đáp của văn chương khi tôi bỏ ra đủ cố gắng cần phải có để bước qua giai đoạn mới. Tôi nhận ra rằng cũng giống như viết, khi bạn đọc, thời gian trôi qua rất nhanh. Việc đọc dường như vừa kéo dài vừa rút ngắn lại dòng thời gian tự nhiên.

Chuyện ít đọc tạo ra một cục diện dở tệ với tôi những năm trung học: viết văn trong trường điểm kém, viết truyện dở và đương nhiên là viết thơ cũng dở. Việc chỉ đọc những nhà thơ tình viết theo thể thơ tự do trong phong trào Thơ Mới khiến định nghĩa của tôi về thơ bị bó hẹp đi rất nhiều. Tôi không biết cách triển khai một bài thơ như thế nào ngoài việc dùng thật nhiều tính từ mĩ miều để miêu tả cảm xúc rồi cường điệu nó lên. Đương nhiên, đến ngày nay tôi vẫn không cho rằng phong cách của Thơ Mới là như vậy. Chỉ đơn giản là lúc đó tôi không biết làm một bài thơ cũng cần chút tư duy lí trí, một ý nghĩ làm nền để bài thơ có thể đứng vững – hoặc có thể thơ không cần đứng vững, nó có thể điên cuồng nghiêng ngả chuệch choạc như một người lướt khướt say nhưng lối viết của tôi luôn cần giữ lại chút tỉnh táo, tôi không thể hoàn toàn điên nên khi chỉ viết theo cảm xúc thuần nhất, thơ của tôi dễ bị rơi vào trạng thái sến một cách vô duyên. Vào năm đầu đại học, sau khi dành hẳn một năm đọc sách (chỉ truyện ngắn và tiểu thuyết), tôi gần như bỏ hẳn viết thơ trong ba năm: 2008, 2009, 2010. Đơn giản vì khi ấy, truyện ngắn và tiểu thuyết khiến tôi thích thú hơn, tôi vẫn không đọc thơ đủ nhiều để biết cách viết một bài thơ.

Tôi không muốn viết chi tiết về năm 2011 dù chính năm ấy đã tạo ra sự biến chuyển lớn trong cách suy nghĩ của tôi về thơ, là năm tôi đã viết ra được một số bài thơ dù chỉ đếm trên đầu ngón tay nhưng sau này tôi không có cảm giác xấu hổ khi đọc lại. Đó là năm tôi đã gặp em. Trước khi gặp em, như một cơ duyên, tôi đã đọc hết toàn bộ khoảng trăm bài thơ em viết được đăng trên mạng. Nếu không gặp em năm đó, tôi nghĩ mình đã bỏ hẳn thơ vì trong suốt ba năm chỉ tập trung vào truyện ngắn và tiểu thuyết, tôi nhận thấy thơ không thú vị bằng hai thứ kia bởi tôi vẫn không biết cách triển khai thơ khác đi. Tôi đã nghĩ thơ không thật sự phù hợp với nhịp sống và cách tư duy của tôi – đến bây giờ tôi vẫn cho là như vậy. Nhưng mùa hè năm ấy, em đã chỉ tôi lối để thỉnh thoảng bước vào thơ, nhìn ngắm khung cảnh đẹp đẽ nơi ấy bằng Wislawa Szymborska, Joseph Brodsky, Charles Bukowski… và bằng chính em. Bỗng dưng tôi biết cách viết một bài thơ như thế nào dù việc ấy chỉ xảy ra đôi khi.

Năm 2012 có lẽ là năm tôi đọc thơ nhiều nhất tính cả đến thời điểm hiện tại. Đó là lúc em đã bỏ đi. Sau những trận khóc vào sáng sớm khi vừa tỉnh dậy, sau những lần cầu nguyện được gặp em trong mơ mỗi tối trước khi ngủ, đến tháng chín năm ấy, tôi quyết định gạt đi những ủ rũ tiêu cực để tìm em trong thơ, bằng cách đọc thơ theo tên tác giả từ A – Z như em đã có lần nói rằng đó là cách em đọc. Tôi tìm em thật tích cực như thế cũng là để lần cuối cùng chia tay em thật tích cực trong tư tưởng. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ấy, tôi tranh thủ đọc thơ vào những buổi trưa tĩnh lặng khi đèn đã tắt, khi mọi người đã ngủ, một không khí không khác gì buổi đêm được tạo dựng trong phòng. Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối. Và quả thực, khi đọc nhiều ta có thể viết nhiều. Đó là khoảng thời gian tôi đã làm được điều tưởng chừng không thể: viết ba mươi bài thơ trong vòng một tháng. Đến nay, vẫn chưa khi nào tôi viết được thơ nhiều như thế.

Trong một ngày tháng sáu năm 2018, tôi nằm trên băng ghế dựng tạm từ ba chiếc ghế rời, tắt hết đèn vào lúc năm rưỡi hơn, dõi mắt nhìn ra khung cửa với bầu trời xanh vương chút xám, tiếng mưa rơi xối xả bên ngoài làm âm thanh nền cho cảnh tượng ấy. Tôi suy nghĩ về thơ trong sự cô tịch bình yên đó. Thế giới như đang phân mảnh khi tôi nằm trên ba chiếc ghế rời, ngoài kia là tiếng mưa rơi. Bỗng nhiên tôi có cảm giác thơ chính là như thế, là cảnh tượng này, không gian này, thời gian này, là tôi đang nằm đây. Thơ là một dòng chảy kết nối tất cả sự rời rạc lại với nhau. Như căn phòng những buổi trưa ấy. Như căn phòng buổi chiều mưa này. Nhưng không phải theo phương pháp cơ học. Cũng không phải theo cơ cấu cắt ghép như một môn thủ công nào đó. Và khả thể mới do thơ tạo ra từ những mảnh vụn cũng không hề vững chãi và thực tế, cũng không có tham vọng vững chãi hay thậm chí là trường tồn. Nó chờ đợi để tiếp tục được phân mảnh và tạo ra những mối liên kết khác: như cách những hạt mưa rơi độc lập nhưng hòa quyện vào nhau, như những chiếc ghế tuy có vẻ là cố định nhưng vị trí của chúng chỉ là tạm bợ, người ta có thể dễ dàng dịch chuyển chúng đến bất cứ nơi đâu, kết hợp chúng với bất cứ thứ gì để tạo ra những ngữ cảnh mới, những cách hiểu mới cho một cái ghế. Thơ cũng giống như thế. Nó ở đó nhưng không ở đó. Người ta thường nói một nửa sự thật không phải là sự thật, một nửa tình yêu không phải là tình yêu. Nhưng với tôi, một nửa thơ thì vẫn là thơ. Bởi lẽ khác với những thứ kia – những thứ đòi hỏi một sự vẹn toàn thì mới đích thực là nó, thơ chối bỏ sự toàn bích như một thể thống nhất. Bạn chỉ có thể nắm một phần và rồi hình dung thể thống nhất của nó theo cách nghĩ của bạn. Hình dáng một bài thơ tùy biến trong đầu mỗi người theo cách như thế. Chính sự nửa vời ấy là vẻ đẹp của thơ. Vẻ đẹp của nỗi mơ hồ mênh mông xa vắng.

Trong buổi chiều mưa đơn độc tưởng chừng như vô tận ấy, khi nằm trên những chiếc ghế rời và ngước nhìn bầu trời xanh xám ngoài kia, tôi đã viết những dòng-có-lẽ-là-thơ này:

“tôi thu mình trong màu xanh ô cửa sổ
nằm trên ba chiếc ghế xếp cạnh nhau
giang sơn nhỏ hình thành khi ngoài kia
tiếng mưa rơi tựa sóng vỗ
căn phòng này sẽ trôi cùng tôi đến đâu
giữa thành phố mười triệu dân này”

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng