Phía sau trang sách

Những cảnh đời tỉnh lẻ: Tự vạch trần nội tâm của người đàn ông yếm thế

Published

on

J. M. Coetzee không phải là một nhà văn đại chúng. Sách của ông chưa từng đứng nhất trên những bảng xếp hạng sách bán chạy. Tên tuổi ông cũng không phủ sóng rộng khắp các mạng xã hội (như Margaret Atwood). Hình ảnh của ông trước công chúng là một trí thức xa cách, cao ngạo; người chối từ đứng trước đám đông ở những buổi lễ tôn vinh mình. Dù không ẩn mình đến cực đoan như Thomas Pychon nhưng Coetzee cũng chẳng buồn làm gì để xua tan đi những ấn tượng đó; thậm chí, ông còn khuyến khích những phán đoán trên. Đa số độc giả tìm đến văn chương Coetzee sau những danh tiếng, giải thưởng mà ông nhận được. Hai giải Booker và một Nobel văn chương, vẫn có điều gì đó ở người đàn ông Nam Phi này làm người khác nghi ngại, bởi sự kín tiếng, bởi thói ẩn mình.

Đến khi Tuổi thơ ra đời như phát pháo đầu tiên cho bộ tự truyện – giả tưởng Những cảnh đời tỉnh lẻ, người ta mới bỗng chốc nhận ra Coetzee không đơn thuần là người kín tiếng, mà còn đáo để trong cách tự châm biếm bản thân mình. Động cơ đằng sau việc ra mắt ba tập tự truyện trong khi ẩn mình đến mức tối đa có lẽ ngoài bản thân ông ra thì không ai hiểu rõ. Nhưng với bộ ba này, ít nhiều một Coetzee yếm thế đã dần hiện ra: nhân vật chính, một nhà văn Nam Phi được đánh giá cao, hay phôi thai xanh xao chưa đủ sức bật… tất cả xoay vòng trong ba phần những trang viết này.

“Hắn sẽ giữ hết chúng trong đầu thế nào đây, tất thảy những cuốn sách, tất thảy những con người, tất thảy những câu chuyện này? Và nếu hắn không ghi nhớ chúng, thì ai sẽ làm?”

Một thoáng Coetzee.

Văn nghiệp của Coetzee bắt đầu khá muộn. Vào thập niên 70 tại Mỹ, khi phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang lên đỉnh điểm, ông cùng đồng nghiệp – bấy giờ đang giảng dạy tại đại học Buffalo – cảm thấy mình cần làm một điều gì đó. Sau khi bị chính quyền bắt và bị từ chối cấp lại thẻ xanh, tình trạng pháp lý của ông càng trở nên báo động, dẫn đến việc ông trở về quê hương Nam Phi, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid vẫn đang hoành hành.

Không khó để nhận ra điểm nhấn văn chương của Coetzee vẫn thường trở đi trở lại trong những tác phẩm của ông. Nhân vật chính hầu hết là người đàn ông trung niên, một chút luống tuổi, có vị thế và bị mắc kẹt trong bộ máy chính quyền công chính và những mối quan hệ nhục dục không biết đường tránh. Từ những mối quan hệ này, hình ảnh tàn tạ, đơn độc của người đàn ông được khắc sâu thêm. Văn chương Coetzee mang sắc thái lạnh, một giọng văn tỉnh táo, trưởng thành, nhẹ nhàng nhưng thiếu vận động và nhiệt huyết sáng tạo. Độc giả có lúc tự hỏi, liệu những ám muội này xuất phát từ đâu, để chúng đến với văn chương ông như phong vị riêng, nét độc đáo riêng mà chỉ Coetzee mới tạo được căn phòng ấy, mùi hương ấy, cái lạnh ấy và buổi chiều tàn hôm ấy. Những cảnh đời tỉnh lẻ như bộ ba giải mã những thắc mắc trên, từ chính thâm sâu ở tận gốc rễ.

Tác giả J. M. Coetzee
Ảnh: Washington Examiner

Mẫu hình nhân vật đàn ông.

Mẫu hình nhân vật người đàn ông trở lại trong Những cảnh đời tỉnh lẻ. Nếu trong Ruồng bỏ là vị giáo sư đại học vướng vào lao lý tình yêu với cô sinh viên trẻ, trong Đợi bọn mọi là vị thẩm phán với cô thổ dân cùng nhau đối đầu với bộ máy công chính; thì ở đây là John – cậu bé da trắng, người Afrikan, yếm thế từ trong bản chất và rất dễ tổn thương. Khởi đầu bằng Tuổi thơ là quá trình lớn lên của John nơi bình nguyên Karoo đầy biến động. Tiếp đến là Tuổi trẻ tương ứng với giai đoạn giảng dạy tại Buffalo sau tuổi trưởng thành. Cuối cùng là Mùa hè, khi John trở lại Nam Phi những năm 71, 72. Bộ ba tác phẩm lần lượt lướt qua trường đoạn lớn lên của cậu bé John nơi thị trấn Worcester, để từ đó thấy được những ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn nghệ sĩ. Sau thảm kịch Sharpeville và những biến động chính trị trong nước, John ôm mộng sang Anh trở thành một nghệ sĩ vĩ đại trong lĩnh vực thơ ca nối gót Pound, Eliot, Ford Madox Ford rồi bị dìm chết bởi những mánh khóe vật chất sinh tồn nơi đây. Cuối cùng về lại Nam Phi, trở thành một người đàn ông bình thường, trong căn nhà bình thường đến khi mất đi, và được thuật lại đầy đủ từ năm 71 bằng cuộc ghi chép một cuốn tiểu sử của Vincent.

Giai đoạn cuộn mình phôi thai trong Tuổi thơ, Coetzee tinh tế đưa John trở về thể dạng của một tạo tác dính nhớp, của một người bấu víu lấy mẹ, muốn bà hy sinh mọi khát vọng cho riêng mình và mắc kẹt trong tình yêu của bà. Đó còn là cậu bé sợ bị đánh roi vì lòng tự cao, yêu thích bãi cát hơn là dòng sông u ám, thích mang giầy hơn đi chân không… Coetzee chuyển hóa bản thân mình sang John bằng sự nhạy cảm đầy cuốn hút, để từ đó thế giới nội tâm dần dà phát triển, trở thành một nhân tế bào hình thành nhân cách của người đàn ông sau này theo nghĩa hẹp hay các nhân vật chính sau này theo lối nghĩa rộng.

Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ

Thế giới nội tâm phát triển phong phú hơn mọi điều khác, đơm hoa kết trái, nhân bản theo cấp số nhân triệu triệu tế bào, hình thành nên thể yếm thế được máu nuôi dưỡng. Sự thiếu sót ấy, vẻ yếm thế ấy thể hiện ở cả hai mặt, về những ảo tưởng trở thành nghệ sĩ và những cuộc tình với những người khác. Coetzee hay John trong bộ ba này dường như mắc kẹt trong nỗi cô đơn và sự khốn khổ. Sự đùm bọc của người mẹ làm anh cảm thấy tuy đã 30 nhưng vẫn không hơn là một đứa trẻ. Việc phá trinh của Marianne rồi mặc kệ cô ra về với máu vẫn chảy từ giữa hai chân, về việc Sarah mang thai và anh hoảng lên để cô đi phá chỉ riêng một mình… Từ đầu chí cuối, John thử và lại mắc kẹt; thử lại lần nữa, và vẫn mắc kẹt. John là loại đàn ông không mang bất cứ sự cuốn hút nào đối với phái nữ: anh ngẩn ngơ, tuyệt vọng, rồi tự nghi ngờ để thử với bọn đàn ông, nhưng rồi mọi chuyện lại chẳng tới đâu.

Cái tự diệt ấy cũng đồng thời hiển hiện qua ảo mộng trở thành nghệ sĩ trong cuốn Tuổi trẻ. Rời xa Nam Phi khi bất bạo động chính trị mới vừa diễn ra để chứng minh rằng mỗi con người là một hòn đảo, không cần đến cha mẹ; nay anh sớm nhận ra con đường của Pound, của Eliot, của Picasso vốn không bằng phẳng. Giữa nỗ lực ở lại nơi đất khách quê người bằng việc cố định mình vào việc lập trình cho IBM hay International Computers, giấc mộng thơ ca đã tắt ngấm. Trong những ngày ngồi trước trang giấy trống rỗng không chứa một chữ, những tự vấn lương tâm trong cảnh chán ngán vật chất, nỗi luyến nhớ để lại đằng sau, còn Bộ Nội vụ đang ở phía trước, anh vặn mình rằng: Có gì bất ổn với hắn vậy? Tại sao hắn lại làm cho những điều bình thường nhất trở thành khó khăn là thế với mình? Nếu câu trả lời là bản tính hắn là thế, thì có ích gì khi mang một bản tính như vậy? Tại sao hắn không thay đổi bản tính mình?

Nhưng cái yếm thế một khi gắn vào không thể gỡ ra, nó bám vào ta như loài hà đá, như thép nung chảy, để hàn con người vào tình thế, để rồi rốt cuộc lý do rời khỏi Nam Phi không vì chính trị, không vì chiến tranh, mà bởi trốn chạy khỏi sự nhàm chán, khỏi sự phàm tục, khỏi sự teo tóp của đời sống đạo đức, khỏi nỗi hổ thẹn. Ở đó, John sẽ mãi là một bóng ma, là gã trai trẻ nhàn du quanh thành phố xa lạ, ăn dần khoản tiền để dành của mình, đĩ điếm, làm bộ mình là nghệ sĩ! Từ người chạy trốn bạo động trong nước, giờ đây trở thành chính người viết mã cho máy bay Anh trong Chiến tranh lạnh, lập trình Atlas ở những cuộc chiến rất vô nghĩa khác.

Từ cái yếm thế của nhân vật, Coetzee nhân rộng lên cùng với đại diện là chàng Ganapathy kỹ sư người Ấn không thể tự chăm sóc bản thân mình và cả cha John – người cha lụn bại, sặc sụa trong cơn trầm uất; để đến với đàn ông nói chung, đàn ông của dòng họ Coetzee trên bình nguyên Karoo bao đời để lại, mà nghĩa vụ đầu tiên của những phụ nữ dòng họ này là xoay xở tống dòng máu Coetzee ra khỏi những đứa con mình. Làm thế nào để tống dòng máu slap ra khỏi con người, chị không nói ngay được, ngoài việc mang họ đến bệnh viện cho bơm hết máu ra và thay thế nó bằng máu của người hiến tặng nghiêm khắc nào đó. […] Cậu ấy không có hoạch định. Cậu ấy là người nhà Coetzee, người nhà Coetzee không có hoạch định. Họ không có tham vọng, họ chỉ có những mong mỏi lười nhác.

Nhìn nhận một cách tựu trung, đây là lý giải của Coetzee cho toàn bộ vũ trụ nhân vật đàn ông trong tiểu thuyết của ông, những người lặt lìa trước đàn bà, trước cơn gió cuộc đời nhưng hàn chặt bản thân với nỗi yếm thế tự thân. Với riêng J. M. Coetzee, ông nhìn nhận thế nào về mình thì ta không hề biết. Nhưng ở điểm mấu chốt này, ít nhiều ta hiểu một cách sâu xa các tiểu thuyết này, nơi cái mắc kẹt, cô đơn, khốn khổ vẫn luôn trồi dậy. Một cách tự phẫu từ trong bản chất, Coetzee ít nhiều cung cấp cho ta lý giải nhất thời về văn chương, về con người ông, và trên hơn hết, về xã hội Nam Phi phân cấp vốn không ổn định.

*

Nam Phi với Coetzee như khung chống đỡ cho những giá trị nguyên bản nơi con người ông, nơi tiểu thuyết của ông. Xã hội Nam Phi đầy rẫy biến động trong sự đấu tranh giữa các sắc da, giữa người Da màu, người Bản địa và người Afrikan. Nếu trong Ruồng bỏ là cách mạng giành lại ruộng đất từ nông dân da trắng, trong Đợi bọn mọi là cuộc chiến với người bản địa – người Khoikhoi từ Hy Lạp di cư sang Nam Phi thế kỷ 17; thì trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, mối chồng chéo ấy được khái quát hơn, hiển thị rõ hơn nơi thị trấn Worcester như mẫu nhặt ra từ một quần thể, nơi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc khoa học vẫn đang diễn ra, mà các biểu hiện là dùng cảnh sát kiểm soát văn hóa, quân phiệt lớp trẻ, tín ngưỡng nhà nước…

Một trong những chủ đề thường xuất hiện trong văn chương của Coetzee giai đoạn sau này là quyền động vật. Trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, đề tài này cũng tìm cách len lỏi vào nơi trang trại Voëlfontein, nơi John về chơi vào một mùa hè, loài cừu bị giết một cách man dại trong khi những con còn lại be be bình thản mà không biết gì, đặt trong bối cảnh đối nghịch – góc nhìn của một cậu bé như John lúc này, gợi lên những điều suy tư. Và người nghệ sĩ không thành ấy biến hóa bản thân tựa như loài cừu, chỉ đợi biến động chính trị giày nát bày đàn thế hệ; và cũng có khi, là những ám ảnh theo suốt khi anh trở về Nam Phi từ Mỹ trục xuất, đã không thể ăn những món từ cừu trong cuộc họp mặt.

Với bộ ba Những cảnh đời tỉnh lẻ, J. M. Coetzee lần đầu tiên mở khóa cho người đọc thâm nhập vào những gì đã cấu thành nên một Coetzee vốn từ trước đến nay ta vẫn quen thuộc. Bộ ba tác phẩm là vũ trụ thu nhỏ của những gì rất Coetzee, những gì thuộc về và những thứ chỉ Coetzee mới viết ra được; vừa giả tưởng như cuộc đời cậu bé vô danh John giữa những biến động chính trị, giữa tầm hồn quá ư nhạy cảm, giữa mộng nghệ sĩ không thành; vừa bán tự truyện như lời phân trần, giãi bày và mở rộng ra cho ai muốn hiểu thêm về nhà văn ấy, người có tầm cỡ trí óc và đặc biệt là năng lực tưởng tượng phát triển trên mức bình thường, và cái giá phải trả chính là phần “con” bên trong anh ấy. Anh ấy là Homo sapiens, thậm chí là Homo sapiens sapiens. Một bộ ba chao đảo, một bán tự truyện vô tiền khoáng hậu với bút pháp bậc thầy. Một Coetzee đã một lần và chắc chắn sẽ không bao giờ mở lòng như thế. Tuyệt đẹp.

Hết.

minh.

*

Đọc những bài viết của minh.

Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng