Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Còn chút gì để nhớ: Một câu hỏi không mong cầu hồi đáp của kẻ từng yêu tha thiết

“Khi về hỏi liễu Chương đài,
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay?”

Published

on

“Mong manh nhất không phải là tơ trời
Không phải nụ hồng
Không phải sương mai
Không phải là cơn mơ vừa chập chờn đã thức
Anh đã biết một điều mong manh nhất
Là tình yêu
Là tình yêu đấy em!”

Như những thiết tha vẫn còn đang âm ỉ trong lòng, với Không phải tơ trời, không phải sương mai, nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết nên những hoang hoải của một tình yêu mà bao gã say tình từ xưa đến nay đều cố gắng đi tìm lời hồi đáp. Có phải không, khi đôi lúc trong những nẻo đường yêu choáng chuếnh, ta cũng nhiều lần tự hỏi chính mình, và cả hỏi người, rằng điều gì là mong manh nhất trên thế gian này? Là những sợi tơ giăng ngang trời mảnh khảnh? Là cánh nụ hồng héo hắt buổi chiều tan? Là hạt sương đậu mềm trên kẽ lá, hay những cơn mơ lững thững níu giữ ánh trăng tàn? Là gì đi chăng nữa, thì với một định nghĩa rất mới trong suy nghĩ của một người đã yêu và được yêu, Đỗ Trung Quân đã thốt lên rằng, “Là tình yêu – Là tình yêu đấy em!”

Thật vậy! Tình yêu, với tôi, nó không phải là một thứ hào nhoáng chuyên bóc mình khoe mẽ những hạnh phúc ngọt ngào cho cả thế gian xem, bởi vì đằng sau nó – sau những khắc khoải và tha thiết đời thường, nó vẫn yếu mềm và mỏng manh làm sao. Nó vẫn luôn là một điều gì đó, bé nhỏ thôi, nhưng lại day dứt và ám ảnh tâm trí con người ta đến lạ. Tôi đã từng yêu và đã từng rất nhiều lần suy nghĩ về tình yêu, nhưng đó là tình yêu của tôi, của một kẻ vừa bước vào đời và chiêm nghiệm về những thứ mà mình vẫn luôn gọi là đẹp đẽ. Thế nhưng, với câu chuyện buồn mà tôi đọc được từ tác phẩm Còn chút gì để nhớ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – tôi biết rằng, tình yêu còn nhiều điều hơn thế. Nó vẫn luôn nằm ở đó, đợi mỗi người ghé đến và tặng cho một nét mi buồn…

Với tôi, Còn chút gì để nhớ là một bản tình ca buồn lặng lẽ, chọn cho mình kiếp sống khiêm nhường giữa vô vàn những đảo điên của tình yêu nhân thế. Tôi đọc cuốn sách này lần đầu tiên vào năm mười ba tuổi – cái tuổi vừa tròn biết mộng mơ. Những năm tháng ấy, cuốn sách đến với tôi chỉ đơn thuần như một món quà nhỏ, một món quà có giá trị hơn bao giờ hết, so với những thứ đồ chơi đắt tiền hay dăm ba món ăn vặt ngon lành thời đó. Còn bây giờ, sau gần hơn mười năm đọc lại, dĩ nhiên, nó đã chẳng phải là một món quà nữa, mà là một người bạn, một người bạn đích thực đồng hành cùng tôi trong những chặng đường mà bản thân mình đi tìm kiếm những câu trả lời về tình yêu.

Nói về cảm xúc khi đọc cuốn sách này, tôi đã không nghĩ là có một sự khác biệt lớn đến thế, dĩ nhiên! Khi tôi mười ba tuổi, tôi chỉ đọc như một cách bắt đầu khám phá về những trang sách, về những thế giới mà người lớn đã dựng xây trong những con chữ đầy ắp chân thành. Khi ấy, tôi nào hiểu nhiều đâu tình yêu của Chương dành cho Quỳnh, tôi nào hiểu nhiều đâu tình bạn đẹp của Bảo, Kim Dung và Chương, tôi cũng hiểu nhiều đâu về những nỗi đau mà chiến tranh mang đến, hằn sâu và rõ nét trong tâm khảm của những người ở lại. Còn bây giờ, bằng một trái tim biết yêu thương và biết thấu hiểu, tôi đã nghĩ, nghĩ rất nhiều, khi cuốn sách gấp lại và nước mắt vừa rơi…

Nếu như tôi là Chương, tôi nghĩ, nếu như điều đó xảy ra thật, thì tôi sẽ như thế nào? Chương yêu Quỳnh – một tình yêu hồn nhiên và thuần khiết, một tình yêu bắt đầu từ những rung cảm đầu đời, khi đôi mắt Chương tình cờ bắt gặp được ánh mắt của Quỳnh, một “ánh mắt sâu thẳm, nửa rối bời, nửa ái ngại”. Kể từ đó, tình cảm của chàng trai tỉnh lẻ mười tám tuổi dành cho cô nàng hàng xóm nhỏ nhắn, dễ thương đã mỗi ngày một lớn dần, chẳng biết khi nào lại ươm đầy những hạt mầm nhớ thương khắp cả trái tim này. Vì nhờ có Quỳnh, mà Sài Gòn dù có xa đến mấy, Chương vẫn yêu, vẫn nhớ, và vẫn xem đó như là một mảnh đất diệu kì – mảnh đất của những điều mới mẻ, trong đó có tình yêu. Như cái cách mà nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến, chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”

Tình yêu của những kẻ đang yêu bao giờ cũng đẹp, đẹp một cách lạ kì. Tình yêu ấy có những ngày nhớ nhung trong thẹn thùng, có những ngày tặng cho nhau dăm ba thứ đồ ăn, có những ngày cùng đi xem hát, và những ngày chở nhau đến tận vùng ngoại ô xa tít rồi hái tặng nhau nhành sứ trắng bên đường. Đấy, như thế đấy, tình yêu vẫn nhẹ nhàng và đơn sơ, vẫn tinh khôi và thuần khiết như bản chất của tình yêu đã từng, dẫu lắm lúc trong những ngày yêu nhau, có người này hờn giận người kia, có những nỗi buồn vẫn vương trên khóe mắt. Nhưng tình yêu vẫn sống, sống mãnh liệt, quay quắt và điên cuồng trong trái tim của những kẻ dám sống vì tình yêu.

Suốt nhiều năm dài, và có lẽ là tận mãi về sau, tình yêu của Chương dành cho Quỳnh vẫn không thay đổi. Nó vẫn cứ ở đó, âm ỉ và nhẹ nhàng, như cái cách mà Chương mới bắt đầu chạm ngõ vào tình yêu. Có lẽ như khi biết yêu mối tình đầu, ai cũng rút cạn trái tim mình để vun bồi cho một hạnh phúc ngỡ như là mãi mãi? Để rồi khi niềm hạnh phúc vỡ tan và nỗi đau ở lại, vẫn luôn có một khoảng trống trong lòng, hoang hoải và chông chênh.

Mối tình của Chương và Quỳnh lẽ ra đã có một kết thúc tốt đẹp, nếu như mối tình ấy không nằm trong một bối cảnh xã hội rối ren và đau khổ. Cái tôi đang nói đến, chính là chiến tranh. Sự chia cắt ranh giới giữa hai miền Nam – Bắc, sự khát khao giải phóng của những người hoạt động cách mạng, sự khác biệt quan điểm của hai chế độ đã làm cho mối tình này chấm dứt, một cách ngỡ ngàng không ngờ đến. “Cháu khờ quá! Ba cháu đi học tập cải tạo, còn gia đình người ta là gia đình cách mạng, cháu hiểu không?”, dì Ba – dì của Chương đã nói như thế, chỉ nhiêu đó thôi nhưng cũng đủ làm người ta đau lòng. Ừ, không đau lòng sao được khi mà tình yêu cuối cùng rồi cũng không thể nào thắng được những định kiến của xã hội, khi mà hạnh phúc rồi cũng không thể nào vượt qua được những rào cản về thể chế chính trị, về những con người cùng là một dân tộc, một đất nước, một quê hương. Tôi thoáng nghĩ, tại sao người ta lại cố chấp bảo thủ trong suy nghĩ của mình, trong khi đó đâu phải là chính sách, đường lối và quan điểm của những cuộc cách mạng. “Cách mạng phải đem lại hạnh phúc cho con người chứ đâu có phá hoại hạnh phúc của con người!”, tôi vẫn nhớ, Trâm đã nói như thế.

Khi bác Tám – ba của Quỳnh, ra sức phản đối tình cảm của Chương và Quỳnh vì lí do như vậy, Trâm – chị gái của Quỳnh, đã không ngần ngại mà đứng lên bày tỏ quan điểm và đấu tranh cho hạnh phúc của em gái mình, dẫu cho Trâm bị cha tát nhiều lần. Tính Trâm là thế, bộp chộp và láu cá, nhưng lại rất tình cảm và chân thành. Trâm cố gắng đem lại hạnh phúc cho em mình, nhưng điều đáng nói ở đây, chính là thái độ của Quỳnh trước sự cưỡng cầu trong tình yêu. Liệu Quỳnh có thật sự xứng đáng với tình yêu của Chương không, khi mà Quỳnh chẳng mảy may nghĩ về cảm xúc của Chương, khi mà Quỳnh lại hời hợt đành an phận thủ thường, chấp nhận nghe theo sự sắp đặt của ba mẹ, chỉ vì “Em và anh Chương chưa từng nói yêu bao giờ.” Chao ôi, tình yêu có phải nhất thiết nói bằng lời, hay do trái tim Quỳnh đã đổi thay, hay là do một lí do nào khác. Nếu Quỳnh yêu Chương bằng một thứ tình cảm chân thành, nếu Quỳnh biết cùng Chương đấu tranh cho hạnh phúc của mình, tôi nghĩ, thì có lẽ mọi chuyện đã khác. Tình yêu thật sự là tình yêu vẫn sẽ sống dậy, dẫu giông bão có kéo ngang qua còn niềm tin vẫn luôn rực sáng. Tôi không hiểu là Quỳnh đang nghĩ gì. Quỳnh hiểu, chỉ có Quỳnh mới hiểu mà thôi…

Rồi có rất nhiều chuyện về sau nữa, về những cuộc đời rong ruổi trôi dài của những nhân vật trong câu chuyện. Tôi vẫn chỉ đọc, đôi khi nghĩ về họ như nghĩ về những chuyện người vẫn thường luôn luẩn quẩn trong kiếp sống này. Tôi nghĩ về Bảo, về Kim Dung – những người bạn của Chương. Sau rất nhiều biến cố xã hội và năm tháng mỏi mòn, họ vẫn gặp lại nhau và vẫn giữ liên lạc với nhau như những gì đã hứa. Có một tình bạn vẫn đẹp của những cô cậu sinh viên mang trên mình những khát khao, hoài bão, một tình bạn được gắn kết bằng những sẻ chia và giúp đỡ, bằng những chân thành và tử tế. Một tình bạn đáng được trân quý và nâng niu.

Tôi nghĩ về Trâm – người con gái biết sống tình cảm sau lớp vỏ bọc mạnh mẽ và kiên cường. Người con gái biết yêu thương và biết thấu hiểu, biết điều gì là đúng là sai, là nên làm và không nên làm. Người con gái đã để lại trong lòng Chương, và cả tôi nữa, một niềm xúc cảm mãnh liệt. Tôi vẫn mong, nếu như Trâm là một nhân vật có thật trong cuộc đời này, thì cô ấy nhất định sẽ luôn được hạnh phúc, dù là cô ấy có ở đâu trên thế gian này đi chăng nữa.

Cuốn sách khép lại, nhẹ nhàng thôi, nhưng lại chạm vào trái tim tôi bằng một thứ cảm xúc mơ hồ mà tôi cũng không biết gọi tên như thế nào. Tôi vẫn luôn cảm nhận được sự gần gũi, thân thuộc trong cái cách mà chú Nguyễn Nhật Ánh kể chuyện – lối văn phong đậm chất tự sự, đôi lúc lại dấy lên những cao trào cảm xúc trong chính những con chữ đời thường. Tôi mơ màng nghĩ về Chương, về Quỳnh, và nghĩ về chính mình. Rồi có bao giờ tôi sẽ phải đau lòng buột miệng hỏi, trong những tháng ngày mình đã từng được sống trong nhau đó, mình có còn chút gì để nhớ không?

Đừng ai trả lời, vì vốn dĩ, câu hỏi này, chẳng ai mong có một lời hồi đáp.

Chỉ vì vẫn còn nhớ, nên mới đau lòng hỏi vậy thôi…

“Khi về hỏi liễu Chương đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay?”

Hết.

Lâm Lâm


Đọc tất cả những bài viết của Lâm Lâm.


Nếu bạn yêu tác giả Nguyễn Nhật Ánh…


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khúc hát của cây: Thước phim Pocahontas về thời hiện đại

Pocahontas – bộ phim hoạt hình Disney về một tù trưởng da đỏ trong thế kỷ 17 tại Bắc Mỹ. Bằng tình yêu và sự quả cảm, cô đã trở thành cầu nối hòa bình giữa người da trắng và người da đỏ.

Published

on

By

khuc hat cua cay feature

          Vẻ đẹp là tài sản của các mối quan hệ được đan dệt và có thể nghe được thông qua đôi tai được thiết kế riêng biệt và đa năng

Nếu Rachel Carson từng mang đến cho tôi những nhận thức thức thời về môi trường dường như luôn đúng dẫu bao năm qua, Michael Pollan là mối liên hệ được thêu dệt giữa mọi sinh vật trong một mạng lưới mạng sống; thì có thể nói, David George Haskell là người đầu tiên cho tôi cảm thức tìm về nguồn cội, lạc vào thế giới tự nhiên để đến đúng tâm điểm, khi con người và đời sống tự nhiên là hai phạm trụ lồng trong nhau, không tách khỏi nhau, tồn tại song song và phát triển cùng nhau. 

Khúc hát của cây đầy tính tượng thanh như chính tên gọi của nó. Có những thanh âm đến từ những khu vực còn chưa có nhiều tác động của con người như rừng Amazon ở biên giới Ecuador; nhưng cũng đôi khi, cây đứng đó và hòa mình vào những thanh âm của đời sống hiện đại khu Manhattan, New York hay đời sống chính trị đầy căng thẳng ở biên giới Palestine và Israel. Ở mỗi khoảnh khắc và mỗi nơi chốn, thực vật hay đời sống tự nhiên luôn gợi con người trở về với tổ kén của mình, và Haskell một cách tài tình với bộ não của một nhà khoa học trong giọng kể của một nhà thơ đã một lần nữa đi lại từ đầu, thức tỉnh, đánh bóng và làm rõ vai trò của loài Homo sapiens trong mạng lưới đầy phức tạp này.

Gồm 3 phần lớn và cũng đồng thời là 3 cuộc khảo sát tỉ mỉ những điều kiện khác nhau, Khúc hát của cây đưa ta về vùng hoang dã rừng Amazon với cây Ceibo, nơi tiếng mưa dường như thay đổi theo từng điều kiện, đối tượng hay bộ phận cây cối. Mưa là một thanh âm quen thuộc, nhưng liệu có bao giờ ta chịu lắng nghe những thang âm riêng biệt của chúng? Cách ly bối cảnh trong một khu rừng dường như nguyên sơ với bộ tộc người Waonari đầy tinh khôi và chất phác, con người như đang vượt thoát khỏi chốn hang động ý thức của Plato để đến với tiếng nói thiện lành của những gì trần truồng và nguyên bản nhất nơi con người chúng ta.

Đọc phần đầu tiên của cuốn sách này ta không thể không nhớ đến Pocahontas và những linh hồn rừng sâu của cô. Nếu nữ chiến binh bộ tộc da đỏ từng chiến đấu hết mình vì tình yêu xuyên qua sắc tộc cũng như niềm tin hướng vào tự nhiên; thì mối quan hệ giữa các loài với nhau, về nghệ thuật khoa học và chiến tranh sinh học đạt đến đỉnh điểm hay tính cộng đồng trong đời sống người Waorani đã một lần nữa cho ta góc nhìn nguyên bản nhất về giới tự nhiên. Nếu tính cá nhân bị lu mờ trước tập thể trong cộng đồng này, thì luôn tồn tại những mục đích nhỏ nhen khác, khi con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Từ khu rừng có phần hoang dã để ta nhìn lại những gì là tự nhiên nhất, Haskell dẫn dắt người đọc quay ngược về thời lịch sử, với những hóa thạch, địa tầng trồi sụt đã từng tạo nên những cá thể đầu tiên nhất, để từ đó cho thấy tự nhiên không chỉ được kết nối qua một mạng lưới, mà bản thân nó đã là một tấm lưới. Trong quá trình ấy, đi từ chuyển lưu, giao tiếp, phụ thuộc lẫn nhau sang loại thải bởi đột biến và chọn lọc tự nhiên; mối quan hệ giữa những loài với nhau được thắt chặt và càng khẳng định hơn nữa, thực vật hay những sinh vật đơn bào nhỏ bé cũng đều có những tế bào thần kinh truyền dẫn ghi nhớ. Chúng có trí thông minh để tạc ghi những mối quan hệ với các giống loài khác.

Trong những di chỉ của người Mesolithic khai quật được ở tại công trường Queensferry vùng Edinburg nước Anh, người ta đã chứng minh rằng hóa thạch của than, củi thu thập từ đây đã có tuổi đời hơn 10.369 năm. Từ gỗ cây phỉ dùng sưởi ấm cho đến loại hạt họ ăn hàng ngày; những hóa thân gỗ này biến thành than đã bị chôn vùi, từ đó được tìm thấy trong lịch sử ngành khai thác mỏ. Từ khói của những lò lửa mà bất cứ tác phẩm văn chương nước Anh đương đại nào trong thời kì này cũng từng khắc họa; cho đến những phần tử nhựa trôi lênh đênh phía trên đại dương để rồi tắp vào gốc cọ Sebal bật rễ; một phần nào đó Haskell cũng mang đến cho ta góc nhìn về những gì con người đã làm với giới tự nhiên.

Dù cho là những hoạt động có vẻ đánh mất nhân tính, nhưng tự nhiên không chần chừ và ôm cánh tay lần nữa tái sinh. Trong mối quan hệ giữa các loài vi khuẩn biển và sinh vật phù du, rác thải nhựa khiến sự trao đổi thông tin giữa các tế bào bị phá vỡ, khiến những sinh vật này có sự biến đổi so với tổ tiên mà chúng thừa hưởng, phần nào giải quyết một phần được rác thải nhựa. Thế nhưng như một câu hỏi mà ông trích dẫn từ Thoreau khi chứng kiến hàng ngàn những người tị nạn Ireland vì nạn thiếu ăn phải lênh đênh rồi chết trên biển, rằng “Tại sao phải lãng phí thời gian trong nỗi sợ hay lòng thương hại?”, thì tự nhiên giờ đây đứng trước con người cũng vẫn với ánh mắt ấy, với bụi mịn, khí thải, bê tông hóa, đô thị hóa hay rác thải nhựa… Tất cả đặt ra câu hỏi của Thoreau trong thời đại này, dường như cấp bách và khó khăn hơn cả.

Con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Nhưng một mặt nào đó, mục nát không phải là đã kết thúc, mà nó là bom hẹn giờ, là ngòi kích nổ cho quá trình tái sinh. Với những tàn tích để lại của cây tần bì xanh vươn cao đã ngã, từng loài ong bắp cày, bọ cánh cứng, ruồi, cuốn chiếu… đã đến và hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhìn nhận con người không thoát khỏi mối quan hệ giữa các thành phần môi trường, thời đại ngày nay dường như loài Homo sapiens cũng đang tham gia vào quá trình ấy, khi Trung Quốc và Ấn Độ có một chiến dịch cải thiện trong việc phủ xanh những đồi đất trọc; còn những nước tiên tiến đã đến gần hơn với xe hạn chế phát thải trong dáng hình của xe điện mà Tesla dường như đi đầu trong phân khúc này.

Haskell không phải là người tiên phong chỉ riêng trong việc lắng nghe cây cỏ; mà ông vươn xa hơn với tác phẩm này, để đến với những trường đoạn triết học, đạo đức, tôn giáo, chính trị… thông qua đời sống tự nhiên. Ở đó liệu cây hay những loài sinh vật khác có nhận thức được thẩm mỹ hay những làn ranh đạo đức ta vẫn thường nghe? Vì bởi giá trị vẻ đẹp nằm ở trạng thái bên ngoài. Nó tồn tại trong tâm trí kẻ đang chiêm ngưỡng, nên hoàn toàn có thể nói rằng, cây cối hay mọi thành phần trong một mạng lưới đều có một thẩm mỹ riêng. Và có hay không lằn ranh đạo đức chia đôi thế giới thành hai đối trọng chúng tachúng, khi con người rốt cuộc cũng là tự nhiên, khi hủy hoại môi trường cũng là đồng thời giết đi chính mình, bởi bất cứ loài sinh vật nào cũng có một thẩm mỹ riêng, một vẻ đẹp riêng, một trí khôn riêng.

Mang con người từ vùng hoang dã và từ quá khứ về lại đời sống đô thị, Haskell phần nào mô tả “nỗi sợ địa lý” của loài Homo sapiens với thế giới tự nhiên. Nếu người da màu sợ hãi khu rừng vì những giá treo cổ có thể ập đến họ bất cứ lúc nào như bài ca Strange Fruit của Billie Holiday, phụ nữ thì sợ tiến trình ‘cô bé quàng khăn đỏ’ khi phải nương nhờ một sức mạnh nào đó, tránh khỏi bắt bớ, hãm hiếp hay lợi dụng. Người da trắng cũng chẳng tốt hơn, khi nếu dừng lại quá lâu trên một vỉa hè cũng là vi hiến hoặc phạm pháp. Giữa đời sống thành thị mà con người bị gò bó như thế, tự nhiên và sự mất mát bản sắc đa dạng đang tỉ lệ thuận với sự đồng hóa. Những loài thực vật ngoại lai như Lê Callery đang bị lên án bởi những đặc tính của mình. Nhưng nhờ có hơn 5 triệu cây xanh ở riêng New York mà nó đã giảm thiểu 2 ngàn tấn chất ô nhiễm không khí và xử lý gần hơn 40 ngàn tấn CO2.

Cây cối đã đứng đó như một hiện thân từ trong lịch sử. Những cây olive ở xứ Tiểu Á vừa là ngọn nguồn vừa là phế tích cho những kì địa chất đã qua. Những trầm tích từ phấn hoa bay qua Biển Chết báo hiệu một lịch sử dài của chính loài người. Từ cổ chí kim khi qua những kiến tạo địa chất cho đến nhân tạo hơn, trong cuộc chiến giữa Palestine và Israel hay quả bom nguyên tử biến Hiroshima thành bãi chiến địa; thì cây cối vẫn vững vàng, đứng đó, và ghi lại âm thầm trong mình một khúc hát riêng. Tường tận, bao quát mà đầy trữ tình; Khúc hát của cây là một tác phẩm lớn làm nên cuộc cách mạng về nhân tính, về sợi dây kết nối và hơn hết là vẻ đẹp của tự nhiên, để đặt ngang hàng với những tuyệt tác của Thoreau, Rachel Carson hay Aldo Leopold.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Cafe sáng