Phía sau trang sách

Biên sử nước: Tới thời thoát thai

Published

on

Chẳng cách nào đóng lại được cơn hồng thủy đã mở – Biên sử nước

Không thể dừng lại được. Tiếng nước trầm trầm miên man. Lạnh lùng và bí ẩn – Thoạt kỳ thủy

Văn chương đương đại Việt Nam những năm gần đây có thể nói không nhiều đột phá. Từ những thế hệ tinh hoa cũ như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Huy Thiệp, Châu Diên, Dương Hướng; thế hệ cải tiến và tiếp nối sau này ngoài Nguyễn Bình Phương, Phan Triều Hải, Tạ Duy Anh và một số nhà văn gốc Việt bên kia bán cầu thì có thể nói là khá ảm đạm. Nguyễn Ngọc Tư từ lâu góp mặt vào văn đàn với tư cách một tiếng nói miền Tây, người phổ quát cái mùi phèn phèn chua chua của sông nước, phù sa thành ra bán chạy; người trở thành bảo chứng cho hàng ngàn bản in được ra mắt mà ngoài Nguyễn Nhật Ánh, chắc không ai khác ngoài chị làm được. Thế nhưng thế giới văn chương của Nguyễn Ngọc Tư, ngoài cái mặn mòi chua xót cho phận đàn bà, ngoài cái không khí miền Tây phóng khoáng mà cù bất cù bơ, thì còn gì khác? Đôi khi ta thấy, chị lặp lại bản thân mình trong cái vùng đất cũng nhỏ bé chỉ như một chấm trên bản đồ. Với Biên sử nước, ít nhiều chị đã thay đổi. Vẫn bối cảnh ấy, vẫn câu chuyện ấy – nhưng cách tiếp cận đã khác hơn, đã sâu sát hơn và dấn thân hơn.

Những địa ngục song song

Cái tên Biên sử nước dễ gợi nên thứ gì đó dài đằng đẵng mà hào nhoáng tự trong chính bản thân nó, dù nghịch lý ở chỗ tiểu thuyết này chỉ dài đúng 125 trang về mặt ngoại vi. Điều này dễ hiểu, dễ cảm mà cũng không bất ngờ, vì hầu hết tiểu thuyết, truyện ngắn cũng như tản văn trước đó của chị – tất cả đều khinh thị độ dài. Dường như chị đương trở thành nhân vật của chính mình, biến hóa thành kẻ ăn chữ, ăn hết những gì thừa thãi, không cần thiết. Với độ dài và cái tên ấy, nó liền gợi nhớ một tác phẩm khác của Nguyễn Bình Phương – Thoạt kỳ thủy – khi cũng tương tự những mặt ngoại vi đó. Nếu Nguyễn Ngọc Tư làm nên không khí miền Tây hòa trộn bằng văn xuôi, câu văn tuy dài nhưng không thừa thãi mà ướp kĩ bằng nỗi xót xa đồng cảm cho phận đàn bà; thì Nguyễn Bình Phương biến hóa khôn lường với lối song tấu khi hình thức là văn xuôi nhưng nhịp điệu thực chất là thơ. Thoạt kỳ thủy là một tiểu thuyết, cũng là bài trường thơ với những câu ngắn, gọn, sắc, gấp gáp, thôi thúc mà đầy gợi hình. Hai người, hai cá tính, hai cách thể hiện; thế nhưng không gian của Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Ngọc Tư dường như đã gặp và giao hòa nhau, chuếch choáng giữa một thế giới nội tâm và những hiển hình bên ngoài. Dù sâu dù nông, ít ra cả hai là một bàn tiệc đầy ắp vặn xoắn tinh thần, một phút nhìn lại, một phút ngó ngang.

Về mặt không gian, cả Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Bình Phương đều an toàn trong khoảng không thường thấy của mình. Nếu Nguyễn Bình Phương trải suốt các tiểu thuyết từ Những đứa trẻ chết già, Kể xong rồi đi cho đến Thoạt kỳ thủy là vùng Thái Nguyên với làng quê Bắc Bộ nhợt nhạt mà sôi âm ỉ lùng bùng; thì Nguyễn Ngọc Tư vẫn cù lao, sông rạch, bùn đất, sông con tẻ ra nhiều nhánh. Thế nhưng về mặt ngoại vi, đó dường như chỉ là bao tải chứa đựng nhân vật, cung cấp điểm nhìn cho độc giả dễ bề cảm nhận. Nhìn sâu một chút, đó còn là những điều khác. Linh Sơn, núi Hột hoàn toàn có thật ở đất Thái Nguyên; còn Cù lao Lẻ, còn vùng Yên Xuyên chỉ là hư cấu. Thế nhưng thật hay không, cả hai tác giả đều dựng nên đằng sau một phông nền hoàn chỉnh khác nhau cho sự cảm nhận.

Nếu Nguyễn Bình Phương viết về lãnh địa của nghề đập đá, mổ heo, giết lợn – nơi người bình thường và đám người điên sống cùng với nhau, thì Nguyễn Ngọc Tư mơ hồ và nhạt phai hơn về một nơi không có gió. Juan Rulfo đã khởi đầu Pedro Páramo bằng nơi không có gió, nơi nóng ngột ngạt và đi xuống mãi, thì cũng tương tự, Nguyễn Ngọc Tư và vùng đất của mình cùng chung đặc điểm như thế. Ở cái cù lao trống hoác, khó mà nhận biết có thứ như gió tồn tại. Không có tấm tôn sứt đinh để giật giũ từng chặp, không có quần áo phơi trên sào cho gió thao túng, không ngọn cỏ nào ngã rạp […] Không gió mà nghe lạnh, trời kín bưng. Có thể độc giả chỉ mơ hồ tưởng tượng về vùng cù lao vô danh – nơi mọi chi tiết nếu có trùng hợp chỉ là vô tình; thì cũng rất có thể, nó là một không gian thực, nhiều hơn hai chiều, mà một chiều trong đó là chiều các nhân vật này đã đi xuống mãi, xuống mãi để rồi bặt tích.

Những nhân vật trong cả hai tiểu thuyết đều mang trong mình những ám ảnh nhất định đối với cuộc sống. Nếu Nguyễn Ngọc Tư cho rất nhiều Phúc bồng bế con theo tìm đường hành hương về với Đức Ngài, thì với Nguyễn Bình Phương là cái ngột ngạt, tù túng, kìm nén, sục sôi của những nỗi niềm không được bày tỏ. Hành trình ôm con chạy đi chữa bệnh, quãng đường chạy trốn khỏi những ác tâm… tất cả tụ về nơi cù lao lẻ. Tính sông nước, bùn đất của Biên sử nước phá tan cái không khí ngột ngạt tương đồng của Nguyễn Bình Phương, mà có thể nói, không gian của Biên sử nước là một địa ngục miền Tây – nơi đó có sông, có nước, có mùi; khác xa với những địa ngục của Rulfo hay Nguyễn Bình Phương chỉ lửa, chỉ trăng và cái nóng ngột ngạt.

Những thân phận kìm nén

Những người đàn bà của cả hai tiểu thuyết đều kìm nén trong mình một nỗi tự do mong muốn giải thoát. Trong Thoạt kỳ thủy, những tình cảnh này thông qua bạo lực, dục tính, điên cuồng; còn với Biên sử nước điều đó nhẹ nhàng hơn, bình dị hơn mà cũng Tây phương hơn, như hình ảnh Đức mẹ sầu bi ôm thi hài Chúa. Ở đây, Nguyễn Ngọc Tư tạo ra một thế đối ngẫu đối với người đọc về mặt động cơ của cuộc chạy trốn. Rốt cuộc rồi thì, mục đích của việc chạy trốn là vì đứa con hay chính người mẹ? Chị Tùy theo Viễn để quên khóa nước, chị Cẩm và sự thờ ơ ghét bỏ của người sống chung, cô Phúc nhà ở trại mộc vì sự nhẫn tâm, chị Phúc phóng viên vì cuộc điều tra để rồi trở thành một người đàn bà đến với Đức Ngài. Đứng bên bến đò nhìn qua cái cù lao đang thoi thóp, giày lem bụi, ẵm con búp bê không biết của ai. Tôi người Yên Xuyên, tên Phúc.

Lần giở những lần tụ hội về cùng Đức Ngài của những cô Phúc, điều trở thành động cơ sau này của các chị gái đều là cấm đoán hay nỗi buông xuôi phó mặt cho đời. Trong nguồn cơn của cơn khởi thủy, chị Tùy sau khi chạy trốn đã nhận ra rằng Thứ hạnh phúc khiến người ta điên tiết. Chẳng người đàn bà nào thích ai đó hạnh phúc hơn mình. Không những đàn bà, mà cả đàn ông và cả loài người. Những người đàn bà của miền sông nước chạy đến để xin móng tay, buồng phổi, đôi mắt, cỏ cây, đất cát thuộc về Đức Ngài nhằm muốn thoát xác, trở thành những con bướm xinh tung tăng cả đời như chính chị Thu; nhưng họ cũng không thể ngờ, chính Đức Ngài và bản thể ấy cũng là dối lừa, là mất tự do, là ngọn lửa thù bởi Báo dành cho Cô Long. Đến cuối rồi thì, chẳng ai hạnh phúc, chẳng ai được gì; bởi toàn dối lừa, bởi toàn trêu ngươi và cơn hồng thủy một khi đã mở thì chẳng dừng lại được.

Trong Thoạt kỳ thủy, Nguyễn Bình Phương xây dựng nên nhân vật Tính với phong cách vô cùng kỳ lạ. Có những nhận định bảo Tính mắc chứng tâm thần nặng. Thế nhưng hãy nhìn xa hơn và thật bao quát, liệu Tính có đang bị điên trong cơn thảm sát đầy những ám ảnh? Theo tôi, thật ra Tính tỉnh hơn rất nhiều người, và anh chủ tâm chọn lựa cuộc sống trong vùng từ trường ấy. Chẳng kẻ tâm thần nào thơ mộng đến độ nhận thức được trăng, được máu, được rắn như chính y cả. Cả một xã hội bao quanh cậu Tính được Nguyễn Bình Phương tạo ra đều sống ức chế, không vì cái này, cũng vì cái khác. Trong đấy ít ra lũ điên, Tính và Hưng là tự do nhất, là thỏa mãn nhất. Cũng như Nguyễn Ngọc Tư vậy. Rốt cuộc đến cuối, những người đàn bà không căn cước lại sống đúng nhất và sung sướng nhất. Không kể chị Khùng, cô Phúc mắt bò không còn gắn chặt cửa hàng tiện lợi, chị Phúc thợ mộc không còn căm ghét chịu sự nhẫn tâm, cô Phúc phóng viên không còn thấy cha nhanh nhảu xả tang đến với vợ khác, cô Phúc mà cái bóng chỉ đẻ ra bóng, chỉ có ăn tim người mới đẻ ra người ai biết đẻ bóng hay người? Đó dường như là sự giải thoát.

Những hình tượng chính

Về phong cách viết – như đã nói trên, Nguyễn Bình Phương viết ngắn, gọn, mạch nhanh. Tưởng chừng lời văn trở thành lời thơ, vì nó vừa đủ, không dư, không thiếu, có vận động ngầm, ẩn dụ, hình tượng. Giữa những u mê tưởng chừng không kết thúc ấy, ít nhiều nỗi đau chiến tranh lần lượt hiện lên. Chi tiết Hưng mang gà gô về thờ cúng mẹ hay thằng điên chia đường phèn cho Tính, tất cả cho thấy rốt cuộc dở dở ương ương không đến mức tệ. Hình ảnh ở đây đạt được mức độ ám ảnh, thế nhưng dễ hình dung, liên kết và tưởng tượng – máu tây máu ta, máu anh máu chú, máu người máu vật cuối cùng rồi thì cũng là máu thôi – máu chiến tranh, máu ngục tù, máu đè nén, máu chia xa. Cũng cái máu vô hình ấy, Nguyễn Ngọc Tư thu lại như cơn mưa tới, tống vào đường ống, xả tràn không thôi từ chính xô nước đầy ngập xà phòng, mà chỉ ai vặn mới có thể tắt, trước khi con tàu vờn tới chỉ chờ thả khói. Chị Tùy cũng như anh Tính, không ai muốn quay đầu lại. Chị biết, anh biết những gì xảy ra nhưng rồi bất lực cuốn phăng mọi thứ. Một thế giới mới, một ngọn lửa tham, một vùng biển nước – xóa trắng, thành hình và tái sinh.

Hình tượng con cú bị thương quắp đi con rắn mơ hồ là dòng sông quê trong Thoạt kỳ thủy như kéo biển nước từ dòng sông máu phủ lên tất cả. Con cú bị thương ở ngay ngực ấy được nước nuôi dưỡng, cũng như con tim Đức Ngài đã bị cắm phặp xuống dưới đáy bùn sình. Nước bao quát, phủ khắp trang văn của Nguyễn Ngọc Tư, nước đến cuối xuất hiện để rồi vỡ oà dưới những móng vuốt của loài cú đêm trong Nguyễn Bình Phương đều là khởi thủy làm lại từ đầu. Cả hai tác giả đã mượn chính cơn hồng thủy tuôn trào kéo tới xóa đi cái ngột ngạt tự do, xóa đi kìm hãm tột cùng ẩn sâu để đến một thế giới mới, thanh tẩy, xóa trắng và làm lại. Chẳng cách nào đóng lại được cơn hồng thủy đã mở. Không thể dừng lại được. Tiếng nước trầm trầm miên man. Lạnh lùng và bí ẩn. Mắt chó vàng như trăng.

*

Khép lại cả hai cuốn sách, Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến được một góc nhìn khác cho văn chương đương đại Việt Nam của những ngày này. Nguyễn Bình Phương vẫn thế, đứng đó chứng tỏ vị thế của mình với lối viết đẹp, phong cách mới lạ mà đầy thách thức. Không gian của Nguyễn Bình Phương luôn là ranh giới giữa mơ và thực để rồi vỡ toang trong cơn ám ảnh của những kìm nén đến thời ào ra. Và với Biên sử nước, Nguyễn Ngọc Tư cũng dấn thân vào đó, viết như mơ, như trôi; về con nước cuốn phăng làm lại từ đầu.

Hai cuộc giải phóng, hai cuộc thoát thai; với Biên sử nước và Thoạt kỳ thủy, một Nguyễn Bình Phương luôn được công nhận, và một Nguyễn Ngọc Tư trên con đường mới, tìm ra hướng đi cho văn chương mình. Thoạt kỳ thủy đậm đặc, Biên sử nước pha loãng; nhưng đều quan trọng và ghi dấu mình. Rất xứng đáng.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát


Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng