Phía sau trang sách

Bạn đã đọc Don Quixote chưa?

Published

on

Đối với độc giả Tây phương, một câu hỏi như vậy có thể làm họ bực mình. Nhưng số phận của Cervantes cũng giống như của Homer, Dante, hoặc Goethe: họ vừa nổi tiếng vừa bị lãng quên, như thể hào quang của tác phẩm làm cho độc giả (phải) bỏ chạy!

Đi trước Tartarin de Tarascon của Alphonse Daudet, Don Quixote đã từng võ trang đến tận răng để chiến đấu với mấy con sư tử… ở trong chuồng. Cũng may sư tử không thèm chấp nhặt mấy trò trẻ con; khi cửa chuồng mở ra, con vật hào hoa phong nhã, được “ăn học” đàng hoàng (“le noble animal, fort bien élevé”) nhìn ngang nhìn dọc rồi quay mông về phía Don Quixote, tiếp tục dỗ giấc ngủ trưa của nó. Và Don Quixote đáng yêu của chúng ta quay qua người hầu Sancho: Tới Madrid, nếu Đức Vua có hỏi tên ta, mi hãy nói, ta là Hiệp Sĩ Sư Tử, không còn là Hiệp Sĩ Mặt Buồn nữa.

Tạp chí Văn Học Pháp số tháng Mười năm 1997 đặc biệt viết về “Cervantes: Don Quixote hay là sự phát minh tiểu thuyết hiện đại”. Có Carlos Fuentès, một nhà văn lão thành người Mexico, với bài viết: “Cervantès hay là phê bình việc đọc (sách)”. Liên hệ giữa tác giả và đất nước Tây Ban Nha là đầy trăn trở, xung đột: “Họ là kẻ khác, của chính chúng tôi. Tây-ban-nha, mặt trời và bóng đêm, nửa yêu thương nửa hận thù. Gọi một tên thôi: Đam mê”. Trả lời câu hỏi: liệu Don Quixote chết cô đơn? Ông nói: Marthe Robert đã đưa ra câu trả lời chung quyết: Don Quixote chết ngay khi anh ta trở thành có lý, nhưng cuốn sách của anh ta không chết, nó tiếp tục sống, như một bảng chỉ dẫn, tham khảo về những điều khả thể. Lần đầu tiên trong lịch sử văn chương, một nhân vật biết (rằng) người ta đang viết (về anh) cùng lúc anh sống những cuộc phiêu lưu giả tưởng. Đây là một nạn nhân kép: Don Quixote mất lý trí, không phải một, mà tới hai lần; lần đầu, khi anh ta đọc, lần thứ nhì, bị đọc.

Tranh minh họa được thực hiện bởi Gustave Doré, 1863 Paris Hachette edition.

Juan Benet, một tác giả khác, trong cùng số báo cho rằng, Cervantes quyết định tự ban cho mình một huyền thoại riêng, không vay ai, không mượn lịch sử, truyền thuyết, tôn giáo, huyền thoại học… Nói ngắn gọn, ông phát minh ra cái gọi là: phát minh văn chương.

“Sự bắt chước Đức Ông Don Quixote của chúng ta” là nhan đề bài viết của Simon Leys trên tờ The New York Review số đề ngày 11 tháng Sáu 1998. Theo ông, qua những cuộc tranh luận này nọ, từ “quixotic” gần như có nghĩa một sự sỉ nhục, và điều này khiến ông ngỡ ngàng. Cung cách mọi người khi nhắc tới Don Quixote làm cho bạn tự hỏi, không hiểu người đó đã (thực sự) đọc tác phẩm hay chưa. Thật cũng thú vị, nếu có ai đó bỏ công tìm hiểu, liệu Don Quixote có được đọc một cách đại trà, đúng như tính bình dân của nhân vật này không. Nhưng chớ đụng đến những con người có học, bởi vì theo họ, có một số tác phẩm mọi người (phải) đọc – đây là một bổn phận, do bắt buộc của tri thức. Còn Leys thú nhận ông chỉ đọc vì thích thú.

Theo ông, người ta thường có cảm tưởng những nhà phê bình thực sự không thích văn chương: họ không “tận hưởng” (hưởng thụ, thưởng thức) cái thú đọc sách. Tệ hơn nữa, họ thường tỏ ra nghi ngờ, nếu không muốn nói là dè bỉu, những cuốn ăn khách. Dưới mắt họ, cái gì vui, gây cười thường không quan trọng hoặc không nghiêm túc. Buồn một nỗi, thái độ của họ đã tiêm nhiễm vào chúng ta một cách vô thức, đưa đến hậu quả: chúng ta quên đi rằng, cho tới nay, những đại tác phẩm đều được viết ra cho đại chúng và để mua vui cho họ: từ Rabelais, Shakespeare và Molière của thời cổ điển tới những tiểu thuyết gia khổng lồ thế kỷ 19 – Balzac, Dumas, Hugo, Dickens, Thackeray – quan tâm chính của những nhà sáng tạo văn chương không phải là để được sự chấp nhận của giới kinh viện, của những chuyên viên thưởng ngoạn (một việc làm tưởng khó tuy dễ), mà là để sờ mó tới người ngoài phố, làm cho anh ta cuời, khóc, và đây là một nhiệm vụ khó khăn vô cùng. Nhìn theo cách đó, Don Quixote đã đạt tới mức tối hảo của thể loại văn chương cổ điển: viết cho nhiều người đọc, càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Và nếu thu được lợi nhuận thì càng nhiều bao nhiêu, càng vui bấy nhiêu!

Tranh minh họa được thực hiện bởi Gustave Doré, 1863 Paris Hachette edition.

Bản thân Cervantes chẳng có gì làm người đọc liên tưởng tới những nhà sáng tạo đại tác phẩm. Nguyên là một anh lính quèn, bị thương và trở thành đồ bỏ; bị hải tặc tóm, đem bán làm nô lệ ở Bắc Phi, cuối cùng lê về được cố hương Tây Ban Nha, chắc chắn chỉ để chết trong nghèo khổ. Đã từng nếm mùi nhà tù vài lần, đời ông đúng là một cuộc tranh đấu để sinh tồn. Đã từng vài phen viết lách để kiếm ăn, nhưng không thành công: nào kịch, tiểu thuyết đồng quê, hầu hết đã mất dạng, chút còn lại cũng chẳng ghê gớm gì. Chỉ đến gần chót đời, khi đã 59 tuổi, với Don Quixote xuất hiện vào năm 1605, ông mới vớ trúng mỏ vàng: liền lập tức, cuốn sách là một best-seller. Tác giả của nó chết một năm sau khi phần nhì, và cũng là phần cuối của cuốn sách được xuất bản (1615).

Tìm hiểu động cơ khêu gợi trí tưởng tượng của Cervantes, chúng ta ngỡ ngàng: ông đã coi cuốn sách như bộ máy chiến tranh (“une machine de guerre”) nhằm chống lại nền văn chương hiệp sĩ, vốn thời thượng lúc đó, và đã dồn hết cả sức lực vào mục tiêu này. Như chúng ta biết, toàn thể cấu trúc của cuốn sách thật giản dị và được đề ra ở ngay vài trang đầu trong Chương Một; hàng ngàn trang tiếp theo chỉ lặp đi lặp lại những ứng dụng của nó vào trong những tình huống khác biệt. Hàng trăm biến điệu (variations), cũng một đề tài. Don Quixote, một trưởng giả nhà quê, tốt tính, khôn ngoan, có học, có ít tiền, nhưng thừa thì giờ, cho nên đã mắc nghiền văn chương hiệp sĩ lang thang, như lời ông nói: “Ông ta chẳng việc gì để làm, đành chúi mũi vào văn chương hiệp sĩ lang thang, nó làm ông say mê, quên cả việc săn bắn, chăm sóc nhà cửa, đến nỗi cứ bán dần cơ ngơi để mua sách… (cuối cùng) chết đắm chết đuối trong mớ sách vở, đọc đêm quên ăn, ngày quên ngủ, não bộ khô kiệt, mất luôn sự hiểu biết, túi khôn..  Rồi ông quyết định biến chính mình thành một hiệp sĩ lang thang, quên một điều, thời đại hiệp sĩ lang thang đã qua từ lâu rồi. Sau cùng, ông thức giấc từ cơn mộng, khám phá ra rằng, tất cả những cuộc phiêu lưu tận cùng bằng thất bại, chúng biến ông thành nạn nhân của sự độc ác; điều ông săn đuổi như một chủ nghĩa anh hùng phi lý thật sự chỉ là ảo mộng! Khám phá sau cùng là tận cùng của thất bại: ông chết vì vỡ tim”.

Cái chết của Don Quixote ở trang cuối là tuyệt đỉnh của không khí toàn câu chuyện. Đố bạn đọc đến đây mà không rớt nước mắt. Điều làm Leys ngạc nhiên là, một tác phẩm lớn lao như thế, tại sao lại bắt nguồn từ một thông điệp chật hẹp như vậy: viết chỉ để chống lại thứ văn chương kiếm hiệp ba xu, rẻ tiền? Và Leys nhớ đến câu chuyện về Hemingway, khi trả lời một ký giả về những thông điệp trong tác phẩm của ông: Chẳng có thông điệp nào ở trong đó. Khi cần gửi thông điệp, tôi tới Bưu Điện.

Sẽ có người bực mình thốt lên: Sao? Không có thông điệp trong những tác phẩm lớn của văn chương thế giới? Lẽ dĩ nhiên, nhiều nhà văn, thi sĩ nghĩ rằng, họ có những thông điệp để truyền đi, nhưng thường thường, sau cùng họ đều nhận ra: những thông điệp như thế chẳng quan trọng chi, như thoạt đầu họ nghĩ. Hầu hết những độc giả bây giờ chẳng thèm để ý đến thần học thời Trung Cổ khi say mê Dante. Và đây là lời khuyên của D. H. Lawrence: Đừng bao giờ tin tưởng các văn sĩ. Hãy tin câu chuyện kể. Chức năng chính hiệu của một phê bình gia, đó là cứu vớt câu chuyện ra khỏi văn sĩ – kẻ tạo ra nó.

Một trong những phê bình gia bị dội khi đọc Cervantes đó là Nabokov. Thoạt đầu, khi phải soạn giáo án, ông tính dựa vào hồi ức khi còn trẻ, ông rất mê cuốn sách. Nhưng ông thấy cần phải trở lại với bản văn. Và ông hết sức phẫn nộ về những sự độc ác, tàn nhẫn, dã man của cách kể chuyện. Ông so sánh sự độc ác dã man với sự sỉ nhục Christ, với những trò tra tấn bách hại của những mật vụ nhà thờ người Tây Ban Nha (Spanish Inquisition) với trò đấu bò hiện đại. Ông tỏ vẻ hết sức thích thú khi kể tội Cervantes, làm thịt cuốn sách trước thính giả là những sinh viên của ông; khiến đồng nghiệp bực mình và cảnh cáo: Harvard nghĩ khác. Vài năm sau, ông xin chân giảng dạy tại đây và bị bác đơn, ông cảm thấy thật cay đắng, chua chát vì cái tát gió này. Chắc còn nhiều nguyên nhân, nhưng không thể loại trừ thái độ của ông đối với Cervantes. Trong những nghiên cứu của ông về tác phẩm, có một sự thật thú vị: Nabokov chứng minh rằng, giải pháp cho từng cuộc phiêu lưu của Don Quixote, là gần như không thể tiên đoán được; ông còn so sánh những cú làm bàn và bị ghi bàn – những chiến thắng và thất bại của Don Quixote – với trò chơi quần vợt, thật nghẹt thở: 6-3, 3-6, 6-4, 5-7. Nhưng ván chót chẳng bao giờ xẩy ra: Cái chết đã xóa sạch tất cả.

Sự ghê tởm đã khiến ông nghỉ chơi với cuốn sách trong suốt thời gian dạy đại học Cornell: ông không dám đề cập tới nó nữa. Nhưng thái độ thù nghịch này, thực ra là do sự ngưỡng mộ đối với nhân vật của Cervantes, như đoạn cảm động sau đây: [Don Quixote] đã rong ruổi 350 năm xuyên qua những rừng rậm, những hoang địa khô cằn, là tư tưởng nhân loại; và anh ta đã có được sự sống động và phong thái. Chúng ta đừng cười anh ta nữa. Huy hiệu của anh ta, đáng thương, lá cờ của anh, đẹp. Anh ta là hiện thân của tất cả những gì dịu dàng, trinh nguyên, không một chút vị kỷ, và tính nịnh đầm.

Theo Kundera, Nabokov đã đưa ra một nhận định tiêu cực, đầy tính gây hấn về Don Quixote: quá lố, ngây ngô, lặp đi lặp lại, đầy những sự độc ác không thể chịu nổi, không thể tin được; cuốn sách cay đắng, chua chát, dã man nhất cho tới nay đã được viết ra. Nhưng chúng ta không ở trong thế giới của Zola, khi một hành động độc ác nào đó, được miêu tả thật tỉ mỉ, trở thành một tài liệu chính xác của thực tại xã hội.  Don Quixote bị chèn ép, trở nên không thể hiểu được, khi đụng phải tinh thần Zola, hoặc Mỹ học Lãng mạn, vốn đòi hỏi sự xác tín.

Trong những tác giả tắm đẫm văn hóa Tây Ban Nha là nhà văn Pháp Henry de Montherlant; ông sống ở đó, rành rẽ ngôn ngữ Tây Ban Nha, và đã từng học nghề đấu bò. Ông đọc đi đọc lại nguyên tác bốn lần, và rất khó chịu vì sự thô bỉ của Cervantes, khi ông đụng tới một nhân vật cao cả, kiểu thánh nữ của tiểu thuyết lãng mạn.  Ngoài ra theo ông, cuốn truyện quá dài, nhiều câu chuyện diễu vô vị và độc ác. Phản ứng của ông tương tự như của Nabokov, và điều ông bực nhất, đó là Cervantes chẳng hề đưa ra một lời cảm thông nào cho nhân vật, cũng chẳng hề kết tội về những trò độc ác nhắm vào anh. Nhưng đây chính là nghệ thuật của Cervantes: Những điều chỉ trích ông chính là sức mạnh nghệ thuật của ông: sự bí mật của cái điều giống như chính cuộc đời: Ai trong số chúng ta dám tin rằng cuộc đời vốn thiện vốn mỹ, vốn không hề có sự độc ác? Chúng ta càng thù tác giả bao nhiêu, chúng ta càng tin vào thực tại thế giới của ông, và những nhân vật ông tạo ra.

“Ông chủ hãy coi kìa,” Sancho nhắc đi nhắc lại, “những vật trông giống như những người khổng lồ ở dưới kia thực sự không phải là những người khổng lồ, nhưng mà là những cối xay gió.” Nhưng ông chủ của anh không nhìn: Don Quichotte đọc, và cái đọc của anh nói rằng, đây là những người khổng lồ. Cuốn sách đưa ra một vấn nạn về tác phẩm lớn: lớn là lớn với đời sống, hay với những cuốn sách?

Tranh minh họa được thực hiện bởi Gustave Doré, The Project Gutenberg EBook.

*

Trong những ngụ ngôn về Quixote, có một của Jorge Luis Borges: “Một Bài Toán”. Sau đây là tóm tắt:

Chúng ta hãy tưởng tượng, người ta tìm thấy ở Toledo một bản văn bằng tiếng Arabic, được coi như thủ bản của Cide Hamete Benengeli, tác phẩm của Cervantes đã thoát thai từ đó. Qua bản văn chúng ta đọc thấy vị anh hùng (vốn nổi tiếng, đã lang thang khắp xứ Tây Ban Nha, trang bị với cây gươm và ngọn giáo, gặp ai cũng thách đấu, chẳng cần lý do gì hết), vị anh hùng khám phá ra rằng, sau một trong những cuộc chiến đấu như thế, anh ta đã giết chết một người. Tới đây bản văn đứt đoạn, và bài toán đặt ra là: hãy thử đoán coi Don Quixote xử sự ra sao?

Theo như tôi được biết, có thể có ba câu trả lời. Câu đầu có tính tiêu cực, nghĩa là, chẳng xảy ra chuyện gì hết, bởi vì trong thế giới hoang tưởng của Don Quixote, cái chết cũng tầm phào như chuyện huyền hoặc, và sự kiện giết chết một người chẳng làm phiền cá nhân đang chiến đấu, hoặc tin rằng anh ta đang chiến đấu, với những quái vật huyền hoặc, và với đám phù thuỷ. Câu trả lời thứ nhì thuộc về bệnh lý.

Don Quixote không hề bao giờ quên một điều, anh ta chỉ là phóng bản của Alonso Quijano, độc giả của những chuyện huyền hoặc; sự kiện nhìn thấy cái chết, hiểu rằng giấc mơ đã đẩy anh ta tới tội ác của Cain, điều này đã đánh thức anh ta, có lẽ hoài hoài, ra khỏi cơn điên khùng.

Câu trả lời thứ ba có lý hơn cả. Một khi người đàn ông chết, Don Quixote không thể cho rằng hành động giết người ghê tởm chỉ là sản phẩm của cơn điên rồ… thế là Don Quixote không làm sao ra khỏi cơn điên của anh.


Câu trả lời chót lại đẩy chúng ta trở về điểm xuất phát: thế nào là tác phẩm lớn? Lớn là lớn với văn chương, hay với cuộc đời?


Hết.

Nguyễn Quốc Trụ

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Always Day One – Cái nhìn trực diện về “thành công”

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox… biến mất?

Published

on

By

always day one - cong thuc thanh cong cua amazon, Facebook, Google, Microsoft

“Bạn không ngừng cố gắng làm cho mình bị thất nghiệp. Bạn không nên làm một việc gì đó lặp đi lặp lại, hết ngày này qua ngày khác. Một khi bạn làm một việc như vậy thì bạn cần tìm cách để sáng tạo và đơn giản hóa việc đó.” - Lời khuyên Bezos dành cho nhân viên của mình, cũng như là mục tiêu mà ông hướng tới. Những “ngày đầu tiên” mà sáng tạo luôn được đặt lên hàng đầu.

Những cái tên thân thuộc như Yahoo!, Internet Explorer, Firefox,... ắt hẳn không có gì xa lạ với các thế hệ 8x, 9x. Những tiện ích trên đều là kỉ niệm và người đồng hành tuyệt vời của chúng ta. 

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chúng ta ít khi nào bắt gặp những cái tên ấy nữa. Thay vào đó, mọi người luôn tất bật với Facebook, học hỏi nhiều điều mới mẻ với Google hay mua sắm mọi thứ với Amazon. Liệu trong tương lai chúng ta có thể nhìn thấy những cái tên khác không? Hay liệu những “gã khổng lồ công nghệ” này sẽ thống trị nền công nghệ của thế giới mãi mãi? 

Để có một góc nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của thế giới công nghệ, hãy cùng lắng nghe câu chuyện được tác giả Alex Kantrowitz kể thông qua quyển Always Day One.

Xây dựng một nền văn hóa thành công

Kantrowitz đề cao văn hóa làm việc. Các tổ chức, công ty, hay doanh nghiệp giống như những xã hội thu nhỏ vậy. Việc doanh nghiệp đó có tỏa sáng và đứng vững hay không phụ thuộc rất nhiều vào phương cách lãnh đạo và sự tương tác lẫn nhau giữa những “công dân” trong doanh nghiệp ấy. Vậy tại sao văn hóa tại nơi làm việc lại đóng vai trò quan trọng?

Trước tiên hãy nhìn vào nền văn hóa hoàn thiện của Apple. Trong khi các doanh nghiệp đang từng bước thích nghi với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và áp dụng chúng vào hệ thống của mình, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác thì Apple vẫn đang tập trung hoàn thiện hai sản phẩm của mình là iPhone và Mac PC. Tuy nhiên, việc sở hữu một chiếc iPhone mới nhất bây giờ không mấy quan trọng nữa, như nhiều người nhận xét: “Tôi thấy iPhone 8 là đủ rồi.” Chúng ta có nhiều sự lựa chọn thay thế với giá cả hợp lý mà vẫn đáp ứng được những tiện ích cơ bản. 

Tại Apple, việc phát triển sản phẩm diễn ra trong bí mật. Nhân viên ở bộ phận này sẽ không biết được quá trình hay kế hoạch làm việc của bộ phận khác. Phương cách làm việc này là một con dao hai lưỡi, từng giúp Apple tỏa sáng một thời, nhưng giờ đây lại làm Apple đứng trước nguy cơ bị chôn vùi giữa vũ trụ công nghệ ngày càng đa dạng. 

Sự thất vọng từ chiếc HomePod chẳng-khác-gì-Siri-dạng-loa cũng như tương lai không mấy tươi sáng của chiếc ô tô tự lái Apple Car có thể khiến công ty này trượt khỏi đường đua bất cứ lúc nào, nếu Apple cứ khăng khăng giữ vững cách làm việc độc lập và thiếu giao tiếp giữa các bộ phận.

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox... biến mất?
Always Day One - Alex Kantrowitz.

Vậy chúng ta có gì trong nền văn hóa của những gã khổng lồ? Nổi bật nhất có thể kể đến nền văn hóa sáng tạo của Jeff Bezos tại Amazon, nền văn hóa phản hồi của Mark Zuckerberg tại Facebook và nền văn hóa hợp tác của S.Pichai tại Google.

Amazon có những bản đề xuất ý tưởng đến từ nhân viên của tất cả cấp bậc, và những ý tưởng này luôn được lắng nghe và có cơ hội được biến thành hiện thực; tại Facebook, bạn luôn nhận được những phản hồi chân thành, đồng thời, phản hồi của bạn cũng sẽ được nghiêm túc cân nhắc; ở Google, ta dễ dàng thấy được sự liên kết chặt chẽ và tinh thần hợp tác mạnh mẽ. Cụ thể, chúng ta có thể lưu, chia sẻ và chỉnh sửa Google Docs, Spreadsheets hay Slides từ Drive, và Drive sẽ gợi ý khéo léo về những tài liệu mà ta có thể cần. Và Google Assistant sẽ giúp bạn làm những việc này chỉ với giọng nói.    

Tương tự, mỗi gã khổng lồ có một môi trường làm việc khác nhau, một nền văn hóa khác nhau, nhưng đan xen trong ấy, đều thấm đượm tinh thần hợp tác, không ngừng sáng tạo, và tiếp nhận những phản hồi để làm mới mình.

Chú trọng vào tương tác đa chiều, đẩy mạnh hợp tác giữa các bộ phận và các cấp bậc, luôn làm mới mình, để mỗi ngày đều là một “ngày đầu tiên”, chính là vũ khí giúp các công ty lớn đứng vững trên đỉnh cao.

Tương lai xán lạn hay “Ngày tận thế”?

Vậy tương lai phía trước sẽ như thế nào đây? Khi mà công nghệ máy học, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa đang ngày ngày hòa hợp và dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ta? 

Kantrowitz cũng đưa ra nhiều phiên bản “Ngày tận thế” của ông, rằng việc những gã khổng lồ ngày càng nắm giữ nhiều kĩ thuật tiên tiến, rằng sự tập trung quyền lực sẽ bóp nghẹt các doanh nghiệp nhỏ lẻ khác, chi phối kinh tế - xã hội - chính trị; rằng AI sẽ cắt giảm hết việc làm của đa số chúng ta khi mọi thứ đều được đưa vào dây chuyền và tự động hóa; rằng số người vô gia cư sẽ tăng lên, tỷ lệ thuận với số người tự tử,...

Như Tiến sĩ Frankenstein - người chỉ nhận ra sự nguy hiểm của việc tạo nên một thực thể sống nhân tạo khi nhiều người đã phải bỏ mạng, chúng ta chỉ có thể thấy được những nguy hại từ phát minh của mình khi phải trả cái giá thật đắt cho những hậu quả mà nó gây ra.  

Để tương lai đen tối này mãi nằm trong tâm trí của những người hay lo lắng thái quá, chúng ta cần hành động. Cần phải nhìn lại hệ thống giáo dục, khuyến khích sáng tạo cho học sinh từ sớm, đồng thời cũng nên trang bị cho bản thân ta tinh thần hợp tác, phản hồi, và sáng tạo, như cách những gã khổng lồ công nghệ vẫn đang ngự trị trên ngai vàng đã và đang thực hiện. 

*

Dù viễn cảnh phía trước có phần u ám, tác giả vẫn giữ một góc nhìn tích cực về tương lai, như cách mà các CEO đã từng cố gắng ở những Ngày Đầu Tiên, vượt qua bao khó khăn để vươn lên được vị trí đỉnh cao hiện tại. Lo lắng, thất vọng và nếm trải thất bại là điều đương nhiên, quan trọng là chúng ta cần tiếp thu cái mới, thuyết phục bản thân cố gắng và kiên định. Không có một công thức chung nào cho thành công, chúng ta không thể áp dụng một quy trình, một biểu thức hay lý thuyết cụ thể nào để thay đổi chính mình sau một đêm.  

Always Day One không phải là một quyển self-help như ta thường thấy, Kantrowitz đã không “giải mã” công thức thành công theo nghĩa đen, thay vào đó, ông tiếp cận những ngôi sao của các công ty công nghệ ở nhiều khía cạnh khác nhau, ông không ngần ngại nêu lên quan điểm, nhận xét của bản thân về các khuyết điểm mà một số công ty có thể mắc phải. Nói đúng hơn, xuyên suốt quyển sách, Kantrowitz cố đào sâu vào hệ thống, những sự kiện, liên kết giữa những thành tựu và thất bại từ quá khứ với hiện trạng để đưa ra nhận xét và phân tích chúng. 

Chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều nhờ những ví dụ sinh động, nắm bắt và hệ thống được toàn bộ nội dung quyển sách nhờ vào sự sắp xếp khéo léo của ông. Đừng thất vọng vì không nắm được công thức của thành công, hãy bắt lấy mọi cơ hội để mơ ước và hành động, để tiến tới thành công theo cách của chính chúng ta.

“Không ai đánh thuế giấc mơ, nên tôi sẽ nói ‘có’ với bất kỳ cơ hội nào để mơ mộng.”

-Hết-

Như Nguyễn
Ảnh đầu bài: Valerie Niemeyer

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Về Huế: Mải mê với Huế bằng một tấm lòng trân trọng

Published

on

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cuộc đời con người là những hành trình”, có những người sẽ muốn đi đến những nơi thật xa để tìm kiếm và khám phá những vùng đất mới, cũng có những người lại muốn đi thật sâu, tìm và hiểu rõ nơi mình sinh ra và lớn lên.

Chúng ta tìm kiếm những vẻ đẹp tiềm ẩn mà không phải ai sống ở đó cũng dễ dàng nhìn ra; tôi sợ đến cuối đời, khi bản thân đã có tuổi hay không còn đủ sức đi trên đôi chân của mình rồi giật mình nhận ra mình chẳng hiểu gì, biết gì về vùng đất được sinh ra và lớn lên – đất Huế cả. Giữa đợt Covid thứ tư, mọi người hạn chế ra khỏi nhà, có lẽ đọc sách là cách hiệu quả nhất để chúng ta bước lên những chuyến xe du lịch, có thể trở về quá khứ, tìm kiếm những thứ thú vị ở hiện tại, thả hồn mơ mộng cho tương lai…

Tại sao lại là “về Huế?”

Người dân Việt Nam lớn lên cùng những câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa bà và mẹ thường hay kể, nên dường như con người, món ăn, tình cảm, tình yêu cũng có phần đượm màu cổ tích. Trong khu rừng thần thoại của những câu chuyện kể, Huế nhỏ bé, xinh xinh và tinh tế như chiếc hài của cô Tấm.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế, cũng ở mảnh đất Hương Trà - quê hương tác giả Trần Kiêm Đoàn. Đọc Về Huế, tôi thấy Huế thân thuộc như tác giả nói hộ nỗi lòng, giãi bày cảm nhận của mình vậy. Một giọng kể tâm tình của người con xa quê ngày trở về, mười năm trở lại một lần, gặp lại mẹ già, gặp lại Huế thân thương. Rồi tự hỏi, mỗi lần nghĩ đến Huế, chẳng biết con người đang về với Huế hay chính Huế đang từ từ tiến đến ôm người vào lòng. Ai nghĩ đến Huế, ai nhớ nhung ai đâu còn quan trọng nữa, bởi Huế và người đã được gặp lại nhau.

Về Huế là chiếc bánh nhỏ gói cả tâm can, nỗi lòng, sự mộc mạc và quý tộc cùng sự linh thiêng của vùng đất Thần Kinh. Ai đã ở Huế rồi, xa Huế mới thấu, cái sự nhớ nhung ngàn năm khắc khoải, như bóng cây phượng buồn dựa bên sông mà hát mãi câu Nam bằng. Những con người gắn bó vài năm với Huế đã đành, khách du lịch một lần ghé Huế cũng vậy, còn đến như kẻ ly hương ngày trở về thì mừng mừng, tủi tủi, mà nước mắt cứ ứa ra chẳng biết vì răng. Vì răng rứa?

Huế vừa là quê mẹ để nhớ, để về, vừa là chiếc nôi tình cảm trong suốt một đời người. Khi nhiều lần cố quên Huế thì mảnh đất ấy lại hiện hữu dịu dàng một tình mẫu tử đơn phương, rồi có lúc lại bâng khuâng như người tình cũ cười nhẹ nhớ thời dĩ vãng. Nhưng cũng lạ rằng, khi nhớ Huế, Huế lại mơ hồ cái bóng dáng mờ nhân ảnh rất thơ, để rồi mất hút xa xăm lúc nào chẳng hay. Tưởng gần mà xa, tưởng xa mà vẫn ở đâu đó trong tim. Tưởng yêu thương hững hờ mà lại chất nặng tình trên vai.

Tôi tự hỏi, tại sao lại là “Về Huế?” “Dù tôi có vô tận Sài Gòn thì cũng là Ra Huế. Có ra Hà Nội thì rồi cũng Huế. Có về làng với mẹ thì cũng là Qua Huế. Và, có xuống tận Thuận An thì cũng sẽ là Lên Huế mà thôi. Còn với người khách phương xa viễn xứ thì cũng Tới Huế là cùng”. Chúng ta bắt gặp về quê, về nhà, có lẽ vì vậy mà có Về Huế. Về Huế, về với quê hương, về với những bến bờ xưa cũ, với nơi “chôn nhau cắt rốn” dẫu phong ba có lớn, bão tố có mạnh, thì vẫn còn có Huế, có nhà, có mẹ. Chẳng phải đứa con nào cũng thế ư?

Về Huế - một thoáng kí ức ngày xưa

“Huế mà không thơ là thờ ơ với Huế”. Mỗi người sẽ có những cách cảm khác nhau về nét thơ và hồn thơ của Huế, có thể qua thành quách rêu phong, đền đài cổ kính, hay qua cách trang trí, trình bày những món ăn, có khi lại là con người nơi đây, và có khi là cả những điệu hò, câu hát say mê lòng người.

“Trở lại Huế yêu lần theo ân tình câu hát...
Tìm người con gái áo tím mộng mơ.
Sông Hương tấp nập tìm răng được chừ,
Không nguôi kỷ niệm vòng tay học trò”

Huế dịu dàng, Huế trầm tư, Huế cũng thướt tha với tà áo trắng thoáng nhịp Trường Tiền, chiếc nón bài thơ và dòng Hương Giang lững lờ.

Áo trắng ngày xưa thuở tìm em mà không thấy
Mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền nắng lên
Nắng lên từ phía nón em nghiêng qua cầu”.

Sự e ấp, nét duyên của người con gái xứ Huế là một góc khuất người đời ưa khám phá. Trong tiếng “dạ”, tiếng “thưa” và nét duyên như điệu nước dòng Hương, “nước trong, sóng lặng mới soi được bóng con đò”. Rồi cả mối tình với nàng thơ “Thuở tiên Đồng Khánh”, tình yêu chín hườm thuở học trò mùa xuân tuổi mười sáu, “Cô bé nhà dối diện, với mái tóc đen dài, dáng thanh…”. Tình yêu đẹp và buồn như thơ, để sự dang dở ngày gặp lại vươn nét buồn nơi cõi tạm trần ai.

Tôi đã sững sờ và im lặng hồi lâu trong khoảnh khắc tác giả gặp lại “nàng Tiên Đồng Khánh”, nhưng cũng buồn thay, trong một thoáng bất chợt gặp lại quá khứ, chẳng còn là tâm hồn Quốc Học, Đồng Khánh ngày nào, giờ đây những mái đầu muối tiêu nhuộm phai màu phôi pha, con người và thân phận đã có một sự ly phân. Một người sinh ra để làm “một thuở Tiên Đồng Khánh”, một người là mụ Bé bán bánh lá, cái chết, sự tái sinh không biết phải đặt ở đâu trong kiếp luân hồi. Tuổi già nhắc chuyện ngày xưa như muốn mình trẻ lại, lấy hồn nhiên đối mặt với vô thường. Rồi cũng một kiếp người, kỉ niệm cũng chỉ là kỉ niệm.

Ẩm thực Huế - chẳng chốn nào bằng

Nhắc đến Huế mà thiếu đi ẩm thực Huế quả là một thiếu sót lớn không gì bù đắp được. Cái ăn ở Huế thường nổi danh từ những vô danh. Những gánh hàng nhỏ, tạm bợ với tên người bán như bún bò Mụ Rớt, cơm hến Mụ Bòng, bánh chưng Mệ Tóc Bạc… Ngày nay những “Mụ”, “Mệ” được kế thừa bằng thế hệ trẻ hơn nhưng những cái tên ấy đã tạo nên thương hiệu rất Huế.

“Thiên nhiên đã tác dụng một cách kì bí” để tạo nên đủ các loại mắm, không chỉ từ thủy sản mà còn cả nông sản và thổ sản, những thứ mắm “ngon quá trời độ”. Mùa nào mắm đó, từ mắm bình dân đến mắm quý tộc. Vào những ngày mưa, ăn cơm với mắm thì ngon không gì ta nổi, với đủ các cung bậc cảm xúc tả vị ngon, “ngon ngậm mà nghe”, “ngon nhức răng”, “ngon đáo để”, “ngọn dễ sợ” … Đâu chỉ mỗi mắm, Huế còn có Chè Huế với đủ loại, chè từ các loại hạt, chè từ tinh bột các loại củ và cả những thứ chè lạ, độc đáo “chè bột lọc heo quay”, quý tộc nhất là chè sen hồ Tịnh bọc nhãn lồng Thành Nội. Rồi bún bò Huế, cả một biểu hiện văn hóa Huế trong truyền thống nấu ăn “khi cho bò nổi heo chìm, lẫn lộn trong hai tính mâu thuẫn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở’”. “Dân Huế và những người Huế xa quê, có tô cơm hến nằm ở một góc nào đó trong mớ hành trang kí ức”. Cả cơm Hến và cơm Âm Phủ những món ăn bình dị nhưng gói gọn tinh hoa của đất trời.

Có một đặc trưng của những món ăn ở Huế rằng, các món ăn, từ chè, cơm hến, bún hến hay bún bò, đến các loại bánh: bèo, nậm, lọc… tất cả đều be bé, xinh xinh. Ăn để thưởng thức cái hương, cái hoa là chính chứ chẳng phải ăn no, ăn ngán. Cách trang trí cung đình, lối sống cung đình vẫn còn tàn dư trong ẩm thực. Vậy đấy, đôi khi, trong ẩm thực gói ghém nhiều thứ, ẩm thực cũng là một nét văn hóa.

Huế riêng

Có nhiều cái riêng ở Huế không lẫn vào đâu được. Huế với những người lần đầu ghé đến sẽ phải ngạc nhiên vì thành phố này sao mà buổi tối buồn đến vậy. Chẳng dễ dàng tìm chốn chơi vào buổi tối, đêm ở Huế chưa khuya mà đường đã vắng hoe, chỉ còn đèn vàng, cây lá và vài chiếc xe chạy đường dài. Ở bờ Bắc1 cây cối um tùm nhìn còn buồn hơn bờ Nam nữa.

Có những vạt nắng riêng trong đời, có những cơn mưa riêng trên trời. Mưa Huế vừa là sự đối xử khắc nghiệt, lại như một đặc sản riêng chẳng nơi nào có được. Vào mùa mưa thực sự, những cơn mưa ở Huế kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, có khi non tháng, đi cùng với cái lạnh tê buốt của mưa dầm gió bấc. Trong những cơn mưa chứa cả kho tàng kỉ niệm cũng ngả màu rêu phong vì những cơn mưa Huế. “Nghe mưa lâm thâm chảy dầm trên má lẫn với giòng nước ấm làm mặn môi mình”. Rồi mưa dầm dề, tụi nhỏ lại có thú vui không hẹn trước… ngày lũ.

Trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người ta thấy dáng dấp và điệu chảy của sông Hương, điệu chảy của dòng sông phần nào ảnh hưởng đến tính cách và lối sống con người Huế. Dòng sông Hương cũng như đời người, chia thành nhiều khúc. Thượng nguồn là tuổi trẻ, khúc Thiên Mụ, Kim Long là trung niên, khúc Đông Ba, Gia Hội là giai đoạn trưởng thành. “Từ đó sông Hương rẽ về hai ngả: ngả Đò Cồn, Vỹ Dạ mang dáng dấp trầm tư của con quan về vườn quy ẩn. Ngả Bao Vinh, Ba Sình giống như tuổi sắp già bon chen, nhưng vẫn còn duyên nợ với cuộc đời…”. Và cuối đời, cũng như những con sông, mọi con sông đều đổ ra biển cả. Luôn có một chút gì đó trang đài, khoan thai, nhẹ nhàng trong cách sống đó.

Kết.

Giữa cuộc đời trần ai tân khổ này, mỗi người, mỗi sự vật trong cuộc sống quanh ta có thể sẽ rất quý giá nếu được ta cảm nhận giá trị quý giá ấy. Một tác phẩm nghệ thuật có thể không có giá trị với người không thưởng thức hay với người hững hờ với nó. Những ai quan tâm, dành cho Huế một chút tình, muốn “gặp” Huế một lần chắc hẳn không thể bỏ qua “VỀ HUẾ” của Trần Kiêm Đoàn, câu chuyện và góc nhìn của một người con xứ Huế ở viễn phương, một màu sắc rất Huế, một giọng văn mộc mạc, một tấm lòng trân trọng với Huế thương yêu.

Hết.

Chú thích:

  1. Bờ Bắc, Bờ Nam là cách phân chia của người Huế tính từ vị trí dòng Hương.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng