Phía sau trang sách

Kể chuyện năm 2020 bằng ba cuốn sách của tôi

Published

on

Không phải hoàn toàn sụp đổ và “cancelled”, văn chương 2020 với tôi là một điều đáng nhớ. Tôi đọc ít hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tôi giỏi hơn (theo đúng như những gì Zappa hàm ý). Trong trường hợp này, có phải vậy không? Tôi vẫn chưa đọc tiểu thuyết mới nhất của Martin Amis (người từng gây cho tôi ít nhiều ấn tượng trong bản dịch Tiền – thư tuyệt mệnh) và những cuốn sách dịch làm tôi chưa thỏa mãn cực độ, ít nhất là tiệm cận với những gì tôi đã đọc ở phiên bản tiếng Anh, thứ ngoại ngữ duy nhất mà tôi nương tựa ngoài tiếng mẹ đẻ, rất tiếc nuối về điều đó. 2666 an toàn, tôi đã chờ những gì thô ráp hơn. Tess – một tâm hồn trong trắng vẫn chưa có mặt tại kệ sách nhà tôi, trong khi Những thứ trong suốt Phòng thủ Luzhin lại không gây ấn tượng quá nhiều như những gì T.L đã làm trong Mây, hồ, tháp. Chúng ta còn gì? Trong lúc đợi chờ Godot làm mệt mỏi ngay từ chiếc bìa không ăn nhập và lối dịch dài dòng diễn dịch. Chúng ta còn có thể kể đến rất nhiều cuốn sách dịch khác, và cả một số tác phẩm trong nước, điển hình là Biên sử nước mới mẻ như Rulfo thể nghiệm Pedro Páramo nhưng dĩ nhiên non nớt hơn.

Trong ba cuốn sách tôi có thể nhớ được hầu hết các điểm mà tôi thích dưới đây, thật đáng tiếc và tệ hại cho tôi thay, cả ba đều chưa được dịch thuật (thế là dĩ nhiên cái sự đọc của tôi năm nay không yêu nước) hay nghe ngóng có kế hoạch dịch thuật: hai trong ba là của các nhà Nobel gần nhất: Louise Glück và Peter Handke; người thứ ba, cũng trứ danh không kém, Krasznahorkai László.

1. Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László): Màn phúng điếu đỉnh cao

Tôi đọc Melancholy of Resistance (tạm dịch Nỗi buồn kháng cự), bản dịch tiếng Anh của George Szirtes vào khoảng đầu mùa hè. Ngay lập tức sau khi đọc xong, tôi ước bác Chung không dịch Chiến tranh và Chiến tranh mà dịch cuốn này.

Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László)

Một văn bản xám xịt, đúng theo phong cách của László cùng với sự ghẻ lạnh mà u hoài đến vô lý và bức bách. Bắt đầu bằng sự việc bà Plauf nghe tin sự nguy hiểm nào đó đang âm thầm len lách vào sự sống của ngôi làng: đúng thế thật, một đoàn xiếc với con cá voi khổng lồ kéo đến và không khí ngột ngạt, dơ bẩn. Sở trường những câu văn dài lê thê không cung cấp nhiều thông tin, ông kết hợp nhuần nhuyễn ý nghĩa của những giấc mơ được gán ghép vào sự sống của cư dân trong làng. Năm 2000, chính nhà văn đã chuyển thể thành kịch bản phim Werckmeister Harmonies do Béla Tarr làm đạo diễn. Không khí tận thế cùng những nỗi buồn vô tận, đúng như tiêu đề, tất cả những nhân vật trong ngôi làng ấy chống lại thế lực đen tối và cả sự bất lực của cách mạng. Một bóng tối bão hòa, phi thường nhưng thường xuyên đến nỗi trở nên nhân tính và cảm xúc bóc trần đến cảm lạnh, không ai giấu giếm bất kì một đắn đo gì trừ khi đó chính là nỗi buồn kháng cự. Một cuốn sách làm người ta không thể nào ngủ; một cốt truyện hư ảo, chết chóc cùng với một giọng văn ghê sợ, đáng hãi hùng.

2. The Wild Iris (Louise Glück): Buổi truyền miệng của những thiếu phụ

Là cuốn thơ duy nhất sau Anne Carson làm tôi muốn dịch hết, The Wild Iris (tạm dịch Hoa diên vĩ dại) là áng thơ bất hủ về những trăn trở trong cuộc sống hội nhập của chúng ta. Louise Glück phát biểu trong diễn văn nhận giải Nobel 2020 rằng có lẽ lý do Viện chọn bà vì giọng nói riêng tư, thân mật và không thể thay thế. Thật vậy, không khó hiểu đến trở ngại và sượng sùng đôi chỗ như Anne Carson, thơ bà kín đáo và nữ tính hơn. Chùm thơ “Parable” xuất hiện những câu chuyện về quá khứ của những người phụ nữ thông qua những hình ảnh ẩn dụ, một Emily Dickinson thời hiện đại với trái tim đã mở cửa để đón chào thế giới mới. Một giọng thơ không khó để dịch, song lại lưng chừng như sóng biển. Người ta sẽ không bao giờ hiểu được hết ý tứ của một câu thơ hay – chính thơ của Louise làm người ta ngập ngừng chỗ đó.

The Wild Iris (Louise Glück)

Bà đặt ra những câu chuyện rất hiện đại thông qua các nhân vật sử thi: “Các vị thần Hy Lạp ngồi trên băng ghế/ thầm nghĩ rằng sẽ làm gì khi cuộc chiến kết thúc. …” (Parable of Hostages), nhục cảm tội lỗi và phức cảm hành hạ: “Em muốn cuộc sống của ả là vở kịch/ Màn nào cũng bi” (Siren), những trải nghiệm thành thật và đẹp đẽ: “Đêm cuốn anh vào trong đôi cánh của nó/ Dưới trăng tròn em có thể nhìn ra/ Gương mặt anh bơi giữa bầy cá nhỏ và những/ vì sao vọng. Trong không khí đêm/ mặt hồ là thép.” (Pond). Không quá lên khi gọi tập thơ vừa nguy hiểm lại vừa dịu dàng, ở đó thi thoảng ta bắt gặp những đối đáp trớ trêu, nhục cảm, những ham muốn dục tính, song quá lãng mạn để gọi đó là tội đồ.

3. The Afternoon of a Writer (Peter Handke): Buổi hoàng hôn của cá thể

Một cuốn sách mà đọc xong tôi chỉ muốn dịch ngay để đến tay những người cô độc, như nhân vật nhà văn không tên, và vì Peter Handke trong cuốn sách quá thanh tao và lành tính. Tôi không biết ông ta viết gì bằng tiếng Áo nhưng người dịch cuốn sách sang tiếng Anh – Ralph Manheim – có vẻ cũng nghĩ như tôi: một giọng văn chân thành, mộc mạc, đôi phần ngồi lê đôi mách giống như Bohumil Hrabal nhưng nhạy cảm như phụ nữ.

The Afternoon of a Writer (Peter Handke)

Tôi đọc The Afternoon of a Writer (tạm dịch Buổi chiều của một nhà văn) trong một giờ, là văn bản thứ hai sau Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình từ khi tôi muốn tiếp cận người đàn ông lắm thị phị này và mong chờ thứ gì đó đáng gờm. Song, giống như Trong đêm tối, cốt truyện hoàn toàn trong trẻo, có thứ gì đó như một dòng tản mạn chảy dài hơn chỉ 80 trang A5, và ngược với những gì tôi từng tưởng tượng, rất dễ đọc. Ta bắt gặp một nhân vật lạc loài giống như nhà sinh học trong cuốn tiểu thuyết duy nhất được dịch, vẫn cách chia chương rất ngắn và rõ ràng là một câu chuyện không rõ ràng. Một nhà văn nhận ra mình mất liên kết với từ ngữ đồng thời cũng mất liên kết với thế giới trong một buổi chiều tối không tối trời cho lắm, ra khỏi ngôi nhà có view đồi lộng gió và một ban công trên mái nhà ai cũng ghen tị, nhưng bản thân ông không thấy vậy vì nơi đó quá hẻo lánh với nhân loại. Trong một văn bản thâm nhập sâu xa vào linh hồn như thế, ta có quyền mơ mộng về một cảnh phim độc đáo từ tay Peter Handke, người đàn ông lạc loài cố tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình ngoài công việc, muốn thâm nhập vào cuộc sống nhưng không thể. Bằng một giọng văn đặc biệt, một cách miêu tả thành thật về cảm xúc, Buổi chiều của một nhà văn gây cho tôi sự nhớ hơn là Short Letter, Long Farewell Sorrow Beyond the Dream vốn được đánh giá là hai văn bản đặc trưng nhất của Peter Handke. Đó là món quà tôi tự nhận được vào mùa đông, một cuốn sách trân quý, nhẹ nhàng, thoát khỏi sức nặng của nhiệm vụ nền văn học hậu hiện đại, song cảm xúc nó mang lại vẫn không hề lệch pha.

Tức là…

Tôi đã định cho rất nhiều cuốn sách mà tôi đọc được và cảm thấy ấn tượng vào trong danh sách của riêng tôi. Có Một cuộc gặp gỡ của Milan Kundera, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng 4 của Thuận, hay thậm chí Paul Celan và Søren Kierkegaard,… Vốn dĩ, về sức nặng cốt truyện cũng như độ hấp dẫn, không cuốn nào có thể làm ta kinh ngạc và quyến rũ cho bằng Hồ sơ Rachel hay 2666, nhưng nó mở rộng thêm cho tôi nhiều mảnh đất hơn trong nền văn chương trong thời đại của chúng ta. Chúng ta đã thực hiện gần xong xuôi một cuộc di dời hoàn toàn từ cốt truyện sang độ phi lí của cốt truyện, từ tình cảm trong văn bản thành thái độ sống và một giọng nói riêng tư mà to, lớn, đánh động như chuông. Hẳn đây là một cuộc di cư lớn, cho chúng ta nhiều hi vọng hơn về tính chất độc quyền lẫn cứu rỗi của văn chương, thế nhưng, điều đó có nghĩa là sức hút của nó sẽ sụt giảm không thương tiếc và những người chịu để nó cứu rỗi sẽ không còn quá nhiều, thậm chí không có. Thế nhưng còn quá nhiều điều chúng ta cần chờ và hi vọng tiếp về một năm 2021: biết đâu The Great Gatsby sẽ trở lại huy hoàng dưới tay Thiên Lương, biết đâu chúng ta sẽ có James Joyce, hay Gertrude Stein, hay một tập thơ? Của Sylvia Plath nhé?

Hết.

S.

*

Bài viết liên quan


Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng