Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Một góc nhìn chính trị về Giải Nobel Văn chương 2019

Giải Nobel Văn học 2018 và 2019 – trao cho Olga Tokarczuk và Peter Handke – được công bố cùng thời điểm, nguyên nhân vì kết quả năm ngoái bị trì hoãn bởi vụ scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện hàn lâm.

Published

on

Trong hơn một thế kỷ qua, Giải Nobel Văn chương vốn dĩ luôn là màn trình diễn gây tranh cãi, khi phía phê bình chỉ trích những người nhận giải là quá ít tiếng tăm, quá Âu hóa, quá trọng nam, quá thử nghiệm, hay đơn giản chỉ là không xứng đáng với vinh dự bậc nhất trong giới văn chương. Và thứ Năm vừa rồi, Nobel đã đặt chân vào vũng bùn lầy lội hoàn toàn mới khi trao giải cho một nhà văn khuynh-hướng-cánh-tả, Peter Handke, người đã đứng lên phát biểu một bài ca ngợi tại tang lễ của Slobodan Milosevic1, cựu lãnh đạo Nam Tư, người từng hầu tòa vì tội ác chiến tranh.

Năm nay đáng nhẽ phải là cú tái khởi động của Ủy ban Nobel, sau vụ scandal khó coi dính líu đến bạo hành tình dục và sai lầm tài chính, buộc Ủy ban Nobel phải trì hoãn Giải Nobel Văn chương 2018. Năm nay, Viện hàn lâm Thụy Điển đối diện với những kỳ vọng lớn lao và áp lực mạnh mẽ, bởi họ đã hứa hẹn sẽ trao không chỉ một mà đến hai giải thưởng.

Bên cạnh Handke – người nhận Giải Nobel 2019 vào thứ Năm, tiểu thuyết gia Olga Tokarczuk cũng nhận Giải Nobel 2018. Cả hai nhà văn đều đến từ Trung Âu, đều nổi tiếng bởi những quan điểm chính trị bộc trực và thỉnh thoảng trái chiều. Nhưng chính giải thưởng dành cho Handke mới là yếu tố khai hỏa những phản ứng dữ dội, trong đó có lời khiển trách hiếm hoi từ một tổ chức văn học khác, PEN America.

Chủ tịch PEN America, tiểu thuyết gia Jennifer Egan phát biểu trong một tuyên ngôn đại diện cho tổ chức: “Chúng tôi chết lặng trước sự lựa chọn một nhà văn, người đã sử dụng phát ngôn công chúng của mình để đục khoét lịch sử và công khai gửi cứu trợ đến những kẻ gây ra tội ác diệt chủng, như cựu Tổng thống Serbia Slobodan Milosevic và thủ lĩnh Bosnian Serb Radovan Karadzic. Ngay tại thời điểm mà chủ nghĩa dân tộc và lãnh đạo chuyên quyền đang trỗi dậy, những thông tin đánh lạc hướng lan rộng khắp thế giới, cộng đồng văn học xứng đáng nhiều hơn là quyết định này. Chúng tôi hối tiếc sâu sắc lựa chọn của Ủy ban Nobel trong lĩnh vực Văn chương.”

Khi được hỏi về quyết định của viện hàn lâm liên quan đến Handke, Mats Malm – thành viên và thư ký thường trực của viện – phát biểu quyết định này dựa trên những lập trường văn chương và thẩm mỹ, bổ sung rằng: “Tôn chỉ của Viện hàn lâm không phải là cân bằng giữa chất lượng văn chương và những cân nhắc chính trị.”

Trong khi giải thưởng của Handke bị một số phe phái lên án, rất nhiều người trong giới văn chương đã hân hoan chúc mừng Tokarczuk, một tiểu thuyết gia và nhà thơ thử nghiệm từ Ba Lan, người được cả độc giả và giới phê bình yêu quý.

Handke đến từ nước Áo, mẹ ông là người Slovenia. Ông có quan điểm tán thành chủ nghĩa dân tộc và đã công khai bày tỏ hoài nghi về vụ tàn sát người Hồi giáo trong Chiến tranh Balkan. Tokarczuk là người thường xuyên phê bình thành viên chủ nghĩa dân tộc cánh-tả tại Ba Lan, những người đã quy kết bà là kẻ phản bội. Chủ biên người Ba Lan của bà đã từng phải thuê vệ sĩ để bảo vệ bà.

Một số tác gia xuất chúng khác, trong số đó có Hari Kunzru và Salman Rushdie, cũng phê bình quyết định lựa chọn Handke, người từ chối mọi liên hệ thông qua chủ biên người Mỹ. Về phần Tokarczuk, bà có vẻ chẳng mấy bận tâm. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Ba Lan Gazeta Wyborcza vào thứ Năm, Tokarczuk nói bà rất vui khi nhận giải Nobel cùng với Handke. “Tôi cũng rất vui khi Peter Handke nhận giải cùng tôi, tôi rất coi trọng ông ấy. Thật tuyệt vì Viện hàn lâm Thụy Điển đã đánh giá cao văn học Trung Âu. Tôi mừng là chúng tôi vẫn còn bám trụ được.”

Qua việc trao giải cho hai nhà văn châu Âu danh tiếng, viện hàn lâm dường như đã phớt lờ những lời chỉ trích trong quá khứ rằng giải thưởng đã trở nên quá Tây phương và trọng Âu châu. Kể từ giải thưởng đầu tiên được trao vào năm 1901, phần lớn người thắng cuộc là người châu Âu và những tác giả nói ngôn ngữ Anh. Trong lịch sử, phụ nữ cũng không được đại diện đúng mực. Trong số 116 người chiến thắng Giải Nobel Văn học, Tokarczuk là người phụ nữ thứ 15.

Một số người theo dõi văn chương đã trông chờ rằng năm nay, viện hàn lâm sẽ lựa chọn ít nhất một nhà văn không phải người châu Âu; có lẽ sẽ trao giải cho những cái tên phổ biến, trong số đó là tiểu thuyết gia người Kenya Ngũgĩ wa Thiong’o, nhà văn Trung Quốc Tàn Tuyết và nhà thơ người Syria Adunis.

Trong một phát biểu thực hiện năm nay, Anders Olsson, người dẫn dắt ủy ban văn học của viện hàn lâm, thừa nhận rằng tính đa dạng hẳn nên trở thành một ưu tiên và ngụ ý ủy ban sẽ cân nhắc việc đa dạng hóa về mặt địa lý và giới tính khi đưa ra lựa chọn của mình.

“Thời gian trước đây, chúng ta đã có, hẳn nên nói là, một quan điểm văn chương hướng về phương Tây, và giờ chúng ta đã phổ cập cái nhìn của mình ra toàn thế giới,” ông nói trong một bài phỏng vấn video. “Thời gian trước đây, chúng ta đã quá trọng-nam-giới. Hiện nay chúng ta đã có rất nhiều nữ nhà văn thật sự xuất sắc, vì thế giải thưởng và cả quá trình liên quan đến giải thưởng càng trở nên căng thẳng với quy mô rộng lớn hơn.”

Viện hàn lâm đã trì hoãn giải thưởng năm ngoái vì scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện – người bị kết tội cưỡng hiếp và rò rỉ tên của những người chiến thắng. Đây là cuộc khủng hoảng dẫn đến sự ra đi của thành viên ban quản trị và đòi hỏi đến sự can thiệp từ nhà vua Thụy Điển. Sau scandal, viện hàn lâm đã đưa ra nhiều điều chỉnh trong tổ chức, bao gồm việc bổ nhiệm năm cố vấn độc lập để bình chọn người xứng đáng.

Thậm chí, một nhóm những nhân vật có tầm ảnh hưởng văn hóa tại Thụy Điển đã thiết lập một giải thưởng thay thế, the New Academy Prize (tạm dịch Giải Tân Hàn Lâm) để lấp đầy khoảng trống và chứng minh rằng việc tìm kiếm người chiến thắng có thể được thực hiện theo phong cách công khai, đối lập với sự vận hành trong bóng tối của viện hàn lâm. Người chiến thắng được họ lựa chọn là Maryse Conde, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử từ Guadeloupe.

Về Peter Handke

Handke sinh năm 1942 tại miền nam nước Áo. Cả cha đẻ và cha dượng ông đều phục vụ trong quân đội Đức Wehrmacht. Sau khi mẹ ông tự tử vào năm 1971, Handke thi thoảng sẽ viếng thăm Nam Tư. Phần lớn tuổi thơ ông trải qua tại một Berlin sứt sẹo sau chiến tranh và sau đó, ông học luật tại Đại học Graz. Ông bỏ học năm 1965, sau khi tiểu thuyết đầu tay The Hornets (tạm dịch Những con ong bắp cày) được một chủ biên nhận in. Hiện nay, thành tựu của ông bao gồm tiểu thuyết, luận văn, kịch bản và những tác phẩm kịch khác. Ông hiện sống tại Chaville, vùng ngoại ô Paris kể từ năm 1990.

Peter Handke được vinh danh bởi “công trình có sức ảnh hưởng lớn cùng tài nghệ ngôn ngữ khéo léo để khám phá vùng ngoại biên và đặc trưng riêng biệt của trải nghiệm loài người.”

Những nhà phê bình văn học đã mô tả công trình của ông là avant-garde2, nhưng Handke phủ nhận cái nhãn ấy, tự nhìn nhận mình là một “nhà văn cổ điển bảo thủ.”

Những tác phẩm mà ông dành nhiều thập kỉ để viết, xuất bản lần đầu tại Đức bao gồm A Sorrow Beyond Dreams (tạm dịch Nỗi buồn hơn cả những giấc mơ), tiểu thuyết ngắn dựa trên cái chết của mẹ ông đã nhận được sự hoan nghênh từ giới phê mình. Khi bình tác phẩm trên tờ The New York Times năm 1975, Michael Wood gọi đây là “lễ truy điệu hoành tráng dành cho những sinh mệnh Đức và Áo bị chôn vùi” và “bài viết xuất sắc nhất mà tôi từng được đọc trong nhiều năm.”

Tuy nhiên, tình bạn giữa Handke và Slobodan Milosevic cùng lời bình luận của ông – dường như giảm thiểu sức nặng của những vụ thảm sát người Hồi giáo Bosnia tại Serbia – dẫn đến việc ông bị lên án. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2006, ông nói về Milosevic: “Tôi nghĩ ông ấy là một người đàn ông bi kịch. Không phải là anh hùng, chỉ là một con người bi kịch thôi. Tôi là nhà văn, không phải là thẩm phán.”

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông nói mình không hề trông đợi việc nhận Giải Nobel, nguyên nhân đến từ chính vụ tranh cãi này. “Khi tôi còn trẻ hơn thì tôi đã để tâm đấy. Nhưng hiện nay tôi nghĩ là tất cả đã chấm hết sau những lời bình luận về vụ Nam Tư rồi.”

Trong năm ấy, ông được lựa chọn là người chiến thắng giải thưởng danh giá của Đức – Giải Heinrich Heine, nhưng quyết định đã bị thu hồi giữa những phẫn nộ từ phía công chúng. Đáp lại cơn thịnh nộ này, Handke khẳng định rằng ông chưa bao giờ phủ định hoặc giảm thiểu những cuộc thảm sát tại Nam Tư. Khi Handke nhận Giải International Ibsen năm 2014, ông phải đối mặt với những người chống đối ngay tại lễ trao giải.

Tại Mỹ, Farrar, Straus và Giroux đã xuất bản những bản dịch của Handke từ năm 1970, bắt đầu với tuyển tập Kaspar and Other Plays (tạm dịch Kaspar và những vở kịch khác), theo sau đó là tiểu thuyết The Goalie’s Anxiety at the Penalty Kick (tạm dịch Mối lo âu của thủ môn trước những cú đá penalty). Kể từ đó, FSG đã phát hành hơn 15 cuốn sách được viết bởi Handke.

“Handke là một trong những người chú trọng văn phong, tạo nên những vần văn tuyệt vời nhất ở Đức, người đã dành cả sự nghiệp của mình để thám hiểm cả thế giới tự nhiên và thế giới của ý thức con người với sự chính xác tinh xảo, sự hóm hỉnh và đầy dũng khí,” chủ tịch của FSG, Jonathan Galassi phát biểu.

Về Olga Takarczuk   

Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan, là con gái của hai giáo viên. Cha của bà cũng là thủ thư trường, và chính trong thư viện, Tokarczuk đã tìm thấy tình yêu văn chương, ngấu nghiến hết cuốn sách này đến cuốn sách khác.

Nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk nhận Giải Nobel Văn chương 2018 “vì khả năng sáng tạo lối tường thuật, cùng sự say mê tường tận, đại diện cho việc băng qua những ranh giới như một hình thức sự sống.”

Bà theo học chuyên ngành tâm lý tại Đại học Warsaw, sau đó từng làm việc như một nhà tâm lý học trị liệu nhưng cảm thấy mình không phù hợp với công việc. Bà ghi nhận trong một bài phỏng vấn rằng bà từ bỏ công việc sau khi nhận ra bà “còn loạn thần kinh hơn cả bệnh nhân của mình.”

Tokarczuk xuất bản cuốn sách đầu tiên, một tập thơ năm 1989. Năm 1993, bà giành được rất nhiều lời khen ngợi khi xuất bản tiểu thuyết đầu tiên The Journey of the Book-People (tạm dịch Cuộc du hành của Người-Sách), một câu chuyện hư cấu kể về những nhân vật đang kiếm tìm một cuốn sách bí ẩn ở Pyrenees, lấy bối cạnh tại Pháp và Tây Ban Nha thế kỷ 17. Cuốn sách được trao Giải Polish Publisher’s cho tiểu thuyết đầu tay.

Nhưng bước đột phá thật sự của bà được cho là tiểu thuyết thứ ba Prawiek i inne czasy, hay Primeval and Other Times (tạm dịch Thời nguyên sinh và những thời đại khác). Xuất bản lần đầu năm 1996, cuốn sách kể về câu chuyện ba thế hệ của một gia đình người Ba Lan, từ 1914 đến khởi nguyên của kỳ Đại Đồng năm 1980.

Năm 2018, bà trở thành tác giả Ba Lan đầu tiên đoạt Giải Man Booker International với tiểu thuyết Flights (tạm dịch Những chuyến bay), do Jennifer Croft dịch và được Riverhead xuất bản tại Hoa Kỳ. Croft bình luận, “Tác phẩm của bà vừa phổ thông vừa rất Ba Lan.” Là một sê-ri 116 mẩu truyện ngắn về những nhân vật đang trên đường lưu chuyển hoặc ly hương, cuốn sách được khen ngợi là một liều thuốc văn chương, giải độc cho sự cô lập văn hóa, chủ nghĩa bài ngoại và chủ nghĩa dân tộc.

Tokarczuk viết, “Tính lưu động, tính di động và cảm giác viễn vông – đó là những phẩm chất khiến chúng ta trở nên văn minh. Người man rợ không du ngoạn. Họ đơn giản chỉ đi từ địa điểm này sang địa điểm khác hoặc thực hiện những cuộc cướp bóc.”

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Times, Tokarczuk nói rằng bà đặt bút viết cuốn tiểu thuyết này từ hơn một thập kỷ trước, ngay trước vụ Brexit và những phong trào chủ nghĩa dân tộc diễn ra khắp châu Âu. “Tôi viết cuốn sách này khi thế giới hướng về việc mở rộng vòng tay với tất cả mọi người. Hiện nay, chúng ta lại chứng kiến Liên Minh Châu Âu có lẽ sẽ bị suy yếu dần bởi nhiều chính sách từ những quốc gia như Ba Lan và Hungary, một lần nữa tập trung vào biên giới của họ.”

Bà đồng thời nhắc đến chính sách nhập cư càng ngày càng khắt khe tại Mỹ. “Mười hai năm trước đây, không hề có ai đề cập đến cái ý tưởng xây tường hay ranh giới – cái ý tưởng đầu tiên được thực hiện bởi chế độ độc tài. Vào thời điểm bấy giờ, tôi phải thừa nhận rằng mình đã dám chắc chúng ta đã đi qua cái thời của chủ nghĩa chuyên chế rồi.”

Tại Ba Lan, Tokarczuk là nhân vật có sức ảnh hưởng với tính cách thẳng thắn, được biết đến bởi quan điểm chính trị đối lập với đảng Luật lệ và Công Lý cánh hữu. Bà gặp phải với nhiều lời chỉ trích sau khi xuất bản The Books of Jacob (tạm dịch Những cuốn sách của Jacob), lấy bối cảnh thế kỷ 18 tại Ba Lan, ủng hộ sự đa dạng văn hóa, và đạt giải thưởng văn học hàng đầu tại Ba Lan – Giải Nike năm 2015. Mặc dù được độc giả và nhà phê bình đón nhận, tiểu thuyết đã thu hút nhiều lời lên án sắc bén từ những nhóm chủ nghĩa đế quốc, và Tokarczuk phải chịu đựng những chiến dịch quấy rối, những lời dọa giết và kêu gọi trục xuất. Vào tháng Một, bà thực hiện một bài viết quan điểm trên tờ Times bàn về tình trạng của quốc gia sau vụ mưu sát một vị thị trưởng dẫn đầu đảng Tự do. “Tôi lo lắng về tương lai gần của chúng ta.”

Trong tháng này, khi được hỏi về các tác phẩm của Tokarczuk, Piotr Glinski – bộ trưởng bộ văn hóa Ba Lan – đáp rằng ông đã thử đọc nhưng chưa bao giờ kết thúc bất cứ cuốn sách nào của bà. Vào thứ Năm, Glinski đã chúc mừng Tokarczuk. “Đây là bằng chứng rằng văn hóa Ba Lan được toàn thế giới coi trọng,” ông viết trên Twitter. Donald Tusk, chủ tịch Hội đồng Châu Âu và cựu thủ tướng Ba Lan, cũng đưa ra lời chúc mừng trong một tweet. Ông bổ sung rằng, ông đã đọc xong hết tất cả những cuốn sách của bà.

Nobel văn chương từng gặp phải những scandal nào khác?

Một số người lúc nào cũng gièm pha về người nhận giải, hoặc ít nhất phán xét những người này không hợp với gu thưởng thức của họ. Năm 2016, khi Bob Dylan3 chiến thắng, ông là nhạc sĩ đầu tiên có vinh dự này. Giải thưởng của ông đã kéo theo hàng tuần tranh luận rằng liệu một người viết nhạc có nên đạt giải thưởng văn học không. Tiểu thuyết gia Jodi Picoult viết trên Twitter: “Tôi rất mừng cho Bob Dylan, #NhưngLiệuĐiềuNàyCóNghĩaLàTôiCóThểĐạtGiảiGrammy?”

Giải thưởng trong năm tiếp theo là một sự lựa chọn truyền thống hơn, được trao cho Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh được biết đến với tiểu thuyết The Remains of the Day (Tạm dịch Tàn dư của ngày), kể về một quản gia phục vụ Lãnh chúa Anh trong những năm trước Thế chiến thứ II.

Hết.

Mèo Heo dịch từ The New York Times.

Chú thích:

  1. Slobodan Milosevic là Tổng thống Serbia (1989 – 1997) và Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nam Từ (1997 – 2000). Sau Chiến tranh Kosovo năm 1999, ông bị khối quân sự NATO do Mỹ dẫn đầu lật đổ và bị buộc tội diệt chủng tại tòa án xử các tội phạm chiến tranh. Theo cáo buộc của phương Tây, ông đã tham gia tích cực vào việc thảm sát nhiều thường dân ở Sarajevo và Sebrenica. Phải đến năm 2015, tòa án quốc tế mới tuyên bố không có đủ chứng cứ để kết tội ông, nhưng khi đó ông đã mất gần 10 năm.
  2. Avant-garde là phong cách thử nghiệm, đột phá hoặc không chính thống áp dụng trong nghệ thuật, văn hóa và xã hội. Những đặc trưng cơ bản của nó là phi truyền thống, cách tân thẩm mỹ cùng sự phản đối ban đầu, thậm chí nó có thể đưa ra những lời phê bình trong mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Avant-garde tranh đấu với giới hạn thông thường về quy chuẩn hoặc nguyên trạng.
  3. Bob Dylan là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt năm thập kỷ trở lại đây.

1 Comment

1 Bình luận

  1. Minh

    Tháng Mười 16, 2019 at 10:21 sáng

    Với danh sách được tuồn ra năm nay từ trang NiceOdds thì những nhà văn được giải tới từ Trung Âu không hẳn là điều gì quá đặc biệt. Văn chương Ba Lan nói riêng và Đông Âu nói chung luôn mang một điều gì đó bảng lảng, có cũng có thể, hợp với đại đa số các nhà phê bình Nobel đến từ bên kia bán đảo Scandinavi hơn là phần đông. Ta có Cái trống thiếc của Gunter Grass, có phố Descarte của Czeslaw Milosz hay Sosha của Isaac Singer, có Kinh cầu cho những đứa trẻ chưa ra đời của Kertész Imre và hàng ha sa số những tác phẩm khác được dịch giả Lê Bá Thự đều đặn chuyển ngữ hàng năm. Điều này rõ ràng không hẳn là sự mới mẻ gì cho cam, nhưng nó như lời tự khẳng định thì có thể.

    Nobel qua đây vẫn chứng minh sự già nua của mình, mà đôi ba văn sĩ khác đôi lần đòi hạ bệ nó, như Sinead O’Connor từ chối nhận Grammy trong một mặt trận khác. Đứng dưới góc độ một đọc giả châu Á, Tàn Tuyết đáng nhẽ nên được công nhận nhiều hơn bởi khả năng tiên phong trong lối viết và các bài bình so sánh của bà. Có lẽ văn chương của bà siêu thực đến độ, chính sự chuyển ngữ làm cản trở nó (do đôi khi bà được so sánh với Kafka) hay một chế độ Trung cộng đang lên và Nobel cũng đang đồng lõa với chủ nghĩa tư bản? Khó mà tin vào vị thay mặt hội đồng bên trên rằng chính trị vô nghĩa lý, nhưng dẫu sao, ít ra, được NiceOdds đem ra cá cược, Tàn Tuyết cũng có chỗ đứng riêng mình.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Ảnh hưởng của nhạc Jazz trong văn học Hoa Kỳ cận đại

Published

on

Đầu mùa hè, Newark, thành phố lớn nhất của tiểu bang New Jersey, nơi tôi đang làm việc, có tổ chức trình diễn nhạc “Jazz trong Vườn”[1]. Chương trình này diễn ra hằng tuần và liên tiếp trong sáu tuần lễ. “Vườn” là một khuôn viên nho nhỏ sau lưng thư viện thành phố. Vé vào cửa là ba Mỹ kim, được dùng để ủng hộ thư viện, nơi càng ngày càng vắng khách. Thời buổi này, ba Mỹ kim chỉ mua được một cái hotdog, không đủ nếu mua hotdog ở thành phố New York, thế mà chỉ ngần ấy tiền tôi có thể nghe được một chương trình nhạc đầy văn hóa và rất thanh lịch. Tôi lấy giờ ăn trưa đi xem.

Buổi đầu tiên là buổi trình diễn saxophone. Buổi thứ nhì, Jazz được trình diễn bằng đàn organ bởi một nữ nghệ sĩ người Nhật tên là Akiko. Sân khấu dựng trong một cái lều trắng. Ghế xếp trên sân cỏ dành cho khán giả. Khu vườn có thể chứa ba trăm người một cách dễ dàng. Giai điệu bao trùm không gian, có lúc ngọt ngào, có lúc rộn ràng. Mùa hè miền Đông Bắc có những ngày nắng rất dịu, trời trong xanh với vài cụm mây trắng lững lờ bay. Quanh vườn, hoa Black-eyed Susan màu vàng lẫn với Blazing Star màu tím; hoa Tường Vi đỏ, trắng và hồng chen chúc nở hương ngan ngát, dây trường xuân quấn quít trên tường. Tôi sung sướng hưởng thụ một nét văn hóa đặc thù của Hoa Kỳ, giữa một công viên đầy hoa với một số kiến trúc cổ được xây cất khoảng chừng hơn một trăm năm trước.

Thật tình, tôi không biết nhạc Jazz là gì. Làm sao để phân biệt nhạc nào là jazz, nhạc nào là popular. Có những lúc đang giữa cuộc biểu diễn, người ta vỗ tay tôi cũng vỗ tay theo, nhưng tôi không biết vì sao người ta lại khen thưởng khúc nhạc đó. Khán thính giả chung quanh tôi, khi hứng thú họ lắc lư thân hình, gục gặc đầu, nhịp nhịp chân, hoặc gõ ngón tay nhè nhẹ lên đùi. Hỏi Jazz là gì cũng giống như hỏi vọng cổ là gì. Nghe thì có thể nhận biết ngay nhưng giải thích thật là không dễ. Một vài giáo sư âm nhạc Hoa Kỳ, khi bị bắt định nghĩa nhạc Jazz thì họ thường trả lời: nếu bạn phải hỏi câu đó có nghĩa là bạn sẽ không bao giờ hiểu. Nói thế, nhưng tôi tin một vài nét phác họa có thể giúp những người không chuyên về âm nhạc, nhưng tò mò muốn tìm hiểu về nhạc Jazz, như tôi.

Cuộc trình diễn nhạc “Jazz trong Vườn” buổi thứ nhì do Akiko, một nữ nghệ sĩ người Nhật, trình tấu bằng đàn organ. Bà được đào tạo ở Nhật và chỉ mới sang Hoa Kỳ sinh sống khoảng mười lăm năm nay theo lời mời của một số nhạc sĩ Jazz nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Buổi trình diễn lần thứ tư là của một ban nhạc nữ trình diễn nhạc Jazz Latin. Sự góp mặt của những nghệ sĩ ngoại quốc cho thấy nhạc Jazz rất phổ biến, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở thế giới. Người Nhật, vốn phong kín và luôn giữ gìn truyền thống lâu đời. Họ phải rất yêu thích nhạc Jazz, và có nhiều người thưởng ngoạn, đủ để Haruki Murakami, nhà văn Nhật Bản rất được độc giả Việt Nam yêu chuộng, mở một quán nhạc Jazz làm phương tiện kiếm sống trước khi trở thành nhà văn. Theo Murakami, nhạc Jazz ảnh hưởng rất sâu đậm đến sự phát triển tài năng của ông. Ông viết văn hay là nhờ ông nghe và yêu thích nhạc Jazz.

Dù là âm nhạc hay truyện, điều căn bản là nhịp điệu. Văn phong của bạn cần phải có nhịp điệu vững vàng, tự nhiên và đều đặn, nếu không thì độc giả sẽ không tiếp tục đọc tác phẩm của bạn. Tôi học sự quan trọng của nhịp điệu trong âm nhạc – và căn bản là ở nhạc Jazz[2].

Năm 1964, Murakami lần đầu tiên đi xem nhạc Jazz ở Kobe. Buổi xem nhạc sống này để lại ấn tượng rất sâu đậm trong tâm hồn ông. Murakami bảo rằng văn phong của ông ảnh hưởng sâu đậm bởi “repeated freewheeling riffs”[3] của Charlie Parker cũng như vẻ thanh thoát trong văn phong của F. Scott Fitzgerald. Fitzgerald là nhà văn nổi tiếng cùng một lúc với thời kỳ vàng son của nền âm nhạc Jazz, suốt thập niên 1920, đặc biệt với tác phẩm The Great Gatsby. Tác phẩm này được Murakami nhắc đến trong Rừng Na-uy, quyển sách đầu tiên đưa ông đến đài danh vọng. Murakami bảo rằng ông dùng sự luôn luôn đổi mới của nhạc sĩ Miles Davis làm khuôn mẫu cho cách viết văn và tìm cách sáng tạo ra những ý tưởng mới từ những ý tưởng cũ như cách trình diễn dương cầm của nhạc sĩ Thelonious Monk[4]. Charlie Parker, Miles Davis, và Thelonious Monk đều là những danh tài của nền nhạc Jazz Hoa Kỳ.

Murakami khiến người đọc nhìn thấy ảnh hưởng sâu đậm của nhạc Jazz đối với một nhà văn Nhật Bản. Thế thì có lẽ nhạc Jazz cũng có ảnh hưởng đến văn học Hoa Kỳ? Để cảm nhận thêm sâu sắc cái hay trong văn của Murakami, hiểu biết thêm về Jazz, có lẽ cũng là điều có ích? Người dịch truyện của Murakami có cần phải biết nhạc Jazz để lột tả cho hết văn phong của Murakami? Nhưng dẫu nhạc Jazz chẳng có tác động gì đến văn học, hiểu biết thêm về Jazz, một nét văn hóa đặc thù của Hoa Kỳ, cũng có ít nhiều thú vị. Trước khi trình bày với độc giả kết quả cuộc tìm hiểu ảnh hưởng của nhạc Jazz trong nền văn học Hoa Kỳ đương đại tôi xin phép được tóm tắt về tiến trình phát triển của nhạc Jazz ở Hoa Kỳ.

Jelly Roll Morton, một nhạc sĩ Jazz nổi tiếng, năm 1938 đã tuyên bố trong chương trình “Believe it or Not” của Robert Ripley, rằng chính ông ta là người sáng lập ra nhạc Jazz từ năm 1902[5]. Mặc dù cho rằng Morton nói phóng đại, nhiều người cùng thời, trong đó có Louis Amstrong[6], công nhận sự hiện diện của những ban nhạc Jazz ở thành phố New Orleans vào năm 1906, trong các khu phố đèn đỏ. Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, nhạc Jazz bị xem là sa đọa và thấp hèn. Đó là loại nhạc của Satan. Jazz luôn đi kèm với tình dục, rượu, và các loại ma túy (Jazz, Sex, và Drug). Phim Chicago cho khán giả nhìn thấy phần nào bộ mặt sa đọa đầy dục vọng trong thời kỳ vàng son của nền nhạc Jazz ở Chicago. Sự phát triển mạnh mẽ của nhạc Jazz ở Chicago đã khiến các nhạc sĩ ở New Orleans di cư từ Nam lên Bắc để sinh sống bằng âm nhạc.

Theo Bill Messenger, trong quyển sách audio Elements of Jazz, nhạc Jazz là sự kết hợp của nhạc Ragtime với nhạc Blues dân ca cổ truyền. Blues phát xuất từ những người nô lệ da đen, khi làm việc trong các đồn điền, đốn gỗ, hái bông, hay xây dựng đường rầy xe lửa, họ hát hò đối đáp với nhau để giúp vui quên mệt. Lời hát của họ thường rất đơn giản, phô bày cảm xúc nhất thời. Nhạc cụ của blues cổ truyền rất đơn giản gồm có trống, đàn banjo, mandolin, hay những nhịp vỗ tay. Trong đồn điền khi có tiệc, người ta thường tổ chức cuộc thi cakewalk. Như cái tên của cuộc thi, cái bánh là phần thưởng để ở một cái bàn nào đó. Người dự thi, sắp hàng đi đến nơi đặt cái bánh, trong tiếng nhạc. Ai đi hay nhất, đẹp nhất sẽ được thưởng cái bánh[7]. Loại nhạc dùng cho những buổi cakewalk ban đầu là Ragtime. Ragtime là biến thể của nhạc du nhập từ châu Âu. Rag là biến thể của chữ ragg; Rag biến đổi nhịp điệu và âm điệu của một bài hát, thường thường từ một bài hát thịnh hành, cho đến khi nó thành một bản nhạc mới. Bill Messenger, đưa thí dụ, thay vì đánh nhịp 1, 2, 3, 4, người ta nuốt mất một nhịp 2 hay 3, hay kết hợp 2 với 3 thành một nhịp. Cách biến đổi nhịp điệu này được gọi là "syncopation". Người ta có thể dùng những bản nhạc cổ điển chính thống và phổ biến, rồi biến đổi chúng thành những bản nhạc khác bằng phương pháp syncopation. Ragtime là lấy theo tên của bản nhạc Maple Leaf Rag của nhạc sĩ Scott Joplin. Ông là một nhạc sĩ da đen, nhà rất nghèo. Bố của Scott Joplin có được cây đàn piano và Joplin học nhạc với một vị mục sư người da trắng trong làng. Được đào tạo bằng nhạc cổ điển Tây phương nên ông rất hổ thẹn không dám sáng tác nhạc Ragtime. Mãi đến khi trưởng thành, ông mới bắt đầu sáng tác Ragtime và sau đó ông mê mải sáng tác không ngừng[8]. Từ Ragtime nghe có vẻ xa lạ, nhưng nếu bạn ở Hoa Kỳ và từng nghe tiếng nhạc phát ra từ những xe bán kem dạo, rất có thể bạn đã được nghe một bản Ragtime.

Scott Joplin qua đời năm 1917, đánh dấu cái chết của Ragtime và sự ra đời của nhạc Jazz. Điệu khiêu vũ swing cũng bắt đầu vào thời kỳ này. Nhạc Jazz được trình diễn để giúp vui khách trên những chuyến tàu trên sông Mississippi đi từ New Orleans đến thành phố Chicago. Các ban nhạc Jazz trình diễn trên các chuyến tàu để phục vụ khách đi thuyền. Cũng trong năm 1917, máy thâu đĩa nhạc được sáng chế, và những bản nhạc với nốt nhạc được in ra trên giấy. Một ban nhạc Jazz mà các nhạc công đều là người da trắng lấy tên là Original Dixieland Jass Band bắt đầu thâu đĩa nhạc đầu tiên, càng làm nhạc khiêu vũ swing trở thành cơn sốt của thời đại. Năm 1920, theo sử gia James Lincoln Collier, nhạc Jazz trở thành loại nhạc ai cũng thích cũng biết và người ta bắt chước nhạc jazz, sáng tác và trình diễn khắp nơi[9].

Những năm đầu của thập niên hai mươi, nhạc Jazz luôn luôn ở giữa cuộc giằng co của hai phái. Một bên xem Jazz là nhạc nghệ thuật; bên kia xem thường giá trị của Jazz và cho đó chỉ là nhạc giải trí. Năm 1922, Fitzgerald đưa một xấp bản thảo cho Marx Perskin. Theo Bill Mesenger, Fitzgerald không biết đặt tựa đề là gì nên gọi đại là Tales of the Jazz Age. Cái tên Jazz Age xuất phát từ Fitzgerald góp phần thay đổi địa vị của Jazz trong mắt các nhà phê bình nghệ thuật. Năm 1924, Paul Whiteman đưa ban nhạc Jazz vào trình diễn ở thính phòng Aeolian Hall của thành phố New York. Nhạc Jazz được sáng tác và trình diễn với cấu trúc và hòa hợp của dàn nhạc giao hưởng. Nhiều nhạc sĩ tài hoa gia nhập dàn nhạc của Paul Whiteman trong đó có Bix Beiderbecke. Năm 1928, Beiderbecke nổi tiếng với sự trình diễn thành công bản nhạc Concerto in F của nhạc sĩ Gershwin. Cuộc đời của Beiderbecke được Dorothy Baker tiểu thuyết hóa trong tác phẩm Young Man with a Horn và tác phẩm này được dựng thành phim.

Sự thành công rực rỡ của Louis Amstrong khiến giới âm nhạc chú ý đến những nhạc sĩ Jazz người da đen nhiều hơn. Duke Ellington là một trong những nhạc sĩ thành công này. Jazz phát triển huy hoàng từ năm 1917 cho đến năm 1929 thì vỡ tan theo bong bóng của thị trường chứng khoán. Nền kinh tế suy sụp (người ta vất vả kiếm sống, không thiết đến chuyện đến thính phòng nghe nhạc và khiêu vũ) khiến các ban nhạc Jazz phải giải tán.

Giữa thập niên ba mươi, thế hệ trẻ lớn lên và tìm kiếm dấu ấn âm nhạc của họ. Benny Goodman, người của thế hệ mới, được mệnh danh là ông Hoàng của nhạc Jazz. Năm 1938, Goodman đưa dàn nhạc Jazz của ông đến trình diễn ở nhạc viện Carnegie Hall, một trong những nhạc viện danh giá nhất Hoa Kỳ và thế giới.

Vào thời kỳ thế chiến thứ Hai, các ban nhạc Jazz lớn lại thêm một lần yểu mệnh. Charlie “Bird” Parker, nhạc sĩ saxophone, người luôn tin tưởng ông là nhạc sĩ của nghệ thuật, thích nhạc cổ điển và rất muốn học sáng tác nhạc. Tuy nhiên, bạc phúc, ông nghiện bạch phiến và qua đời ở tuổi 34 năm 1955. Cùng thời với Parker là Thelonious Monk (dương cầm), Miles Davis (trumpet), và John Coltrane (saxophone). Đây là những tên tuổi lừng danh của nền nhạc Jazz được nhiều người trên thế giới yêu mến trong đó có nhà văn lừng danh Murakami. Tất cả những chi tiết nói trên tôi tóm tắt dựa vào bài tiểu luận Jazz của Terry Teachout[10].

Trở lại với Bill Messenger, sự hình thành và phát triển của nhạc Jazz được ông thuyết trình trong quyển sách Elements of Jazz. Tiến trình của nền nhạc Jazz có thể nói vắn gọn như sau: Đầu tiên là nhạc blues dân ca cổ truyền kết hợp với nhạc châu Âu thành Ragtime. Ragtime phát triển rồi suy tàn. Nhạc Jazz trở nên hưng thịnh, Blues được trình diễn hầu như độc quyền bởi các giọng ca nữ. Nhạc Swing ra đời phát triển như một cơn bão, đến thể loại nhạc Boogie Woogie, đến những ban nhạc Blues hiện đại và dàn nhạc rất đông người, đến nhạc Be-bop là một hình thức phản kháng một cách ôn hòa đối với sự thịnh hành của Swing, sau đó đến nhạc Jazz hiện đại từ thập niên năm mươi cho đến thập niên chín mươi. Ngày nay tuy nhạc Jazz hiện đại vẫn còn có khán giả, blues kết hợp với rock biến thành Jazz fusion và Rock’n’Roll.

Bên cạnh Jazz âm nhạc của Hoa Kỳ, Haruki Murakami còn ngưỡng mộ văn của Fitzgerald. Fitzgerald thuộc về “The Lost Generations,” cùng với Ernest Hemingway, Gertrude Stein, Cole Porter (nhạc sĩ Jazz chuyên về dương cầm), Josephine Baker (nghệ sĩ trình diễn) và các nhạc sĩ Jazz khác đã sang Paris sinh sống vì cuộc sống ở Paris ít đắt đỏ hơn cuộc sống ở Hoa Kỳ, nhưng điều chính yếu là các nhạc sĩ jazz, phần lớn là nhạc sĩ da đen, cảm thấy nơi đây họ có tự do sáng tác, tự do trình diễn và không bị kỳ thị như ở Hoa Kỳ. Louis Amstrong cũng từng sang Paris trình diễn. Nhạc Jazz được các nhạc sĩ da đen đặc biệt yêu mến vì đây là lãnh vực mà họ được tự do biểu lộ tính chất cá nhân bằng cách trình diễn.

The Great Gatsby (1925), Tales of the Jazz Age (1922), The Flappers and Philosophers (1921) là những tác phẩm của F. Scott Fitzgerald có liên quan đến nhạc Jazz. Cái ảnh hưởng của Jazz trong tác phẩm của Gatsby không rõ rệt lắm. Ở truyện The Great Gatsby, lúc mở đầu buổi dạ hội thứ nhì, Gatsby mời Daisy và chồng của nàng đến dự, Fitzgerald viết:

Có tiếng bùm bùm của trống bass, và giọng của vị nhạc trưởng thình lình vang vọng ở vườn hoa. “Kính thưa quí vị,” ông nói. “Thể theo lời yêu cầu của ông Gatsby chúng tôi sẽ trình diễn tác phẩm của nhạc sĩ Tostoff, người đã gợi chú ý ở Carnegie Hall vào tháng Năm vừa qua. Nếu quí vị có đọc báo, quí vị ắt biết tin này nóng sốt biết dường nào. Ông ta mỉm cười nhạo báng, và nói thêm: “Thật là nóng hổi!” khiến cho mọi người cười vang. “Tên nhạc khúc này là,” ông ta nói thêm đầy mời mọc, “LỊCH SỬ JAZZ CỦA THẾ GIỚI của nhạc sĩ Vladimir Tostoff.”[11]

Chỉ mang chữ Jazz vào truyện thì không thể nói là chịu ảnh hưởng của nhạc Jazz. Flapper cũng là một danh từ thường dùng trong thời kỳ nhạc Jazz, dùng để chỉ một kiểu mẫu của phụ nữ theo thời trang Âu châu, tóc ngắn kiểu pompei (bom bê), đội mũ nồi, váy ngắn ngang tầm đầu gối, trang điểm đậm, thích nhạc jazz, hút thuốc, lái xe, xem nhẹ quan hệ tình dục, không quan trọng chuyện hôn nhân. Tóm lại, là những cô gái mệnh danh là yêu cuồng sống vội. Truyện của Fitzgerald, nếu có ảnh hưởng của nhạc Jazz, thì đó là những truyện miêu tả đời sống xã hội với những cuộc hôn nhân phù phiếm, cách sống xa hoa, như chính cuộc hôn nhân của F. Scott với cô vợ Zelda. Truyện ngắn The Offshore Pirate trong tuyển tập The Tales of the Jazz Age tôi thấy có chút ít hơi hướm của nhạc Jazz, Blues thì đúng hơn. Truyện nói về một cô gái trẻ và đẹp đang ở trên một du thuyền. Gia đình cô chuẩn bị mai mối gả cô cho một chàng trai con nhà giàu nào đó nhưng cô muốn bỏ trốn. Cô muốn tự tìm cho mình một anh chồng phiêu lưu và lãng mạn. Giữa lúc cô đang nghĩ ngợi thì thuyền của cô gặp một chiếc thuyền nhỏ hơn. Những người chèo thuyền là người da đen, và họ hát những câu hát rất hay khi họ chèo thuyền. Thuyền họ song song và cặp sát thuyền cô. Người trưởng toán là một anh chàng trẻ tuổi khá đẹp trai, dĩ nhiên là da trắng, tuyên bố anh ta là trưởng đoàn hải tặc và họ chiếm thuyền của cô. Chuyện rất thơ mộng và kết cuộc rất đẹp nên chẳng có gì đáng để nói, ngoại trừ đoàn hải tặc này vốn là một ban nhạc jazz.

Từ phía dưới bỗng dưng vọng lên giọng hát trầm trầm. Nhóm người da đen đã tụ tập lại trên khoang tàu và giọng hát của họ to dần lên một điệu nhạc khắc khoải hòa quyện nỗi buồn phiền bay về hướng mặt trăng. Ardita nghe như bị mê hoặc.

Ồ xuống đây-
Ồ xuống đây,
Mạ muốn lôi tôi xuống khỏi dòng ngân hà,
Ồ xuống đây,
Cha bảo rằng để ma-a-a-ai
Nhưng mạ cương quyết bữa nay
Vâng – mạ nói bữa nay thì bữa nay!
[12]

Nếu F. Scott Fitzgerald là một trong những nhà văn tiêu biểu cho The Lost Generation thì sau Fitzgerald chừng ba chục năm chúng ta có Jack Kerouac là một trong những nhà văn tiêu biểu cho The Beat Generation. Jack Kerouac có một thời là phóng viên phụ trách mục nhạc Jazz và dĩ nhiên là ông rất yêu thích nhạc này. Tôi có đọc On the Road nhưng không đọc hết vì không tìm thấy sự đồng cảm bởi sự khác biệt giữa nam với nữ, Tây với Đông, và trẻ với già. Kerouac sinh vào năm 1922, xuất bản On the Road vào năm 1954, tức là ông viết quyển truyện này khi ông mới trên dưới ba mươi, quá trẻ so với tôi của ngày hôm nay. Vì đọc chưa hết, và khi đọc tôi chưa có khái niệm gì về nhạc Jazz nên tôi không biết nhạc Jazz đã ảnh hưởng như thế nào trong văn và thơ của ông. Wikipedia có nói rằng ông “muốn được xem là một nhà thơ Jazz thổi những đoạn nhạc Blues dài trong những buổi chiều Chủ Nhật trình diễn nhạc Jazz.” Wikipedia viết thêm:

Nhiều bài thơ của Kerouac được viết như thể cho dòng thơ tuôn chảy tự nhiên, những câu văn không gò bó, kèm thêm những chi tiết của nhạc Jazz và triết lý của Phật giáo. Mexico City Blues, một tuyển tập thơ có nhịp điệu giống như nhạc Jazz. Để bắt chước nhịp điệu của Jazz, Kerouac dùng gạch nối (kéo dài hơn gạch nối bình thường). Thí dụ như đoạn thơ sau:

Everything
Is Ignorant of its own emptiness—
Anger
Doesnt like to be reminded of fits—

Thật tình, tôi không thấy được cái gạch nối dài này nó được thể hiện như thế nào trong nhạc Jazz. Bill Messenger trong Elements of Jazz cũng nói thêm là Jack Kerouac có tổ chức những buổi đọc thơ có đệm nhạc jazz. Cuộc đọc thơ rất hấp dẫn nên thơ ông bán rất chạy. Lời phê bình của Bill Messenger về cả hai nhà văn, Fitzgerald lẫn Kerouac, làm tôi nghĩ: Jazz sells! Dường như hai nhà văn này biết cách lợi dụng chữ Jazz cũng như nhà văn thời bây giờ lợi dụng chữ sex vì biết rằng hễ nói về tình dục là đắt hàng.

John Leland có những nhận xét rất thú vị về tính chất Jazz của Jack Kerouac. Trong bài tiểu luận The Tao Of Orooni ông viết:

“Trong tất cả phong cảnh được nhắc đến trong quyển sách On the Road, không có gì mang nhiều tham vọng hơn thế giới của nhạc Jazz. Không có nhạc Jazz, Sal có thể đã ở nhà và viết quyển truyện The Town and the City, và Dean có thể trở thành diễn viên chầu rìa ở Hollywood hoặc là một chàng điếm đực, luôn ca cẩm là muốn làm đạo diễn.”[13]

Ở một đoạn khác trang 122:

“Những điều anh gán ghép với nhạc Jazz chẳng giải thích gì nhiều về bản thân anh cũng như tác phẩm On the Road.  Bạn không thể ca hát cuốn sách hay nhảy swing với nó. Nói cho chính xác, văn của anh ta viết giống nhạc Jazz như thế nào? Chính bản thân Kerouac cũng thường khi thay đổi trong cái việc tự phong cho văn thơ của mình có nhịp điệu giống như nhạc jazz, đặc biệt là khi nhạc rock bắt đầu làm cho nhạc Jazz bị lu mờ.”

Leland kể rằng Kerouac đã từng muốn đổi tên quyển sách On the Road thành Rock and Roll on the Road để tăng sức bán sách lên gấp đôi[14].

Trong khi đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi như Jazz là gì, nhạc Jazz ảnh hưởng như thế nào trong văn học Hoa Kỳ, và có liên quan hay không đến văn hóa của tôi, một người Việt sống ở hải ngoại; tôi như người đứng trên một vòng quay chậm, lần lượt ngắm nghía một số tác phẩm văn học, chỉ ngắm nghía thôi chứ không có thì giờ và điều kiện để săm soi chi tiết. Nếu tôi không thể mường tượng được tiếng nhạc từ trong văn của ba nhà văn lẫy lừng vừa kể trên thì làm sao bạn đọc có thể mường tượng được tiếng nhạc Jazz của ba nhà văn qua chữ của tôi. Như đã nói, nghe và nhận ra nhạc Jazz dễ hơn và thú vị hơn là đọc bài viết về ảnh hưởng của nhạc Jazz. Nhiều người bạn của tôi tuyên bố là họ rất ghét nhạc Jazz. Tôi cho là họ ghét nhạc Jazz vì thành kiến, vì chưa quen nghe nhạc Jazz. Rất có thể họ không thích tiếng gào thét của người hát Rock-n-Roll, tiếng rên rỉ của Blues, tiếng ồn ào của Swing và Be-bop. Bạn có thể nghe một thể loại của Jazz rồi thích hay không thích chỉ dựa vào thể loại ấy. Điều này cũng đúng nhưng chỉ đúng một phần. Một thể loại của Jazz không hoàn toàn là Jazz, nó là một phần độc đáo của Jazz. Âm nhạc cũng như con người, có lúc hay lúc không hay, tùy theo sở thích của người nghe.  Rất có thể người ta không thích một loại nhạc nào đó chỉ vì không thích hợp với cách trình diễn của một người hay một ban nhạc. Và cũng có thể vì thành kiến. Người ta vẫn quan niệm Jazz đi kèm với sex và rượu tạo thêm phần trụy lạc của giới hưởng thụ.

Bạn có thể tình cờ nghe nhạc Jazz mà không biết đó là nhạc jazz. Nếu có một lúc nào đó bạn dạo chơi trên youtube và tình cờ nghe Trần Vĩnh độc tấu saxophone những bài như Hạ trắng, Đêm đông và bị mê hoặc bởi tiếng kèn đồng khi tha thiết khi bay bổng này thì “Ô la, Ô lê” bạn đã nghe nhạc jazz. Nếu bạn đã từng nghe ca sĩ Bích Chiêu hát bài Nỗi lòng, có lẽ bạn cũng biết nàng hát theo kiểu nhạc Blues của một số nữ ca sĩ da đen Hoa Kỳ. Có khi bạn không thích nhạc Jazz chỉ vì nó khác biệt và xa lạ với bạn. Một cô bạn của tôi phàn nàn, nhạc sĩ saxophone Trần Mạnh Tuấn, trong buổi hợp tác biễu diễn với một ban nhạc Jazz ngoại quốc đã phát ra những âm thanh, chẳng có nghĩa lý gì cả. Cách hát đó được gọi là scat singing. Malcolm Cowley, nhà phê bình nhạc Jazz,  đã ví “những câu thơ của Jack Kerouac trong bài thơ Mexico Blues giống như những câu scat singing được hát rất chậm.”[15]

Jazz xuất hiện trong văn học Hoa Kỳ thường ở hai dạng: Jazz được dùng để tạo không khí hay bối cảnh cho truyện hoặc là cuộc đời của nhạc sĩ Jazz được tiểu thuyết hóa, biến nhạc sĩ thành nhân vật của truyện. Ở dạng thứ hai, có Young Man With a Horn của Dorothy Baker nói về cuộc đời của Bix Beiderdecker; Coming Through Slaughter của Micheal Ondatjee viết về cuộc đời của Buddy Bolden, nhạc sĩ kèn trumpet sống ở New Orlean; Eudora Welty viết về nhạc sĩ Fats Waller trong tác phẩm Powerhouse. Charlie Parker là đối tượng của vài quyển sách như The Color of Jazz của Jon Panish, và The Night Song của Ross Russell. Ở dạng thứ nhất, Jazz là bối cảnh, tạo không khí cho truyện, là chi tiết tăng thêm phần hấp dẫn của truyện. Vài tác phẩm được nhắc đến như là On the Road của Jack Kerouac, The Great GatsbyTales of the Jazz Age của F. Scott Fitzgerald, Jazz của Toni Morrison, và khá nhiều truyện thuộc thể loại trinh thám kinh dị tuy không mấy nổi tiếng. Jazz của Toni Morison là chuyện ba người, lấy bối cảnh là Harlem vào thập niên 1920. Người đàn ông có người tình, mười bảy tuổi, trẻ và đẹp. Đang cơn mê đắm muốn giữ cảm giác mê đắm đó anh ta giết người tình. Người đàn bà lên cơn điên vì ghen đến nhà quàng, đám tang của người tình, dùng dao rạch mặt người chết là lôi thi hài xuống đất. Một số nhà phê bình cố giải thích Jazz xuất hiện như thế nào trong truyện Jazz của bà Morrison, tôi không nhìn thấy gì ngoài những đoạn văn rất đậm chất thơ của bà. Có lẽ cũng như truyện của Fitzgerald, Jazz xuất hiện như một cách sống trụy lạc, đen tối, đau khổ.

Viết về jazz, dù chỉ nhắc nhở thoáng qua hay dùng Jazz làm bối cảnh và tạo không khí truyện, đa số các nhà văn viết với tầm nhìn của người ngoại cuộc. Viết bằng quan điểm của người trong cuộc chỉ có vài nhà văn hiếm hoi, trong đó nổi bật nhất là Ralph Ellison. Ralph Ellison, trước khi trở thành nhà văn ông là một nhạc sĩ Jazz. Theo Peter Townsend, “cả bốn tác phẩm (của Ellison) đều tràn ngập những viện dẫn jazz, và một số tiểu luận của ông về jazz, được chọn đăng trong Shadow and ActGoing to the Territory bao gồm những bài tiểu luận thể hiện rõ ràng tư tưởng độc lập dù những bài tiểu luận này được chọn bởi bất cứ nhà văn nào chuyên viết về đề tài Jazz. Ellison sinh trưởng ở Oklahoma City, học nhạc ở Tuskegee Institute, có nhiều bạn là nhạc sĩ danh tiếng. Tuy chủ ý của ông là học sáng tác theo khuynh hướng nhạc cổ điển châu Âu, ông trình diễn và xem Jazz là một cách sống bình thường của cộng đồng người da đen.”

Quyển sách lưu tên tuổi của Raph Ellison là quyển Invisible Man. Tôi xin mượn nhận xét của Peter Townsend để giới thiệu Ellison.

Invisible Man đặt nhân vật chính vào các tình huống ngặt nghèo khiến cho nhân vật nhận ra rằng cuộc đời của anh ta bao gồm nhiều kiểu bị bóc lột, hết bóc lột này đến bóc lột khác. Qua kinh nghiệm bản thân, nhân vật chính kết luận rằng, một người da đen là một người vô hình trong xã hội, và lý luận rằng có những tình huống mà anh ta không nên hiện diện, thế thì anh tự biến mất, bằng cách chui xuống lòng đất theo đúng nghĩa đen. Đoạn mở đầu và đoạn kết thúc của tác phẩm này đã tiết lộ anh ta sống ở dưới mặt đất, một nơi đâu đó giữa thành phố Manhattan, thắp đèn và sưởi ấm bằng điện câu trộm từ cột điện của thành phố, nhờ vậy mà anh ta có thể nghe mãi nghe hoài lập đi lập lại cái đĩa nhạc ‘Black and Blue’ của Louis Amstrong.

[…] ‘Có lẽ tôi thích Louis Amstrong’ nhân vật tiếp tục nói, ‘bởi vì ông làm ra thơ từ sự vô hình của ông. Tôi nghĩ phải như thế bởi vì ông không biết là ông vô hình. Nhờ cố gắng tìm hiểu về sự vô hình tôi hiểu âm nhạc của ông.’

Bài hát Black and Blue lời của Andy Razaf, nhạc của Fats Waller, thâu đĩa lần đầu bởi Amstrong năm 1929, là một bài hát đặc biệt vượt hẳn các bài hát nổi tiếng thời bấy giờ vì nó đề cập thẳng vào vấn đề kỳ thị chủng tộc. Amstrong dùng kèn trumpet, đây là một nhạc cụ được xem là của quân đội. Ralph Ellison cảm thấy thú vị khi Amstrong áp đặt ca từ của người da đen lên một nhạc cụ quân đội. Ca từ của bài hát Black and Blue ngầm biểu lộ ý nghĩ và sự phản kháng của nhân vật. “What did I do / To be so black and blue?” Đây là một ca từ đơn giản nghe có thể hiểu ngay nhưng dịch ra thật là không dễ. Chữ blue được hiểu theo hai nghĩa, buồn bã và cũng là một điệu nhạc của người da đen.

Ralph Ellison là một nhà trí thức. Ông rất tự hào về chủng tộc da đen và nền âm nhạc giàu có mà người da đen đã xây dựng. Tự hào đến độ ông không thích nhạc Jazz hiện đại (kết hợp Jazz truyền thống với âm nhạc cổ điển Tây phương, trình diễn bằng các ban nhạc giao hưởng vĩ đại) vì ông cho rằng các nhạc sĩ người da đen đã cố gắng để được lòng các ông chủ làng âm nhạc cũng như giới thưởng ngoạn là những người da trắng thuộc giai cấp trung lưu. Tuy thế ông cũng nhận ra rằng “Jazz vẫn bị những người Negroes có uy thế đáng trọng vọng của cộng đồng da đen xem là một cách biểu lộ chậm tiến và hạ cấp.”

Những năm sáu mươi ở Việt Nam có nhà thơ Thanh Tâm Tuyền mang Jazz vào bài thơ của ông. Bài thơ có tựa đề “Đen.”

Một người da đen một khúc hát đen
Bầu trời đen sâu không cùng
Những dòng nước mắt
Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
[…]
Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen
Trên màu da nức nở
Trong hộp đêm
Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình
Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng.

Chỉ tò mò tự hỏi, nhạc Jazz là gì, và nhạc Jazz ảnh hưởng đến văn học Hoa Kỳ như thế nào, trong khi đi tìm câu trả lời cho chính mình tôi rơi vào một kho tàng văn hóa. Tôi như người nhìn những đồ vật quí giá trong kho tàng nhưng không biết làm cách nào để mang về bởi vì mỗi món đồ đều to hơn tầm tay tôi và sức lực của tôi. Tôi nhận ra rằng chủ đề này quá rộng lớn. Chỉ cần chọn một nhà văn trong số những nhà văn tôi vừa kể để quan sát ảnh hưởng của Jazz (và Blues) trong tác phẩm của họ cũng đủ chiếm một thời gian rất lớn. Nhạc Jazz và Blues đặc biệt ảnh hưởng nhiều đến các nhà văn da đen như Toni Morrison, Ralph Ellison, James Baldwin và Langston Hughes.

Sau sáu tuần lễ nghe nhạc Jazz, đọc một ít sách về nhạc Jazz, nghe một ít nhạc Jazz, xem vài cuộn phim về cuộc đời các nhạc sĩ nhạc Jazz, tôi kết luận: Cuộc đời của các nhạc sĩ Jazz, ngay vào lúc đỉnh cao của loại nhạc này, đa số có cuộc sống bất hạnh, họ sống trong không khí ăn chơi tự do trác táng nên có người đâm ra nghiện rượu hay nghiện ma túy. Có người trút hết tấm lòng vào tiếng nhạc đến cuối đời mòn mỏi mất cả ý chí muốn sống. Cũng có người giàu có và hạnh phúc nhưng số người này không nhiều. Bây giờ, một cách tương đối, tôi có thể phân biệt được nhạc Jazz và nhạc Blues. Tôi có thể nhận ra sau một màn “free wheeling riff” hay một đoạn “syncopation” hay “improvisation” độc đáo, tôi có thể khen tặng nhạc sĩ một tràng pháo tay, đúng lúc.

Nhạc Jazz có lẽ cũng không xa lạ lắm với giới thưởng ngoạn người Việt ngày nay.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà

Chú thích:

  1. “Jazz in the Garden.”
  2. Murakami, Haruki. “Jazz Messenger.”, The New York Times [New York], 08 July, 2007.
  3. Riff là một từ chuyên môn dùng trong âm nhạc, jazz và rock, để chỉ sự lập lại của nhịp điệu, hay một số nốt nhạc, với một chút thay đổi của một nốt nhạc trong một nhóm nốt nhạc hay bỏ một nhịp (của trống hay bass) trong một chuỗi nhịp điệu.
  4. Tương tự như footnote Haruki Murakami [1].
  5. Teachout, Terry. “Jazz.” The Wilson Quarterly (1976-), Vol. 12, No. 3 (Summer, 1988), pp 66-76. Tham khảo ngày: 19-07-2015.
  6. Louis Amstrong là một thiên tài của nền nhạc. Ông có tài trình diễn kèn đồng, và có giọng hát trầm và khàn. Ông khuếch động sáng tạo trong trình tấu độc diễn bằng syncopation, nhạc trưởng của hai ban nhạc jazz nổi tiếng Hot Five và Hot Seven.
  7. Uncle Tom's Cabin - Group and Solo Cakewalk dance (1903) hoặc là Cakewalk - Vintage/Vernacular Dance
  8. Messenger, Bill. “Elements of Jazz – From Cakewalk to fusion.” CD book. Springfield, VA: Teaching Co., 1998.
  9. Tương tự Terry Teachout.
  10. Terry Teachout là nhà phê bình nhạc jazz của báo Kansas City Star (1977–83). Ông cũng là nhà tư vấn về các bộ môn âm nhạc nghệ thuật của Time-Life Records Giants of Jazz. Ông sử dụng đàn bass và dương cầm.
  11. Fitzgerald, Francis Scott. The Great Gatsby (Kindle Locations 666-671). Feedbooks.
  12. Fitzgerald, F. Scott. Jazz Age Stories - Edited with an introduction and explanatory notes by Patrick O’Donnell, New York: Penguin Books, 1998. p. 17
  13. Leland, John. “The Tao of Orooni” in “Why Jack Kerouac Matters – The Lessons of On the Road.” New York, Penguin Books, 2007.
  14. John Leland. Trang 123.
  15. Malcom, Douglas. “‘Jazz America’: Jazz and African American Culture in Jack Kerouac’s ‘On the Road’.” Contemporary Literature, Vol. 40, No. 1 (Spring, 1999), p. 86. University of Wisconsin Press. Quoted from Malcom Cowley. Đọc ngày 25-07-2015.
Đọc bài viết

Trà chiều

Phân loại 22 kiểu độc giả thường gặp: Bạn thuộc kiểu nào? (phần 2)

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

Published

on

WHAT KIND OF BOOK READER ARE YOU? A DIAGNOSTICS GUIDE
Jen Doll

Đọc phần 1

Thư Quý ông (hoặc Quý bà), thật khó để gây ấn tượng với bạn. Bạn chỉ đọc những cuốn sách được đánh giá cao bởi các nhà phê bình mà bạn nhận định là tầm cỡ nhất. Bạn sẽ không bao giờ ngó ngàng tới danh mục best-seller, hay bất cứ cuốn sách nào trên kệ giảm giá, bất cứ gì KHÔNG ĐỦ HAY. Những cuốn sách bìa mềm xúc phạm bạn; bạn chỉ chạm vào những cuốn sách bìa cứng – tốt nhất là, từng chiến thắng tại các giải thưởng tầm cỡ.

Gợi ý cho bạn: Sách được đề cử giải Pulitzer.

Bạn dính chặt với những tác giả mình yêu mến, và bạn đọc sách của họ, gần như là độc chiếm; bạn đọc tất cả những gì họ viết, tốt hay tệ, bất kể nhận xét đánh giá từ bạn bè hay gia đình. Tất cả mọi người đều biết bạn muốn nhận quà gì trong ngày sinh nhật hoặc dịp lễ Tết. Bạn là một người hâm mộ chân chính, và luôn sẵn sàng xếp hàng để xin chữ ký từ BWF (Best Writer Ever) – Nhà văn xuất sắc nhất từng hiện diện.

Gợi ý cho bạn: Cái này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Với tôi, đó là Betty Smith.

Chà, bạn thích sách nói? Tuyệt vời. Có một nơi dành cho bạn, những người có đôi tai thực chất là đôi mắt. Tôi thì đúng thật là không hiểu nổi, nhưng này, mỗi người đều có sở thích riêng. Có lẽ bạn sở hữu một cái xe đời mới, hoặc chạy hàng dặm như vận động viên Olympic trong quảng cáo.

Gợi ý cho bạn: Tất cả những cuốn sách mà chúng tôi “đọc”.

Hoặc là bạn đọc sách phi hư cấu, hoặc là bạn sẽ không đọc gì! Cuốn sách nào cũng nên có mục đích và phải có ý nghĩa. Bạn cần phải học được cái gì đó. Cuốn sách phải có lý tưởng! Theo ý kiến chủ quan của bạn, nếu chỉ để cho vui, bạn có thể tìm đọc trên mạng. Bạn thích đọc điểm tin, những câu chuyện có thật hoặc những bài phóng sự. Nếu đó là sách hư cấu, hãy viết nó theo kiểu Chinua Achebe. Ngoài ra, bạn cũng thích thư viện.

Gợi ý cho bạn: Sách viết bởi tổng thống; những thứ nói về cuộc biểu tình Chiếm lấy phố Wall; Không bao giờ gục ngã của Laura Hillenbrand.

Vâng, bạn dễ ghét hơn là yêu, nhưng khi bạn đã yêu, bạn yêu cuồng nhiệt, yêu theo phong cách thời thượng nhất. Nó sẽ không còn là một cuốn sách nếu bạn không thể tranh luận về nó, vì thế bạn sẽ tranh luận! Không ai có thể ngăn cản bạn. Bạn hay bóng gió về những phép ẩn dụ, những từ ngữ tượng hình, những khái niệm, ý tưởng, và những nút thắt trong cuộc nói chuyện hàng ngày. Bạn tôn thờ một cái kết ngoạn mục nhiều như cách mà bạn viết lời nói đầu hay lời kết. Và đặc biệt, bạn yêu những gì giúp bạn có thể đắm mình vào những cuộc thảo luận. Bạn nhận thấy những câu lạc bộ sách “quá chính thống”.

Gợi ý cho bạn: Nhà báo và kẻ sát nhân của Janet Malcolm; bất cứ tác phẩm nào của Haruki Murakami.

Bạn là người đi lang thang khắp các hội thảo sách với một đống ARC (Advance Review Copy – bản xem trước của sách sắp ra mắt) trong túi xách. Nếu nó miễn phí, bạn sẽ lấy mang về; nếu không, bạn sẽ cố lấy nó miễn phí. Không có vấn đề gì dù bạn có đọc hết đống ARC đó hay là không. Không phải bạn là một người không yêu sách, bạn có thích sách chứ. Nhưng bạn sẽ cố gắng hết sức để chạm vào nó trước bất cứ ai.

Gợi ý cho bạn: Hãy tới BookExpo America - Lễ hội trao đổi, giới thiệu sách thường niên tại Mỹ.

Nếu ai đó nói gì, điều đó chắc chắn là đúng! Bạn tin lời tất cả mọi người, từ mẹ bạn tới Oprah Winfrey tới những thành viên trong câu lạc bộ sách tới Michiko Kakutani, và bạn tin tất cả! Có quá nhiều cuốn sách dành cho bạn, bạn nên bắt đầu ngay đi. Đừng lo, bạn hiểu được bạn cần đọc những cuốn sách như thế nào – và nếu không, thì hãy tra Google. Bạn tự làm được. Bạn thích đọc sách theo nhóm.

Gợi ý cho bạn: Hoang dã của Cheryl Strayed, Telegraph Avenue của Michael Chabon, Cách trở thành phụ nữ của Caitlin Moran và Cô gái mất tích của Gillian Flynn. Quá nhiều người khuyến đọc những cuốn sách này không có nghĩa là chúng sẽ không hay!

Đi bất cứ đâu, làm bất cứ điều gì, bạn luôn kè kè một cuốn sách. Không quan trọng nó là sách gì, miễn là có câu chữ ở trên giấy hay một trình đọc sách điện tử. Chúng tôi không thể gợi ý gì cho bạn bởi vì bạn đang cầm một cuốn sách trong tay tới cửa hàng tạp hóa, tới ga tàu điện ngầm, tới thư viện, tới tiệm giặt đồ hay tới quán cà phê, và bạn đang đứng xếp hàng hay ngồi yên ở đâu đó và đọc ngấu nghiến cuốn sách của bạn.

Bạn đọc được một cuốn sách bạn thích và bạn đơn giản là không thể ngừng nói về nó; bạn kể với bất cứ ai bạn biết, và bạn sẽ không dừng lại cho tới khi họ cũng đọc thử cuốn sách đó. Và rồi bạn muốn tiếp tục nói về nó. Nếu bạn là kiểu người như vậy, đôi khi bạn thích cho người khác mượn sách, và điều đó thật tuyệt vời. Chúng tôi thích bạn, độc giả thích chia sẻ. Bạn là người thích cho đi thay vì chỉ nhận lại.

Gợi ý cho bạn: Tất cả những gì bạn đọc và thích, tất nhiên rồi; tuy nhiên có thể cả những cuốn bạn không thích, bởi vì bạn sẽ nhanh chóng tặng cho người khác - người có thể thích cuốn sách đó hơn bạn.

Bạn biết mình thích gì, và thay vì tìm hiểu về những điều mới lạ mà có thể bạn chưa thực sự thích, bạn chỉ tập trung vào những điều bạn đã trải nghiệm. Bạn đọc đi đọc lại một cuốn sách, cứ quay lại với những cuốn sách như thể đó là bạn lâu năm, và thực sự đó là tri kỉ của bạn. Phương châm đọc sách của bạn là “Nếu nó chưa hỏng, thì đừng sửa”.

Gợi ý cho bạn: Bạn đã biết rồi mà.

Bạn là sự kết hợp của tất cả những kiểu độc giả kể trên nhưng đồng thời cũng khác biệt hoàn toàn với họ. Mỗi một cuốn sách mới tạo nên một phong cách đọc mới trong tâm hồn của bạn; và bạn từ chối bị đóng khung trong một dạng định nghĩa hay phân loại. Bạn tự do, hoang dã và mơ hồ. Bạn làm những gì mình muốn. Có lẽ bạn thuộc cung Song Ngư.

Gợi ý cho bạn: Chúng tôi không nghĩ mình có đủ khả năng gợi ý cho bạn.

Bạn đi quanh quẩn trong nhà cả ngày và lén nhìn những cuốn sách to lớn rải rác khắp căn phòng. Đôi khi, nếu may mắn, chủ nhân của bạn đang mở một cuốn sách đọc dở, và bạn nằm dài trên trang sách và để những trang giấy mịn màng chạm vào râu của bạn. Cảm giác thoải mái kỳ lạ, vô cùng thỏa mãn, đặc biệt là khi cuốn sách đang nằm ở một nơi đầy ánh nắng mặt trời, nơi bạn sẽ tận hưởng một buổi chiều yên ả. Chủ nhân của bạn, người thuộc kiểu độc giả “đang trong một mối quan hệ phức tạp” tưởng rằng bạn thực sự đang đọc sách, nhưng không. Bạn chỉ đang nằm nghỉ thôi. Con người thật kỳ lạ.

Gợi ý cho bạn: Cuốn nào nhìn vừa đẹp mà vừa phẳng.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Jen Doll, đăng tại The Atlantic.
Ảnh đầu bài: Charles Edward Perugini, Girl Reading

*

Muôn kiểu đọc sách




Đọc bài viết

Trà chiều

Câu chuyện về Thành phố sách Phương Nam: Wonderland của các Alice yêu sách

Published

on

Nếu ta nhảy lên cỗ máy thời gian của Doraemon trở ngược về thời điểm những năm 2015, khái niệm “thành phố sách” quả thực vừa xa lạ vừa mơ hồ, đặc biệt khi trong tiềm thức của những người yêu sách dạo ấy thì chẳng có nơi đâu thân thuộc ấm cúng bằng tiệm sách gần nhà, lọc cọc vài cuốc xe đạp đã tới.

5 năm ngắn ngủi trôi qua, năm Thành phố sách Phương Nam đã lần lượt xuất hiện, được hàng ngàn người tự hào điểm mặt gọi tên rằng đây là “nhà”. Lúc này ta mới bất chợt tự hỏi: từ khi nào, Phương Nam Book City đã trở thành lựa chọn quen thuộc của những người yêu sách?

Năm 2016, diễn đàn mọt sách bất chợt nóng lên vì một từ khóa rất lạ tai: “Book City – Thành phố sách”. Người ta truyền tay, inbox nhau những tấm ảnh concept của một không gian đọc sách rộng đến 3.000 mét vuông, vừa là nhà sách vừa là địa điểm giải trí và tụ hội giữa những người có chung sở thích đọc sách, làm văn.

Sau nhiều năm ấp ủ ý tưởng, cuối cùng Phương Nam Book City Aeon Bình Dương đã ra mắt với thiết kế như một thành phố thu nhỏ với những góc riêng biệt: bàn ghế đọc sách dành cho độc giả, khu vực Book Café dành cho người muốn làm việc hoặc thư giãn với bạn bè, khu vực tổ chức giao lưu sách với giới văn nghệ sĩ, khu vực đồ chơi dành cho gia đình và trẻ em.

Dẫu Thành phố sách nằm cách trung tâm Sài Gòn đến 20 cây số, nhưng không ít bạn trẻ đã đặt lịch check-in cùng bạn bè, không ngại ngần đường trường xe máy, hoặc thậm chí là lên google tìm kiếm tuyến xe buýt đi Bình Dương để chiêm ngưỡng tận mắt bước tiến mới này, và để nhận ra: Ừ, ở Việt Nam ta cũng tự hào sở hữu Thành phố sách rộng và đẹp như ở xứ người!

Sở hữu khối lượng lượng sách đồ sộ gồm cả quốc văn – ngoại văn dành cho mọi độ tuổi và gu đọc, Phương Nam Book City Bình Dương vẫn tâm niệm rằng sách cần “không gian để thở”, cần được trình bày trang trọng và chăm chút trên các tủ kệ để có thể đối diện, khoe mình với khách hàng. Book City ra đời với tôn chỉ tôn trọng sách, tôn trọng quá trình chọn lựa và đọc sách. Một Thành phố sách hiện đại, đầu tư như thế chính là kim chỉ nam, vạch đường dẫn lối cho sự ra đời của những Book City tiếp theo, tiếp nối tinh thần gốc và tô điểm thêm cá tính của riêng mình.


“Kiến thức cũng giống như một khu rừng, cần được khám phá và tái khám phá”

Việc Thành phố sách đầu tiên tại Việt Nam ra đời ở Bình Dương đã khiến dân Sài Thành… ghen tị lắm. Khi nhận được những lời phản hồi và mong muốn không cần phải lặn lội xa xôi mới có thể trải nghiệm không gian đọc sách mới lạ này, Phương Nam tự nhủ đã đến lúc mang Book City đến với các bạn yêu sách tại thành phố mang tên Bác. Năm 2017, Phương Nam Book City Hồng Bàng tọa lạc tại trung tâm thương mại Garden Mall (Thuận Kiều Plaza cũ) với concept “Rừng sách nhiệt đới” tự hào ra mắt.

Sức hút đặc trưng của Book City Hồng Bàng chính là cảm hứng thiết kế “xanh” - mang sắc xanh của cây cỏ, thiên nhiên hòa vào định vị hiện đại của một Thành phố sách: từ ánh đèn xanh mát phủ nhè nhẹ trên đầu, những chậu cây cảnh xinh yêu nép bên kệ sách gỗ thân thiện với môi trường, và đặc biệt nhất là những chiếc lều trại cho đúng với concept rừng nhiệt đới. Đừng quên, cung đường đi bộ 150 mét chính là điểm nhấn cho Book City Hồng Bàng, như nhè nhẹ nhắc nhở bạn: “Đọc sách không vội được đâu”.

Phương Nam Book City Hồng Bàng cứ thế, thanh mát mà có chút bí ẩn, là một điểm đến lý tưởng nếu bạn thực sự khao khát được “đi trốn”.





Năm 2018, quận Mười tự hào đón chào “Thành phố Sách châu Âu giữa lòng Sài Gòn” - Phương Nam Book City Vạn Hạnh Mall có lối kiến trúc đậm chất thơ, lấy cảm hứng từ những công trình Châu Âu nổi tiếng. Từng con đường, đại lộ, góc phố nổi tiếng trời Âu được đưa vào để tạo nên một Thành phố sách lãng mạng nhất Việt Nam.

Những ai trung thành với Book City Vạn Hạnh Mall có lẽ đã nhận ra, “nàng ấy” giống như tắc kè hoa thay áo mỗi mùa, cứ đến dịp lễ hội thì phải trang hoàng đỏm dáng. Đầu năm, khi Tết nguyên đán đến, Book City vội vàng thay lớp áo đỏ thắm vàng tươi để chung vui với quan khách trẻ già, cầu mong một năm an vui sẽ đến. Đến hè, Book City thêm hoa thêm hội để đón chào các bé thiếu nhi đến đọc hè - chơi hè, rủ rê các bé vào lắng nghe những câu chuyện cổ tích, sáng tạo từ sách. Trung thu thì treo đèn lồng cho có chút không khí đoàn viên; Halloween thì ngại ngần gì không dọa ma từ đầu cổng đến cuối ngõ; và Giáng Sinh thì có đội quân “anh già Tuyết” diễu hành để tay bắt mặt mừng với các bé thiếu nhi.

Vậy nên ít ai đi Book City Vạn Hạnh mà đi một mình lắm, vì niềm vui khi ngắm cảnh này phải san sẻ chung đôi, hoặc cần lắm một phó nháy có tâm để giữ hộ mình một ngàn shoot ảnh ta bên cuốn sách ta yêu.


Năm 2019, Phương Nam Book Lotte Center đã chính thức có mặt tại quận Ba Đình, đánh dấu một cột mốc mới trong cộng đồng người đọc sách đang sinh sống và làm việc tại thủ đô. Phương Nam đã phối hợp với đội ngũ kiến trúc sư uy tín từ Hàn Quốc, cùng hiện thực hóa một không gian văn hóa mới, mang phong cách hiện đại, tươi sáng, với những khu vực trải nghiệm riêng biệt để độc giả đến tham quan và mua sắm.

So sánh với ba Thành phố sách đi trước, Phương Nam Book Lotte Center có diện tích khiêm tốn hơn, nhưng chính nét khác biệt này khiến nơi đây - trong mắt tôi, và trong mắt rất nhiều người yêu sách khác - giống như một “ốc đảo” sang trọng và an tĩnh đến lạ. Phương Nam Book Lotte Center là không gian đọc sách hiện đại, với lớp áo bắt mắt tô điểm cho bộ khung sườn kiến trúc chỉn chu. Ngắm nhìn mỗi khung kệ sách, mỗi góc trưng bày, từng giàn cây trang trí khoe cành thản nhiên, ta nhận thấy sự chăm chút, cẩn thận và sáng tạo của đội ngũ nhân viên nơi đây.

Ở một khía cạnh nào đó, Phương Nam Book Lotte Center đỏm dáng chẳng kém gì người anh em Book City Vạn Hạnh Mall ở miền Nam, cứ mỗi mùa hội hè là lại tinh tế điểm sắc thêm hương mà không hề phô trương. Mùa Halloween và Giáng sinh tới, nếu bạn có cảm thấy chút buồn vì không khí lành lạnh đang tràn về, hãy ghé Phương Nam Book Lotte Center cùng với ai đó mình thương để cảm nhận nét đẹp của thành phố sách đầu tiên nơi Hà Thành nhé.


Khi khoe về Phương Nam Book City Saigon Center vừa khai trương, tọa lạc ngay tại ngã năm Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh, ai cũng sẽ ngạc nhiên cảm thán: chiếm cả ba mặt tiền! Thế nhưng, vị trí tiếp nối với mặt tiền không phải là điểm khiến Book City Saigon Center nổi bật. Nằm tại số 212 Nguyễn Trãi, nơi đây còn nhiều điều để kể và một bề dày lịch sử đáng nói.

Vào thập niên 1970, địa chỉ 212 Nguyễn Trãi là rạp xi-nê Khải Hoàn và Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch, một nơi đến giờ có lẽ chỉ tồn tại trong hồi ức các thế hệ 7X, 8X. Trải qua nhiều bận đổi chủ trao tay, các kiến trúc sư đã bóc những mảng sơn tân thời, để lộ ra bức tường xưa, màu tường xưa của nhà hát thuở nào. Phương Nam Book City sống dậy trên nền móng kiến trúc và bài trí của nhà hát cũ.

Dạo bước trong không gian hai tầng và một gác lửng, bạn sẽ trải nghiệm cảm xúc khác lạ vì ít có nhà sách nào có kiến trúc tầng lớp như vậy. Khi bước vào Thành phố sách, ngắm nhìn những tủ kệ cao tầng, bạn vẫn có thể đoán được sân khấu nằm ở đâu, khán đài nằm ở đâu, lầu hát nằm ở đâu. Và sẽ không là Book City nếu không có điểm nhấn đặc biệt cho các bé thiếu nhi, là khu thiếu nhi chuyên biệt mang cảm hứng quảng trường mini với rất nhiều những mảng sách, truyện tranh tuổi thơ giàu cảm xúc.

Với khởi nguyên như vậy, chẳng hề ngạc nhiên khi Phương Nam Book City Saigon Center có một không khí rất khác với ba người đi trước. Nơi đây sang trọng theo cách cổ điển, nghiêm cẩn mà ung dung, tự tại, đúng phong cách của một địa điểm đã trải qua nhiều đời nắng mưa.


Với thế hệ 8X trở về trước, “tiệm sách” trong ký ức hẳn là một không gian nho nhỏ, với những tủ sách trưng cao và trưng kín cả trăm đầu sách, thoang thoảng mùi hương giấy và có chút bề bộn, cũ kĩ. Phong cách đọc sách ngày ấy là thế, cặm cụi lần mò từng cuốn sách. Thế hệ 9X, 10X nay đã khác, cần những không gian thoáng đãng hơn, không chỉ đọc sách mà còn chụp hình, lưu giữ kỷ niệm và giao lưu trao đổi với những người cùng chung sở thích.

Tuy nhiên, điểm chung giữa lớp người xưa và lớp trẻ nay vẫn là tôn trọng những cuốn sách mình đọc. Người ta thường bảo, văn hóa đọc đang dần mai một. Nhưng tôi nghĩ, nó chỉ đang thay hình đổi dáng. Có chăng, Phương Nam Book City là một bước tiến mới, khiến quá trình đọc sách trở nên thuận tiện và dễ tiếp cận hơn. Tình yêu đọc sách vẫn bắt gặp ở khắp mọi nơi: từ những cô cậu bé ngồi cạnh mẹ đánh vần từng chữ; đến những bác trung niên đứng ngẩng đầu, nheo mắt nhìn kệ sách cao cao; những cặp đôi không chọn rạp cinema làm điểm hẹn mà đến nhà sách để đoán nhau gu bạn ấy có hợp gu mình không. Phương Nam Book City là một không gian văn hóa mang đến những giá trị mới cho cộng đồng: hãy đến nơi đây để một lần như Alice nhảy ùm vào một Wonderland mát mắt, mát tai, mát lòng.

Năm Thành phố sách của Phương Nam cứ thế, nhẹ nhàng len lỏi và từng bước xây dựng vị trí vững chắc trong trái tim, chắp cách tâm hồn Việt. Năm Book City ra đời, chỉ là năm chương hồi mở đầu của Phương Nam Book City, cho một giấc mơ đọc sách Việt tràn khắp mọi ngõ đường góc phố.

*

1. Phương Nam Book City Aeon Bình Dương:

  • Địa chỉ: Tầng Trệt - Aeon Bình Dương Canary, 01 Đại lộ Bình Dương, Khu phố Bình Giao, P. Thuận Giao, Thị xã Thuận An, Bình Dương.
  • Thời gian mở cửa: 10:00 – 22:00. Riêng thứ Bảy, Chủ nhật mở cửa từ 9:00 – 22:00

2. Phương Nam Book City Hồng Bàng:

  • Địa chỉ: Tầng 2 - The Garden Mall, 190 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 5, TP.HCM
  • Thời gian mở cửa: 9:30 – 21:30

3. Phương Nam Book City Vạn Hạnh Mall:

  • Địa chỉ: Tầng 3 - TTTM Vạn Hạnh Mall, 11 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, TP.HCM
  • Thời gian mở cửa: 9:00 – 22:00

4. Phương Nam Book Lotte Center

  • Địa chỉ: Tầng 3 - Lotte Center, 54 Liễu Giai, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, Tp. Hà Nội
  • Thời gian mở cửa: 7:30 – 22:00

5. Phương Nam Book City Saigon Center:

  • Địa chỉ: Số 212 Nguyễn Trãi, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP.HCM
  • Thời gian mở cửa: 7:30 – 22:00

*

Book City – “Nhà” của nhiều người trẻ mê văn hóa

Đọc bài viết

Cafe sáng