Nối kết với chúng tôi

Sáng tác

Thơ: dấu hiệu kết thúc (Vũ Lập Nhật)

Published

on

khi một bộ phim về nỗi buồn kết thúc

những người tạo tác nó hiện ra dưới những cái tên

như trong chứng minh nhân dân của họ

qua những con chữ bò từ chỗ giá sách vừa tầm tay ta

lên trần nhà cao chót vót đôi khi họa may có vài con thằn lằn

cũng giống như cách một bộ phim về niềm vui sẽ kết thúc

nhưng trái ngược với chiều chuyển động

khi ta ngắm hoàng hôn rồi nhìn xuống đôi chân mình

bầu trời những lúc ấy luôn trong vắt

như cốc nước cam lọc hạt cẩn thận

hay ruột dưa hấu loại sạch hạt đen

vốn không cần thiết như trên lông loài chó đốm

mà nếu không tồn tại chúng đã là chó lông trắng

ta khạc những hạt cam, hạt dưa hay hạt của bất kì loại quả nào

xuống ngay hai bàn chân đang giúp ta đứng trên mặt đất

như để xua đuổi những nguy cơ

về sức khỏe, bản ngã, nỗi buồn và cả niềm vui

trong khi lẽ ra ta có thể dịch điểm kết thúc của chúng thêm vài phân

xuống đất nơi chúng sẽ cho ra những khả thể mới

thay vì xuống chân ta nơi khó xảy ra thêm diễn biến đột phá nào

nhưng biết sao được khi những đám mây cũng phân biệt màu sắc

vào một số buổi chiều, chúng truyền nhau tín hiệu ngày tàn

rồi bay đi mất

để lại ta hoàng hôn thuần túy cam hoặc đỏ không có những chuyển sắc

đôi khi là xanh ngọc lục

dù sao cũng không quan trọng

tất cả rồi sẽ sớm trở về màu bóng đêm

Hết.

Vũ Lập Nhật

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Ngôn ngữ tình yêu (Nicolette Polek)

Published

on

Biba ngọ nguậy trên ghế máy bay, thả hồn theo điệu nhạc phát ra từ tai nghe. Cô không thể tránh khỏi cảm giác ngứa ngáy do vỏ bọc cọ vào tai và không khí mát mẻ len lỏi vào trong. Mỗi lần khỏi bất cứ nơi nào, Biba luôn thấy lòng mênh mang khó tả, cứ như thể cô sẽ vĩnh viễn rời xa nơi ấy.

Người hành khách ngồi cạnh Biba đeo một chuỗi hạt vàng to, rực rỡ và đang lầm rầm cầu nguyện. Cô cầu cho chuyến bay thượng lộ bình an và tiện thể, xin cho ông chồng cùng với gã nghệ sĩ dương cầm ngớ ngẩn đã dụ dỗ ông đi, đều sớm ngày… xuống lỗ. Trong khoảng thời gian tĩnh lặng hơn một chút của chuyến bay, cô quay ra phía ô cửa sổ bé xíu, thì thầm với những người ở dưới đất rằng họ sẽ sớm phải nếm mùi cay đắng.

Một tiếp viên trông có vẻ mũm mĩm và dễ chịu y như một cô bảo mẫu, hay một thanh xúc xích. Cô bước ra giữa lối đi để thông báo gì đó. Sự hỗn loạn trên chiếc máy bay chật chội khiến bụng của Biba đau nhói. Cô cần một viên thuốc an thần và một nụ hôn.

Cô tiếp viên thì thầm qua chiếc loa: “Chúng ta bay lạc rồi.” Câu nói đó quét qua khuôn mặt của tất cả mọi người nhiều biểu cảm khác nhau. Cô gái tiếp tục giải thích rằng phi công “chưa bao giờ nhìn thấy nơi này”, theo hệ thống định vị, chúng ta đang bay qua “một nơi mà hiện không còn ở đó nữa.”

Biba vươn vai ngó ra ngoài. Mây giăng đầy trời và đây đó có những mảng xám như mảnh vá. Cô nhún vai, nói với người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng:

- Tôi thấy có gì khác lạ đâu.

Lúc này, một số tiếp viên khác mặc đồng phục nghiêm trang, trông có vẻ không thoải mái như người ban nãy, đang đi khắp máy bay để nhắc nhở mọi người cách đeo mặt nạ dưỡng khí và tuyệt đối không nhìn ra cửa sổ.

Khung cảnh mây và núi trông thật đơn sơ và thân thuộc.

Giọng người phi công bắt đầu cất lên qua bộ truyền thanh. Anh cố kể vài câu chuyện tếu táo và hỏi han, gợi chuyện cho hành khách tám với nhau. “Anh chị thích ăn món gì?”, “Mọi người thích đi nghỉ ở nơi nào?” Biba thầm trả lời tất cả câu hỏi đó trong trí óc. Chúng làm đầu óc cô dịu lại. Cô cảm giác mình hoàn toàn có thể ra đi thanh thản như thế này. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng rít lên giận dữ với một gia đình ngồi ở băng ghế trên, sau đó, cô bắt đầu thở gấp. Bên ngoài, bầu trời dần ngả sang sắc đỏ rực rỡ và những đám mây biến thành những quả cầu bạc óng ánh. Dường như máy bay đang bay chậm lại, tựa hồ đang xuyên qua thứ gì đó dày đặc. Một cảm giác kỳ quặc lan tỏa khắp cabin như một cơn đau mình.

Sau một tiếng đồng hồ, giọng của những người tiếp viên the thé vang lên. Đôi mày của họ chau lại, lộ vẻ hãi hùng. Họ tụ tập ở đuôi máy bay, lôi những chai slivovitz ra từ sau tấm màn đen. Một người đàn ông nước mắt lưng tròng liền nhập hội. Người phụ nữ đeo chuỗi hạt vàng cũng nối gót theo sau. Vừa hớp rượu, họ vừa nhìn chằm chằm vào vùng đất mơ hồ và đáng sợ như địa ngục bên dưới. Cảm giác hoang mang tột độ trong mỗi người càng bị khích động. Miệng họ nguyền rủa liên hồi. Họ uống bạo đến mức những chiếc chai thủy tinh rỗng mau chóng rải rác khắp mặt sàn. Bên ngoài, trời tối sầm lại, mấy đám mây bừng lên ánh lửa. Một âm thanh rùng rợn quét qua máy bay.

Cuối cùng, một hành khách tình cờ mở được cửa hầm thoát hiểm nhỏ xíu. Hệt như một trò đùa. Nhưng dù sao đi nữa cũng có chỗ leo xuống. Các hành khách khác lần lượt thoát thân, từng người, từng người một.

Sau một lúc, khoang hành khách vắng tanh, chỉ còn lại anh phi công, Biba và từng cơn gió rít.

*

“Cô thích loại nhạc nào?” anh cất tiếng hỏi. Biba cảm thấy người sốt lên. Chàng phi công bật một bản nhạc của Strauss. Giai điệu du dương tràn qua loa phát thanh.

“Nếu được, ngay lúc này cô ước mình đang ngồi ở đâu?” anh lại hỏi.

“Nếu được trở thành một người trong thư viện, cô sẽ là ai?” chàng trai hỏi tiếp.

Biba ngắc ngứ trong miệng. Cô cũng muốn hỏi chuyện người phi công.

Anh lại cất tiếng: “Cô nghe tôi nói chứ?”

Biba ước gì cô có thể đứng dậy, bước tới và ngồi xuống bên cạnh người phi công. Nhưng cô không nhấc người lên nổi. Hình như anh ấy đang bước lại gần hơn nhưng rồi vĩnh viễn đứng yên một chỗ.

Liệu anh có cảm nhận rằng cô còn ngồi trong máy bay với anh? Rằng cô còn bị mắc kẹt đâu đó? Cô tự hỏi mỗi khi máy bay cất cánh, anh có nghĩ đến gia đình, đến Chúa hay người thương chăng. Rồi cô lại băn khoăn anh có nuôi thú cưng không, nó sẽ chào đón anh bằng niềm vui khôn tả. Và anh có luôn để cửa mở để chờ người đi xa trở về?

“Khi chúng ta hạ cánh thì sẽ thế nào nhỉ?”

Em sẽ nắm tay anh và chúng ta thoát khỏi chiếc máy bay này - Biba thầm nghĩ.

Ga cuối là một căn phòng trống hoác, có mùi tựa như một chiếc găng tay. Một cậu bé thiếp đi trên chiếc ghế đỏ. Chúng ta sẽ bước vào xe hơi của anh và lái đi giữa trời mưa tầm tã. Chúng ta ngồi bên nhau. Không ai nói một lời. Cũng chẳng cần nhìn nhau. Anh sẽ đỗ xe bên bờ biển. Đó là điều dịu dàng nhất trên thế gian này.

Cô dựa sâu vào ghế.

Lâu thật lâu, cô lại nghe thấy giọng anh. Thật nhẹ nhàng, và lần này, Biba còn nghe thấy tiếng bước chân.

Bên ngoài, một rừng cây chanh.

Hết.

Phương Hạ dịch.

Nguyên tác được thực hiện bởi Nicolette Polek, đăng tại Literary Hub.
Ảnh đầu bài: The Kiss, Gustav Klimt.

Câu chuyện “Love Language” (Tạm dịch Ngôn ngữ tình yêu) được trích từ tuyển tập Imaginary Museums của Nicolette Polek. Nicolette Polek là nhà văn người Cleveland, Ohio. Năm 2019, cô được nhận giải thưởng nhà văn của Rona Jaffe Foundation.

Đọc bài viết

Sáng tác

Thơ: tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế (Vũ Lập Nhật)

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế, để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này

Published

on

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
không phải để cất nó vào câu thơ
trong bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà
mỗi dòng thơ như một điếu thuốc
đầu lọc thuốc ở lề trái

phần để đốt cháy nằm cách lề phải vài phân
như mặt trời chỉ cách đám mây che mờ nó
một hay vài phép tu từ
rằng mây là rổ đựng trái cây màu trắng
trong đó đủ cam, đỏ, tím, vàng
khi buồn chán anh có thể chọn quả chuối
làm phép ẩn dụ cho mặt trời
dù rằng cam hay táo
trông có vẻ thích hợp hơn
khi ta lật ngược bài thơ này
nhìn nó từ phía sau
đầu lọc thuốc ở lề phải

phần để đốt cháy nằm cách lề trái vài phân
khi tôi đọc câu thơ này lên
làm sao diễn tả được sự dịch chuyển của nó từ phải sang trái
khi những câu thơ ở khổ trên
đã đi theo chiều hướng ngược lại
từ trái sang phải
những chữ cái nối đuôi nhau về một phía
và dấu thanh trong tiếng Việt trôi lơ lửng bên trên
nếu được dịch sang tiếng Anh
lịch sử tồn tại của chúng sẽ biến mất
giọng đọc tôi khi ấy
làm sao thể hiện được nỗi buồn
từ những dòng chữ bơ vơ chờ dấu thanh quay trở lại
liệu tôi có nên lên cao hay hạ giọng
để thể hiện sự tròng trành
như con thuyền lắc lư
giữa câu thơ này và câu thơ kia
là những điếu thuốc không thể xếp bằng nhau
điếu này tôi hút ở câu đầu tiên
điếu kia khởi sự từ khổ thứ hai
trang giấy là chiếc gạt tàn
ôm áp câu thơ đã hóa thành tro
làm sao cơ thể tôi biểu hiện được cái chết ấy
như một tấm bảng thông báo sự thật
rằng ngay khi một câu thơ chạy thoát sự giam cầm
từ đầu tôi để đáp xuống trang giấy
cũng là lúc nó đã chết đi
rằng tiếng phát ra từ mỗi đầu ngón tay
gõ mạnh hay không mạnh vào những ô chữ
cũng là lúc từng chiếc đinh đã được đóng
xuống nắp quan tài
chôn cất những điều có nhiều hơn một khả thể

tôi ước gì bầu trời đã xanh hơn thế
để đốt cháy sự tồn tại của câu thơ này
cả lịch sử, hữu thể, và khả thể nó sản sinh
cho bài thơ tôi dự định sẽ viết
khi về nhà hoặc không về nhà

Hết.

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Giáng Sinh (Vladimir Nabokov)

Published

on

Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viên băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã từng dùng đến nó. Tương tự như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến, lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến vô lý nhất, trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viên đồ sộ ở nông thôn cũng có một góc không ai lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi.

Chái nhà này nối liền, bằng một hành lang dài và hẹp bằng gỗ, đang bị cơn tuyết miền Bắc Nga lấp đầy, với phần chính của ngôi nhà, chỉ được dùng vào mùa hè. Không cần thiết phải đánh thức hay sưởi ấm nó; chủ nhân của ngôi trang viên đến từ Petersburg ở chỉ đôi ba ngày và chỉ cần dùng phần nối liền của ngôi nhà, chỗ này đơn giản chỉ cần nhóm cái bếp bằng sứ Hòa Lan.

Chủ nhân của trang viên ngồi trong cái góc nhà không ai qua lại này, trên cái ghế bọc nhung, như thể ông đang ngồi chờ trong phòng mạch của bác sĩ. Căn phòng trôi nổi trong bóng tối, và màu xanh thẫm của hoàng hôn lọc thấm qua chòm lông tơ pha lê của sương giá trên khung kính cửa sổ. Ivan, ông giúp việc bệ vệ và ít nói, mới cạo sạch bộ ria mép nên trông ông rất giống ông bố đã qua đời, trước là quản gia, mang vào một cây đèn dầu hỏa, lau chùi sạch sẽ và sáng rực. Ông đặt đèn lên cái bàn nhỏ và, rất êm ả, ông lấy cái chụp đèn lụa màu hồng rào vây chung quanh đèn. Trong một thoáng ngắn ngủi cái gương nghiêng phản chiếu ánh sáng lên lỗ tai và mái tóc bạc cắt ngắn của ông. Xong, ông thoái lui và cánh cửa kêu kẽo kẹt nho nhỏ.

Sleptsov nhấc bàn tay ra khỏi đầu gối, chậm chạp quan sát. Một giọt nến đã dính và đông cứng lại ở khoảng da mỏng giữa hai ngón tay. Ông xòe các ngón tay và lớp vảy mỏng màu trắng bị vỡ tan.

*

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy những giấc mơ vụn vằn vô nghĩa hoàn toàn chẳng liên hệ với nỗi buồn khổ của ông, khi Sleptsov bước ra ngoài hàng hiên lạnh giá, nền nhà thoát ra tiếng kêu răng rắc như tiếng súng nổ vui vẻ dưới chân ông, và ánh phản chiếu của các ô kính cửa sổ nhiều màu sắc kết hợp lại thành những hình thoi đẹp tuyệt trần chiếu lên trên những cái ghế trắng không bọc nệm đặt cạnh cửa sổ. Thoạt tiên lớp cửa bên ngoài hơi khó đẩy, rồi thì nó chịu mở ra với tiếng kêu giòn giã răng rắc, và hơi băng giá choáng ngợp tạt vào mặt ông. Lớp cát màu đo đỏ được rải lên lớp băng che phủ những bậc thềm của hiên trước trông giống như bột quế, và các thỏi băng nhũ thật dày có màu xanh lơ pha lục treo lủng lẳng trên mái nhà. Lớp tuyết dày len lỏi vào tận trong mấy cái cửa sổ của phần nhà nối, xiết chặt dãy hành lang hẹp bằng gỗ gọn gàng này bằng gọng kềm giá lạnh. Cái khối màu trắng ngà, trước là nơi trồng hoa vào mùa hè, đã phồng to lên, hơi cao hơn mực tuyết của hàng hiên trước, và xa xa là ánh sáng lộng lẫy của rừng, nơi ấy tất cả các cành cây màu đen đều được viền ánh bạc, và những ngọn thông xanh dường như co rúm những cái vấu màu xanh lục bên dưới sức nặng đẫy đà sáng rực của chúng.

Mang đôi ủng nỉ và cái áo khoác ngắn bên trong lót bằng lông thú có cổ áo bằng lông cừu, Sleptsov bước chầm chậm dọc theo con đường nhỏ rất thẳng, con đường vỏn vẹn đã được dọn sạch tuyết chạy vào cánh đồng tuyết sáng đến lóa mắt phía đằng xa. Ông ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống, vẫn còn có thể nhận thấy cái sáng rực rỡ của tuyết, và cảm thấy đau buốt ở mấy cái răng cửa vì không khí lạnh. Ông cũng chú ý đến cái bụi cây bị tuyết phủ trông giống như một cái nguồn nước phông-tên, và con chó đã để lại trên bờ tuyết một chuỗi dấu chân màu vàng nghệ hằn sâu vào rìa của bờ tuyết. Xa hơn một chút nữa, những bộ phận chống đỡ cái cầu dành cho khách bộ hành thò ra khỏi tuyết, và Sleptsov dừng lại ở nơi ấy. Cáu kỉnh, giận dữ, ông xô lớp tuyết dày xốp phủ đầy lan can cầu. Ông nhớ thật sống động dáng dấp cây cầu vào mùa hè. Cậu bé con trai ông đi dọc theo những thanh gỗ cầu trơn trợt, lấm tấm điểm hoa dại, khéo léo dùng vợt bắt con bướm đậu trên thành cầu. Thế rồi cậu bé nhìn thấy ông bố. Đã mãi mãi mất rồi tiếng cười đùa trên mặt cậu bé, bên dưới cái vành nón rơm bẻ cụp xuống bị nắng rám đen; mấy món đồ chơi cầm tay và dây xích của cái ví da cột vào dây thắt lưng, đôi chân đáng yêu của cậu bé rám nắng nhẵn nhụi trong cái quần “sọt” vải và đôi săng-đan ướt đẫm như lệ thường đứng ở thế dạng chân rất vui vẻ. Chỉ mới đây thôi, ở Petersburg, sau khi say sưa ba hoa về chuyện ở trường, chuyện cái xe đạp, về mấy con bướm Á châu rất đẹp, cậu bé bỗng qua đời, và hôm qua Sleptsov đã mang cỗ quan tài – rất nặng nề, dường như nó chứa sức nặng của cả cuộc đời – về làng, đưa vào nhà mồ riêng của gia đình ở gần nhà thờ trong làng.

Không gian yên vắng như chỉ có thể yên vắng đến thế này trong một ngày sáng sủa và lạnh giá. Sleptsov nhấc chân lên, bước ra khỏi lối đi, và để lại những vết lõm sâu màu xanh lơ trong tuyết, tạo lối đi giữa những thân cây trắng lạ lùng đến nơi cánh rừng bắt đầu rẽ xuống hướng bờ sông. Phía dưới thật xa, những khối băng tỏa ánh sáng lấp lánh gần một cái lỗ bị cắt thủng trong một màu trắng mịn bao la, và, ở bờ bên kia mấy cột khói màu hồng đứng thẳng bên trên mái nhà phủ đầy tuyết của những căn nhà được xây bằng thân gỗ tròn. Sleptsov cởi cái mũ lông cừu đứng tựa lưng vào thân cây. Ở phía xa thật xa, nông dân đang bổ củi – âm thanh của mỗi nhát búa vang vọng lên không trung – và ở bên ngoài làn sương mỏng màu bạc bao phủ rặng cây, bên trên những túp lều gỗ đang ngồi xổm, ánh mặt trời chiếu sáng vẻ thư thái của cây thánh giá trên nhà thờ.

Ông sẽ đến nơi ấy sau bữa ăn trưa bằng cỗ xe trượt tuyết cũ kỹ có chỗ dựa lưng rất thẳng. Tiếng vó của con ngựa màu đen nện mạnh mẽ trong không gian lạnh băng, các chòm lông trắng của những cành cây thấp là đà trượt phía trên đầu, và dấu bánh xe ở phía trước lấp loáng màu xanh lơ có ánh bạc. Khi ông đến nơi, ông ngồi độ một giờ đồng hồ bên cạnh mộ, đặt đôi bàn tay đeo găng bằng len dầy nặng lên trên những thành cầu bằng sắt, hơi lạnh xuyên qua lớp len làm bỏng rát bàn tay ông. Ông về nhà với một nỗi thất vọng nhẹ nhàng, như thể để con trong nhà mồ càng làm xa cách với ông hơn là chỗ này, nơi để lại vô số dấu chân thoăn thoắt của cậu bé đã được bảo toàn bằng lớp tuyết bao phủ.

Chiều tối, bất chợt bị nỗi buồn mãnh liệt tràn ngập, ông bảo mở cửa gian nhà chính. Khi cánh cửa mở toang với tiếng kêu buồn phiền như tiếng khóc, thoang thoảng có một mùi đặc biệt, tươi mát chứ không mốc meo như mùi của mùa đông, thổi từ tiền sảnh có chấn song sắt, Sleptsov lấy ngọn đèn với tấm phản chiếu bằng thiếc từ tay người gác cửa rồi vào nhà một mình. Nền nhà bằng gỗ kêu răng rắc đầy vẻ rùng rợn dưới bước chân của ông. Từ phòng này sang phòng khác trong ánh sáng vàng vọt, và những vật dụng trong nhà được che phủ bằng những tấm vải trông rất xa lạ; thay vì tiếng rung lanh canh của cái đèn trần là một cái bao im lìm treo trên trần nhà, và cái bóng khổng lồ của Sleptsov, chậm chạp duỗi cánh tay, bồng bềnh trôi trên tường và bên trên những cái hình vuông xám của những bức tranh đã được phủ che.

Ông vào phòng cậu con trai đã dùng làm phòng học lúc mùa hè, để ngọn đèn lên bệ cửa sổ, rồi làm gãy móng tay khi ông cố mở cửa sổ, mặc dù ngoài kia chỉ toàn là bóng đêm. Trên tấm kính màu xanh, ngọn lửa vàng của cái đèn hơi bị khói ám hiện ra, và bộ mặt to lớn, râu ria của ông xuất hiện trong chốc lát.

Ông ngồi xuống ở cái bàn trống trải và nghiêm nghị, chau mày khám xét giấy dán tường màu nhạt viền quanh là những dây chuỗi hoa hồng xanh; một cái tủ hẹp thường được dùng ở các văn phòng với những ngăn kéo từ trên xuống dưới; một cái ghế nệm dài và mấy cái ghế bành được che trùm lại; rồi bất thần, gục đầu lên trên bàn, ông bắt đầu lắc mạnh, mê mải, mãnh liệt, ồn ào, áp đôi môi và sau đó đến gò má đẫm ướt vào cái mặt gỗ lạnh lẽo đóng đầy bụi và nắm chặt mấy góc bàn.

Trong ngăn bàn ông tìm thấy quyển vở, cái bảng, mấy cái kim găm màu đen, và một hộp bánh bích-qui bằng thiếc trong đó có chứa một cái kén rất lạ mắt trị giá ba rubles. Sờ vào, nó mỏng manh như giấy và dường như nó được làm bằng một chiếc lá màu nâu cuộn tròn. Cậu con của ông đã nhớ đến nó lúc cậu bé đang nằm bệnh, hối tiếc là mình đã bỏ nó lại ở nhà nhưng tự an ủi với ý nghĩ là con nhộng bên trong có lẽ đã chết rồi. Sleptsov cũng tìm thấy một cái vợt lưới đã mòn: một cái túi bằng vải mỏng như mút-xơ-lin đặt lên trên một cái vòng có thể xếp lại (và lớp vải này vẫn còn mùi của mùa hạ với mùi cỏ nóng vì ánh mặt trời).

Cúi gập người xuống thấp hơn, rồi thấp hơn nữa, ông khóc nức nở rung chuyển cả thân hình, rồi ông bắt đầu kéo ra từng chiếc ngăn có nắp đậy bằng kính trong cái tủ đứng. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, những vật làm mẫu được sắp xếp ngay ngắn, chiếu sáng như lụa bên dưới lớp kính. Ở đây, trong phòng này, trên bàn ấy, con ông đã dang đôi cánh những động vật cậu bắt được. Trước tiên cậu dùng kim găm cắm con côn trùng đã được cẩn thận giết chết lên cái khe rãnh có đáy bằng gỗ xốp của cái bảng trưng bày, ở giữa những lát gỗ mỏng có thể điều chỉnh được và ép nó xuống cho thật phẳng bằng kim ghim trên những mảnh giấy lên đôi cánh vẫn còn tươi và mềm mại. Bây giờ thì chúng đã rất khô và đã được chuyển vào trong cái tủ đứng này – loài bướm Đuôi Én tuyệt mỹ, loại bướm hiếm màu Đồng và màu Xanh, và các loại bướm quí khác, một vài con bướm được gắn lên bảng ở vị thế nằm ngửa để trưng bày trứng bướm. Con ông từng đọc tên Latin của những loại côn trùng này với giọng than thở một cách đắc thắng hay rẻ rúng. Và lũ bướm, lũ bướm Diều Hâu Aspen đầu tiên xuất hiện hồi mùa hạ của năm năm trước.

Đêm có màu xanh của khói và trăng rất sáng; mây mỏng lác đác trên trời nhưng không vệt mây nào chạm đến mặt trăng kiêu sa và mỏng manh. Rừng cây, những mảng dày băng giá màu xám, rải bóng đen trên tuyết, lấp lánh chỗ này nơi kia một thứ ánh sáng của kim loại. Trong cái ghế bọc nhung, gian phòng sưởi ấm áp của đoạn nối hai dãy nhà, Ivan đã đặt một cây thông cao chừng sáu hay bảy tấc trong một cái chậu đất sét nung lên bàn, và chỉ cắm một ngọn nến lên chân nến hình thánh giá khi Sleptsov từ gian nhà chính quay về, lạnh lẽo, mắt đỏ hoe, bụi xám còn dính đầy trên má, dưới nách cặp theo cái hộp gỗ. Nhìn thấy cây Giáng Sinh trên bàn, ông hỏi lơ đễnh, “Cái gì đây?”

Đỡ cái hộp gỗ trên tay ông, Ivan trả lời bằng giọng rất nhỏ nhẹ, dịu dàng, “Ngày mai là ngày lễ.”

“Không, mang nó đi chỗ khác,” Sleptsov nói với vẻ cau có, trong đầu thì suy nghĩ, “Có thể nào là đêm Giáng Sinh? Tại sao ta có thể quên chứ?”

Ivan dịu dàng giữ ý kiến, “Nó đẹp và xanh mướt. Cho nó đứng ở đây một thời gian.”

“Làm ơn mang nó đi,” Sleptsov lặp lại, cúi người trên cái hộp gỗ ông mang về. Trong đó ông đã mang hết đồ dùng của con trai – cái vợt bắt bướm có thể gấp lại được, hộp bánh bích-qui bằng thiếc với cái kén hình quả lê, cái bảng để giăng cánh bướm, những cây kim găm trong cái hộp sơn mài, cuốn vở màu xanh. Phân nửa trang đầu tiên đã bị xé đi, và phần còn lại chứa một phần bài chính tả tiếng Pháp. Sau đó có những bài nhật ký, tên của những con bướm bắt được, và những hàng ghi chú khác:

Đi ngang một vùng đầm lầy xa mãi tận Borovichi…

Hôm nay mưa. Đánh cờ với bố, sau đó đọc Frigate của Goncharov, cuốn sách chán kinh khủng.

Một ngày nóng tuyệt vời. Chạy xe đạp buổi chiều tối. Một con bọ bé xíu rơi vào mắt tôi. Cố ý đạp xe ngang ngôi nhà nghỉ hè của cô bé ấy hai lần, nhưng không gặp cô bé…

Sleptsov ngẩng đầu lên, nuốt cái gì đó rất nóng và to lớn. Con ông viết về ai thế?

Chạy xe đạp như thường lệ. Chúng tôi nhìn nhau. Cục cưng của tôi, người yêu ơi…

“Chuyện này không thể tưởng tượng được,” Sleptsov thầm thì. “Tôi không bao giờ biết…”

Ông lại cúi người xuống, tập trung cố giải mã nét chữ trẻ con hết nghiêng người đứng lên lại bẻ cong xuống lề quyển vở.

Nhìn thấy một loại bướm mới của giống Mỹ Nữ Camberwell hôm nay. Điều đó có nghĩa là mùa thu đã đến. Mưa lúc chiều tối. Cô bé có lẽ đã về thành phố rồi, chúng tôi chưa có dịp làm quen với nhau. Giã biệt, người yêu dấu. Tôi cảm thấy rất buồn…

“Nó chưa bao giờ kể tôi nghe những chuyện như thế này…” Sleptsov cố nhớ lại, xoa trán bằng lòng bàn tay.

Trên trang giấy cuối cùng có một bức họa vẽ bằng mực: cái nhìn từ phía sau của con voi – hai cái cột to xù, góc cạnh của hai lỗ tai, và cái đuôi bé xíu.

Sleptsov đứng lên. Ông lắc đầu, cố gắng tự kềm chế những tiếng nức nở khủng khiếp cứ chực trào ra.

“Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa,” ông lè nhè giữa những tiếng rên, lặp lại càng chậm hơn, “Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa…”

Ngày mai là ngày Giáng sinh, điều nhắc nhở đến bất chợt, và tôi sẽ chết. Dĩ nhiên. Đơn giản thế thôi. Chính đêm nay…

Ông rút cái khăn tay ra và lau khô đôi mắt, gò má. Những vết đen dính lại trên khăn tay.

“… cái chết,” Sleptsov nói nhỏ nhẹ như thể kết luận một câu dài.

Tiếng đồng hồ gõ nhịp. Những mô hình sương giá trùng lặp lên nhau trên tấm kính xanh của cửa sổ. Quyển vở mở được chiếu sáng rực trên bàn, bên cạnh nó ánh sáng xuyên qua lớp vải mút-xơ-lin của cái vợt bắt bướm, sáng lóng lánh ở một góc của cái hộp thiếc mở nắp. Sleptsov nhắm chặt mắt, mơ hồ cảm thấy sự sống của trần thế trước mặt ông, hoàn toàn trơ trụi đơn giản và buồn thảm khủng khiếp, vô lý vô dụng đến nhục nhã, tuyệt tự, thiếu vắng phép nhiệm mầu.

Ngay lúc ấy bỗng có tiếng nứt – âm thanh mỏng manh như tiếng sợi dây cao su bị căng thẳng rồi bị đứt. Sleptsov mở mắt. Cái kén trong hộp bánh bích-qui bằng thiếc đã vỡ ra ở phía trên đầu, và một con vật nhăn nheo màu đen to cỡ một con chuột sơ sinh đang bò lên trên tường phía trên bàn. Nó dừng lại, cố bám vào mặt tường bằng sáu cái chân cuống quít và bắt đầu phập phồng một cách lạ thường. Nó xuất hiện từ cái kén bởi vì người đàn ông vật vã trong nỗi đau khổ đã mang cái hộp thiếc vào căn phòng ấm áp của ông, và hơi ấm đã thấm vào cái vỏ kén bằng lá và lớp tơ dày chắc của nó; nó chờ đợi giây phút này từ lâu, gom góp tất cả sức lực, và giờ đây, đã nở, thoát ra, nó từ từ và đầy nhiệm mầu nở to lên. Dần dần những mảnh vỏ nhăn nheo, những đường viền nhung nở ra; những sợi gân hình quạt xếp trở nên cứng cáp hơn khi nó chứa đầy không khí. Nó trở nên loài vật có cánh, không thể nào tưởng tượng nổi, có khuôn mặt trưởng thành và trở nên rất xinh đẹp. Và đôi cánh – vẫn còn yếu ớt, và ướt át – tiếp tục lớn lên và mở ra, và bây giờ chúng phát triển đến mức toàn vẹn nhất mà Tạo Hóa đã xếp đặt, và nơi đó, trên vách tường, thay vì là một cái khối nhỏ của cuộc đời, thay vì là con chuột đen, là một con bướm Attacus như những loài có thể bay như chim, vòng quanh ngọn đèn trong những buổi hoàng hôn bên Ấn Độ.

Và rồi đôi cánh dày và đen ấy, với các đốm sáng ngời như đôi mắt trên ấy với một đóa hoa màu tím, nó xoa những cái chân trước vào nhau như phủi bụi, hít một hơi đầy bên dưới sự thôi thúc rất dịu dàng, khao khát, rất giống với hạnh phúc của loài người.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà dịch.

Dmitri Nabokov dịch từ bản tiếng Nga với sự góp ý của tác giả.
Ảnh đầu bài: A Winter Scene with Skaters near a Castle by Hendrick Avercamp (1608-9)

Vladimir Nabokov (1899 – 1977) nhà văn Nga biết rất nhiều thứ tiếng. Ông viết chín tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nga rồi nổi tiếng trên toàn thế giới là nhà văn lớn chuyên viết tiếng Anh với văn phong tuyệt vời. Tác phẩm Lolita của ông ra đời năm 1955 là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông. Lolita, Pale Fire, và Speak, Memory là những tác phẩm nằm trong danh sách Modern Library 100 Best Novels và Nonfiction (100 quyển tiểu thuyết và các thể loại khác như ký, phê bình, tiểu luận hay nhất của Thư Viện Hiện Đại).

Lời người dịch: Tôi dịch truyện Giáng Sinh của Nabokov trước nhất vì tôi yêu cái hình ảnh đầy tuyết êm đềm thơ mộng ở một miền quê của nước Nga. Sau đó tôi bị cuốn hút vào nỗi đau đớn của người cha khi nhớ lại cậu bé con của ông mới còn nô đùa bắt bướm giữa mùa hè mà đã lâm bạo bệnh và qua đời trước ngày Giáng sinh. Trong nỗi đau khổ và cô đơn tận cùng ông nghĩ đến việc đi tìm cái chết thì phép lạ hiện ra. Nabokov đưa tôi từ cái đẹp của băng giá mùa đông qua cái nồng ấm của mùa hè, cái tuyệt vọng của người cha bên cạnh cái thơ ngây yêu đời của đứa con, người cha chợt khám phá bí mật của cậu bé con rồi đến cái bí ẩn của sự sống. Còn gì hơn trong đêm Giáng sinh người ta khám phá ra sự nhiệm mầu của một sự sống vừa mới khởi đầu mà sự sống đó tưởng đã chết trong cái lá khô.

Đọc bài viết

Cafe sáng