Book trailer

Thanh tịnh mâm cỗ Việt: Học cách làm những món chay tinh khiết, lành mạnh của đất Việt

Published

on

Thanh tịnh mâm cỗ Việt không chỉ giới thiệu đến độc giả công thức làm 30 món chay lành của người Việt từ cổ chí kim, mà còn lồng ghép những câu chuyện văn hóa thú vị, cung cấp cho người đọc góc nhìn đa chiều về nền ẩm thực Việt.

Xưa nay, kỵ giỗ là truyền thống rất được coi trọng của mọi gia đình người Việt, bất luận là y quan vọng tộc hay bá tánh dân dã. Vào những dịp này, bao bộn bề đời thường của mỗi người đều tạm thời gác lại để thành tâm hướng về nguồn cội, cùng nhau hào soạn mâm cỗ cúng bình an dâng lên ông bà tiên tổ.

Xuất phát từ nếp sống ghi cội nhớ nguồn ấy, bên cạnh việc giới thiệu các món chay theo phong cách ẩm thực cung đình hay những món chay mang hương vị thanh tân mới mẻ, Thanh tịnh mâm cỗ Việt còn gói ghém bao kỷ niệm quyến luyến của tác giả bên cha mẹ anh em, cùng những bài học vỡ lòng về cách đơm cơm rót nước, cách sắp xếp chỉnh trang mâm cỗ cúng theo lối “quân-thần-tả-sứ” sao cho thật nghiêm ngắn, trang trọng…

Ý nghĩa sâu sắc ẩn đằng sau mâm cỗ chay của người Việt

Nếu như người Tây phương đề cao sinh nhật, thì người Á đông lại xem trọng ngày mất, hay còn gọi là ngày húy kỵ. Trong những dịp này, các thành viên gia đình thường tề tựu lại và nấu những món ăn đặc biệt làm thành mâm cỗ cúng dâng lên tổ tiên. Mâm cỗ cúng dù chay hay mặn đều là nhằm thể hiện tấm lòng tưởng nhớ của con cháu đến các bậc tiên hiền và cũng là cách nhắc nhở các thế hệ đời sau không quên cội nguồn.

Mâm cỗ mặn của người Việt xưa mang ý nghĩa văn hóa làng xã, còn mâm cỗ chay có từ bao giờ thì không thấy tài liệu nào nói rõ, chỉ biết là từ khi đạo Phật du nhập vào xứ ta thì cũng là lúc người nước ta biết ăn chay. Theo sử sách ghi lại thì thế kỷ XII – XIII là thời kỳ Phật giáo cực thịnh, các vua nhà Trần cũng thường có lệ ăn chay. Hay như theo lời kể của các cựu thần thì trước khi làm lễ tế Giao, các vua nhà Nguyễn phải vào trai cung tĩnh thân ba ngày, xa rời tửu sắc và ăn chay để thân tâm thanh sạch, cầu cho quốc thái dân an. Hai nguồn tài liệu Đại Nam Thực Lục Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ còn cho biết, trong yến tiệc cung đình Huế xưa ngoài cỗ tế lớn gồm 161 phẩm vị, cỗ trân tu 50 phẩm vị, cỗ ngọc soạn 30 phẩm vị, còn có mâm cỗ chay hạng nhất 25 món và mâm cỗ chay hạng nhì 20 món.

Cỗ chay hay cỗ mặn là tùy quan niệm, truyền thống của mỗi gia đình. Tuy nhiên, ngoài mâm cỗ chay tại chùa thì hầu hết các gia đình Phật tử cũng thường thể hiện tấm lòng thành kính đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ qua những món cúng chay. Theo nhận định của tác giả, làm cỗ cúng trước là để tưởng nhớ và cầu cho các bậc tiên hiền quá vãng được an tịnh nơi cõi lành, sau là để nhắc nhở con cháu trong nhà đừng quên cội quên nguồn. Tổ tiên của chúng ta đâu thể thọ thực như người còn sống mà chỉ cảm thọ sự thành tâm từ lòng hiếu kính của con cháu qua mâm cỗ chay, vậy thì không nên đánh đổi sự sống của sinh vật mà làm cỗ cúng để tránh nghiệp sát sanh và cũng để tạo phước đức cho người thân quá cố.

Nét văn hóa độc đáo của cố đô chính là mâm cỗ chay phong vị cung đình Huế

Việt Nam xưa nay vốn vẫn là mảnh đất trù phú, có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng và những bàn tay lao động cần cù, chính điều đó đã góp phần phát huy tinh hoa văn hóa ẩm thực của người dân nơi đây. Cũng vì thế, các bà các mẹ của chúng ta có thể thỏa sức thử nghiệm với đủ loại rau củ hoa quả tươi ngon trên khắp mọi miền để tạo nên những món ăn hoặc đơn giản hoặc cầu kỳ, giàu tính y lý trên mâm cỗ chay mang phong vị cổ truyền để lưu giữ, phát triển và bảo tồn nét tinh hoa văn hóa ẩm thực chay truyền thống.

Huế vốn là kinh đô ẩm thực và được mệnh danh là vùng đất Phật với rất nhiều chùa chiền lớn nhỏ nên món chay nơi đây vô cùng phong phú và đa dạng. Từ xa xưa, Phật giáo đã đằm sâu trong đời sống của người dân xứ Huế, không những sư sãi ăn chay, Phật tử ăn chay mà cả vua chúa cũng ăn chay để giữ đức hiếu sinh trong các đại lễ tế tự của triều đình và cầu cho quốc thái dân an.

Mâm cỗ chay tế lễ, cúng chùa hay cúng dường chư tăng vào cung khuyến giáo không bao gồm các món ăn đạm bạc của giới tu hành mà thường được Đội Thượng Thiện và phi tần trong cung chế biến từ những loại nguyên liệu thượng phẩm, bổ dưỡng không thua kém sơn hào hải vị. Để rồi từ đó, mâm cỗ chay cung đình lại lan tỏa đến các phủ đệ quan lại và trở thành một nét văn hóa ẩm thực độc đáo của chốn đế đô.

Sách ẩm thực đưa ra những gợi ý hữu ích về mâm cỗ cúng thanh lành

Từ phương Nam, qua miền Trung rồi ra phương Bắc, mỗi miền đất nước lại có một phong vị ẩm thực riêng, trong đó bao gồm cả mâm cỗ chay. Và từ những món chay truyền thống, tư duy tiếp biến làm mới cách chế biến, trang trí, phong vị sao cho phù hợp với thị hiếu, khẩu vị của mọi giới, mọi lứa tuổi và mọi thành phần thực khách là một yêu cầu thiết yếu trong thời điểm đất nước hội nhập và phát triển ngày nay.

Thanh tịnh mâm cỗ Việt là một thể nghiệm độc đáo của hai tác giả Hồ Đắc Thiếu Anh và Nguyễn Hồ Tiếu Anh khi thực hiện lại các mâm cỗ chay theo phong vị cung đình xưa, phong vị cổ truyền và phong vị mới trên nền nguyên liệu có sẵn nơi quê nhà. Mục đích đầu tiên của hai nghệ nhân là để giới thiệu với thực khách gần xa di sản văn hóa vật chất của một dân tộc, một địa phương mà ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đã thấm sâu trong đời sống của người cố đô; đồng thời, đây cũng là một cách báo ân với tiền nhân dòng tộc vì đã để lại cho hậu sinh một di sản văn hóa ẩm thực chay vô cùng giá trị.

Thanh tịnh mâm cỗ Việt là một gợi ý thiết thực dành cho độc giả về mâm cỗ cúng thanh lành trong những dịp lễ trọng của gia đình, đồng thời khởi duyên bồi đắp thêm cho nền ẩm thực chay tinh khiết, lành mạnh của đất Việt.

Trích đoạn

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nấu ngon ăn lành của chốn cố đô, và là một Phật tử thuần thành, mẹ tôi rất chú trọng đến việc cúng kiếng thờ phụng. Bà thường hướng dẫn cho con cháu chế biến những món chay vừa tinh tấn vừa đẹp mắt, ẩn chứa hương sắc cung đình cùng những kinh nghiệm quý giá được trao truyền để tỏ lòng hiếu kính đến các bậc tiên hiền quá vãng. Từ những lá phù chúc được làm từ váng đậu nành trắng tươi thơm mịn, gói ghém các loại rau củ tươi ngon với màu xanh của đậu cô ve, màu cam của cà rốt, màu vàng của khoai tây, màu đen của mộc nhĩ để làm nên món ăn đa sắc, bổ dưỡng. Thế mới hay mâm cỗ chay của cha ông ta chú trọng đến tính thẩm mỹ và tinh tế biết bao!

(trích Chả cuốn ngũ sắc)

Miền Trung nắng nóng mưa dày, thế nên các bà nội trợ nơi đây thường hào soạn những món chay bổ trợ sức khỏe mang vị quế chi cay ngọt cho cho cụ lớn tuổi trong nhà như Đậu khuôn rim quế chi, Phù chúc nướng bột quế, Mì căn rô ti quế chi… Và những món chay ấy cũng thường xuất hiện trên mâm cỗ cúng như một ký ức ấm áp đong đầy yêu thương, bởi dẫu cho các bậc sinh thành đã về miền cực lạc nhưng những hình ảnh thân yêu ngày nào vẫn mãi luôn hiện hữu trong tâm thức của con cháu đời sau.

(trích Đậu khuôn rim quế chi)

Sen là sản vật quý giá của ẩm thực Việt Nam vì hầu như bộ phận nào của nó cũng đều có thể sử dụng được, nhất là sen hồ Tịnh Tâm nổi tiếng thơm ngon. Xưa kia người ta gọi sen hồ Tịnh là sen ngự bởi Đội Thượng Thiện thường dùng loại sen này để chế biến các món ngự thiện và cỗ cúng cung đình. Muốn nấu hạt sen ngon thì chỉ cần chọn đúng loại già hạt, có màu trắng ngà, căng mẩy no tròn, khi nấu sẽ nở mềm và tỏa mùi hương đặc trưng. Còn nếu dùng hạt sen khô thì nên chọn loại hạt sáng màu, ngâm rửa bằng nước nóng trước khi nấu sen sẽ mau mềm và không bị sượng.

(trích Tiềm ngọc bảo tịnh tâm)

Về tác giả

Hồ Đắc Thiếu Anh

Quê quán: Thừa Thiên Huế
Nghệ nhân Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Kỷ Lục Gia tôn vinh Nghệ nhân Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Giáo viên gia chánh các trung tâm đào tạo kỹ năng cuộc sống và các đài truyền hình

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

Quê quán: Thừa Thiên Huế
Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam
Giáo viên gia chánh các trung tâm đào tạo kỹ năng cuộc sống trong nước và nước ngoài

Book trailer

“Giải mật” hồ sơ về chất độc màu da cam

Published

on

By

Qua ‘Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam’, tác giả Patrick Hogan đã phơi bày bức tranh tổng thể về các hóa chất mà Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 với sức tàn phá vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay.

Chiến tranh qua đi nhưng những di chứng mà nó để lại vẫn còn hiện diện. Trong khi tổn thương vật chất có thể tái thiết, thì những ảnh hưởng về mặt tinh thần vẫn còn dai dẳng, đeo bám không thôi. Một trong số đó là các tổn thương được gây ra bởi chất độc màu da cam (dioxin) cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Thế nhưng ít người biết rằng ngay cả những cựu binh Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi hành động ấy. Bằng trải nghiệm của bản thân cũng như nỗ lực lần giở các tư liệu, nghiên cứu khoa học cũng như các hồ sơ đã được giải mật… tác giả Patrick Hogan đã tái hiện lại những diễn biến lịch sử, qua đó lên án hành động phi nhân, kêu gọi thêm các nỗ lực để những hy sinh của các người lính được đền đáp xứng đáng.

Patrick Hogan là một cựu chiến binh đã từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Khi mới nhập ngũ, ông nhận nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hàng hóa thiết yếu ở Tổng kho Cam Ranh (Khánh Hòa). Trong thời gian này, ông thường chứng kiến những lần máy bay phun rải hóa chất mà vào lúc ấy ông không thể biết đó là chất gì. Sau khi rời Việt Nam, ông trở về Mỹ và đảm nhận công việc cảnh sát.

Kể từ những năm 1970, ông thấy cơ thể đang suy yếu dần, kết hợp cùng với cái chết của người đồng đội Larry, hạt mầm hoài nghi sâu bên trong ông bắt đầu thức dậy. Năm 2012, sau khi nghe bài diễn thuyết của cựu tổng thống Barack Obama về chiến tranh Việt Nam, Hogan thôi thúc phải điều tra về hậu quả của việc tiếp xúc với chất độc da cam, từ đó ý tưởng về Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam dần được thành hình.

Được viết bởi một cựu binh từng tham gia tham chiến, cuốn sách mang dáng dấp hồi ký, ghi lại những năm đầu tiên mà tác giả đặt chân đến Việt Nam. Ông đã tái hiện lại những thiếu thốn như phải ở trong những căn nhà đơn sơ gọi là “chuồng ngựa”, xung quanh chỉ toàn là cát, nhiệt độ thì tương đối cao… cũng như những áp lực mà người lính phải chịu, từ lối đánh du kích của bộ đội ta, cho đến thổ nhưỡng, các căn bệnh nhiệt đới cũng như đa dạng sinh vật mà côn trùng là một trong những lý do khiến chính quyền Mỹ tiến hành phun rải chất dioxin.

Song song cùng đó, tác giả cũng quay trở về những ngày hiện tại, mô tả lại những chứng bệnh ông đã và đang gặp phải, từ tiểu đường tuýp 2, bệnh tim cho đến rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp… Theo Patrick Hogan, đây đều là các di chứng mà các hóa chất do chính phủ Mỹ rải xuống gây ra. Thế nhưng khi đòi bồi thường từ DVA - Bộ Cựu chiến binh Mỹ, thì những kết quả trả về cho ông là không có đủ bằng chứng để khẳng định những căn bệnh đó do các hóa chất mà Mỹ rải xuống Việt Nam những năm 1960 gây ra.

Nhận thấy điều vô lý ấy, Hogan đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh sinh học, hóa học của các hóa chất đã được rải xuống và kết hợp với các nghiên cứu mới nhất về chúng, để khẳng định cho lập luận của mình. Là một sĩ quan cảnh sát, ông cũng tận dụng thế mạnh điều tra để lần tìm về những hồ sơ được giải mật, qua đó cho thấy bức tranh chung nhất về bối cảnh lịch sử của những ngày ấy.

Nói về tác phẩm, tác giả chia sẻ: “Đây là câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về sự giận dữ và cuồng nộ, một cuốn biên niên sử được viết trong đau buồn và hy vọng. Đó là câu chuyện của vô số cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam. Đó là một cuốn sách đi sâu vào các hóa chất chết người đã được sử dụng trong suốt cuộc chiến và ảnh hưởng của chúng lên các cựu binh. Nhiều trong số đó vẫn đang được sử dụng trên khắp nước Mỹ, thậm chí cho đến ngày nay. Đó là hành trình phơi bày mọi điều mà chính phủ Hoa Kỳ chưa từng và chưa bao giờ muốn phơi bày ra ánh sáng”.

Liệu các công ty hóa chất và chính phủ Mỹ có biết hóa chất mà họ rải xuống sẽ gây tác hại cho binh lính của mình? Liệu có cách nào đạt cùng mục đích mà không sử dụng hóa chất? Ngoài chất da cam thì các hóa chất còn gồm những gì? Liệu có những ai đã từng chống lại phương án nói trên?... Tất cả sẽ được giải đáp trong tác phẩm sâu sắc, chi tiết và đầy mạnh mẽ về những tội ác chiến tranh này, từ đó cảnh báo cho ngày hiện tại, khi các hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu có độc tính tương tự đang được sử dụng không bị kiềm chế trong nông nghiệp hiện đại.

Trong thời gian qua, Phương Nam Books cũng cho ra mắt các sách thuộc tủ “Người Việt năm châu” như Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm (Le Thi Diem Thuy), Những kẻ tuyệt vọng (Minh Tran Huy), Người tị nạn (Viet Thanh Nguyen), Người cha im lặng (Doan Bui)...

Ngoài ra, các tựa sách về môi trường như Khát khao cây cỏ (Michael Pollan), Mùa xuân vắng lặng (Rachel Carson), Niên lịch miền gió cát (Aldo Leopold), Giành lại không khí sạch (Tim Smedley), Đời sống bí ẩn của cây (Peter Wohlleben)... cũng để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Patrick Hogan là cựu chiến binh từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Sau khi rời khỏi Việt Nam, Patrick Hogan được phong cấp bậc Trung sĩ Tham mưu E-6 và được Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Stanley Resor trao cho huy chương Army Commendation Medal. Ngoài ra, ông còn được trao: National Defense Medal, Vietnam Service Medal, Vietnam Campaign Medal.

Đọc bài viết

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Cafe sáng