Book trailer

Thành phố những lục địa bay: Tự sự của sương mù và những phận đời trôi nổi

Published

on

Mỗi nhà văn đều có một thành phố hư cấu hoặc phi hư cấu thân thuộc, xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm của mình: với William Faulkner là tỉnh Yoknapatawpha, với Paul Auster là thành phố New York, với Phạm Công Luận là Sài Gòn… và với nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên thì đó là Đà Lạt. Thông qua tác phẩm mới nhất – Thành phố những lục địa bay – Nguyễn Vĩnh Nguyên một lần nữa tái khám phá Đà Lạt dưới những góc độ mới.

Một thành phố ẩn hiện giữa hư cấu và phi hư cấu

Trong Thành phố những lục địa bay, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã trình hiện một thành phố vừa là Đà Lạt, vừa không phải là Đà Lạt như chúng ta từng biết. Đó là Đà Lạt của riêng nhà văn – một thành phố nằm giữa hư cấu và phi hư cấu, ẩn sau những lớp sương mù là muôn ngàn tâm tư lắng đọng – thành phố của những lục địa bay.

Nguyễn Vĩnh Nguyên đã thực hành phương thức dùng cả chữ xen kẽ với hình để thay phiên nhau kể chuyện. Nếu xem Thành phố những lục địa bay là bản giao hòa giữa thực và ảo, thì ở đây, văn bản như một đại diện cho thế giới hư cấu, còn hình ảnh thì lại là đại diện cho thế giới thực. Chính việc tường thuật về thành phố theo lối này đã tạo cho người đọc cảm giác tác phẩm như một bộ phim giả tài liệu (mockumentary), mà ở đây – trong địa phận văn chương – nhà văn đã sáng tạo nên thể loại có thể tạm gọi là giả phi hư cấu.

Với kinh nghiệm nhiều năm làm báo, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã sử dụng không chỉ văn phong sáng tác mà còn lồng ghép song song với văn phong báo chí trong Thành phố những lục địa bay. Ở nhiều phân đoạn, nhà văn thực hiện lựa chọn lối viết ngắn gọn, chỉ đơn thuần tả lại sự kiện, gợi nhớ đến phong cách điểm tin của báo chí nhưng không tạo cảm giác tin tưởng tuyệt đối cho người đọc mà đem lại nỗi mơ hồ, hoài nghi, tựa như khi ta nghe thông tin từ những lời đồn.

Nỗ lực vượt thoát ranh giới thể loại của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Không chỉ chơi đùa giữa hư cấu và phi hư cấu, Nguyễn Vĩnh Nguyên còn chơi đùa giữa hai phân khúc nhỏ hơn trong phân nhánh hư cấu là truyện ngắn và tiểu thuyết.

Tác phẩm chia làm ba phần chính được đánh số La Mã và không đặt tiêu đề, ba phần này đóng vai trò tương tự như cấu trúc ba hồi trong điện ảnh, cách trình bày cũng gợi nhớ đến thể loại tiểu thuyết. Ở mỗi phần đều có rất nhiều truyện ngắn. Có thể gọi những truyện ngắn này là những mảnh vụn rơi ra từ lục địa kí ức; cũng có thể hiểu nó là những trường đoạn hay phân cảnh trong một hồi của cấu trúc kể chuyện.

Các truyện ngắn được dàn trải đều ở cả ba phần. Phần I có 25 truyện ngắn, phần II có 19 truyện ngắn, phần III có 22 truyện ngắn. Từng truyện ngắn này đều thực sự ngắn với dung lượng từ hai đến ba trang, tiện lợi cho cả những người đọc bận rộn theo dõi câu chuyện.

Hòa vào thiên nhiên để chiêm nghiệm thân phận con người

Thông thường, con người hiện đại đã quen thuộc với khái niệm “trở về thiên nhiên” sau những bộn bề trong cuộc sống đô thị – nơi không gian sinh hoạt bị những tòa nhà cao chọc trời xâm lấn, vây cùng siết tận. Nhưng trong Thành phố những lục địa bay, có vẻ như với nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, thiên nhiên không phải là nơi để quay về – vì “quay về” đồng nghĩa với việc thiên nhiên và con người vẫn còn là hai cá thể tách biệt, là đối tượng và chủ thể.

Tuy nhiên, ở tác phẩm này thì thiên nhiên vừa là đối tượng vừa là chủ thể, cả con người cũng đóng cùng lúc hai vai trò ấy. Con người hiểu chính mình thông qua việc hòa vào thiên nhiên; đồng thời, thiên nhiên cũng như một chủ thể có cảm xúc, thầm lặng quan sát tâm tư của con người và trình hiện lại những ghi nhận đó bằng dáng vẻ bên ngoài thông qua cây cối, gió sương, hồ mây… Quan điểm này thể hiện rõ trong truyện Thác – phần truyện mà tác giả dành để miêu tả cái chết của những người tuyệt vọng rồi tìm đến thác để nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho cuộc đời. Ở đây, có một phép chơi chữ thông minh khi thác vừa là danh từ chỉ nơi chốn, vừa là động từ chỉ cái chết. Như thế, thác-danh-từ đại diện cho thiên nhiên, thác-động-từ đại diện cho con người. Những cái chết trong Thác cho người đọc một cảm thức rằng: cái chết của con người không phải là sự ra đi mà là trở về, để “chuyển hóa vào giới tự nhiên”.

Như vậy là, con người không chỉ sinh ra từ thiên nhiên, chết đi trở về với thiên nhiên, mà thực ra trong lúc ta còn sống, trong lúc trái tim còn bồi hồi nhịp đập, thiên nhiên vẫn luôn song hành cùng con người, thu hết vào lòng mọi tâm tư của con người, không phán xét, không gạn lọc, không chối bỏ – giống như cách mặt hồ thu hết hình ảnh từ những sinh thể xung quanh rồi dịu dàng phản chiếu lại rõ nét, sắc trong, trung thực; giống như chính tình yêu của tác giả dành cho Đà Lạt được thể hiện rất tỏ tường trong Thành phố những lục địa bay.         

Trích đoạn

Sương khói đặt cảnh vật vào một trạng thái mông lung mơ màng. Mọi khung cảnh đều có thể đánh lừa thị giác con người khi chúng lùi ra, giãn cách, ẩn hiện phía sau một lớp voan trắng, nhẹ và mỏng, nhạt mờ mọi đường nét.

(trích Hồ)

Một cây thông già mọc không thẳng thớm. Thân nó đổ ra phía mặt hồ như một trò đùa thăng bằng nhạt nhẽo. Những cành nhánh quằn quại mở rộng tán trên mặt nước vuốt ve chính chiếc bóng méo mó của mình.

(trích Thi sĩ)

Các hồ nước giống nhau ở một điểm, đó là những chiếc gương phẳng lặng dệt thêu mơ tưởng. Nhưng có thể chúng chỉ là những mảnh vỡ rời rạc của một chiếc gương mà thôi. Chiếc gương làm lật trái mọi sự việc mà nó soi bóng.

(trích Chuỗi hồ)

Về tác giả

Nguyễn Vĩnh Nguyên sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, lớn lên tại Ninh Thuận, tốt nghiệp Sư phạm Ngữ văn Đại học Đà Lạt khóa 1997 – 2001. Anh sống và làm việc tại Sài Gòn. Ngoài các tập truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, anh còn chuyên tâm thực hiện loạt sách về Đà Lạt, với nhiều ấn phẩm như: Đà Lạt một thời hương xa; Với Đà Lạt ai cũng là lữ khách; Đà Lạt, bên dưới sương mù; Thành phố những lục địa bay… Anh còn lập một fanpage chuyên về Đà Lạt, là nơi trao đổi những thông tin văn hóa, lịch sử, những câu chuyện về thành phố.

Book trailer

“Giải mật” hồ sơ về chất độc màu da cam

Published

on

By

Qua ‘Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam’, tác giả Patrick Hogan đã phơi bày bức tranh tổng thể về các hóa chất mà Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 với sức tàn phá vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay.

Chiến tranh qua đi nhưng những di chứng mà nó để lại vẫn còn hiện diện. Trong khi tổn thương vật chất có thể tái thiết, thì những ảnh hưởng về mặt tinh thần vẫn còn dai dẳng, đeo bám không thôi. Một trong số đó là các tổn thương được gây ra bởi chất độc màu da cam (dioxin) cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Thế nhưng ít người biết rằng ngay cả những cựu binh Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi hành động ấy. Bằng trải nghiệm của bản thân cũng như nỗ lực lần giở các tư liệu, nghiên cứu khoa học cũng như các hồ sơ đã được giải mật… tác giả Patrick Hogan đã tái hiện lại những diễn biến lịch sử, qua đó lên án hành động phi nhân, kêu gọi thêm các nỗ lực để những hy sinh của các người lính được đền đáp xứng đáng.

Patrick Hogan là một cựu chiến binh đã từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Khi mới nhập ngũ, ông nhận nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hàng hóa thiết yếu ở Tổng kho Cam Ranh (Khánh Hòa). Trong thời gian này, ông thường chứng kiến những lần máy bay phun rải hóa chất mà vào lúc ấy ông không thể biết đó là chất gì. Sau khi rời Việt Nam, ông trở về Mỹ và đảm nhận công việc cảnh sát.

Kể từ những năm 1970, ông thấy cơ thể đang suy yếu dần, kết hợp cùng với cái chết của người đồng đội Larry, hạt mầm hoài nghi sâu bên trong ông bắt đầu thức dậy. Năm 2012, sau khi nghe bài diễn thuyết của cựu tổng thống Barack Obama về chiến tranh Việt Nam, Hogan thôi thúc phải điều tra về hậu quả của việc tiếp xúc với chất độc da cam, từ đó ý tưởng về Mùa xuân vắng lặng – Mùa thu chết chóc của chiến tranh Việt Nam dần được thành hình.

Được viết bởi một cựu binh từng tham gia tham chiến, cuốn sách mang dáng dấp hồi ký, ghi lại những năm đầu tiên mà tác giả đặt chân đến Việt Nam. Ông đã tái hiện lại những thiếu thốn như phải ở trong những căn nhà đơn sơ gọi là “chuồng ngựa”, xung quanh chỉ toàn là cát, nhiệt độ thì tương đối cao… cũng như những áp lực mà người lính phải chịu, từ lối đánh du kích của bộ đội ta, cho đến thổ nhưỡng, các căn bệnh nhiệt đới cũng như đa dạng sinh vật mà côn trùng là một trong những lý do khiến chính quyền Mỹ tiến hành phun rải chất dioxin.

Song song cùng đó, tác giả cũng quay trở về những ngày hiện tại, mô tả lại những chứng bệnh ông đã và đang gặp phải, từ tiểu đường tuýp 2, bệnh tim cho đến rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp… Theo Patrick Hogan, đây đều là các di chứng mà các hóa chất do chính phủ Mỹ rải xuống gây ra. Thế nhưng khi đòi bồi thường từ DVA - Bộ Cựu chiến binh Mỹ, thì những kết quả trả về cho ông là không có đủ bằng chứng để khẳng định những căn bệnh đó do các hóa chất mà Mỹ rải xuống Việt Nam những năm 1960 gây ra.

Nhận thấy điều vô lý ấy, Hogan đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh sinh học, hóa học của các hóa chất đã được rải xuống và kết hợp với các nghiên cứu mới nhất về chúng, để khẳng định cho lập luận của mình. Là một sĩ quan cảnh sát, ông cũng tận dụng thế mạnh điều tra để lần tìm về những hồ sơ được giải mật, qua đó cho thấy bức tranh chung nhất về bối cảnh lịch sử của những ngày ấy.

Nói về tác phẩm, tác giả chia sẻ: “Đây là câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về sự giận dữ và cuồng nộ, một cuốn biên niên sử được viết trong đau buồn và hy vọng. Đó là câu chuyện của vô số cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam. Đó là một cuốn sách đi sâu vào các hóa chất chết người đã được sử dụng trong suốt cuộc chiến và ảnh hưởng của chúng lên các cựu binh. Nhiều trong số đó vẫn đang được sử dụng trên khắp nước Mỹ, thậm chí cho đến ngày nay. Đó là hành trình phơi bày mọi điều mà chính phủ Hoa Kỳ chưa từng và chưa bao giờ muốn phơi bày ra ánh sáng”.

Liệu các công ty hóa chất và chính phủ Mỹ có biết hóa chất mà họ rải xuống sẽ gây tác hại cho binh lính của mình? Liệu có cách nào đạt cùng mục đích mà không sử dụng hóa chất? Ngoài chất da cam thì các hóa chất còn gồm những gì? Liệu có những ai đã từng chống lại phương án nói trên?... Tất cả sẽ được giải đáp trong tác phẩm sâu sắc, chi tiết và đầy mạnh mẽ về những tội ác chiến tranh này, từ đó cảnh báo cho ngày hiện tại, khi các hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu có độc tính tương tự đang được sử dụng không bị kiềm chế trong nông nghiệp hiện đại.

Trong thời gian qua, Phương Nam Books cũng cho ra mắt các sách thuộc tủ “Người Việt năm châu” như Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm (Le Thi Diem Thuy), Những kẻ tuyệt vọng (Minh Tran Huy), Người tị nạn (Viet Thanh Nguyen), Người cha im lặng (Doan Bui)...

Ngoài ra, các tựa sách về môi trường như Khát khao cây cỏ (Michael Pollan), Mùa xuân vắng lặng (Rachel Carson), Niên lịch miền gió cát (Aldo Leopold), Giành lại không khí sạch (Tim Smedley), Đời sống bí ẩn của cây (Peter Wohlleben)... cũng để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Patrick Hogan là cựu chiến binh từng đóng quân tại Việt Nam từ tháng 9.1966 đến tháng 6.1969. Sau khi rời khỏi Việt Nam, Patrick Hogan được phong cấp bậc Trung sĩ Tham mưu E-6 và được Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Stanley Resor trao cho huy chương Army Commendation Medal. Ngoài ra, ông còn được trao: National Defense Medal, Vietnam Service Medal, Vietnam Campaign Medal.

Đọc bài viết

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Cafe sáng