Phía sau trang sách

Tôi hiểu được gì từ “Gối đầu lên cỏ”

Published

on

Văn học Nhật đối với tôi bảng lảng, phảng phất và không rõ ràng. Từ trước đến nay, nếu có ai mong muốn luận bàn về những tác phẩm thuộc dòng văn chương này, tôi đều xin kiếu. Bởi lẽ từ Kawabata Yasunari, Banana Yoshimoto cho đến Haruki Murakami hay Yoko Ogawa; tôi hiếm khi cảm được cái không rõ ràng ấy. Có thể nói những dòng chữ trong các cuốn ấy đọc cho có thì thôi, chứ rồi chữ nghĩa trong đầu không đọng lại mấy, (dĩ nhiên) trừ những tác phẩm giản tiện hay thật khác biệt của Yoko Ogawa.

Xếp hạng nhà văn tôi không thể cảm trong khi thế giới ngoài kia tung hô chào đón, thì có thể xếp Murakami số 1 và Kawabata số 2. Dĩ nhiên tôi không đánh đồng văn chương của hai tiên sinh là không giá trị hay không hay ho. Bởi nhẽ nếu không đọng lại một điều gì đó thì Nobel sẽ không ghé thăm (dù những năm nay scandal là thứ người ta quan tâm hơn cả), và cũng sẽ không bán chạy đến mức người ta trầy da tróc vẩy giành nhau khi giá xuống nửa. Thế nhưng đối với riêng mình, văn chương hai ông là thứ gì đó có vẻ lớn lao, nhưng rồi tắt lịm không một ý chí.

Dĩ nhiên điều đó làm tôi cảnh giác mỗi khi bắt gặp cái nhãn Nhật Bản cho những cuốn sách. Lớp nhà văn tiệm cận tôi đã cho qua, thì nói gì đến thế hệ trước đó, thế hệ cận đại với ba tên tuổi xem như trụ cột của một trường phái văn chương có tên rất kiêu – trường phái tâm lý cao sang – bút chiến với chủ nghĩa tự nhiên trên văn đàn Nhật đầu thế kỷ XX. Tất nhiên tôi không cho rằng bản thân hẳn có tâm lý “cao sang”, bởi vốn dĩ đời sống hiện nay đè nén người ta, muốn bay lên trời khó ngang đeo tạ thì nói làm chi đến kiểu thoát tục thành ra “cao sang”?  Nên trường phái ấy cũng giống như tôi bắt gặp Coca mà không calo, như hàng xả ra được hô lỗ vốn hay những Swifties chấp nhận thực tế đĩa nhạc của thần tượng mình thật sự dở tệ.

Trong số ba trụ cột đó, Natsume Sōseki có lẽ là nhà văn được ưu ái nhất khi hàng năm vẫn được giới thiệu những tác phẩm mới so với Mori Ogai hay Akutagawa Ryunosuke. Nếu ai đó hỏi văn phong của Sōseki được tả thế nào, thì như ý kiến của một nữ nhân chìm đắm Dazai Osamu, đó là nó khá thuôn thước đến độ được đem giảng dạy trong sách giáo khoa (so với độ sâu và khá tăm tối của những nhà văn tự tử sau này). Thế nhưng ẩn trong những dòng văn ấy luôn luôn chứa đựng những sự phản kháng và niềm nổi loạn của những con người bị gò vào trong khuôn thước.

Nếu Botchan là sự phản kháng với một thế giới được trù định sẵn, Cỏ ven đường là cái vướng víu trên bước đường đi, Ngày 210 lại là thể nghiệm như một vở kịch của những hiện đại ào vào nước Nhật thì Gối đầu lên cỏ là những suy tư đến độ đa tầng của người nghệ sĩ. Chính trong Gối đầu lên cỏ hay Kusamakura được viết vào năm 1906 này, mọi chủ thuyết của Sōseki như đang hiện lên trước mắt người đọc, vì không có gì là thực tế cả trong một đời thực quá nhiều vướng víu, quá nhiều con người cùng những mưu mô, chước hại không biết bao giờ mới thôi yên nghỉ.

*

Gối đầu lên cỏ là chuyến hành trình của một họa sĩ xứ Tokyo lên núi mùa xuân để tìm cảm hứng. Cũng chính trên chuyến đi ấy, anh đã đến được sơn thôn với những con người – nhân vật tưởng như xưa cũ nhưng rất thanh tao. Ở đó có những suy tư về con người anh, về những nghệ sĩ, về cuộc đời này. Cũng có trăn trở về một nước Nhật bảng lảng mù sương khi hiện đại hóa tràn ngập vào đây, làm mất bản sắc của chính con người. Chính cái đối lập giữa vùng sơn thôn cùng cái hiu hắt của chiếc tàu hỏa chở người ta đi vào trong cuộc chiến đã như bức tranh hai mảng sáng tối của cuộc đời này. Để cũng từ chính những suy tư ấy, ta thấy được tia phản chiếu trong sự sống này, dẫu cả trăm năm đã kịp vút qua như cơn bão quấy.

Có thể thấy những tri thức mới xứ Tokyo luôn luôn trở lại trong những trước tác đậm tính tự sự của Sōseki. Nếu trong Cỏ ven đường là cậu Kenzō từng đi du học trở về cố hương, thì trong Gối đầu lên cỏ là chàng họa sĩ ở nơi phố thị trốn tránh cuộc đời. Việc đặt nhân vật vào trường học thức hay những phông nền ở mặt nghề nghiệp đã cho thấy rõ đối tượng ông muốn hướng tới – tầng lớp tinh hoa với những đặc trưng về sự “cao sang” coi thường sự đời. Một trăm năm sau, nhờ những nỗ lực xóa vùng mù chữ, ai ai cũng đã trở thành những tri thức mới – những người ít nhiều tự mình có thể tư duy – dẫn đến trước tác của Sōseki mở rộng ra với người đọc, không còn bó buộc ở mặt nhận thức, mà là bó buộc về phía suy nghĩ, đối với những ai vẫn giữ khả năng tự ngẫm chính mình.

Bài học số 1. Chính thế giới quan vẫn luôn thay đổi dẫu ta có đang làm gì. Trải đời hai mươi năm, tôi nghĩ thế giới này là một nơi đáng sống. Sau hai mươi lăm năm thì tôi đã hiểu ánh sáng và bóng tối chỉ là hai mặt của một vấn đề […] Và bây giờ, khi ở tuổi ba mươi, tôi nghĩ thế này: niềm vui càng lớn thì nỗi buồn càng mênh mông, sung sướng càng nhiều thì đau khổ càng ghê gớm. Khi ta cố gắng thoát khỏi điều đó thì cuộc sống sẽ chẳng còn gì. Khi ta cố gắng dàn xếp lại thì thế giới sẽ sụp đổ.

Cứ một chu kỳ tưởng chừng 5 năm, suy nghĩ trong con người ta sẽ thật khác biệt. Điều này không nói cũng dễ nhận ra, dĩ nhiên đời sống không ai đoán định, nói chi trở thành loài này mà việc ra đời đã như hành xácTrở thành con người thật sự khó khăn, càng khó khăn hơn khi họ suy tư như một nghệ sĩ. Triết gia từ cổ chí kim vẫn được ca ngợi như những con người làm nên văn minh, nhưng mà thật ra, tôi lại nhìn họ dưới mắt thương cảm. Họ đã phôi thai những câu đơn giản về kiếp sống này, để rồi oằn mình tìm câu trả lời. Họ tự đâm mình bằng nhiều nhát dao, khi ướm đời mình vào sự mênh mông của cõi vũ trụ. Giữa quá trình suy tư đến vô cực độ ở những triết gia, một lúc nào đó hình ảnh Athena hoài thai trong đầu của Zeus lại vọt được ra trong tâm trí tôi, như sự khó chịu của những con người biết suy tư sâu, biết nhìn nhận đời. Bởi lẽ khi biết suy tư, ta càng dấn sâu vào trong bể đời. Hay khỏi suy tư?

Bài học thứ 2. Như những câu nói làm giàu từ bi với tâm hỷ xả. Sự giàu có trước mắt cũng chỉ là bụi. Danh vị mà ta giành lấy hay vinh quang mà ta chiếm được chẳng qua cũng giống như một con ong ranh mãnh, vờ tạo ra thứ mật ngọt quyến rũ nhưng lại giấu nọc độc bên trong. Thời thế của Sōseki khi viết ra được những câu chữ này trong màu bảng lảng của núi mùa xuân thật là phù hợp, thế nhưng rõ ràng ở thời ngày nay, chính con người ta không thể làm theo mà nếu không muốn bản thân chết đói.

Trước khi đến với tiểu thuyết tôi như một con suối nhỏ. Khi đọc George Orwell tôi bắt đầu nghĩ cuộc đời vốn biến động này không chỉ có Peter Pan hay Tinker Bell mà còn lũ vật đòi nhiều quyền lợi hơn những loài khác. Khi đọc Anna Karenina hay Bà Bovary, tôi lại vỡ ra, sống phàm chỉ 60 năm thủy chung một lòng, thay vậy ta đi ngoại tình để đời nhiều cú ngoặt hơn, nhiều plot twist hơn để rồi sau này nằm xuống cũng không hối tiếc? Và vâng, chính những tiểu thuyết làm tôi sống kịch tính hơn, nhiều drama hơn vì đời ngắn ngủi. Danh vị, giàu có nếu thuộc về ta thì cứ cố giành, phàm gì để cho người khác trèo lên đầu mình? Sōseki sống trong sương mù của núi mùa xuân, ông cũng không chỉ ra rằng họa sĩ không vẽ bức nào mà vẫn có tiền ở suối nước nóng (hay hầu hết những tác phẩm ấy đều khinh tiền bạc kim tiền thì phải) thì thôi ở thời đại này, bằng văn minh phương Tây, mọi người hãy sống và tranh giành nhau cái gì của mình, vì không có núi mùa xuân để mà dạo bước, cũng không có ai cho không bất cứ thứ gì.

Bài học thứ 3. Nếu không muốn rước phiền hà vào người, dĩ nhiên đừng đòi công bằng. Người ta hay nói đến những khái niệm “vô tư”, “công bằng”. Nếu điều đó được xem là quan trọng thì có lẽ người ta nên giết cả nghìn sinh mạng mỗi ngày, rồi đem những xác chết kia làm phân bón cho cỏ hoa khắp chốn… Công bằng thời nào cũng là giễu nhại, vì nó có đó nhưng chỉ tồn tại ở mặt câu chữ.

Dường như trở thành bản chất hay điều gì đó tồn tại từ lâu, công bằng là một trò chơi không hơn không kém. Và đã là một trò chơi thì sẽ có luật, kẻ thắng người thua và những người thua không có quyền chọn. Đó là quy luật, tồn tại khách quan, không thể tránh khỏi. Nên cứ nghĩ thế để khỏi suy tư, không phải bị thương bằng những nhát dao vô cùng đau đớn. Mà phải sự đời vẫn luôn là thế, có gì khác đâu.

Bài học thứ 4. Không có gì đặc trưng cho sự văn minh của thế kỷ hai mươi bằng tàu hỏa […] Người ta bảo là “lên tàu”. Tôi thấy như thế là bị nhồi nhét. Người ta bảo là “đi tàu”. Tôi thấy là bị áp tải. Chẳng có cái gì chối bỏ cá tính như là thứ tàu này. Văn minh làm cho con người có thể phát huy cá tính nhờ những phương tiện nhất định, nhưng rồi cũng có những thứ phương tiện hủy hoại cá tính của con người […] Kiểu văn minh hiện thời cứ như là cấp cho mỗi người một mảnh đất nhỏ xíu như nhau, rồi bảo người ta cứ tùy ý, thức hay ngủ gì trên mảnh đất ấy cũng được. Đồng thời lại dựng lên một hàng rào thép xung quanh mảnh đất kia, không cho người ta bước ra ngoài dù chỉ là một bước. Những người sống tự do bên trong hàng rào thì cũng muốn sống tự do ở bên ngoài, đó là chuyện hiển nhiên.

Rồi con người ta cũng thành robot, bởi những đồng nhất về mặt văn hóa, về bản dạng người. Hàng ngày xếp hàng đợi chờ để lấy phần ăn ở công ty mình, tôi những tưởng bản thân là con gà béo chờ vào đường dây. Từ khi nào tự chuẩn bị thức ăn trở thành một xa xỉ phẩm để được đánh đồng trăm người như một? Để rồi quanh quất trong giờ ăn trưa ai cũng như nhau cùng một động tác, ai cũng lờ đờ trong trí não mình, ai cũng như nhau không khác thứ gì. Nền văn minh rỉ máu, đâm lén vào nhau như một nhát dao bén nhọn. Suy tư làm gì trước một đế chế trở thành hùng bạo, dẫm nát bất cứ một ai muốn tìm lại mình. Cứ cúi mặt xuống và tiếp tục ăn. Có gì mới đâu!

*

Sōseki không phải là người đầu tiên, cũng chẳng là người cuối cùng. Luôn luôn là thế.

Hết.

Chiêu Dương

Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng