Phía sau trang sách

Tôi hiểu được gì từ “Gối đầu lên cỏ”

Published

on

Văn học Nhật đối với tôi bảng lảng, phảng phất và không rõ ràng. Từ trước đến nay, nếu có ai mong muốn luận bàn về những tác phẩm thuộc dòng văn chương này, tôi đều xin kiếu. Bởi lẽ từ Kawabata Yasunari, Banana Yoshimoto cho đến Haruki Murakami hay Yoko Ogawa; tôi hiếm khi cảm được cái không rõ ràng ấy. Có thể nói những dòng chữ trong các cuốn ấy đọc cho có thì thôi, chứ rồi chữ nghĩa trong đầu không đọng lại mấy, (dĩ nhiên) trừ những tác phẩm giản tiện hay thật khác biệt của Yoko Ogawa.

Xếp hạng nhà văn tôi không thể cảm trong khi thế giới ngoài kia tung hô chào đón, thì có thể xếp Murakami số 1 và Kawabata số 2. Dĩ nhiên tôi không đánh đồng văn chương của hai tiên sinh là không giá trị hay không hay ho. Bởi nhẽ nếu không đọng lại một điều gì đó thì Nobel sẽ không ghé thăm (dù những năm nay scandal là thứ người ta quan tâm hơn cả), và cũng sẽ không bán chạy đến mức người ta trầy da tróc vẩy giành nhau khi giá xuống nửa. Thế nhưng đối với riêng mình, văn chương hai ông là thứ gì đó có vẻ lớn lao, nhưng rồi tắt lịm không một ý chí.

Dĩ nhiên điều đó làm tôi cảnh giác mỗi khi bắt gặp cái nhãn Nhật Bản cho những cuốn sách. Lớp nhà văn tiệm cận tôi đã cho qua, thì nói gì đến thế hệ trước đó, thế hệ cận đại với ba tên tuổi xem như trụ cột của một trường phái văn chương có tên rất kiêu – trường phái tâm lý cao sang – bút chiến với chủ nghĩa tự nhiên trên văn đàn Nhật đầu thế kỷ XX. Tất nhiên tôi không cho rằng bản thân hẳn có tâm lý “cao sang”, bởi vốn dĩ đời sống hiện nay đè nén người ta, muốn bay lên trời khó ngang đeo tạ thì nói làm chi đến kiểu thoát tục thành ra “cao sang”?  Nên trường phái ấy cũng giống như tôi bắt gặp Coca mà không calo, như hàng xả ra được hô lỗ vốn hay những Swifties chấp nhận thực tế đĩa nhạc của thần tượng mình thật sự dở tệ.

Trong số ba trụ cột đó, Natsume Sōseki có lẽ là nhà văn được ưu ái nhất khi hàng năm vẫn được giới thiệu những tác phẩm mới so với Mori Ogai hay Akutagawa Ryunosuke. Nếu ai đó hỏi văn phong của Sōseki được tả thế nào, thì như ý kiến của một nữ nhân chìm đắm Dazai Osamu, đó là nó khá thuôn thước đến độ được đem giảng dạy trong sách giáo khoa (so với độ sâu và khá tăm tối của những nhà văn tự tử sau này). Thế nhưng ẩn trong những dòng văn ấy luôn luôn chứa đựng những sự phản kháng và niềm nổi loạn của những con người bị gò vào trong khuôn thước.

Nếu Botchan là sự phản kháng với một thế giới được trù định sẵn, Cỏ ven đường là cái vướng víu trên bước đường đi, Ngày 210 lại là thể nghiệm như một vở kịch của những hiện đại ào vào nước Nhật thì Gối đầu lên cỏ là những suy tư đến độ đa tầng của người nghệ sĩ. Chính trong Gối đầu lên cỏ hay Kusamakura được viết vào năm 1906 này, mọi chủ thuyết của Sōseki như đang hiện lên trước mắt người đọc, vì không có gì là thực tế cả trong một đời thực quá nhiều vướng víu, quá nhiều con người cùng những mưu mô, chước hại không biết bao giờ mới thôi yên nghỉ.

*

Gối đầu lên cỏ là chuyến hành trình của một họa sĩ xứ Tokyo lên núi mùa xuân để tìm cảm hứng. Cũng chính trên chuyến đi ấy, anh đã đến được sơn thôn với những con người – nhân vật tưởng như xưa cũ nhưng rất thanh tao. Ở đó có những suy tư về con người anh, về những nghệ sĩ, về cuộc đời này. Cũng có trăn trở về một nước Nhật bảng lảng mù sương khi hiện đại hóa tràn ngập vào đây, làm mất bản sắc của chính con người. Chính cái đối lập giữa vùng sơn thôn cùng cái hiu hắt của chiếc tàu hỏa chở người ta đi vào trong cuộc chiến đã như bức tranh hai mảng sáng tối của cuộc đời này. Để cũng từ chính những suy tư ấy, ta thấy được tia phản chiếu trong sự sống này, dẫu cả trăm năm đã kịp vút qua như cơn bão quấy.

Có thể thấy những tri thức mới xứ Tokyo luôn luôn trở lại trong những trước tác đậm tính tự sự của Sōseki. Nếu trong Cỏ ven đường là cậu Kenzō từng đi du học trở về cố hương, thì trong Gối đầu lên cỏ là chàng họa sĩ ở nơi phố thị trốn tránh cuộc đời. Việc đặt nhân vật vào trường học thức hay những phông nền ở mặt nghề nghiệp đã cho thấy rõ đối tượng ông muốn hướng tới – tầng lớp tinh hoa với những đặc trưng về sự “cao sang” coi thường sự đời. Một trăm năm sau, nhờ những nỗ lực xóa vùng mù chữ, ai ai cũng đã trở thành những tri thức mới – những người ít nhiều tự mình có thể tư duy – dẫn đến trước tác của Sōseki mở rộng ra với người đọc, không còn bó buộc ở mặt nhận thức, mà là bó buộc về phía suy nghĩ, đối với những ai vẫn giữ khả năng tự ngẫm chính mình.

Bài học số 1. Chính thế giới quan vẫn luôn thay đổi dẫu ta có đang làm gì. Trải đời hai mươi năm, tôi nghĩ thế giới này là một nơi đáng sống. Sau hai mươi lăm năm thì tôi đã hiểu ánh sáng và bóng tối chỉ là hai mặt của một vấn đề […] Và bây giờ, khi ở tuổi ba mươi, tôi nghĩ thế này: niềm vui càng lớn thì nỗi buồn càng mênh mông, sung sướng càng nhiều thì đau khổ càng ghê gớm. Khi ta cố gắng thoát khỏi điều đó thì cuộc sống sẽ chẳng còn gì. Khi ta cố gắng dàn xếp lại thì thế giới sẽ sụp đổ.

Cứ một chu kỳ tưởng chừng 5 năm, suy nghĩ trong con người ta sẽ thật khác biệt. Điều này không nói cũng dễ nhận ra, dĩ nhiên đời sống không ai đoán định, nói chi trở thành loài này mà việc ra đời đã như hành xácTrở thành con người thật sự khó khăn, càng khó khăn hơn khi họ suy tư như một nghệ sĩ. Triết gia từ cổ chí kim vẫn được ca ngợi như những con người làm nên văn minh, nhưng mà thật ra, tôi lại nhìn họ dưới mắt thương cảm. Họ đã phôi thai những câu đơn giản về kiếp sống này, để rồi oằn mình tìm câu trả lời. Họ tự đâm mình bằng nhiều nhát dao, khi ướm đời mình vào sự mênh mông của cõi vũ trụ. Giữa quá trình suy tư đến vô cực độ ở những triết gia, một lúc nào đó hình ảnh Athena hoài thai trong đầu của Zeus lại vọt được ra trong tâm trí tôi, như sự khó chịu của những con người biết suy tư sâu, biết nhìn nhận đời. Bởi lẽ khi biết suy tư, ta càng dấn sâu vào trong bể đời. Hay khỏi suy tư?

Bài học thứ 2. Như những câu nói làm giàu từ bi với tâm hỷ xả. Sự giàu có trước mắt cũng chỉ là bụi. Danh vị mà ta giành lấy hay vinh quang mà ta chiếm được chẳng qua cũng giống như một con ong ranh mãnh, vờ tạo ra thứ mật ngọt quyến rũ nhưng lại giấu nọc độc bên trong. Thời thế của Sōseki khi viết ra được những câu chữ này trong màu bảng lảng của núi mùa xuân thật là phù hợp, thế nhưng rõ ràng ở thời ngày nay, chính con người ta không thể làm theo mà nếu không muốn bản thân chết đói.

Trước khi đến với tiểu thuyết tôi như một con suối nhỏ. Khi đọc George Orwell tôi bắt đầu nghĩ cuộc đời vốn biến động này không chỉ có Peter Pan hay Tinker Bell mà còn lũ vật đòi nhiều quyền lợi hơn những loài khác. Khi đọc Anna Karenina hay Bà Bovary, tôi lại vỡ ra, sống phàm chỉ 60 năm thủy chung một lòng, thay vậy ta đi ngoại tình để đời nhiều cú ngoặt hơn, nhiều plot twist hơn để rồi sau này nằm xuống cũng không hối tiếc? Và vâng, chính những tiểu thuyết làm tôi sống kịch tính hơn, nhiều drama hơn vì đời ngắn ngủi. Danh vị, giàu có nếu thuộc về ta thì cứ cố giành, phàm gì để cho người khác trèo lên đầu mình? Sōseki sống trong sương mù của núi mùa xuân, ông cũng không chỉ ra rằng họa sĩ không vẽ bức nào mà vẫn có tiền ở suối nước nóng (hay hầu hết những tác phẩm ấy đều khinh tiền bạc kim tiền thì phải) thì thôi ở thời đại này, bằng văn minh phương Tây, mọi người hãy sống và tranh giành nhau cái gì của mình, vì không có núi mùa xuân để mà dạo bước, cũng không có ai cho không bất cứ thứ gì.

Bài học thứ 3. Nếu không muốn rước phiền hà vào người, dĩ nhiên đừng đòi công bằng. Người ta hay nói đến những khái niệm “vô tư”, “công bằng”. Nếu điều đó được xem là quan trọng thì có lẽ người ta nên giết cả nghìn sinh mạng mỗi ngày, rồi đem những xác chết kia làm phân bón cho cỏ hoa khắp chốn… Công bằng thời nào cũng là giễu nhại, vì nó có đó nhưng chỉ tồn tại ở mặt câu chữ.

Dường như trở thành bản chất hay điều gì đó tồn tại từ lâu, công bằng là một trò chơi không hơn không kém. Và đã là một trò chơi thì sẽ có luật, kẻ thắng người thua và những người thua không có quyền chọn. Đó là quy luật, tồn tại khách quan, không thể tránh khỏi. Nên cứ nghĩ thế để khỏi suy tư, không phải bị thương bằng những nhát dao vô cùng đau đớn. Mà phải sự đời vẫn luôn là thế, có gì khác đâu.

Bài học thứ 4. Không có gì đặc trưng cho sự văn minh của thế kỷ hai mươi bằng tàu hỏa […] Người ta bảo là “lên tàu”. Tôi thấy như thế là bị nhồi nhét. Người ta bảo là “đi tàu”. Tôi thấy là bị áp tải. Chẳng có cái gì chối bỏ cá tính như là thứ tàu này. Văn minh làm cho con người có thể phát huy cá tính nhờ những phương tiện nhất định, nhưng rồi cũng có những thứ phương tiện hủy hoại cá tính của con người […] Kiểu văn minh hiện thời cứ như là cấp cho mỗi người một mảnh đất nhỏ xíu như nhau, rồi bảo người ta cứ tùy ý, thức hay ngủ gì trên mảnh đất ấy cũng được. Đồng thời lại dựng lên một hàng rào thép xung quanh mảnh đất kia, không cho người ta bước ra ngoài dù chỉ là một bước. Những người sống tự do bên trong hàng rào thì cũng muốn sống tự do ở bên ngoài, đó là chuyện hiển nhiên.

Rồi con người ta cũng thành robot, bởi những đồng nhất về mặt văn hóa, về bản dạng người. Hàng ngày xếp hàng đợi chờ để lấy phần ăn ở công ty mình, tôi những tưởng bản thân là con gà béo chờ vào đường dây. Từ khi nào tự chuẩn bị thức ăn trở thành một xa xỉ phẩm để được đánh đồng trăm người như một? Để rồi quanh quất trong giờ ăn trưa ai cũng như nhau cùng một động tác, ai cũng lờ đờ trong trí não mình, ai cũng như nhau không khác thứ gì. Nền văn minh rỉ máu, đâm lén vào nhau như một nhát dao bén nhọn. Suy tư làm gì trước một đế chế trở thành hùng bạo, dẫm nát bất cứ một ai muốn tìm lại mình. Cứ cúi mặt xuống và tiếp tục ăn. Có gì mới đâu!

*

Sōseki không phải là người đầu tiên, cũng chẳng là người cuối cùng. Luôn luôn là thế.

Hết.

Chiêu Dương

Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng