Trà chiều

Personal Taste – Tiếng thở dài trong sáng

Phải là người cô đơn ở mức độ nào mới có thể nghĩ ra ý tưởng thiết kế chiếc bàn như thế. Có lẽ, nỗi cô đơn ấy đã bòn rút sức sống của Gae In mỗi ngày mà cô không biết.

Published

on

Personal Taste không phải là một phim xuất sắc, cả từ thời cách đây sáu năm khi tôi lần đầu tiên xem phim cho đến tận bây giờ, nhận định đó vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, có một thứ trong bộ phim này khiến tôi luôn nhung nhớ: sự cô đơn của Gae In. Sự cô đơn ấy được phản chiếu qua những tấm gương. Thật kì lạ vì nó không mang màu sắc quá u tối dù có nỗi cô đơn nào lại không trĩu nặng buồn bã. Hơi thở trầm buồn của Gae In phả vào những tấm gương ấy chỉ khiến cho sắc phản chiếu của nó bị mờ đục đi đôi chút; dưới ánh nắng lấp lánh, nó vẫn ngân lên một tia sáng trong trẻo hồi đáp lại tín hiệu của nắng. Như những bức ảnh được chỉnh sắc tương phản thấp lại và trở nên mềm mại, xao xuyến hơn khi tạo ra cảm giác mọi thứ chìm trong lớp sương mù, nỗi buồn của Gae In phủ lên tấm gương cô đơn cũng tương tự như vậy. Một nỗi buồn dịu dàng, một sự cô đơn đằm thắm.

Những tấm gương

Tôi xem Personal Taste 1 + 1/16 lần, nghĩa là một lần tôi xem trọn 16 tập phim và một lần tôi chỉ xem lại đúng tập một. Lần nào xem, tôi cũng đều bị xúc động bởi một chi tiết đơn giản ở tập một: chiếc bàn của Gae In. Gae In làm công việc thiết kế các đồ nội thất trong nhà, cô không chỉ vẽ mẫu mà còn tự tay thực hiện các mẫu thiết kế như một người thợ mộc thực thụ. Trong một hội chợ đồ nội thất, Gae In đã bày bán “chiếc bàn trò chuyện” của cô. Không ai hiểu chiếc bàn này có gì đặc biệt, nhìn bề ngoài, có vẻ như nó chỉ là chiếc bàn gỗ thông thường. Gae In giải thích: “Chiếc bàn này dành cho những người cô đơn, muốn có người ngồi đối diện trò chuyện với mình trong mỗi bữa ăn nhưng lại chẳng có ai. Không phải ai cũng có người yêu hoặc ở cạnh gia đình, vì vậy, chiếc bàn này dành cho họ. Nếu như bạn ngồi ở phần bên này của chiếc bàn, bạn hãy mở nắp gương ở phần đối diện, một tấm gương sẽ được dựng đứng trên bàn đối diện với vị trí bạn ngồi. Như vậy là, bây giờ bạn đã có thể tự trò chuyện với mình trong mỗi bữa ăn rồi. Nếu bạn không thích ồn ào, bạn có thể im lặng và chỉ cần thoáng nhìn bóng mình phản chiếu trong gương, cảm giác gần như có một người đang ngồi đối diện với bạn, nhìn bạn trong bữa ăn cũng đã khiến bạn bớt cô đơn đi rất nhiều rồi, có phải không?” Một điều dễ dự đoán là tất cả mọi người, khi bước qua gian hàng ấy, nghe Gae In trình bày như thế này đã cười cợt cô nàng, nói rằng chiếc bàn này rất vô dụng, sự “đặc biệt” của nó khiến họ cảm thấy rất ngớ ngẩn. Tình tiết này được xây dựng như một tình tiết hài hước trong phim. Và quả thực, lần đầu tiên xem đoạn này, tôi đã bật cười. Ý tưởng của Gae In sao mà ngộ nghĩnh quá. Nhưng sau khi nhìn mọi người, những người trong phim ấy cười và mỉa mai Gae In, tôi lại thấy thương cô vô cùng. Sự vui vẻ bên ngoài khi Gae In giới thiệu sản phẩm thực chất chỉ là để che giấu nỗi buồn trong lòng cô. “Chiếc bàn trò chuyện” ấy không phải là thứ tạo ra âm thanh; ngược lại, nó tăng cường độ của sự im lặng lớn hơn khi người ta phải tự đối diện với chính mình, tự đối diện với việc mình đang cô đơn, tự đối diện với từng sắc thái, biểu cảm trên khuôn mặt mình khi đang ăn. Nếu là tôi, tôi cũng sẽ không mua chiếc bàn đó, nó không tạo ra một hiện hữu thực sự; thay vào đó, nó lại tô đậm hơn sự vắng mặt. Tôi không đánh giá cao tác dụng chữa lành cảm giác cô đơn mà Gae In muốn gán cho chiếc bàn, tuy nhiên, chính từ chi tiết này khiến tôi bắt đầu yêu mến Gae In và mong một ngày, cô tìm được hạnh phúc cho riêng mình. Bởi vì, phải là người cô đơn ở mức độ như thế nào đó mới có thể nghĩ ra ý tưởng thiết kế chiếc bàn như thế. Có lẽ, nỗi cô đơn ấy đã bòn rút sức sống của Gae In mỗi ngày mà cô không biết.

Sau này, tôi mới hiểu vì sao trong mẫu thiết kế về chiếc bàn của Gae In, tấm gương lại đóng vai trò chủ đạo như vậy. Trong tiềm thức, cô vẫn luôn có cảm giác mình là người đã gây ra cái chết cho mẹ. Bố Gae In vốn là một kiến trúc sư và mẹ cô cũng là nhà thiết kế nội thất như cô. Bên dưới phòng khách nơi căn nhà họ sống là tầng hầm để mẹ cô làm việc. Vì công việc bận rộn, bà thường xuyên xuống tầng hầm để Gae In một mình chơi đùa trong phòng khách. Nơi sàn nhà của phòng khách ngay phía trên chiếc bàn lớn mà mẹ Gae In thường đứng làm việc dưới tầng hầm, bố cô không lót gạnh mà lót một tấm kính thật lớn. Như thế, vào ban ngày, mẹ Gae In không cần mở đèn dưới tầng hầm mà vẫn có thể nhận được nguồn sáng rõ ràng từ mặt trời để làm việc. Khi ấy, Gae In vẫn còn rất nhỏ. Nơi phòng khách, cô bé Gae In cứ bò qua bò lại trên tấm kính và nhìn mẹ làm việc ở dưới tầng hầm; thỉnh thoảng, mẹ ngước nhìn lên mỉm cười với cô, nụ cười của mẹ thật hiền hậu trong ánh sáng mặt trời chiếu trên khuôn mặt mẹ. Tại sao mẹ lại ở dưới hầm thế kia? Tại sao mẹ không lên chơi với Gae In? Không. Gae In không muốn mẹ cứ ở dưới hầm. Gae In muốn mẹ ở đây, ở ngay bên cạnh cơ. Gae In muốn chơi cùng mẹ. Thế là, Gae In đập tay lên tấm kính nhiều lần để gọi mẹ. Nhưng mẹ Gae In không nghe được tiếng đập kính vì tiếng máy khoan thậm chí còn lớn hơn.

Và…

Một tia nắng chợt gắt lên vì không còn gặp vật cản trở nữa, nó dội thẳng xuống tầm hầng, xuống đôi mắt mẹ như một tia nước mảnh nhưng có sức bắn mạnh mẽ. Mẹ chói mắt. Và rồi, một khoảng nắng nữa, một khoảng nắng nữa, tất cả khoảng nắng đổ ập xuống như cơn thác lũ tàn nhẫn cuốn trôi theo nó là vô số mảnh kính đang ánh lên tia sáng nhức mắt. Gae In cũng rơi xuống cùng dòng thác đó nhưng mẹ đã kịp thời đón lấy và che chở cho cô bé để rồi bị những mảnh kính đâm vào người. Sau tai nạn ấy, mẹ Gae In qua đời. Tai nạn đó đã luôn ám ảnh Gae In, cô nghĩ rằng mình là nguyên nhân gây ra cái chết của mẹ. Tôi không còn nhớ rõ về bố cô sau đó nữa, tôi không nhớ là ông đã đau buồn, tức giận vì ngôi nhà mình xây không an toàn, gây nên cái chết cho vợ nên tự tử hay chỉ đơn giản là rời đi, đến một nơi khác, một căn nhà khác, bỏ lại Gae In một mình ở căn nhà ấy. Nhưng điều tôi nhớ rất rõ là Gae In đã sống cô đơn trong căn nhà ấy cho đến năm ba mươi tuổi.

Jin Ho đã đến với Gae In và anh giúp người phụ nữ ba mươi tuổi này xoa dịu nỗi cô đơn bằng niềm hạnh phúc trong tình yêu, thứ tình yêu đã lâu lắm rồi Gae In không biết đến, thứ tình yêu có thể khiến cô say đắm đến mức gạt bỏ đi sự vị kỷ thông thường khi yêu để thốt lên với anh rằng: “Dù anh là gay, em vẫn yêu anh. Anh cưới em đi, em chấp nhận một cuộc hôn nhân không tình yêu để anh có thể được thoải mái ở bên cạnh người ấy. Vì chỉ cần nhìn thấy anh hạnh phúc, em cũng hạnh phúc.” Khoảnh khắc Gae In thổ lộ với Jin Ho điều này, tôi thực sự ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì không ngờ cô yêu anh đến như thế, cố gắng suy nghĩ vì anh đến như thế, và đồng thời tôi cũng ngỡ ngàng vì một Gae In nhút nhát lại có thể thẳng thắn nói ra điều này sao? Nhưng sau thoáng ngỡ ngàng đó, suy nghĩ kĩ lại thì điều này vô cùng hợp lí. Người con gái ba mươi tuổi ấy trước giờ chỉ biết đến nỗi buồn, sự cô đơn, và dù như thế, người con gái ấy vẫn luôn tiếp tục cố gắng một mình dẫu có nhiều lúc rất mệt mỏi, đã rất lâu rồi, không ai đem đến cho cô niềm hạnh phúc giản dị như ngồi ăn chung một bàn, xem cùng một chương trình truyền hình, chia sẻ cùng một không gian sống với cô để phá vỡ đi sự tĩnh lặng tưởng chừng không thể thay đổi; khi ai đó đem lại cho cô tất cả những điều ấy, cô còn đợi chờ gì để lãng phí thời gian nữa. Không. Gae In đã chờ đợi quá lâu và cô cần phải nắm giữ ngay điều quí giá ấy cho dù nó có thể biến thành thứ mang sức hủy diệt tương tự như những mảnh kính vỡ kia, cho dù nó có đâm vào đôi bàn tay cô khiến cô đau, khiến cô rướm máu.

May mắn cuối cùng đã đến với Gae In sau rất nhiều nỗi buồn, còn điều nào may mắn hơn khi người mình yêu cũng yêu mình. Hơn nữa, chính người ấy đã giúp Gae In chữa lành vết thương quá khứ. Nhờ có anh, cô biết được rằng bố cô thiết kế tấm kính lớn gắn trong phòng khách là vì mong muốn của mẹ cô, vì bà luôn muốn nhìn thấy cô mỗi khi làm việc. Và bố cô không căm ghét cô, ông căm ghét chính bản thân mình vì đã không thể tính toán được trường hợp bất đắc dĩ xảy ra như thế, vì ông đã đặt tấm kính theo một kết cấu sai và đã không chọn loại kính có cường lực lớn hơn. Đó không hoàn toàn là lỗi của Gae In. Nếu nói tai nạn ấy là lỗi thì đó là lỗi của tất cả mọi người. Làm sao một cô bé nhỏ tuổi có thể nghĩ rằng lực từ bàn tay mình đập có thể làm vỡ một tấm kính? Và thực ra, kể cả người lớn cũng không lường trước được điều đó. Có thể vì tấm kính ấy đã bị lỗi nhưng cũng có thể, đó là vì khát khao được mẹ nghe thấy tiếng nói của mình trong cô bé quá lớn. Dù như thế nào, tất cả mọi chuyện đều đã qua. Giờ đây, có một bàn tay dịu dàng đã lau sạch lớp bụi mờ phủ trên tấm gương.

Câu trả lời

Personal Taste không phải là một phim tôi sẽ hào hứng giới thiệu với mọi người và bảo rằng nó rất hay, cần xem, nên xem. Nếu làm như thế, tôi sẽ tự dối lòng mình hoặc cảm thấy rất xấu hổ, hoặc sợ hãi vì bộ phim này có thể đem đến trải nghiệm không tốt cho người tôi giới thiệu. Cũng như Suicide Squad, Personal Taste là một phim thật dễ tìm điểm tệ của nó để phê phán: cốt truyện có nhiều điểm phi lí, nhân vật một chiều vì chỉ có một mục tiêu suốt phim, nhiều đoạn hài hước còn cường điệu, nhiều đoạn sinh hoạt đời thường dài dòng không cần thiết cho thấy bộ phim là sự kết hợp tham vọng giữa thể loại drama và slice of life nhưng đôi khi lại phân vân không biết theo thể loại nào dẫn đến toàn bộ cấu trúc phim có gì đó không vững chắc, đồng đều… Có quá nhiều điểm để chê Personal Taste và thời điểm ra mắt, bộ phim này được đánh giá là không thành công, một dự án “flop” vì giới phê bình không đánh giá cao, khán giả đại chúng có vẻ như cũng không thích phim vì rating không cao (so với thời điểm đó) và chưa bao giờ rating được lọt vào top ba, tập cao nhất cũng chỉ ở thứ hạng tư, còn lại ở hầu hết các tập thì rating đứng vị trí thứ bảy hoặc tám. Người ta ngạc nhiên vì sao một kịch bản viết không chắc tay lắm như vậy lại được Son Ye Jin lựa chọn? Trước đó, phim Spotlight (2008) mà Ye Jin tham gia đã không mấy thành công với rating cực kì thấp vì phim kén khán giả đại chúng Hàn: phim chỉ tập trung vào miêu tả công việc của các phóng viên truyền hình và điều đặc biệt là toàn phim không hề có loveline – một điều rất hiếm thấy trong phim Hàn. Cá nhân tôi cũng không thích Spotlight nhưng tôi đánh giá cao sự lựa chọn của Ye Jin vì tôi hiểu onnie đang muốn thử sức mình ở những dạng phim khác biệt với truyền thống của Hàn, onnie không muốn đóng khung ở thể loại phim tình cảm – lãng mạn, vì vậy onnie chọn Alone in Love (một phim dòng slice of life) và sau đó là Spotlight (một phim nghề nghiệp). Sau hai phim vốn không phải là gu của khán giả đại chúng Hàn Quốc, onnie quay trở lại đóng dòng phim chính thống của truyền hình Hàn, một phim nhắm tới mục đích thị trường và được dự báo sẽ thu hút đông đảo khán giả trẻ bởi phim còn có sự tham gia của Lee Min Ho – một diễn viên vừa mới nổi và đang rất được yêu thích tại thời điểm đó sau Boys Over Flowers. Thế nhưng cuối cùng, phim thất bại vì một kịch bản không ổn định trong mặt cấu trúc và thậm chí, đôi khi dường như không rõ ràng trong mặt thể loại: có những lúc phim hài đến mức hài nhảm chứ không phải là hài có duyên vì lạm dụng hài hình thể quá đà để gây cười, có những lúc phim lại quá kịch tính đến mức người ta nhìn rõ sự cố tình để tạo ra kịch tính đó, có những lúc phim lại trôi qua đều đều như slice of life… Vì vậy, bộ phim khó có thể duy trì mạch cảm xúc xuyên suốt cho khán giả theo dõi phim. Thế nên, có rất nhiều người tự hỏi vì sao một diễn viên kì cựu như Son Ye Jin lại chọn tham gia phim này? Trong những người đó có tôi, và tôi còn tự đặt thêm cho mình câu hỏi nữa: vì sao có thể dễ dàng thấy nhiều điểm chưa tốt ở phim này và không dám giới thiệu nó cho ai nhưng thực lòng tôi vẫn thích nó?

Chính vì những lí do đó mà cách đây sáu năm, khi xem xong Personal Taste, tôi đã không hề viết bất cứ dòng nào cho nó. Trong những năm vừa qua, tôi cũng không giới thiệu đến ai bộ phim này. Nhiều lần, tôi nghĩ mình đã quên Personal Taste, rằng nội dung của nó sẽ hoàn toàn trôi tuột khỏi tâm trí tôi như rất nhiều phim khác tôi từng xem. Nhưng thật kì lạ, thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến Gae In, thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến thứ không khí mơ hồ còn đọng lại sau khi xem phim dù đã quên rất nhiều chi tiết nội dung phim, và bao giờ tôi cũng nhớ rất rõ đến hình ảnh tấm gương hay tấm kính, đến sự cô đơn của Gae In. Có lẽ, hình ảnh tấm gương đã trở thành một chiếc thẻ, một “tag” giúp tôi lưu trữ và nhớ về những chi tiết trong phim xoay quanh nó. Và sau sáu năm, tôi nhận ra tôi không chỉ thích Personal Taste vì hình ảnh tấm gương ấy, trong tiềm thức từ lúc nào không biết, tôi đã thích bộ phim này vì nó là chính nó, là cái tổng thể chung bất toàn và còn nhiều khiếm khuyết đó. Cùng với Suicide Squad, Personal Taste có lẽ chỉ mới là phim thứ hai mang đến cho tôi hiện tượng này: ta không thể nói rằng phim hay bởi những điểm chưa tốt lộ quá rõ nhưng đồng thời ta vẫn yêu thích nó. Thông thường, những phim tôi thích sẽ là những phim tôi cảm thấy hay (xét cả về mặt lí tính lẫn cảm tính) và không ngần ngại giới thiệu nó cho mọi người trong những dịp có thể. Nhưng, Suicide SquadPersonal Taste là ngoại lệ. Sau khi xem Suicide Squad, tôi đã rất thắc mắc về chính cảm xúc của bản thân mình: vì sao tôi có thể thấy những điều mọi người chê ở phim là hợp lí và bản thân tôi cũng thấy phim không thể gọi là hay, không xuất sắc nhưng tại sao tôi lại thích nó đến như thế? Chính vì không hiểu nổi cảm xúc của bản thân mình, tôi đã viết một bài review về Suicide Squad để làm phép thăm dò tiềm thức nhằm khả dĩ giúp tôi hiểu được nguồn cơn. Sau khi viết xong review cho Suicide Squad, tôi đã phần nào hiểu hơn lí do vì sao phim không hay nhưng mình thích. Vì vậy, tôi cũng muốn làm động tác tương tự cho Personal Taste để phần nào giải đáp những thắc mắc của mình sau sáu năm. Đó là lí do tôi cố gắng viết bài review này dù không còn nhớ phần lớn nội dung phim, dù tôi chỉ nhớ cảm xúc và không khí chung, dù chỉ còn vài hình ảnh được neo lại. Tôi đã cố gắng viết bài này mà không xem lại phim để làm rõ những chi tiết mình đã quên. Vì vậy, có thể bài viết này mang tính không chính xác, thậm chí sai lệch ở phần chi tiết và trích dẫn thoại bởi nó được hồi tưởng lại từ một kí ức không còn mấy rõ ràng nữa. Dù như thế, tôi vẫn muốn viết lại sự mơ hồ này để lưu giữ nó, bởi chính sự mơ hồ cũng quan trọng không kém sự rõ ràng, chi tiết. Và dường như, cũng bởi vì tôi đã yêu Personal Taste bằng một thứ tình yêu mơ hồ.

Tôi không còn băn khoăn về việc mình thích Personal Taste nữa. Câu trả lời rất đơn giản. Đó là personal taste. Có lẽ, tôi cũng đã phần nào hiểu được lí do vì sao onnie tham gia Personal Taste. Có phải vì sự cô đơn của Gae In không? Có phải vì chính nỗi niềm này như Dos đã viết trong The Raw Youth không? “Với năm tháng, niềm vui và nỗi buồn dường như lẫn lộn với nhau, biến thành tiếng thở dài trong sáng.” Và Gae In cũng có một tiếng thở dài trong sáng như thế.

Điểm đánh giá: 7/10
Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Sinh ra trên đầu một cọng lông

Published

on

Triết học quen thuộc và gần gũi nhất với nhiều sinh viên Việt Nam là triết học Marx-Lenin. Karl Marx sống dậy chắc phải hết hồn trước sự thật này, vì ông từng tuyên bố: “Triết học dùng để nghiên cứu thế giới thực cũng tương tự như thủ dâm trong tình dục.”

“Triết học” (philosophy) là từ gốc Hy Lạp, nghĩa đen là “tình yêu dành cho trí tuệ”. Nhưng sau khi dự một lớp triết ở đại học, với những tư liệu sản xuất, kiến trúc thượng tầng, lượng đổi dẫn đến chất đổi… với đa số người, triết học trở thành “tình yêu dành cho sự chán ngắt”.

Ngoài Karl Marx, Lenin còn có Socrates, Plato…; ngoài đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tư bản còn có cách để sống một cuộc đời ý nghĩa, làm thế nào để đương đầu với khổ đau… Triết học thật sự là một thế giới mầu nhiệm và thiết thân cho cuộc sống, hơn là một nhúm kiến thức học thuộc lòng để làm bài kiểm tra qua môn.

Nhà triết học trong cuốn Sophie’s World ví vũ trụ như con thỏ trắng vừa được lôi ra từ chiếc mũ ảo thuật, và tất cả con người thoạt tiên được sinh ra trên đầu những cọng lông thỏ và có thể chiêm ngưỡng trò ảo thuật kì diệu của thế giới. Nhưng càng lớn lên, con người càng tụt sâu xuống bộ lông thỏ và mất khả năng ngạc nhiên trước mọi sự. Thế giới trở nên hiển nhiên và cũ rích. Một đứa trẻ ra đời, hạnh phúc một tang gia, một tiếng chim hót, một con bướm bay, một giọt sương đọng trên lá chẳng còn làm ai mảy may xúc động. Cùng nhìn một thế giới nhưng người lớn thì buồn rầu, còn trẻ con thì sung sướng.

Triết học, vì thế, đưa người ta trở lại thành đứa trẻ, luôn trong trạng thái truy vấn và sửng sốt trước cuộc đời. Socrates – một trong những triết gia thông thái nhất của Hy Lạp cổ đại từng nói: “Có duy nhất một thứ tôi biết, đó là tôi không biết gì.” Không có gì mới dưới mặt trời, nhưng dưới con mắt hạn hẹp của con người, thế giới đầy những điều chưa biết.

Đặc biệt, trong thế giới công nghệ, với dòng thông tin luân chuyển vô tận, mọi thứ càng trở nên bớt chắc chắn: tin giả, thuyết âm mưu, ngụy biện, ngụy khoa học. Điều gì là đúng, điều gì là sai, làm cách nào mình tin một điều là đúng hay sai trở thành những câu hỏi khó trả lời. Thiếu một bộ hướng dẫn đạo đức để hành động đúng, mình dễ lẫn lộn giữa những giá trị thực và ảo, giữa những điều quan trọng và những thứ vụn vặt.

Đi làm để kiếm tiền, yêu đương để thấy mình có giá trị, làm việc tốt để được tán dương. Đến khi mất việc, mất người yêu, mất người hâm mộ, những gì mình từng tin là đúng, là cần thiết, là đáng để sống vì, đột nhiên trở nên vô giá trị, cuộc đời hóa thành bông hoa không màu. Lúc này, triết học có thể trở thành chốn nương nhờ. Triết học có thể giúp mình nhận chân những giá trị thực, truy tìm mục đích sống trong một thế giới giờ đây đã trở nên vô nghĩa lý.

Viktor Frankl – nhà thần kinh học, triết gia và là người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đã tìm được sự an ủi từ triết học trong thời gian sống trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Trở đi trở lại trong cuốn tự truyện Man’s Search For Meaning của ông là câu nói của Nietzsche: “He who has a why to live for can bear almost any how.” Khi mình tìm được ý nghĩa trong những khổ đau không thể nào tránh khỏi thì cuộc đời vẫn đáng để sống.

Giới thiệu sách đọc để tìm “why” và leo lên lại sợi lông thỏ:

Sophie’s World – Jostein Gaarder (bản dịch tiếng Việt: Thế giới của Sophie): Một cuốn lịch sử triết học viết dưới dạng tiểu thuyết. Cô bé Sophie mười bốn tuổi bất ngờ nhận được một khóa triết học qua thư từ một triết gia bí ẩn. Vì những bài học trong sách viết để một cô bé có thể hiểu nên chắc ai đọc cũng hiểu.

A Little History of Philosophy – Nigel Warburton (mình nhớ là có bản dịch tiếng Việt): Một cuốn sơ lược về triết học viết rất hài. “Nếu bạn là một kẻ hoài nghi (skeptic) bạn sẽ cần những người bạn trung thành để giữ mình sống sót, vì bạn luôn tìm cách đâm đầu xuống vực vì không tin là mình sẽ chết.” (trích một câu trong sách)

A Short History of Nearly Everything – Bill Bryson (bản dịch tiếng Việt: Lược sử vạn vật): Cái tên nói lên nội dung rồi. Đây không phải là sách về triết nhưng đọc để thấy thế giới đầy những chuyện kì lạ và mắc cười. Billy là một trong những tác giả yêu thích nhất của mình: dí dỏm, duyên dáng và hài hước chết người. Aaa, mình dùng nhiều tính từ quá nhưng mà đọc đi chắc sẽ thích.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Chờ đợi ánh mặt trời

Hiện thực của chúng ta luôn có độ trễ, vậy tại sao không thể nhẫn nại với nhau hơn?

Published

on

Tháng Hai là thời gian lý tưởng để ngắm hoàng hôn ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Trời trong, ít khói bụi, nắng thường dịu và hiếm có mưa, độ ẩm không khí trung bình. Tôi chỉ cần tìm một địa điểm phù hợp, nơi có hướng nhìn về phía Tây thật thoáng đãng và an toàn, yên vị trong khoảng từ 5 giờ rưỡi tới 6 giờ tối. Nếu tôi ở lại thành phố này vào dịp Tết, ngắm hoàng hôn rơi xuống đường chân trời dường như là một nghi thức không thể thiếu. Và năm nay, tôi đã thông thạo các bước thực hành tới mức không còn phải đuổi theo ánh mặt trời nữa, tôi có thể chờ.

Mặt trời cách xa Trái Đất 147.86 triệu km; và ánh sáng từ mặt trời mất trung bình 8 phút 3, theo NASA, để tới được bề mặt hành tinh này. Vậy nên, ánh hoàng hôn mà tôi đang thấy đã là quá khứ của mặt trời. Giai đoạn hoàng hôn đẹp nhất thường diễn ra khá chóng vánh, dù có lẽ được cảm nhận tùy theo góc nhìn của từng người, nhưng cũng khó lòng nhiều hơn 20 phút. Hãy tưởng tượng, khi ta đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng và trầm mặc của tấm nền cam thẫm trước mắt, mặt trời thực chất đã tiến sang phía kia địa cầu rồi. Khung cảnh ta đang thấy, xét theo nghĩa đen, chỉ là một ảo ảnh.

Hiện thực ta cảm nhận luôn có độ trễ, ít hoặc nhiều. Bởi ánh sáng phản chiếu từ sự vật mất thời gian để tới với thị giác, thị giác mất thời gian truyền tín hiệu cho não, còn não lại là bộ máy phân tích và xử lý dữ liệu cực kỳ cồng kềnh. Cảm nhận về hiện thực không chỉ lệch so với chính hiện thực, mà còn méo theo cách nhào nặn của sơ đồ cảm xúc và nhà kho ký ức của từng người. Với chừng ấy biến số, thật khó để nói hiện thực tóm lại là gì và bây giờ là bao giờ? Cảm ơn Shiba đã chia sẻ video được chèn link phía trước với chị.

Hiểu được điều này ở góc nhìn khoa học giúp tôi dễ thấm hơn cái gọi là “xỏ chân vào đôi giày của người khác”, dù làm sao tôi có thể xâm nhập ý thức của bất cứ ai để cảm nhận hiện thực trong não họ cơ chứ?

Lấy ví dụ, tôi từng bất an khi phải nhìn những vật thể có sự kết hợp của màu trắng và đỏ tươi do một kỷ niệm xấu thuở nhỏ; chấn thương tâm lý khiến tôi khước từ viên kẹo Alpenliebe vị sữa dâu, dù với đa số trẻ con, đó là món quà ngọt hấp dẫn. Bạn có khó hiểu khi một người tỏ ra sợ viên kẹo sữa dâu không? Nếu ta chấp nhận rằng hiện thực chủ quan của mỗi cá nhân đều là độc nhất và có độ vênh với hiện thực khách quan, mọi rối loạn tâm lý dường như đều trở nên hợp lý; không phải tính bất biến, đồng đều mà chính cái xáo động và khác biệt mới là bình thường – một bình thường mới.

Với tôi, hoàng hôn đẹp từ tận lúc mặt trời còn trên cao thế này cơ.

Càng nhìn rõ được điều này, tôi càng nhẫn nại. Tôi có thể ngồi đó, giữa khe hở thời gian, ở đường biên của mỗi tích tắc để tập quan sát trong thinh lặng. Mặt trời đang rơi xuống sau những tòa nhà của thành phố, các bạn tôi đang chạy trên bánh xe thời gian và vòng xoáy tiến hóa của họ, cũng như tôi. Tôi có thể chờ đợi mà không cảm thấy bứt rứt hay hối hả, cứ như tôi đã ở nơi thời gian dài ra gấp mười, hai mươi lần.

“Kỳ Lân ạ, cả thế giới này đang hối thúc em gấp gáp lên đi, đồng hồ sinh lý đang quay với tốc độ ngày một chóng mặt. Nhưng chị mong em sẽ không phải cuống cuồng chạy như bị ma đuổi sau lưng và cũng không phải nuối tiếc những ngày quá vãng. Chị mong em có thể cẩn thận ghé qua từng căn phòng trên hành lang ký ức đó, vặn tay nắm để ngó vào xem ở trong có đủ những món em cần chưa. Chị mong em có thể ở lại mỗi nơi lâu hơn chút, để lỗ hổng trong lòng dần được lấp đầy và hiện thực cảm nhận ấy hằn sâu vào tâm trí. Để sau này, dù em có ra khỏi hành lang ký ức và rẽ qua con đường hướng tới tương lai, cơ thể em sẽ đầy đặn như chưa từng bị rách một miếng nào cả; và chỉ cần em nhắm mắt lại, căn phòng ký ức sẽ luôn hiện ra trọn vẹn, huy hoàng hệt như ngày đầu tiên”.

Thời gian không tuyến tính. Trước đây – bây giờ – sau này có thật sự được đo bằng tuổi tác sinh lý của chúng ta không? Có phải chúng không tách biệt mà luôn song song, đan xen, va đập không ngừng?

Tôi sẽ có gấp mười, hai mươi, ba mươi lần thời gian… để tiếp tục suy ngẫm về chúng.

https://youtu.be/hvFoVGXVaxs

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Đuổi theo ánh mặt trời

Tôi đã dành nửa giờ đồng hồ của buổi chiều tháng Hai để đuổi theo ánh mặt trời.

Published

on

Hoàng hôn giống như tuổi 20, thường trôi qua chỉ trong chớp mắt. Mặt trời chỉ tròn lẳn và dịu dàng trong mười mấy phút của buổi chiều tàn. Thế nên tôi đã chạy, chạy như điên quanh những cung đường ngoằn ngoèo của quận 2. Tôi lên cầu và xuống cầu, áo khoác bay phần phật trong gió, mắt dõi theo ánh mặt trời.

Tôi đi chậm lại ở một đôi chỗ, nhưng đó vẫn chưa phải địa điểm thích đáng nhất. Có vài người dừng để chụp ảnh, nhưng tôi không. Tôi tự gào lên trong tâm trí: “Không phải chỗ này, đây chưa phải chỗ tốt nhất”. Và cứ thế phóng đi vội vã.

Đuổi theo ánh mặt trời, cho đến hôm nay, lần cuối cùng tôi làm việc này là lúc nào?

Tôi không thể nhớ nổi, cũng như đã quên đi rất nhiều điều quan trọng khác.

Mặt trời trôi dần về phía Tây, ánh sáng màu cam rực lên rồi tỏa ra khắp thiên không và trên mặt nước. Tầng trời cao hơn phủ sắc xanh lam dịu, mịn và xưa cũ như nước ảnh màu của những năm 70.

“Trong khoảng thời gian mặt trời nằm ở phần thấp trên đường chân trời, quãng đường các tia sáng mặt trời phải chiếu xuyên qua bầu khí quyển dài hơn 30%. Những ánh sáng có bước sóng ngắn như tím và xanh da trời bị tán xạ nhiều, chỉ còn những ánh sáng có bước sóng dài hơn như vàng, da cam, đỏ ít bị tán xạ được truyền đến mắt người”. Đây là cách lý giải dễ hiểu về màu sắc hoàng hôn của thuyết tán xạ Rayleigh.

Còn đây, là cách tôi biết mặt trời hôm nay sẽ trôi dần về phía Tây từ bao giờ.

Khi nhìn về phía quả cầu lửa giữa Thái Dương hệ ấy, tôi cảm thấy bản thân thật trơ trọi. Giống như khi ngước mắt lên nhìn bầu trời với hàng triệu ngôi sao vào đêm hay tình cờ bắt gặp trăng xanh trên đường về nhà. Trong khoảnh khắc, cuộc đời tôi trở nên thật kém nghĩa lý.

Vũ trụ đã hình thành từ hàng chục tỷ năm trước và vũ trụ sẽ còn đó sau khi tôi chết rất lâu nữa. Mọi suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, trải nghiệm… của tôi ở hiện tại này rồi sẽ hóa thành tro bụi và rã ra từng phân tử trong chỉ một thế kỷ. 

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi không còn là tôi hôm nay. Tôi lại là cô bé mười tuổi ngẩn ngơ dùng chiếc điện thoại nắp gập của bố chụp ánh hoàng hôn rơi trên cánh đồng. Bố đã dùng tấm ảnh ấy làm hình nền trong thời gian dài. Sau đó ông rời bỏ tôi. Và giờ đây ông trở về. Nhưng bức ảnh xưa đã vĩnh viễn mất đi cùng một phần con người tôi, không thể vãn hồi được nữa.

Ánh mặt trời của buổi chiều tàn ngự trị trong mọi mảng ký ức rời rạc về tuổi thơ. Những ngày Hè muộn khi đài tiếng nói cất lên tiếng nhạc hiệu não lòng, hoàng hôn chảy xuống sau những tán cây rậm rạp. Tôi bám lấy bức tường màu vàng tróc lở và mải miết nhìn về phía đó, mồ hồi nhớp nháp trên trán.

Ánh sáng hoàng hôn lướt qua ống điếu và đôi bàn tay đồi mồi của ông nội, tràn lên bộ lông đen óng của con Mun và phủ thêm lớp màu đỏ rực trên khoảnh sân gạch nung. 

Vài năm sau, tôi chảy nước mắt với 40 lần hoàng hôn xoay vòng ở hành tinh B612 của Hoàng Tử Bé. Cậu thật cô đơn.

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi thấy rõ hơn bao giờ cảm giác lạc lõng trong thế giới này. Chỉ có tôi và mặt trời đang dần biến mất sau những tòa nhà, những dãy núi, những cánh đồng…

Nhưng cảm giác lạc lõng ấy không đi kèm với nỗi buồn. Không có nỗi buồn nào cả. Chỉ có sự thanh thản.

Dù là trên cây cầu của thành phố phồn hoa nhất hay giữa nghĩa địa của một làng quê, hoàng hôn nhắc tôi nhớ rằng số mệnh cuối cùng của con người là đơn độc. Chúng ta đi qua chặng đường dài với những mối liên kết tạm bợ và chết một mình. Phía trước và phía sau đều như thế, vòng tròn rắn cắn đuôi của Auryn hay vòng tròn loang nét mực của Karma, không có gì đổi khác.

Thế nên cuối cùng, tôi dừng lại ở nơi thích đáng nhất và nghe trọn vẹn bản The Sower with Setting Sun của Clint Mansell. 

https://www.youtube.com/watch?v=kJ8sg9akQNI

Tôi chụp một tấm ảnh khi đã nguôi đi hơi thở gấp gáp vì vội đuổi theo ánh mặt trời, thong thả đi một vòng quanh thành phố này trước khi về tổ.

Có lẽ tài năng lớn nhất của tôi chính là tự xoa dịu bản thân, tự làm lành với quá khứ và không chờ đợi bất kỳ sự hỗ trợ khách quan nào khác. 

Năm mới của tôi đã bắt đầu như thế. Một mình, đuổi theo ánh mặt trời.

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng