Trà chiều

W – Giữa hai bờ thế giới thực ảo

Published

on

Sau Descendants of the Sun, W là một trong những phim truyền hình Hàn khiến tôi mong chờ nhất ngay từ những ngày chỉ mới đọc vài dòng ngắn gọn về nội dung phim. Thể loại xuyên không đã xuất hiện nhiều trong phim truyền hình Hàn Quốc nhưng hầu hết đều là xuyên không theo trục thời gian từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ đến hiện tại… Tuy nhiên, W lại là câu chuyện xuyên không theo trục không gian giữa hai thế giới thực và ảo, giữa cuộc sống đời thường và cuộc sống trong truyện tranh. W kể lại chuyện tình yêu giữa Kang Chul và Oh Yeon Joo; một người là nhân vật truyện tranh, một người là con gái của tác giả bộ truyện. Với cách chọn đề tài hiếm gặp như thế trong dòng phim mini-series của Hàn, W hứa hẹn đem lại nhiều điều khác biệt, mới mẻ.

I – KỊCH BẢN

Điều W khiến tôi bất ngờ là bộ phim pha trộn nhuần nhuyễn giữa thể loại suspense, thriller và romantic, comedy. Ban đầu, tôi tưởng tượng rằng W sẽ chỉ mang tính lãng mạn kèm theo chút giả tưởng trong chuyện tình của Kang Chul, Yeon Joo. Thế nhưng, tôi không ngờ biên kịch Song Jae Jung khiến không khí phim W phong phú hơn bằng cách cho bộ truyện W (thế giới nơi Kang Chul sống) thuộc thể loại suspense, thriller – vốn mang màu sắc đối nghịch hoàn toàn với cuộc sống thường nhật của Yeon Joo. Bản thân Song Jae Jung cũng từng phát biểu rằng có thể tạm chia W thành hai câu chuyện: câu chuyện về thế giới bạo lực nơi Kang Chul sống và khi Yeon Joo bước vào thế giới đó, cô đem lại chuyện tình lãng mạn, ngọt ngào. Nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu nói rằng W chỉ có bạo lực và lãng mạn, hành động và tình yêu… bởi hai mặt yếu tố đối nghịch này chỉ mới là phần bề nổi của phim. W có một chủ đề tư tưởng xuyên suốt cả phim về mục đích tồn tại của mỗi cá thể, và phần nào đó, phim cũng nói về vai trò của người sáng tạo.

Độc giả đặc biệt

Trong buổi họp báo sau khi W kết thúc, Song Jae Jung nói rằng mục tiêu của cô là nhắm đến số đông khi viết W. Và quả thực, ngoài đề tài mới lạ, W có đầy đủ các yếu tố quen thuộc mà khán giả – phần đông là nữ giới, thường yêu thích ở phim truyền hình Hàn: hình mẫu một chàng trai hoàn hảo từ ngoại hình đến tính cách nhưng mang trong mình quá khứ đau buồn yêu một cô gái vui vẻ, lạc quan, có đời sống tương đối bình thường. Kiểu motif tình yêu giữa nam và nữ thế này không có gì mới nhưng vẫn luôn dễ dàng thu hút người xem nếu biên kịch biết cách làm mới các đặc điểm trong tính cách, mối quan hệ của nhân vật. Trong W, điểm riêng biệt ấy chính là mối quan hệ tình yêu được xây dựng giữa nhân vật truyện tranh và con gái của tác giả bộ truyện. Yếu tố cần nhấn mạnh ở đây là “con gái của tác giả bộ truyện” – đó là điểm đặc biệt nhất. Nếu chúng ta thử xét các nhóm đối tượng tương tác với một bộ truyện sẽ nhận ra rằng chỉ có thể qui về hai nhóm cơ bản: người đọc và người sáng tạo. Như vậy, khi một người viết có ý định sáng tạo ra câu chuyện về mối quan hệ lãng mạn giữa nhân vật truyện tranh và người thực sẽ có hai sự lựa chọn cơ bản: mối quan hệ giữa nhân vật truyện tranh và người đọc, mối quan hệ giữa nhân vật truyện tranh và người sáng tạo. Sẽ ra sao nếu W không có bóng dáng của Oh Sung Moo, nếu Oh Yeon Joo hoàn toàn là tác giả của bộ truyện W và cô yêu Kang Chul? Khi đó, W có thể sẽ biến thành một phiên bản hiện đại của câu chuyện về Pygmalion yêu bức tượng do chính mình tạc ra. Câu chuyện như thế này sẽ thiên về hướng nội tâm rất nhiều, chủ yếu tập trung vào quá trình sáng tạo và những trăn trở của người nghệ sĩ. Nếu triển khai nội dung theo hướng này thì sẽ là sự mạo hiểm lớn bởi nó có thể khiến số đông không tiếp nhận được khi thiếu đi kịch tính, mâu thuẫn, sự tương tác bên ngoài giữa các nhân vật; trong khi đó, mục tiêu Song Jae Jung đặt ra lại là số đông. Tiếp theo, ta thử xét đến cặp mối quan hệ giữa nhân vật truyện tranh và người đọc. Sẽ ra sao nếu Oh Yeon Joo chỉ là một độc giả bình thường, không phải là con gái của tác giả? Khi đó, câu chuyện sẽ mang màu sắc con người cô đơn giữa chốn thị thành hiện đại và cũng khiến bộ phim ít mâu thuẫn, kịch tích hơn; đồng thời, W có thể sẽ phần nào giống như MV Take on me của nhóm nhạc nhạc A-ha và MV Take của Seo In Guk (cover lại Take on me) mà nhóm làm VFX cho phim đã tham khảo. Vậy nên, chúng ta có thể thấy được rằng biên kịch Song Jae Jung đã vô cùng khéo léo khi sắp đặt đối tượng yêu nhân vật truyện tranh là con gái của tác giả bộ truyện. Điều này đã tạo nên một mệnh đề hứa hẹn mang trong nó nhiều mâu thuẫn, kịch tích cho phim khi đặt người con gái vào thế ở giữa hai bên: một bên là nhân vật truyện tranh cô hâm mộ với tư cách là độc giả và sau này là người cô yêu với tư cách là vợ anh, một bên là bố cô và đồng thời cũng là tác giả của bộ truyện cô yêu mến với tư cách là độc giả. Một điểm thú vị nữa là Yeon Joo không chỉ là độc giả, cô còn vô tình là đồng tác giả của W, cô là người sáng tạo ra Kang Chul và bố cô là người sáng tạo ra câu chuyện. Khi xây dựng mong muốn khác biệt giữa Yeon Joo và bố về số phận của Kang Chul (Yeon Joo muốn Kang Chul có một kết thúc hạnh phúc nhưng ban đầu, bố cô lại muốn anh chết), biên kịch Song Jae Jung đã đặt Yeon Joo trong sự lựa chọn giữa việc tôn trọng tác phẩm sáng tạo của bố hay làm theo điều trái tim mách bảo. Đó là mâu thuẫn kéo dài suốt nửa đầu phim. Khi câu chuyện phát triển ở mức đỉnh điểm cũng là lúc Yeon Joo phải đối mặt với sự lựa chọn khó khăn nhất trong đời cô. Lẽ đương nhiên, Yeon Joo không muốn lựa chọn. Nhưng, Kang Chul đã trao cho cô quyền lựa chọn ấy. Cô là chìa khóa cuộc đời anh, và có thể nói, cô cũng chính là chìa khóa quan trọng nhất mà Song Jae Jung đã tìm ra để đem đến thành công cho kịch bản W.

Ý chí riêng của nhân vật

Trong W, tôi rất thích phân cảnh Kang Chul tìm gặp tác giả Oh Sung Moo và vấn đáp ông ở tập 5. Còn cuộc gặp gỡ nào mang màu sắc phi lí nhưng lại chứa đựng nhiều cảm xúc như thế giữa một tác giả và nhân vật do chính mình tạo ra? Bằng diễn xuất tuyệt vời ở phân đoạn này, Lee Jong Suk và Kim Eui Sung đã khiến tôi hoàn toàn đắm chìm trong cuộc đối thoại của Kang Chul và Sung Moo. Khoảnh khắc Sung Moo tiết lộ ngay từ đầu ông không tạo ra một hung thủ thực sự mà đó chỉ là khó khăn nhằm khiến nhân vật chính trở nên mạnh mẽ hơn có lẽ là một trong những khoảnh khắc mang lại nhiều cảm xúc nhất cho tôi khi theo dõi W. Tôi hoàn toàn hiểu sự phẫn nộ của Kang Chul, đồng thời tôi cũng thông cảm với Sung Moo vì đó là nguyên tắc cơ bản mà người viết truyện thường áp dụng. Tuy nhiên, cảm xúc chính của tôi vẫn là tức giận tác giả Sung Moo. Nếu Sung Moo viết W theo hướng là một câu chuyện phi lí kiểu Kafka hay hiện thực huyền ảo kiểu Murakami Haruki, tôi sẽ không trách ông khi ông không tạo dựng một hung thủ tồn tại thực sự. Nhưng ở W, ông đã xây dựng câu chuyện này theo hướng hiện thực với rất nhiều cảnh hành động mang không khí hồi hộp, vậy mà ông lại không tạo danh tính rõ ràng cho kẻ thủ ác. Tôi cảm thấy ông thật thiếu trách nhiệm với câu chuyện, nhân vật của mình khi xây dựng thế lực đối nghịch với nhân vật chính một cách tùy tiện như vậy. Không chỉ là với tên sát thủ áo đen – kẻ ngay từ đầu không có khuôn mặt và thân thế, ngay cả nhân vật Han Chul Ho – một ủy viên chính trị thù ghét Kang Chul cũng được ông xây dựng rất qua loa. Với mỗi nhân vật trong W, Sung Moo chỉ xây dựng cho họ một mục tiêu duy nhất, cuộc sống của họ không gì khác ngoài việc thực hiện mục tiêu ấy. Kang Chul từng bày tỏ rằng anh rất bất bình khi nghĩ đến việc con người chỉ có duy nhất một mục tiêu tồn tại đã được định sẵn từ lúc sinh ra đến khi chết đi, điều đó thật phi lí. Tâm tình này của Kang Chul có lẽ cũng là điều biên kịch Song Jae Jung tự phản biện lại chính mình khi viết kịch bản. Để xây dựng kịch tính cho dòng phim giải trí, biên kịch thường có xu hướng áp đặt một mục tiêu cụ thể cho nhân vật, các nhân vật trong phim lại theo đuổi những mục tiêu mâu thuẫn nhau – điều này tạo ra kịch tính phim. Nếu một nhân vật dễ thay đổi mục tiêu của mình, kịch tính của câu chuyện có thể sẽ giảm đi khi không còn mâu thuẫn và sự đối kháng giữa các tuyến nhân vật nữa. Và vấn đề của một biên kịch khi viết dòng phim kiểu này sẽ là sự đấu tranh tư tưởng giữa việc tạo kịch tính thúc đẩy câu chuyện hay lắng nghe tiếng lòng của nhân vật. Một biên kịch giỏi sẽ là người vừa giữ cho tâm lí nhân vật phát triển hợp lí,  vừa duy trì được kịch tính cho phim. Song Jae Jung chia sẻ rằng ý tưởng viết W đến khi cô suy nghĩ về việc liệu nhân vật cô đang viết có ý chí riêng không, có thực sự là họ muốn hành động như thế không hay chỉ vì cô bắt họ làm như thế để có kịch tính. Đó là điều cô đã luôn trăn trở.

Sự chuyển đổi giữa người đọc và người trải nghiệm

Sau khi đọc qua một số ý kiến trên trang Soompi, tôi nhận thấy có khá nhiều người buồn lòng về việc Kang Chul đến cuối phim vẫn không thể nhớ lại những kí ức đã mất của mình theo kiểu anh thực sự cảm nhận đó là những việc bản thân đã trải qua chứ không phải là kiểu lí tính từ việc đọc bộ truyện mà biết được. Cách anh luôn tách biệt giữa mình và người chồng trước của Yeon Joo, giữa Kang Chul trong truyện và chính anh, cách anh tự so sánh và cạnh tranh với quá khứ của mình khiến tôi rất thích thú, khiến tôi yêu mến Kang Chul 2.0 hơn cả Kang Chul 1.0; tuy nhiên, quả thực đâu đó trong tôi cũng có cảm giác phảng phất buồn về việc này. Kang Chul sẽ chẳng bao giờ thực sự nhớ lại những việc trước đây với Yeon Joo nữa bởi anh không phải bị mất kí ức do tác động thể chất như thông thường, anh bị mất kí ức vì tất cả đã biến thành một giấc mơ anh không nhớ rõ. Đối với anh, những kí ức ấy chưa từng xảy ra trong thực tế; vì vậy, chúng thậm chí gần như chẳng từng tồn tại để có thể gọi là đã bị mất đi và sẽ tìm lại được. Khi tất cả mọi thứ trở thành giấc mơ, kí ức cũng biến thành tiềm thức – đó là thứ chẳng bao giờ chuyển hóa thành ý thức rõ rệt được dù nó vẫn nằm ở đáy sâu nào đó trong tâm thức, dù nó khiến anh đôi khi mơ hồ nhận ra sự tồn tại của nó. Tuy nhiên, qua một thời gian sau khi xem xong phim, nghĩ về điều này không còn khiến tôi thấy buồn nữa. Việc anh không nhớ lại nhưng vẫn yêu Yeon Joo chứng tỏ rằng anh đã hoàn toàn yêu cô lần thứ hai với con người mới của anh, với những kí ức mới. Hơn nữa, việc Kang Chul tự tách biệt mình với quá khứ trước đây như vậy khiến tôi nhận ra có một sự chuyển dịch vai trò thú vị và hợp lí. Yeon Joo đã từng yêu mến Kang Chul bằng việc đọc truyện tranh và tiếp xúc với anh, điều cô biết về anh vừa là cảm nhận thông qua lí tính vừa là trải nghiệm thông qua các giác quan. Ở đây, Yeon Joo có vai trò là người đọc và người trải nghiệm cùng lúc. Nhưng Kang Chul khi ấy chỉ có vai trò là người trải nghiệm, anh yêu mến Yeon Joo thuần túy qua việc tiếp xúc với cô. Khi Kang Chul mất đi kí ức, anh đọc W tập 34 và biết được những gì đã xảy ra giữa hai người, lúc này, Kang Chul lại được trao cho cả vai trò là người đọc và người trải nghiệm như Yeon Joo trước đây. Tình yêu sau này Kang Chul dành cho Yeon Joo không chỉ đơn thuần xuất phát từ trải nghiệm cá nhân giữa anh với cô mà có lẽ, cũng phần nào từ cảm nhận với tư cách là độc giả khi anh đọc W tập 34. Vì vậy, khi Yeon Joo hỏi anh: “Anh đã nhớ ra em chưa? Bây giờ, anh đã nhớ ra tất cả mọi việc rồi sao?”, Kang Chul trả lời: “Không. Chẳng qua là tôi suy đoán mà thôi. Suy đoán trái tim của Kang Chul trong truyện. Cô Oh Yeon Joo không thay đổi gì cả. Nghĩ đến là tôi có thể biết được ngay. Biết sức hút giống như con ma bệnh đó của cô là gì.” Dù rằng Kang Chul chưa bao giờ nói ra điều này nhưng tôi nghĩ rằng anh cũng yêu mến Oh Yeon Joo anh đã đọc trong truyện tranh, yêu mến tình yêu hai người đã từng có trước đây, yêu tình yêu cô dành cho anh cũng giống như những khán giả xem phim đã yêu mến tình yêu của cả hai vậy.

Qua phân tích, chúng ta có thể thấy vai trò là người đọc và người trải nghiệm liên tục đảo chiều giữa các nhân vật trong W không chỉ theo nghĩa bóng mà còn theo cả nghĩa đen. Một số khán giả trên Soompi chia sẻ rằng họ rất thích tình yêu giữa Kang Chul và Yeon Joo vì cả hai rất thấu hiểu nhau, không bao giờ giấu nhau bất cứ bí mật gì để rồi dẫn đến hiểu lầm, không tin tưởng nhau và chia tay, sau đó quay lại như những phim truyền hình Hàn khác – đây là một công thức đã khiến nhiều khán giả mệt mỏi. Quả thực, tôi cũng rất dễ chịu khi xem W vì Yeon Joo chưa bao giờ nghi ngờ Kang Chul, cô luôn tin tưởng và yêu thương anh hết mực; ngược lại, Kang Chul cũng như thế. Nhưng việc hai người không giấu nhau bất cứ bí mật nào (bí mật theo kiểu gây hiểu lầm và tổn thương nhau chứ không phải bí mật Kang Chul là nhân vật truyện tranh mà Yeon Joo đã cố gắng giấu lúc ban đầu để tránh sự tổn thương cho anh) không chỉ xuất phát từ nguyên nhân chủ quan mà còn có cả nguyên nhân khách quan: họ muốn giấu nhau bí mật gì cũng không được bởi sau này cả hai đều có thể biết tình hình của người kia thông qua việc đọc W. Ở đây, một lần nữa ta lại thấy sự sắp xếp tài tình của Song Jae Jung khi cho W là bộ truyện webtoon được cập nhật từng chương liên tục trên mạng chứ không phải là trên tạp chí; việc này đã giúp cô giải quyết được rất nhiều vấn đề trong kịch bản. Song Jae Jung chia sẻ rằng cô từng có ý định cho Oh Sung Moo không phải là họa sĩ truyện tranh mà hoàn toàn là họa sĩ vẽ tranh nghệ thuật thuần túy. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một họa sĩ Hàn đồng ý vẽ tranh cho phim là rất khó, hơn nữa, cũng đội chi phí sản xuất phim lên cao. Ngoài ra, cô cũng tự nhận thấy nếu để cho Sung Moo là họa sĩ vẽ tranh nghệ thuật thuần túy thì kịch bản sẽ rất khó triển khai. Cuối cùng, vấn đề được giải quyết đơn giản và hiệu quả khi Song Jae Jung cho Oh Sung Moo là họa sĩ truyện tranh webtoon. Ý tưởng ban đầu về họa sĩ vẽ tranh nghệ thuật chỉ còn phảng phất trong tập 1 của W với hình ảnh bức tranh Saturn Devouring His Son (Saturno devorando a un hijo) của Goya.

Saturn và Goriot

W không chỉ nói đến vai trò thú vị giữa người đọc và người trải nghiệm mà còn nói đến vai trò của người Cha theo nghĩa vừa là đấng sinh thành, vừa là đấng sáng tạo. Oh Sung Moo vừa là cha của Oh Yeon Joo, vừa là cha của Kang Chul. Một người là đứa con sinh ra từ máu mủ của ông, một người là đứa con sinh ra từ tinh thần ông. Một người là đứa con ông muốn bảo vệ, một người là đứa con ông muốn hủy diệt. Đứng giữa sự mâu thuẫn đó, cuối cùng ông chấp nhận tan biến để hai người con của mình đến được với nhau: “Gửi Kang Chul. Tôi đã mong cậu sẽ là người cho tôi an nghỉ, nhưng kết cục tôi phải tự đi. Tôi đã chết rồi. Linh hồn của tôi đã không thể hoàn trả lại được nữa rồi vì không biết khi nào lại trở nên điên loạn nữa… nên tôi định kết thúc cuộc đời mình ở đây. Cậu hãy ra ngoài thế giới thực, tôi thì sẽ kết thúc cuộc đời mình ở đây. Cậu có thể thành người, còn tôi sẽ trở thành nhân vật truyện tranh. Cậu sẽ vượt qua khỏi nhân vật tôi đã tạo nên, còn tôi sẽ lại biến thành nhân vật mà tôi vẽ ra và rồi chết đi. Cuộc đời này thật thú vị đúng không? Cậu hãy sống hạnh phúc nhé! Hãy làm cho Yeon Joo hạnh phúc. Và còn, nếu gặp được Yeon Joo thì cứ nói là tôi vẫn còn sống. Đừng khiến con bé phải đau buồn. Hãy nói là ở nơi này tôi còn sống tốt hơn trước nữa, trong thế giới truyện tranh chính tay tôi vẽ nên.”  Dù Sung Moo đã viết đằng sau bức tranh Saturn Devouring His Son rằng: “Trước khi bị nuốt chửng, ta phải nuốt chửng ngươi”, nhưng cuối cùng, ông vẫn nhận lãnh kết cục bi thảm như Saturn và Kang Chul đã trở thành Jupiter một cách bất đắc dĩ. Trong khi đó, sự hi sinh ông dành cho Yeon Joo lại khiến tôi nhớ đến tình cha cao cả của ông già Goriot. Vậy nên, tôi thấy được bóng dáng của hai người cha cùng một lúc trong Sung Moo: ông vừa là Saturn, vừa là Goriot.

Ngữ cảnh mới cho tình huống quen thuộc

Khi xem lại những bức hình của W, tôi thử làm một trò chơi: giả sử bỏ đi hết những kí ức của tôi về W, giả sử tôi chưa xem W thì khi nhìn những bức hình này, tôi thấy chúng có gì đặc biệt không. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra câu trả lời là không. Những hình ảnh mà tôi thấy được là những hình ảnh rất bình thường: một cô bác sĩ, một chàng trai hào hoa, một tác giả truyện tranh, cô gái chờ chàng trai ở bến xe bus, chàng trai chở cô gái đi dạo, dẫn cô đến cửa hàng thời trang để mua quần áo… Không có bất cứ cảnh huống nào thoạt nhìn qua ta thấy đặc biệt cả, thậm chí một số cảnh huống có thể dễ dàng gây cảm giác rẻ tiền chẳng hạn như bức hình chụp lại cảnh này:

Giả sử bạn chưa xem W, khi nhìn hình này bạn sẽ nghĩ gì? Có phải cách tưởng tượng dễ nhất là một đại gia đang nhìn cơ thể một gái gọi để quyết định xem có qua đêm cùng cô chăng? Tôi nghĩ rằng cả những người giàu trí tưởng tượng nhất cũng khó mà nghĩ ra một câu chuyện giàu cảm xúc đằng sau bức hình này nếu như không xem phim: chàng trai đang đứng nhìn cơ thể cô gái chỉ là một nhân vật truyện tranh còn cô là con gái của tác giả bộ truyện, cô đang bị kéo vào thế giới truyện tranh của chàng trai, cô vừa muốn thoát ra khỏi bộ truyện vừa không muốn làm tổn thương anh khi cho anh biết anh là nhân vật truyện tranh; để thoát khỏi bộ truyện, cô cần phải tạo ra sự thay đổi trong cảm xúc nơi anh hoặc một sự kiện vô cùng kịch tính, thế là cô chọn cách đột ngột cho anh thấy cơ thể của mình với mong muốn khiến anh bất ngờ. Đấy là toàn bộ câu chuyện đằng sau bức hình này. Ôi Chúa ơi, tôi sẽ rất phục những ai chưa xem phim mà có thể đặt ra một câu chuyện như thế hoặc có tính chất li kì tương tự như thế nếu chỉ nhìn vào bức hình này.

Thông qua phép thử mà tôi tự đặt cho chính mình, tôi nhận ra thêm một bài học cũ nhưng luôn cực kì quan trọng: mọi thứ cần phải đặt trong ngữ cảnh của nó, việc sáng tạo ra một câu chuyện đôi khi không hẳn là tạo nên những cảnh tượng mới mẻ mà chỉ đơn thuần là tạo ngữ cảnh mới, tạo sự liên kết mới cho những cảnh quen thuộc. Với W, biên kịch Song Jae Jung đã cho thấy cô là người rất giỏi trong việc này. Bản thân Kang Chul trong phim cũng từng có cuộc đối thoại với So Hee như sau: “Mọi người chỉ nhìn vào bề mặt mà không chú ý đến liên kết và nghĩ rằng đó là lẽ thông thường. Cậu nghĩ cậu đang hành động theo lẽ thường nhưng không phải vậy mà là cậu đang thờ ơ với mọi liên kết về con người Oh Yeon Joo. Cô gái ấy vì không muốn nguy hại đến mình nên đã ném điện thoại của mình đi ngay trước khi bị bắt. Thông tin cá nhân không phải thứ quan trọng. Nếu biết được bản chất của hành động đấy, làm sao cô ấy có thể là nghi phạm được?” Một lần nữa, W nhắc nhở người xem đừng nên vội phán xét người khác dựa trên các sự kiện bề mặt, chúng ta phải tìm hiểu những tâm tư của họ ẩn sau hành động, chúng ta phải nhìn ra sự liên kết và đặt mọi thứ trong ngữ cảnh hoàn chỉnh của nó. Bài học đạo đức như thế này thoạt nghe qua có vẻ nặng nề nhưng đã được đề cập trong W vô cùng nhẹ nhàng, thỏa đáng mà không khiến người xem thấy sống sượng. 

Những nụ hôn

Với tôi, W có lẽ là phim có nhiều nụ hôn nhất trong các phim truyền hình Hàn tôi từng xem. Có đến bảy hoặc tám cảnh hôn trong 16 tập phim (nếu tính cảnh hôn trong tập 7 là hai nụ hôn, theo cách tính của Kang Chul). Như vậy, cứ trung bình hai tập là khán giả lại được thưởng thức một nụ hôn. Tôi đã đọc qua một số ý kiến trên Soompi và nhận thấy W cũng là phim có nhiều cảnh hôn đối với khá nhiều người. Một thành viên trên Soompi còn nhận xét rằng W có lẽ là phim phá vỡ các nguyên tắc truyền thống trong phim truyền hình Hàn nhiều nhất vì dường như có một qui luật bất thành văn là đến tập 7 hoặc tập 8, hai nhân vật chính mới có một nụ hôn; thế nhưng trong W, Yeon Joo đã hôn Kang Chul ngay từ tập 2. Nhiều nụ hôn sẽ càng thêm nhiều ngất ngây; tuy nhiên, việc này cũng tạo ra một khó khăn ngược lại cho biên kịch: phải làm sao để khán giả không cảm thấy nhàm chán khi một hành động được lặp lại quá nhiều lần. Biên kịch Song Jae Jung đã rất tài tình khi xây dựng bảy cảnh hôn với bảy cung bậc cảm xúc và mục đích khác nhau. Nụ hôn đầu tiên Yeon Joo dành cho Kang Chul như một phương thức giúp cô thoát khỏi thế giới W, nó khiến người xem lẫn Kang Chul đều ngỡ ngàng, đồng thời tạo ra sự hài hước. Nụ hôn thứ hai Kang Chul dành cho Yeon Joo chỉ mang tính chất thử nghiệm, nó đẩy thêm sự kịch tính và căng thẳng trong cảnh Kang Chul cố gặng hỏi Yeon Joo về bí mật cô đang giấu anh. Nụ hôn thứ ba là nụ hôn từ biệt của Kang Chul, đây là nụ hôn đầu tiên có sự tương tác đồng đều của cả hai, khán giả thấy được Yeon Joo trở nên quan trọng với Kang Chul như thế nào, đồng thời cũng thấy được nỗi buồn của anh. Nụ hôn thứ tư và thứ năm, “nụ hôn còng tay” là minh chứng cho tình yêu sâu đậm của hai người, một nụ hôn thật sự khiến khán giả ngất ngây. Nụ hôn thứ sáu, nụ hôn Yeon Joo dành cho Kang Chul 2.0, nụ hôn khi giọt nước mắt của Yeon Joo rơi xuống gò má của Kang Chul là nụ hôn của nỗi buồn, của sự quan tâm lo lắng, là nụ hôn cho thấy tình yêu của Yeon Joo dành cho Kang Chul lớn lao như thế nào. Nụ hôn thứ bảy là sự trải nghiệm của Kang Chul mới được tái sinh. Nụ hôn là thứ tám là nụ hôn để kết thúc, một nụ hôn đời thường, giản dị.

Ba cảnh hôn mà tôi thích nhất trong phim cũng đúng ngay ba cảnh mà Jong Suk và Hyo Joo đã bình chọn: cảnh hôn ở tập 2, tập 7 và tập 10.

II – DỰNG PHIM & CHỈ ĐẠO DIỄN XUẤT

Khi xem lại W lần hai để viết recap, tôi mới nhận thấy một phân cảnh dài trong phim thường bị cắt thành những cảnh ngắn xen kẽ đứt đoạn với các cảnh khác. Tiêu biểu là ở tập 14, cảnh Kang Chul lên sân thượng ngăn Sung Moo tự tử rồi tâm sự với ông những cảm xúc anh dành cho Yeon Joo, sau đó cả hai lên kế hoạch lấy lại chiếc bàn vẽ. Đó là một cảnh nếu để liên tục sẽ khá dài. Vì vậy, đạo diễn Jung Dae Yoon đã chọn phương pháp chẻ nhỏ theo từng giai đoạn. Đầu tiên, người xem thấy cảnh Kang Chul ngăn cản Sung Moo kịp thời khi ông đã bước được một chân qua phía bên kia lan can, anh nói ông vẫn còn có thể cứu Yeon Joo với ngòi bút tác giả. Cảnh này bị cắt ở đây và thay bằng cảnh Soo Bong tìm Sung Moo, anh trách Min Soo vì sao lại hỏi chuyện Yeon Joo trước mặt Sung Moo. Sau đó, Kang Chul cõng Sung Moo vào phòng bệnh. Anh từ biệt Soo Bong để quay về thế giới truyện tranh. Trên giường bệnh, Sung Moo hồi tưởng lại cuộc đối thoại trên sân thượng với Kang Chul. Lúc này, người xem được tiếp tục theo dõi cảnh đã bị cắt trước đó: Kang Chul nói rằng Yeon Joo rất quan trọng với anh vì cô là gia đình duy nhất của anh, gia đình thực sự, không phải là gia đình do Sung Moo tạo ra, những kí ức có được cũng là khi ở bên cạnh nhau thực sự, không phải những kí ức được tạo ra. Kang Chul cõng Sung Moo về phòng bệnh và nói với ông rằng ông đã trở thành người quan trọng với anh, không phải với tư cách là tác giả, mà với tư cách là bố của vợ anh. Cảnh này bị cắt một lần nữa để chuyển sang cảnh trước khi lên xe, Kang Chul nói sẽ để lại tín hiệu cầu cứu cho Soo Bong. Sau đó, người xem được tiếp tục theo dõi cuộc đối thoại của Kang Chul và Sung Moo trên sân thượng. Kang Chul nói rằng chắc chắn có một bàn vẽ được giấu đâu đó trong thế giới truyện tranh, hung thủ bảo Sung Moo phá hủy bàn vẽ trong thế giới thực chẳng qua chỉ để thế lực đối nghịch với hắn không thể sử dụng được nữa.

Như vậy, trong cảnh lẽ ra có thể để liên tục như thế, đạo diễn Jung Dae Yoon đã cắt nhỏ nó ra thành ba phần đứt đoạn. Tôi nhận ra rằng cách cắt này khiến cho mạch phim diễn ra nhanh hơn, đồng thời gây sự tò mò hơn. Nếu như cảnh này không bị ngắt, cảm xúc của người xem sẽ được liền lạc nhưng mạch phim sẽ chậm đi vài nhịp: vì không ngắt, khán giả sẽ phải thấy cảnh Kang Chul dìu Sung Moo từ vị trí gần lan can đến khi ngồi trên ghế đá như thế nào, nội dung cuộc đối thoại cũng phải có thêm vài câu chuyển từ vấn đề này sang vấn đề kia… Nhưng khi chia nhỏ một cảnh dài ra như thế này, đạo diễn có thể loại đi bớt những cảnh thừa, khiến mạch phim nhanh hơn, đồng thời cũng không khiến cảm xúc người xem bị chẻ vụn quá nhiều. Cảnh duy nhất trong W được giữ lại độ dài tương đối trọn vẹn của nó là phân cảnh Kang Chul đối thoại với Oh Sung Moo trong tập 5. Tuy nhiên, ở phân cảnh này, đạo diễn cũng dựng xen kẽ khá nhiều với cảnh Yeon Joo đang ở trong xe taxi và nghe cuộc trò chuyện của hai người.

W có lẽ là một trong những phim truyền hình Hàn sử dụng flashback nhiều nhất mà tôi từng biết. Hầu như tập nào của phim cũng có cảnh flashback. Theo thống kê của tôi, hai tập trong W có nhiều cảnh flashback nhất là tập 14 với sáu cảnh flashback và tập 15 với tám cảnh flashback. Flashback được sử dụng trong W không chỉ đơn thuần để hồi tưởng mà được dùng như phương pháp che đậy và tiết lộ bí mật. Ngoài ra, để khán giả dễ theo dõi câu chuyện, đầu mỗi tập phim đều có phần tóm tắt ngắn gọn nội dung của tập trước – đây là điều hiếm gặp đối với phim truyền hình Hàn Quốc, cách làm này quen thuộc nhiều hơn với phim truyền hình Nhật.

Khi xem những đoạn phim Behind the scenes, tôi rất thích cách Jung Dae Yoon chỉ đạo diễn xuất. Ông tỏ ra là một đạo diễn rất biết cách lắng nghe và trao đổi với diễn viên. Tôi thích cách ông chỉ đạo diễn xuất nụ hôn trong tập 7 của phim. Ban đầu, Hyo Joo cảm thấy động tác vòng tay qua cổ Jong Suk để hôn có gì đó khá buồn cười, tôi để ý thấy khi diễn tập thử cánh tay cô vòng lên khá thấp khiến Jong Suk phải cúi đầu để tròng qua tay cô; quả thực, nhìn động tác ấy có chút buồn cười. Nhưng đạo diễn Dae Yoon đã cương quyết giữ chính kiến của mình, ông giải thích với Hyo Joo rằng: “Động tác này là cần thiết bởi khi Yeon Joo vòng tay như thế, nó thể hiện cô đang mở lòng ra đón nhận Kang Chul.” Trong bản phim chính thức, Hyo Joo đã vòng tay khá cao nên Jong Suk không còn phải cúi đầu xuống để luồn cổ qua vòng tay cô nữa. Vì vậy, động tác này trở nên rất đẹp, nó thành điểm nhấn đáng kể cho nụ hôn vô cùng say đắm của hai người. Tôi đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần nụ hôn trong tập 7, lần nào tôi nhận thấy mình cũng bị đắm chìm trong động tác đó, tư thế của hai người khi ấy, ánh mắt hạnh phúc, môi chạm môi. Tôi thầm cảm ơn đạo diễn Dae Yoon vì ông đã giữ vững lập trường về động tác vòng tay qua cổ để “cảnh hôn còng tay” này trở nên đáng nhớ như vậy.   

III – DIỄN XUẤT

Vì diễn xuất của Lee Jong Suk cũng như toàn bộ dàn diễn viên còn lại trong phim (ngoại trừ Han Hyo Joo) đều được công nhận mà hầu như không có bất kì ý kiến trái chiều nào nên tôi sẽ không bàn luận về diễn xuất của họ ở đây bởi cá nhân tôi cũng thấy họ diễn tốt. Ở phần này, tôi chỉ muốn nhắc đến diễn xuất của Han Hyo Joo trong phim cũng như ý kiến của mọi người xoay quanh diễn xuất của nàng.

Để bắt đầu, trước tiên tôi phải thú nhận rằng tôi chưa xem bất kì phim truyền hình nào Han Hyo Joo đóng trước đó, những bộ phim đình đám tạo nên danh tiếng của nàng như: Brilliant Legacy, Dong Yi, hay thậm chí là Spring Waltz… Tôi chỉ vừa biết đến Hyo Joo năm ngoái qua C’est Si Bon và ngay lập tức đã bị thu hút bởi diễn xuất cũng như vẻ đẹp của nàng. Sau đó, tôi đã tìm xem tất cả phim điện ảnh nàng đóng vì tôi không có nhiều thời gian để xem phim truyền hình. Như vậy, có thể nói là chủ yếu tôi tiếp xúc với Hyo Joo ở mảng điện ảnh và tôi không thấy diễn xuất của nàng có vấn đề gì ở mảng điện ảnh cả. Nhưng điện ảnh và truyền hình có đặc thù, cách làm việc cũng như đối tượng khán giả tiếp nhận hơi khác nhau một chút; vì vậy, tôi cũng đồng tình với ý kiến thông cảm cho nàng rằng sau sáu năm chỉ đóng phim điện ảnh thì khi quay trở lại đóng truyền hình, nàng có chút chuệch choạc là điều hoàn toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, một  bộ phận khán giả lại chỉ trích diễn xuất của nàng dữ dội và tỏ ra không đồng tình khi APAN trao giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho nàng. Sự thật là diễn xuất của nàng có tệ đến mức phải nhận búa rìu dư luận như thế không? Câu trả lời của tôi là không, hoàn toàn không. Thậm chí, phần nào đó tôi có thể hiểu tại sao APAN lại trao giải cho nàng. Ở đây, tôi sẽ không so sánh nàng với những ứng viên khác trong hạng mục đề cử vì tôi tin rằng ai cũng xứng đáng với lí do họ được chọn. Tôi chỉ muốn tập trung viết về những điểm mà tôi nghĩ rằng nàng đã làm tốt cũng như làm chưa tốt nhưng vẫn ở mức chấp nhận được trong W.

Trong phân nửa đầu phim W (tức là khoảng 8 tập đầu), ý kiến chê nàng thường nói nàng diễn xuất quá cường điệu, không tự nhiên. Ý kiến này không hẳn là hoàn toàn sai, thế nhưng chúng ta phải xét diễn xuất của nàng trong không khí chung của phim và đóng góp của nàng từ diễn xuất vào không khí đó. Tuy cũng có những phân đoạn buồn nhưng nửa đầu phim W chủ yếu mang không khí hài hước, đặc biệt là những cảnh có sự xuất hiện của Oh Yeon Joo. Nếu xem sơ đồ quan hệ các nhân vật trong phim, chúng ta sẽ thấy rõ W chia làm hai tuyến nhân vật: tuyến nhân vật xoay quanh Kang Chul, tuyến nhân vật xoay quanh Oh Yeon Joo.

Tuyến nhân vật xoay quanh Kang Chul rõ ràng đóng vai trò chính là tạo kịch tính cho phim chứ không phải tạo sự hài hước. Như vậy, toàn bộ vai trò tạo không khí hài hước, thư giãn cho phim đến từ tuyến nhân vật của Oh Yeon Joo với ba cây hài chính là: Yeon Joo, Soo Bong, giáo sư “Chó điên” Park Min Soo. Sự hài hước trong phim truyền hình thông thường đến từ sự cường điệu. Sự cường điệu khiến cho khán giả nhận thấy một điều gì đó bất thường, làm quá lên từ cử chỉ, điệu bộ, biểu cảm khuôn mặt và từ đó, bật ra những tràng cười sảng khoái. Cách diễn hài này trong phim truyền hình được áp dụng rất nhiều, có thể dễ dàng bắt gặp trong những phim truyền hình châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông và đương nhiên là Hàn Quốc. Như vậy, việc Hyo Joo diễn có phần hơi cường điệu một chút ở nửa đầu phim chẳng qua chỉ là để tạo không khí hài hước, để đem lại tiếng cười cho mọi người. Không biết với những khán giả khác thì như thế nào nhưng tôi thực sự đã được nàng đem đến cho những trận cười đau cả bụng ở các tập đầu của phim, tôi cứ tua đi tua lại mãi một số đoạn để được cười thỏa thích. Trong rất nhiều cảnh hài, tôi thích nhất là cảnh hài nàng diễn trong tập 2, phân đoạn khi Kang Chul gặp nàng sau hai tháng, anh mời nàng ngồi vào xe để đi đến đâu đó trò chuyện. Trong xe, Chul đã hỏi Yeon Joo rằng khoảng thời gian qua cô sống có tốt không. Khi đó, Yeon Joo không trả lời Chul nhưng  người xem có thể nghe được tiếng lòng của cô: “Sống không tốt làm sao được? Mới có 30 phút trôi qua thôi mà.” Chỉ là một cảnh rất đơn giản nhưng cứ khiến tôi cười mãi không thôi. Ở đoạn này, Hyo Joo chỉ cần mím môi lại một chút, mắt ngước nhìn lên trên và chớp chớp là đã tạo ra được không khí hài hước tràn ngập. Nếu ta chỉ xét trên thoại và hành động bên ngoài, rõ ràng cảnh này không có gì đáng cười. Do đó, sự hài hước trong phân cảnh này phụ thuộc rất lớn vào diễn xuất và giọng nói của Hyo Joo. Với tôi, nàng đã thành công trong phân cảnh này. Xét về mặt diễn hài, cảnh nào nàng cũng khiến tôi cười; vì vậy, tôi không cảm thấy khó chịu diễn xuất cường điệu của nàng trong bất cứ phân cảnh nào khi nó góp phần tạo sự hài hước. Nếu ta nhìn qua diễn xuất của Lee Si Un (vai Park Soo Bong) và Heo Jung Do (vai Park Min Soo) thì sẽ càng thấy rõ rệt hơn chính sự cường điệu trong lối diễn của họ đã đem đến tiếng cười. Thế nhưng, tại sao Lee Si Un và Heo Jung Do không bị chỉ trích là diễn cường điệu trong khi Hyo Joo lại bị chỉ trích như thế? Điều này thật vô lí bởi nàng chỉ đang làm tốt nhiệm vụ của mình trong những cảnh hài.

Bây giờ, ta sẽ xét đến những cảnh không hài của Oh Yeon Joo. Những cảnh không hài là những cảnh cảm xúc ở mức độ bình thường và những cảnh cực kì buồn, những cảnh khóc. Tôi sẽ không bàn đến những cảnh bình thường ở đây mà chỉ bàn đến những cảnh khóc vì đó là những cảnh nàng phải nhận nhiều sự chỉ trích nhất. Mọi người hay nói nàng diễn cảnh khóc trông thật giả nhưng có thật là mọi cảnh khóc trong phim của nàng đều trông giả không? Câu trả lời của tôi là không. Tôi cho rằng nàng đã diễn 90% cảnh khóc tốt và chỉ khoảng 10% là chưa tốt trong rất nhiều cảnh khóc ở nửa sau phim. Thế nhưng, mọi người lại lấy chính 10% đó để chỉ trích và làm lu mờ 90% cảnh diễn tốt còn lại. Dựa vào cơ sở nào mà tôi chia ra hai con số như thế, dưới đây tôi sẽ trình bày quan điểm của mình.

Trong những cảnh khóc mà một diễn viên phải diễn, có thể chia thành hai dạng cơ bản: một là cảnh khóc có sự tương tác với diễn viên khác trọn vẹn trong phân cảnh đó từ lúc chưa khóc đến  lúc khóc, hai là cảnh khóc không có bất kì sự tương tác nào với diễn viên khác. Những cảnh khóc ở dạng thứ nhất của Oh Yeon Joo có thể kể đến là những cảnh như sau: cảnh Yeon Joo vừa khóc vừa tỏ tình với Kang Chul khi anh chỉ trích cô ở tập 7, cảnh Yeon Joo khóc khi ăn mì và trò chuyện với Kang Chul ở giữa tập 10, cảnh Yeon Joo vừa hôn Kang Chul vừa khóc khi anh bị đạn bắn ở cuối tập 10, cảnh Yeon Joo khóc và cầu xin Han Sang Hoon tha mạng cho cô ở tập 13… Những cảnh khóc ở dạng thứ hai của Oh Yeon Joo có thể kể đến là những cảnh như sau: cảnh Yeon Joo ngồi khóc trong xe sau khi đã vẽ bức tranh Kang Chul yêu cầu ở cuối tập 8, cảnh Yeon Joo nằm trên giường bệnh và khóc khi nghĩ rằng Kang Chul đã chết ở tập 16… Khi thử phân chia và liệt kê lại, chúng ta sẽ thấy cảnh khóc ở dạng thứ nhất nhiều hơn hẳn cảnh khóc ở dạng thứ hai, có thể là nó chiếm tỉ lệ đến 90% trong khi cảnh khóc ở dạng thứ hai chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 10%. Và trong lúc xem W lần hai, tôi nhận thấy Hyo Joo diễn rất tốt các cảnh khóc ở dạng thứ nhất, nàng đã khiến tôi thực sự xúc động. Trong khi đó, nàng chỉ diễn gượng gạo đôi chút ở các cảnh khóc của dạng thứ hai. Cảnh mà mọi người hay chỉ trích nhất có lẽ là cảnh nàng khóc trên giường bệnh ở tập 16 khi nghĩ rằng Kang Chul đã chết. Vì khán giả được xem phim liền mạch cảnh trước và cảnh sau nên sẽ có nhận định khách quan và khắt khe, họ có xu hướng nghĩ rằng tại sao cảnh trước buồn như thế mà cảnh này lại khóc giả như thế. Nhưng khi thử xét từ góc độ diễn viên, chúng ta sẽ thấy rằng diễn cảnh khóc ở dạng thứ hai là cực kì khó: diễn viên không được diễn liên tục theo thứ tự các cảnh trong phim nên sẽ phải tự tạo sự liên kết cảm xúc trong tưởng tượng giữa cảnh mình đang diễn với cảnh trước đó và cảnh sau đó, điểm khó khăn hơn nữa là không có sự tương tác với diễn viên khác để đẩy cảm xúc lên trong khi vừa vào phân cảnh là phải khóc. Cảnh Yeon Joo khóc trên giường bệnh ở tập 16 là một cảnh khó như thế. Cảnh này dù có sự xuất hiện của giáo sư Park Min Soo nhưng sự tương tác giữa Min Soo và Yeon Joo là không đáng kể khi cô không nhìn Min Soo, không trả lời anh mà mãi đắm chìm trong nỗi buồn của mình. Với tôi, quả thực Hyo Joo đã không diễn xuất tốt trong cảnh này. Nhưng thực lòng mà nói, tôi nhận thấy cảnh này không quan trọng lắm và cũng không ảnh hưởng nhiều đến cảm xúc của tôi. Tôi trân trọng 90% cảnh nàng đã diễn rất tốt và đem lại cho tôi nhiều cảm xúc hơn là suy xét 10% cảnh nàng diễn không tốt.

Trong những cảnh khóc của Yeon Joo, có một cảnh tôi rất thích nằm ở tập 16, phân đoạn Kang Chul chở nàng trên xe cùng với bố. Anh đã nói tiếng yêu nàng lần đầu tiên mà như thể đó là lần cuối cùng. Tôi rất thích biểu cảm trên khuôn mặt của Yeon Joo lúc này khi nghe câu nói đó của anh, từng biến chuyển trên cơ mặt nàng khi đó thật tế vi. Ánh mắt của nàng khi ấy rất buồn, rồi như có chút gì đó ngạc nhiên, chút gì đó hạnh phúc, nàng mỉm cười rất nhẹ với niềm vui thực sự và cũng với nỗi lo âu phải chia xa thật sự, nước mắt trong khóe mắt nàng đong đầy. Những chuyển biến này trên khuôn mặt nàng chỉ diễn ra trong một cảnh quay. Với tôi, nàng có thể diễn được như thế trong một take hình này là quá xuất sắc.

Qua những gì đã phân tích, tôi cho rằng Hyo Joo hoàn toàn xứng đáng khi nhận giải thưởng APAN. Oh Yeon Joo là vai diễn khó vì cô có nhiều chuyển biến cảm xúc từ đầu phim đến cuối phim và luôn bị đặt trong tâm trạng mâu thuẫn. Để hoàn thành tốt vai diễn này, Hyo Joo vừa phải diễn hài vừa phải diễn bi. Rõ ràng, chính biên kịch Song Jae Jung cũng nhận thấy cô đã vô cùng làm khó Hyo Joo khi đặt Yeon Joo vào những tình huống chuyển biến cảm xúc liên tục và đối nghịch nhau như vậy. Cô nói rằng cô muốn Yeon Joo có nhiều cảnh vui vẻ, thoải mái hơn nhưng cô phải đi theo mạch truyện chính và không thể cho phép mình làm điều đó. 

IV – BEHIND THE SCENES

Tôi vô cùng nể phục người quay và dựng những đoạn phim Behind the scenes (BTS) cho W. Trong một ngày quay phim, biết bao nhiêu điều đã xảy ra, vậy mà người đó đã có thể nắm bắt được những khoảnh khắc rất dễ thương của các diễn viên chính, đặc biệt là của cặp đôi Lee Jong Suk và Han Hyo Joo để dựng nên những đoạn phim làm say đắm lòng tôi cũng như rất nhiều shipper khác. Từ trước đến nay, tôi chưa từng ship cho cặp nào ở ngoài đời khi xem phim cả dù rất thích họ trong phim bởi tôi phân biệt rất rõ giữa phim và đời. Hơn nữa, những đoạn BTS ở các phim khác không cho tôi cảm giác rạo rực như khi xem BTS của W. Đây là lần đầu tiên tôi xem phim mà cảm thấy thích sự thể hiện tình cảm của cặp đôi chính ở ngoài đời còn hơn cả trong phim. Dù mỗi đoạn BTS của W chỉ tầm hai, ba phút nhưng qua mười mấy đoạn phim ấy, tôi như sống trong những khoảnh khắc màu hường phấn khi tự dựng nên chuyện tình của đôi bạn trẻ trong đầu. Tôi rất thích cách Hyo Joo và Jong Suk quan tâm đến nhau. Hyo Joo luôn nắm tay Jong Suk mỗi khi anh cần sự động viên. Jong Suk luôn nhìn Hyo Joo bằng ánh mắt âu yếm và vuốt tóc nàng suốt thôi. Tôi cũng thích nhìn cách hai người đùa giỡn bên nhau. Phần BTS quay cảnh ăn kem trong tập 11 có lẽ là phần khiến tôi cười nhiều nhất. Hyo Joo cứ chọc vào lỗ chiếc quần rách của Jong Suk trong khi anh thì tìm cách vuốt tóc nàng. Hôm đó, cả hai đã ăn phải cây kem thật là cứng, Hyo Joo cười như muốn quặn cả ruột. Nhìn cảnh tượng ấy và nhìn nụ cười của nàng, không hiểu sao lòng tôi cứ lâng lâng hạnh phúc. Tôi thầm mong nàng sẽ luôn được cười vui như thế. 

Trong các đoạn BTS, có rất nhiều cảnh và nhiều chi tiết khiến tôi nghĩ rằng Jong Suk và Hyo Joo yêu nhau, nhưng có lẽ, đoạn BTS mang lại cho tôi cảm giác đó rõ rệt nhất đoạn quay lại cảnh ăn kem của cả hai ở tập 13. Tôi thích khi Hyo Joo ngượng ngùng nói với Jong Suk rằng “đừng có nhìn người ta mãi như thế”, tôi thích khi nàng khoác tay anh và nói thích quá, tôi thích khi nàng lừa anh nhìn ra xa để rồi nhìn anh thật say đắm và sau đó là trêu anh. Hai người thực sự như một đôi tình nhân vừa chớm yêu. Trong cảnh này, ta có thể thấy rõ ràng đoàn phim đã nghỉ quay bởi vì Jong Joo đang ngồi ngay kế bên tripod đặt máy quay phim, xung quanh họ có hai nhân viên hiện trường đang đứng và phía dưới đất có thể thấy rõ đường dây dẫn rất dài. Rõ ràng những khoảnh khắc đó là trong giờ nghỉ chứ không phải trong lúc quay hay tập thử. Rõ ràng những khoảnh khắc ấy không thuộc về Chul Joo đúng không? Rõ ràng những khoảnh khắc ấy thuộc Jong Joo đứng không?

Trước đây, tôi không thể nào hiểu cảm giác của một shipper là gì, có điều gì thích thú trong việc ghép cặp người này với người kia. Nhưng bây giờ, có lẽ phần nào tôi đã hiểu được cảm giác đó. Tôi đã sống trong một tuần đắm đuối khi cứ xem đi xem lại BTS của Jong Joo, xem những hình gif làm chậm lại các khoảnh khắc họ âu yếm nhau, đọc hết bình luận của các shipper, lặn lội trong page Honey couple. Hóa ra, việc ship một cặp đôi nào đó lại có thể khiến tinh thần ta trở nên phấn chấn như vậy. Yeon Joo đã từng nói rằng: “Tưởng tượng là sức mạnh giúp tôi có lại hi vọng mọi thứ sẽ tốt đẹp.” Và bây giờ, điều đó cũng đúng với tôi. Chỉ khác là tôi không tưởng tượng cho chính bản thân mình, tôi tưởng tượng cho hai người tôi yêu mến. Nhưng nội điều đó thôi cũng đã khiến tôi rất hạnh phúc rồi.

Đây là lần đầu tiên tôi làm shipper sau gần hai mươi năm xem phim; vì vậy, tôi cũng mong thuyển của mình sẽ cập bến. Nhưng dù sau này Jong Joo có đến được với nhau hay không, dù họ có thực sự yêu nhau hay không, dù họ sẽ đến với một người khác thì tất cả điều này cũng không làm thay đổi những giờ phút hạnh phúc tôi đã có được khi ngắm nhìn sự ngọt ngào họ trao cho nhau, khi tự tưởng tượng rất nhiều thứ trong đầu. Và có lẽ, nó cũng không thể thay đổi sự thật rằng họ đã thực sự trân quí nhau, đã thực sự có những giờ phút rất vui vẻ khi quay phim bên cạnh nhau.

Cảm ơn W.
Cảm ơn Hyo Joo. Cảm ơn Jong Suk.
Cảm ơn Jae Jung. Cảm ơn Dae Yoon.
Cảm ơn tất cả mọi người trong đoàn làm phim W đã đem đến cho tôi những ngày hè khó quên khi theo dõi W.
Bây giờ, đã là mùa thu.

Điểm đánh giá: 8/10
Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Goodnight Mommy: Tiếng hát ru từ bóng tối điêu linh

Published

on

By

Dù không phải là người xem nhiều phim kinh dị, Ich seh, Ich seh (Goodnight Mommy) vẫn là phim khá dễ đoán và không có nhiều sáng tạo với tôi. Tôi nghĩ rằng có lẽ những ai đã từng xem qua A tale of two sister (2003) của đạo diễn Kim Jee Won đều sẽ cảm thấy Ich seh, Ich seh không mới. Twist lớn nhất của phim là việc Lukas đã chết được tiết lộ rất rõ ràng qua những hình ảnh ngay từ đầu phim.

Cái chết được thông báo một cách tinh tế

Ich seh, Ich seh mở đầu bằng tiếng hát ru của một dàn hợp ca trong nền màn hình vẫn còn tối. Khung hình dần sáng và chúng ta thấy được những em bé đang đứng hát, chúng ta biết đây là những hình ảnh trong một chương trình truyền hình. Màn hình dần chuyển sang tối và lại chuyển sáng với khung cảnh đồng lúa ngô quay từ trên cao, hai anh em sinh đôi chạy rượt đuổi, len lỏi qua những bụi cây. Phim dành khá nhiều thời gian cho cảnh hai anh em nhún nhảy trên một mảnh đất nứt nẻ, có độ xốp và độ đàn hồi cao. Sau đó, hai cậu chạy đến một cửa hầm, một cậu vào hầm trong lúc một cậu đứng ngắm nhìn bụi cây. Tại đây, bộ phim xuất hiện câu thoại đầu tiên khi cậu bé đứng ngắm bụi cây không thấy người anh em còn lại của mình đâu, cậu chạy đến trước cửa hầm gọi lớn: “Lukas, Lukas, Lukas…” Chúng ta biết cậu bé đã đi qua cửa hầm là Lukas. Sau khi gọi tên Lukas rất nhiều lần nhưng không nhận lại được bất kì sự hồi âm nào, cậu bé còn lại đứng tần ngần trước cửa hầm rất lâu. Đây là một cảnh trung với hình ảnh cậu bé nhỏ nhoi, đơn độc trước cửa hầm đen tối choán cả khung hình. Cảnh này diễn ra có lẽ chừng 7, 8 giây – một thời gian dừng lại đủ lâu để ta nhận thấy ắt hẳn phải có dụng ý. Và rồi cậu bé còn lại đi qua cửa hầm, màn hình tối đen hoàn toàn, chúng ta có thể nghe được tiếng gì đó tựa như tiếng tàu chạy trên đường ray rất nhỏ.

Màn hình lại chuyển sáng và chúng ta thấy khung cảnh một cậu bé sinh đôi nằm trên tấm ván đen đang lướt chầm chậm giữa hồ. Đó là một cảnh toàn. Mặt hồ rất trong và tấm ván rất đen đến nỗi ta không thể thấy được lằn ngăn cách giữa cậu bé đang nằm trên tấm ván và bóng hình cậu bé phản chiếu dưới nước. Ta cảm thấy như hình và bóng của cậu bé dính liền với nhau mà không có sự phân chia giữa tấm ván và mặt nước. Qua thị giác, ta cảm thấy như thể đang có hai cậu bé; nhưng thực chất, bằng lí trí ta biết là chỉ có một cậu bé. Đến đây, tôi đã hiểu là có một cậu bé chết rồi, có thể đó là Lukas và cậu chết ngay thời điểm đi qua cửa hầm hoặc trong giây phút nào đó khi cậu bé còn lại đứng tần ngần trước cửa. Cửa hầm mà từ bên ngoài chúng ta không nhìn thấy bất cứ thứ gì như tượng trưng cho cánh cửa dẫn đến địa ngục, là cầu nối giữa sự sống và cái chết. Hình ảnh cậu bé nằm trên mặt hồ khiến hiện thực như có gì đó sai lệch giữa hình và bóng, giữa thực tế và ảo ảnh đã đưa ra gợi ý khá rõ ràng cho người xem: cậu bé còn lại giờ đây đã đơn độc nhưng vẫn tìm được sự kết nối với người đã chết, hai cậu không thể tách rời nhau như hình với bóng. Lúc này, tôi nghĩ thầm trong đầu với sự thán phục rằng phim thật tinh tế, chỉ bằng những hình ảnh đơn giản như thế đã đủ khiến người xem hiểu được có một trong hai cậu bé chết rồi. Ich seh, Ich seh mở đầu thật hứa hẹn và tôi đã chờ đợi bộ phim làm được nhiều hơn thế.

Với những ai chưa đoán ra thông tin Lukas đã chết, bộ phim cũng cung cấp rất nhiều gợi ý cho người xem trước khi việc này được tiết lộ rành mạch qua lời người mẹ ở cuối phim. Gần nửa đầu phim, chúng ta chỉ toàn nghe cậu bé còn lại gọi tên Lukas. Cái tên Lukas được gọi lên liên hồi rất nhiều lần, chúng ta biết được tên Lukas từ rất sớm trong khi chúng ta không biết tên cậu bé còn lại, mãi đến gần giữa phim, chúng ta mới biết cậu bé còn lại tên là Elias. Đây là một dụng ý rõ ràng. Thông thường, những gì được gọi đến nhiều hơn là những gì đã mất đi và chúng ta gọi nó với sự hối tiếc. Con người là thế, luôn trân trọng những gì đã mất và mấy ai nhận ra cái chưa mất đi cũng đáng trân trọng không kém. Chi tiết này phần nào đó tương tự như thế. Ngoài ra, còn một chi tiết nữa dễ nhận ra hơn là Lukas không bao giờ trực tiếp nói điều cậu muốn nói với bất kì ai ngoại trừ Elias. Khi chỉ có cậu và Elias, cậu sẽ trò chuyện bình thường. Nhưng khi có người ngoài xen giữa cậu và Elias, cậu sẽ chỉ trao đổi với Elias; khi muốn nói bất kì điều gì với người ngoài, cậu sẽ nói nhỏ qua tai Elias, sau đó Elias nói lớn lại cho người kia biết. Trong phim, ngoài những cảnh trò chuyện với người mẹ mà một số người xem có thể bị đánh lừa việc bà lờ Lukas đi là do đang giận cậu thì chúng ta còn có những cảnh sau để thấy rõ điều này: cảnh hai anh em chạy đến nhà thờ và nói chuyện với người thanh niên đang quét dọn ở đây, cảnh hai anh em đối phó với người của hội chữ thập đỏ.

Tôi đã đọc qua một số ý kiến bình luận của khán giả xem phim tại IMDB, trang web của Roger Ebert, trang Rotten Tomatoes và nhận ra là có rất nhiều người cũng đoán biết trước việc Lukas đã chết qua những phút đầu tiên của phim hoặc qua một số chi tiết cứ lặp đi lặp lại suốt phim. Vì vậy, họ không cảm thấy bất ngờ khi người mẹ tiết lộ việc này ở hồi ba của phim. Có một số khán giả thậm chí còn bình luận rằng việc Lukas đã chết thậm chí không thể xem là twist của phim. Nếu dụng ý của Franz và Fiala là để chi tiết này làm twist thì tôi cho rằng đây là thất bại vì rất nhiều người đã đoán ra việc này từ sớm; tôi đã chờ đợi cú twist phải là một điều khác, hoặc ngược lại với những gì tôi đã dự đoán. Cũng có khả năng, Franz và Fiala không muốn tạo kịch tích qua tình tiết này mà chỉ muốn người xem tập trung vào câu chuyện nên họ không quan trọng liệu người xem có đoán được quá sớm hay không.

Mầm mống bạo lực của Elias đến từ đâu?

Ich seh, Ich seh có cấu trúc đảo chiều khá thú vị: nửa đầu phim được kể với góc nhìn của hai đứa trẻ mang không khí kinh dị, nửa cuối phim được kể với góc nhìn của người mẹ mang không khí hiện thực. Nửa đầu phim có thể sẽ khiến khán giả đồng cảm, thương hai anh em sinh đôi và căm giận người mẹ, nửa cuối phim có thể sẽ khiến khán giả có cảm xúc ngược lại. Tôi nghĩ có lẽ Franz và Fiala sẽ mong muốn khán giả đồng cảm với cả hai bên sau khi bộ phim kết thúc. Tuy nhiên, tôi không thể nào đồng cảm với hai cậu bé sinh đôi. Với tôi, phim đã xây dựng thất bại mặt tâm lí của hai đứa trẻ và chỉ thành công với người mẹ. Khi phim kết thúc, có lẽ rất nhiều người sẽ nhận ra thông điệp cảnh tỉnh về tình trạng thờ ơ, thiếu sự quan tâm, thấu hiểu giữa bố mẹ và con cái được thể hiện khá rõ ràng. Tuy nhiên, thông điệp của Ich seh, Ich seh sẽ có sức mạnh hơn nếu như phim khiến người xem đồng cảm với hai anh em sinh đôi hơn, đặc biệt là với Elias. Dưới đây, tôi sẽ phân tích một số điểm yếu hoặc bất hợp lí trong cách xây dựng tâm lí của hai đứa trẻ.

Khi phim kết thúc, người xem có thể hiểu rằng do cú sốc tinh thần về cái chết của Lukas đã khiến Elias bị mắc bệnh tâm thần, cậu không kiểm soát được những ảo ảnh và hành vi bản thân; vì vậy, hành động tra tấn và giết mẹ ở cuối phim của cậu là hoàn toàn có thể cảm thông. Nhưng tôi vẫn cảm thấy cậu không đáng để cảm thông bằng người mẹ. Ngay từ đầu, phim đã cho người xem thấy tâm lí không bình thường của hai đứa trẻ qua sở thích kì lạ: sưu tầm những con rệp và bỏ vào trong chiếc hộp chứa đất, giả định rằng đó là môi trường sống của con rệp. Hai cậu bé đặt chiếc hộp này ngay trong phòng ngủ. Tôi không kì thị những người yêu côn trùng nhưng xét trên bình diện chung, những đứa trẻ thường sẽ không có sở thích này. Rõ ràng, qua việc chọn cho hai đứa bé sở thích hơi khác biệt với số đông, Franz và Fiala đã ngầm gieo vào tiềm thức khán giả rằng hai cậu bé này có sự lập dị. Tôi sẽ không đánh đồng sở thích với tính lập dị chỉ với chi tiết này, nhưng Franz và Fiala không dừng ở đây. Hình ảnh con rệp lặp đi lặp lại xuyên suốt phim; trong đó, có hai hành động trong giấc mơ của Elias đáng chú ý là: việc cậu để con rệp bò lên người mẹ cậu rồi chui tọt vào miệng bà, việc cậu rạch bụng mẹ và rất nhiều con rệp bò ra từ bụng bà. Tuy rằng, hai hành động này chỉ diễn ra trong giấc mơ và lại vào thời điểm mẹ cậu còn băng kín khuôn mặt, cậu nghi ngờ đó không phải là mẹ nhưng chúng ta có thể thấy nó ẩn chứa sự gian ác, mầm mống của bạo lực ngay trong tiềm thức cậu. Hai hành động ấy rất khác với cách hành xử bình thường của trẻ con khi nghĩ rằng một người lạ nào đó đang giả dạng mẹ chúng. Nếu một đứa trẻ không có mầm mống bạo lực, cách xử sự của chúng có thể khác nhau tùy theo tính cách nhưng việc làm tổn thương đến người khác không phải là việc đầu tiên chúng nghĩ đến. Phản ứng thông thường của chúng sẽ là khóc thét lên, nhưng ở đây, Elias đã đủ lớn để kiềm chế cảm xúc nên phương án này bị loại bỏ. Phương án thích hợp hơn là dò hỏi những người thân khác về người xa lạ đó. Tôi nghĩ Elias hoàn toàn có thể gọi điện hỏi bố hoặc bất cứ người thân, họ hàng nào trong gia đình về mẹ cậu, về lần cuối cùng họ nhìn thấy mẹ cậu và có thể một ai đó sẽ biết được ý định phẫu thuật thẩm mĩ của bà rồi nói lại cho cậu biết. Nhưng bộ phim đã bỏ qua phương án đó, hoặc Elias không thể nghĩ đến cách nào khác hơn để tìm người mẹ thật ngoài việc tra tấn người mà cậu nghĩ là mẹ giả. Như vậy, rõ ràng mầm mống bạo lực đã có trong cậu. Mầm mống ấy từ đâu ra? Có phải mẹ cậu đã gieo vào cho cậu không? Nếu đúng là mẹ cậu đã gieo vào cho cậu thì bộ phim thành công trong việc phản ánh thông điệp sự vô tâm của các bậc phụ huynh dẫn đến hành vi bạo lực của con cái. Thế nhưng, ta hãy thử khảo sát lại một số tình tiết trong phim để xem có đúng là mẹ cậu đã gieo vào cậu sự bạo lực không.

Ở đầu phim, mẹ cậu đã đưa ra một số qui tắc cho cậu: phải đóng kín rèm vào ban ngày; mẹ sẽ luôn ở trong phòng, khi có việc gì cần, cậu phải gõ cửa trước khi vào; nếu có khách đến nhà tìm mẹ thì bảo rằng mẹ không có nhà; không đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà; không để bất cứ động vật nào trong nhà. Vì những qui tắc này, cậu bắt đầu nghi ngờ rằng người đang bó băng kín mặt nói chuyện với mình không phải là mẹ, bởi với cậu: “Trước đây, mẹ luôn dịu dàng và chăm sóc mình, mẹ chẳng có bất kì đòi hỏi nào vô lí. Mẹ không cấm mình để động vật trong nhà. Người này không phải là mẹ mình.” Như vậy, trước đây, người mẹ này không đối xử bạo lực với cậu; có thể như bao người mẹ khác, bà sẽ chỉ trừng phạt cậu một cách nhẹ nhàng khi cậu có sai phạm; dù là thế nào thì suy nghĩ đó của cậu cũng đồng nghĩa với việc bà không gieo vào cậu bất cứ kí ức tồi tệ nào trước đây. Vì mẹ đã từng đối xử rất tốt với Elias nên Elias nghi ngờ khi bà có biểu hiện thay đổi. Trong những qui tắc bà đặt ra cho Elias, chỉ có hai qui tắc ảnh hưởng trực tiếp đến cậu: “không đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà” và “không để bất cứ động vật nào trong nhà”; những qui tắc còn lại đều không có gì quá đáng. Tại sao bà không cho Elias đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà? Bởi bà sợ cậu sẽ lại gặp tai nạn và qua đời như Lukas, đây là tâm lí rất dễ đồng cảm với người mẹ vừa mất đứa con. Tại sao bà không cho Elias để bất cứ động vật nào trong nhà? Tôi nghĩ rằng bộ phim đã tiết lộ câu trả lời cho câu hỏi này thông qua một chi tiết ẩn dụ ở đầu phim. Đó là cảnh Elias đánh răng trong nhà tắm, cậu nhìn thấy một con rệp đang bò trên vách tường nhà. Khuôn hình trong cảnh này dừng lại rất lâu ở hình ảnh con rệp từ từ bò lên cao và khi đến mé vách tường, do không giữ được thăng bằng, nó rớt xuống. Một lần nữa, đây là hình ảnh ám chỉ có người đã chết. Sau đó, chúng ta biết rằng hai anh em Lukas và Elias có sở thích sưu tập những con côn trùng, những con rệp. Như vậy, quay ngược lại hình ảnh trước đó, có thể Franz và Fiala đã cho chúng ta gợi ý về nguyên nhân cái chết của Lukas: cậu đi qua đường hầm đó, nhìn thấy một côn trùng đẹp đẽ, cậu đã chết khi cố gắng lấy con côn trùng đó, có thể là do ngã trên vách núi hoặc bị một đoàn tàu đâm phải. Nếu tạm chấp nhận giả thuyết này, ta sẽ thấy rất hợp lí khi mẹ - vốn cũng là một người yêu động vật lại cấm Elias để động vật trong nhà vì bà nghĩ rằng đó là nguyên nhân khiến Lukas chết đi. Như vậy, những qui tắc người mẹ đưa ra đều hợp lí, không có gì quá đáng, bà cũng không gieo mầm mống bạo lực trước đó cho Elias. Thế thì, trong khoảng thời gian bà băng kín mặt sau khi trở về từ cuộc phẫu thuật thẩm mĩ, bà có đối xử điều gì tàn nhẫn đến mức không thể chấp nhận được với Elias chăng? Khi suy nghĩ lại, chúng ta có thể thấy hành động tàn ác nhất của bà là việc đã đổ những con rệp của Elias vào bể nước cậu ngâm con mèo khi nghĩ rằng mẹ cậu đã giết mèo của cậu. Vậy bà có giết mèo của Elias không? Bộ phim không cho chúng ta thấy rõ điều này nhưng dựa trên phân tích từ những chi tiết trong phim, tôi cho rằng bà không giết mèo của cậu. Bởi vì bà đã nói rằng bà không thích để động vật trong nhà nên nếu bà giết mèo, bà hoàn toàn có thể đem xác mèo vứt ở bờ hồ gần nhà hoặc chôn ở một nơi nào đó trong rừng. Với tâm lí của một người nội trợ, dù đang tuyệt vọng và giận dữ thế nào, tôi chắc rằng bà cũng không quên việc này bởi để xác mèo trong nhà mà không phát hiện sớm sẽ bốc ra mùi rất hôi thối. Tâm lí người bất ổn không thể nào chịu nổi thứ mùi xú uế đó. Do đó, tôi cho rằng con mèo đã chết vì một nguyên nhân nào đó khác. Elias đã bị sự nghi ngờ và thù hận làm mù quáng. Thay vì hỏi trực tiếp mẹ, cậu lại chọn cách khiêu khích bà bằng việc ngâm xác mèo trong bể nước và đặt trước phòng khách. Rõ ràng, đây cũng là cách cư xử biểu hiện tâm lí bất thường trong nội tại, trẻ em bình thường không cư xử như thế.

Qua phân tích khi khảo sát lại bộ phim, ta có thể thấy người mẹ không làm gì quá đáng với Elias khi bà băng kín mặt, bà chỉ nổi giận và gắt gỏng với cậu – điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được vì bà cũng là người đang suy sụp tâm lí vì tai nạn của Elias, vụ li hôn với chồng; còn trước đó, bà vốn đối xử tốt với Elias. Như vậy, mầm mống bạo lực trong cậu thực tế không phải từ bà mà chúng ta chỉ có thể tạm chấp nhận đó là thứ bẩm sinh trong cậu, minh chứng là hành động của cậu trong những giấc mơ, sở thích và cách giải quyết vấn đề kì quặc của cậu bên ngoài; đó có thể là bản chất của cậu trước cả khi Lukas mất.

Người mẹ đáng thương

Về người mẹ, tôi đã có dự cảm mơ hồ rằng bà chính là mẹ thật của hai anh em ngay từ cảnh bà chơi trò đoán nhân vật/đồ vật được dán trên trán với Elias. Nhìn cách bà chơi với con, nhẫn nại hỏi và đoán, cách bà mỉm cười và ánh mắt của bà, tôi không hề cảm thấy rằng đây là một người xa lạ đang cố lẻn vào nhà với mục đích xấu. Sau đó, trong phim có một cảnh quay đằng sau lưng bà, chúng ta có thể thấy dáng người bà ngồi trên giường rất cô đơn, đôi vai run run. Tiếp theo là cảnh bà đứng trước gương, ngắm nhìn mình trong gương, làn gió từ khung cửa sổ đang mở khiến chiếc áo ngủ mỏng manh bà mặc bay phất phơ. Đây cũng là cảnh được sử dụng trong trailer phim. Tôi có thể hiểu vì sao người ta chọn cảnh này bỏ vào trailer. Đơn giản là hình ảnh một người phụ nữ quấn băng kín, đứng trước gương trong chiếc váy mỏng phất phơ như thế rất dễ đem lại cảm giác kì dị và chút sợ hãi. Tuy nhiên, khi xem cảnh này trong mạch phim, tôi lại cảm thấy đây là một cảnh rất buồn. Hình ảnh đó thể hiện sự cô đơn, tâm trạng hoang mang, lạc lõng của người mẹ. Bà không tìm được sự kết nối với ai, bà không biết bày tỏ nỗi lòng của mình như thế nào, bà chỉ biết đứng trước gương, đối diện với chính mình, và có thể bà cũng đang thấy xa lạ với chính mình trong khuôn mặt quấn băng đó. Ngay từ cảnh ấy, tôi đã chắc chắn đó không phải là bất cứ linh hồn ma quỉ nào đang chiếm ngự cơ thể bà, chẳng có linh hồn tà ác nào nhập vào vật chủ rồi lại ngắm nhìn vật chủ trong gương như thế. Đó chính là bà. Còn giả thiết một người lạ phẫu thuật và đóng giả làm bà ư? Cũng không thể. Giả sử có một người đã giết bà hoặc giấu bà ở nơi nào đó vì muốn chiếm lấy căn nhà hay vì mục đích nào khác, người ấy không cần phải dụng công phẫu thuật cả khuôn mặt và ở trong nhà lâu như thế, lại đặt rất nhiều bánh pizza đủ dùng cho cả năm, chưa kể là còn phải cố gắng giả giọng nói – một thứ vốn chẳng dễ dàng chút nào. Những việc này quá tốn công sức trong khi người đó có thể chỉ đơn giản là quấn băng, mặc áo của người mẹ rồi trở về nhà giống như vừa trải qua đợt phẫu thuật và sau đó chỉ cần giết luôn cậu bé Elias, hoặc đơn giản hơn là đánh thuốc mê, trói và nhốt cậu ở đâu đó rồi hoàn thành việc mình muốn làm. Như vậy, giả thuyết có một người lạ giả làm bà cũng rất khó có thể xảy ra, bà chỉ có thể là mẹ thật của hai đứa trẻ.

Vì tôi đã đoán ra hai chi tiết quan trọng nhất sẽ được tiết lộ ở nửa sau phim như thế nên tôi rất mong mình đã đoán sai, bộ phim sẽ khác đi, hoặc sẽ là điều gì đó bất ngờ và xúc động mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, rốt cuộc tôi đã dự đoán đúng hai chi tiết này. Vì vậy, tôi chỉ còn bất ngờ cách cư xử tàn nhẫn của cậu bé Elias với mẹ. Như những gì tôi đã phân tích ở trên, sự bạo lực đó phần lớn là bản năng của Elias, không phải do sự vô tâm của người mẹ. Đạo diễn Bá Vũ có nói rằng: “Dù các bậc phụ huynh đối xử với con cái tốt như thế nào, chỉ cần thử một ngày hay một khoảng thời gian đối xử khác đi với con, tệ hơn với con rồi sẽ thấy con mình cũng thay đổi cách đối xử với mình, cũng sẽ đối xử tệ lại với mình vì trẻ con rất dễ học từ xung quanh, rất dễ bị lây nhiễm cái xấu.” Tôi không hoàn toàn phản đối ý kiến này của anh. Tuy nhiên, ý kiến này vẫn có phần áp đặt và không thực sự đầy đủ. Ở đây, anh nhấn mạnh khả năng dễ học hỏi và lây nhiễm của đứa trẻ nhưng lại quên mất rằng trẻ con vốn rất nhạy cảm, chúng đặt nhiều tình thương cho cha mẹ nên dễ giận dỗi khi họ không đối xử tốt với chúng dù chỉ là một chút, nhưng đồng thời chỉ cần họ tỏ thái độ ăn năn, chúng cũng sẽ rất dễ tha thứ bởi đó là người chúng yêu thương.

Vào nửa đầu phim, tôi đã rất cảm động trước tình cảm Elias dành cho mẹ. Cậu đặt bức hình mẹ trong phòng, luôn nhìn bức hình ấy và cầu nguyện mẹ sớm quay trở về với cậu. Tuy nhiên, vào hồi cuối của phim, tôi nhận ra tình yêu đó của cậu chỉ là sự ích kỉ. Nếu cậu thực sự yêu mẹ, giây phút cậu lắng nghe mẹ nói phải nhiều hơn, giây phút cậu đấu tranh mâu thuẫn nội tâm phải nhiều hơn, cậu phải phần nào đó cảm nhận nỗi đau của mẹ mà chùng tay nhiều hơn. Trong phim, cậu cũng có những giây phút dừng lại suy nghĩ nhưng nó vẫn quá ít, quá yếu ớt trước sự nghi ngờ mù quáng và cái ác trong cậu. Đạo diễn Bá Vũ luôn nhấn mạnh lỗi của người mẹ, anh nói rằng: “Người mẹ quá vô tâm khi ngay cả bài hát con mình yêu thích nhất cũng không nhớ được. Vì vậy mới dẫn đến bi kịch gia đình như thế. Giá mà bà chịu ngồi xuống nói chuyện với con một chút thay vì đặt ra những qui luật hà khắc và mắng mỏ con như thế thì có thể mọi chuyện đã được cứu vãn.” Anh nhấn mạnh lỗi của người mẹ hơn là lỗi đứa con. Tuy vậy, anh quên mất rằng nếu người mẹ đó quá vô tâm thì làm sao cậu bé ấy lại luôn muốn tìm người mẹ dịu dàng trước đây của mình như thế. Rõ ràng, trong tâm lí của Elias, mẹ cậu đã từng là người rất tốt và bà chỉ trở nên xấu xí trong mắt cậu kể từ khi bà lờ đi sự tồn tại của Lukas – vốn đã chết và được tái tạo lại bằng sự tiếc thương của cậu. Với một người không đối diện nổi thực tế, để bảo vệ thế giới ảo tưởng do mình tự tạo ra, người đó sẽ tránh xa bất cứ ai có nguy cơ hủy diệt thế giới đó. Khi Lukas vừa mới mất, vì tự trách móc lỗi lầm do mình gây ra, Elias đã tưởng tượng rằng Lukas còn sống. Tôi nghĩ rằng khi ấy, mẹ cậu vẫn chăm sóc Elias như trước đây nhưng vì cậu cứ một mực trách móc việc bà vô tình với Lukas, bà quá mệt mỏi bởi bản thân cũng đang rất đau đớn nên đã tạm thời bỏ lơ cậu. Và từ trách móc chính mình, để không phải quá ray rứt, trong vô thức Elias chuyển sự trách móc sang người mẹ: lỗi là bà đã quá vô tâm. Có thể rất nhiều người sẽ có chung ý kiến như anh Bá Vũ, sẽ trách móc người mẹ rằng không quan tâm con mình nhiều hơn, không hỏi han con mình nhiều hơn nhưng có bao giờ họ tự hỏi rằng tại sao không phải ngược lại, tại sao Elias không quan tâm đến mẹ nhiều hơn, không hỏi han mẹ nhiều hơn sau tai nạn đó. Nếu như Elias quan tâm đến mẹ nhiều hơn, cậu cũng đã biết được nỗi phiền muộn của mẹ, biết được việc bà đi phẫu thuật thẩm mĩ. Những ai trách móc người mẹ có bao giờ nghĩ rằng bà đã dịu dàng với con mình quá đủ rồi, bà đã chịu đựng quá đủ rồi không? Bà vừa phải gánh lấy nỗi đau mất một đứa con, vừa li dị chồng và đứa con còn lại cũng chẳng cảm thông với bà, chỉ mãi sống trong thế giới ảo tưởng do nó tự dựng lên. Đau lắm chứ. Rất đau. Và bà phải một mình gánh lấy tất cả. Một số người có thể nói rằng không thể trách cậu bé được vì cậu bé còn nhỏ, làm sao hiểu được những chuyện như thế này, rằng phản ứng bình thường của trẻ con là như thế. Nhưng như tôi đã viết, đứa trẻ nào cũng có sự nhạy cảm của nó và khi thực sự yêu thương cha mẹ, chúng sẽ dễ dàng nhận ra nỗi đau của họ.

Một đứa trẻ khác

Việc Ich seh, Ich seh khai thác mối quan hệ giữa người mẹ và con trai, trong đó vì một nguyên nhân nào đó, người mẹ đối xử lạnh lùng với con khiến tôi nhớ đến một phim cũng khai thác mối quan hệ tương tự là L'enfant d'en haut (2012) của đạo diễn Ursula Meier. Người mẹ trẻ trong phim này cũng đối xử rất lạnh lùng với con trai mình. Cô sinh ra cậu trong sự bồng bột của tuổi trẻ với mối tình chớp nhoáng nên cậu không có cha. Cậu sống chung nhà với cô nhưng cô không cho phép cậu gọi mình là mẹ mà phải gọi là chị kể cả khi ở nhà hay ra bên ngoài. Cô thờ ơ, không quan tâm đến cậu, không chăm sóc cho cậu và vẫn tiếp tục buông thả mình với những người đàn ông khác. Nhiều lúc, cô lên xe của một người đàn ông xa lạ và đi cả hàng tuần không trở về nhà. Cậu rất cô đơn, không có được tình thương lẫn vật chất, cậu phải ăn trộm những dụng cụ trượt tuyết của khách du lịch rồi bán lại cho những người khách khác để lấy tiền sinh sống. Mẹ của cậu đôi khi trở về nhà sau khi đã tiêu hết tiền và không ngại ngần lấy số tiền ít ỏi cậu cướp được từ việc ăn trộm để tiếp tục sống những ngày tháng chìm trong men rượu. Như thế đã quá tệ bạc nhưng vẫn chưa đủ: mẹ cậu hay là chị cậu, chưa một lần cho cậu ngủ chung giường, chưa một lần ôm cậu vào lòng khi ngủ. Vậy cậu có thù hận mẹ, có ý định chạy trốn khỏi mẹ, có ý định không cho mẹ tiền nữa, có ý định tra tấn mẹ để mẹ sợ hay thậm chí là giết mẹ như Elias không? Cậu hoàn toàn có thể đối xử tệ với mẹ như cách mẹ đã đối xử tệ với cậu. Ở cậu, mầm mống bạo lực vì bị đối xử tệ bạc mà mẹ đã gieo vào thậm chí còn rõ rệt hơn rất nhiều lần Elias. Nhưng không, cậu đã không chọn cách làm như Elias, cậu thậm chí còn không đối xử bạo lực với mẹ. Cậu cũng quan sát và bắt chước hành vi của người lớn nhưng theo một cách khác. Cậu nhận thấy rằng những người đàn ông muốn ngủ chung với mẹ thì phải trả tiền cho mẹ. Thế là, khi cậu quá cô đơn, khi cậu chỉ muốn được một lần ngủ chung giường với mẹ, cậu đã hỏi mẹ rằng cậu cần phải trả bao nhiêu tiền cho việc đó. Người mẹ ra một mức và cậu trả. Vì ngạc nhiên với cách hành xử của con trai mình, người mẹ nâng mức giá cao hơn mà cô nghĩ rằng cậu không thể trả được. Thế nhưng, cậu vẫn trả. Nhìn cách cậu cố gắng moi những đồng bạc lẻ từ những túi quần của mình để tập hợp cho đủ số tiền mà mẹ yêu cầu khiến tôi thấy đau lòng và vô cùng yêu mến cậu. Tôi đã rất muốn khóc ở cảnh ấy. Cuối cùng, người mẹ ấy vẫn nhận số tiền và cậu được ngủ chung với mẹ. Rất lâu rồi cậu mới được ngủ chung với mẹ. Đó là một cảnh ban đầu có vẻ tàn nhẫn nhưng sau đó lại vô cùng ấm áp vì chúng ta vừa nhìn thấy được tình yêu dành cho mẹ của cậu, vừa nhìn thấy được mẹ cậu cũng đã bắt đầu nhận ra tình yêu đó, có chút ăn năn và hối lỗi. Simon-tên cậu bé ấy, cũng không phải là một người quá lớn để nói rằng đã phát triển đầy đủ về mặt nhận thức, đã trưởng thành để thông cảm và hiểu chuyện hơn Elias, thực chất cậu ấy cũng chỉ là một đứa trẻ bằng tuổi với Elias.

Cảnh trong phim L’Enfant d’en haut

Thông qua việc dẫn chứng lại tình tiết ấy trong phim L'enfant d'en haut, tôimuốn nhấn mạnh thêm lần nữa rằng mầm mống bạo lực là thứ bẩm sinh trong Elias nên cậu mới có thể tàn nhẫn với mẹ như thế, không tin tưởng mẹ như thế, không lắng nghe mẹ như thế khi mẹ cậu chỉ vừa đối xử lạnh lùng với cậu một chút. Cậu là một đứa trẻ quá ích kỉ và thiếu sự cảm thông. Sự ích kỉ này có thể đến từ việc trước đây mẹ cậu đã quá nuông chiều cậu khiến cậu chỉ biết nghĩ cho bản thân, chỉ biết mỗi mình đau mà không để ý đến nỗi đau của mẹ. Một mối quan hệ muốn tốt đẹp, dù là bất cứ mối quan hệ nào, kể cả mối quan hệ giữa mẹ và con cũng cần phải có sự cố gắng của cả hai phía. Trong Ich seh, Ich seh, tôi có thể thấy được sự cố gắng của người mẹ, tôi hoàn toàn cảm thông với bà. Nhưng còn về phía Elias, như những gì ở trên tôi đã phân tích, tôi hoàn toàn không thể đồng cảm với cậu bé chút nào. Thậm chí, tôi còn rất ghét cậu bé. Với tôi, cậu là người lập dị, ích kỉ, tàn nhẫn bẩm sinh. Ở cảnh Elias hành hạ mẹ mình, cậu đeo một chiếc mặt nạ tương tự với hình mẫu các chiến binh ta vẫn hay thấy trong các phim siêu anh hùng. Qua đó, người xem cũng có thể ngầm hiểu mầm mống bạo lực trong cậu còn xuất phát từ những bộ phim siêu anh hùng cậu xem trên truyền hình. Thế nhưng với tôi, đây là một chi tiết pay off khá gượng ép bởi không có set up ở phía trước. Rõ ràng ngay từ đầu phim, chúng ta thấy chương trình cậu xem là một chương trình ca nhạc, radio cậu vẫn hay nghe cũng không đề cập gì đến bạo lực. Nếu như ngay từ đầu, bộ phim có thêm cảnh mẹ cậu không quan tâm gì đến việc cậu xem truyền hình như thế nào, bên cạnh việc xem chương trình ca nhạc, cậu cũng đã chăm chú xem những phim bạo lực – trong đó có phim mà nhân vật đeo mặt nạ giống như cậu đeo ở cuối phim xuất hiện. Khi sửa lại như thế, cảnh cậu đeo mặt nạ cuối phim tra hỏi mẹ sẽ tự nhiên và không gượng ép; hơn nữa, thông điệp về sự vô tâm của bậc cha mẹ ảnh hưởng thế nào đến con cái sẽ được nhấn mạnh hơn, hợp lí hơn.

Vì những yếu tố thừa và thiếu đó, thông điệp bộ phim đã không thực sự tác động đến tôi nhiều. Đó là thứ thông điệp tôi nhận ra bằng lí trí nhưng về mặt cảm xúc và câu chuyện, bộ phim không xây dựng đủ nền tảng tâm lí nhân vật vững chắc để tôi hoàn toàn thẩm thấu được sức nặng của thông điệp ấy bằng cả lí trí và cảm xúc. Với riêng tôi, đây là thất bại của phim. Tôi cho rằng lí do của thất bại này là vì Ich seh, Ich seh đã khiến tôi đồng cảm với người mẹ nhiều hơn Elias. Lẽ ra, để thông điệp đó được nhấn mạnh, sự đồng cảm này phải chia đều cho cả hai nhân vật, thậm chí còn phải khiến người xem đồng cảm với Elias nhiều hơn là người mẹ thì việc truyền tải thông điệp trọn vẹn mới thành công. Hơn nữa, bộ phim cần phải xây dựng một số tình tiết khác đi đôi chút, nên cho Elias bớt lập dị một chút, nên để cho mầm mống bạo lực của Elias xuất phát từ người mẹ rõ rệt hơn, không nên để bất cứ chi tiết nào khiến khán giả có cảm tưởng mầm mống bạo lực trong cậu là thứ bẩm sinh. Với tôi, kịch bản phim đã xây dựng tâm lí Elias rất một chiều và khiên cưỡng. Tôi không bị thuyết phục bởi diễn biến tâm lí của cậu, tôi cảm thấy rõ ràng sự cố tình sắp đặt của Franz và Fiala bắt cậu phải hành động như thế này, như thế kia để bộ phim được diễn ra như những gì chúng ta đã biết.

Một kết thúc giả định

Qua những phân tích về một số điểm yếu và bất hợp lí trong cách xử lí kịch bản phim theo góc nhìn của tôi, tôi nghĩ ra một phương án sửa kịch bản ở đoạn cuối để khắc phục những điểm tôi đã nêu ở trên. Chúng ta vẫn giữ lại cơ bản nội dung phim cho đến cảnh cậu bé bôi keo dán sắt vào miệng mẹ rồi sau đó dùng kéo cắt để cố tách hai môi bà ra và bà bị chảy máu. Với tôi, sự bạo lực ở đây đã đủ, cần phải dừng lại. Sau đó, Elias sẽ phản ứng mạnh mẽ hơn với ảo ảnh Lukas mà cậu đã tạo ra bởi những lời gào thét của mẹ, những giọt nước mắt của mẹ, nỗi đau thể xác của mẹ dần tác động đến cậu; có thể cậu sẽ tin hoặc không tin người đó là mẹ mình nhưng qua việc chứng kiến hậu quả của những gì mình đang làm sẽ đánh thức lương tri cậu, cậu nhớ lại những ngày mẹ đã từng đối xử tốt với mình. Lukas đương nhiên không dễ dàng bị Elias thuyết phục chỉ với vài lời nói đơn giản. Elias cố giành lấy cây kéo từ tay của Lukas để cắt dây trói cho mẹ nhưng không được. Thế là, cậu và Lukas tự đánh nhau nhưng thực chất là Elias đang tự vật lộn với chính mình, đang tự đánh nhau với chính mình. Khi nhìn thấy cảnh tượng đó, người mẹ vì cố ngăn cản Elias tự làm tổn thương bản thân mình mà đã bảo cậu dừng lại đi, đừng đánh nhau với Lukas nữa, Lukas đã không còn sống, cậu chỉ đang tự làm tổn thương mình thôi. Elias dù muốn bảo vệ mẹ nhưng cậu vẫn không chấp nhận việc Lukas đã chết, cậu vẫn tiếp tục thấy hình ảnh Lukas và cuối cùng Lukas đâm cậu, hay cậu tự đâm chính mình bằng chiếc kéo. Cậu rút kéo ra khỏi người và cắt dây cởi trói cho mẹ. Trước khi nhắm mắt, cậu vẫn nhìn thấy hình ảnh Lukas đang đứng nhìn cậu. Cậu mỉm cười và trút hơi thở cuối cùng. Trong sự đau đớn vì lại bị mất người con còn sót lại, mẹ cậu hóa điên, bà tự sát. Cuối cùng vẫn là cảnh ba mẹ con đoàn tụ ở cánh đồng lúa ngô.

Tôi nghĩ rằng khi sửa lại một chút kịch bản ở đoạn cuối như thế, khán giả sẽ đồng cảm nhiều hơn với Elias, cảm xúc bộ phim mang đến sẽ mạnh mẽ hơn nên thông điệp đến với người xem cũng tự nhiên hơn, không phải là thứ gượng ép bằng suy nghĩ của lí trí. Đây cũng là điểm khiến Ich seh, Ich seh thua xa A tale of two sister về mặt tác động đến cảm xúc dù hai bộ phim có nội dung tương tự nhau. Với tôi, Ich seh, Ich seh nên được làm như một phim tâm lí hơn là phim kinh dị bởi khi đó, tâm lí nhân vật sẽ được đào sâu hơn khiến câu chuyện trở nên thuyết phục hơn. Điểm đáng tiếc nhất của Ich seh, Ich seh là đã xây dựng hình ảnh người mẹ thành công nhưng lại quá sơ sài và gượng ép trong việc khắc họa tâm lí của Elias vốn phải phức tạp  hơn, có chiều sâu hơn, tinh tế hơn; vì không làm được những điều đó, sự tra tấn của cậu ở cuối phim mang vẻ ngoài giống như sự phi lí của cái ác nhiều hơn là sự bộc phát những ẩn ức vì đã phải kiềm nén quá lâu do yếu tố môi trường và tâm lí. Có lẽ đây cũng chính là lí do bộ phim không được lọt vào vòng đề cử chính thức ở hạng mục Phim nước ngoài xuất sắc nhất của giải Oscar. Tôi cảm thấy điều này hoàn toàn hợp lí.

Kết luận

Đạo diễn David O. Russell từng nói rằng: “Rất nhiều bộ phim hay ẩn chứa nhiều bộ phim hay khác bên trong chúng.” Ich seh, Ich seh cũng ẩn chứa rất nhiều bộ phim hay bên trong nhưng đáng tiếc bản thân chính nó lại không phải là phim hay. Ich seh, Ich seh chỉ hay phân nửa đầu phim. Kể từ sau cảnh hai cậu bé bị linh mục đưa về nhà, bộ phim đã mất đi vẻ đẹp và sự tinh tế ban đầu bằng biện pháp đẩy mạnh kịch tích và thúc ép tâm lí khiên cưỡng. Có lẽ, Ich seh, Ich seh là cách tiếp cận ngập ngừng của Franz và Fiala khi phải lựa chọn kể lại câu chuyện này theo hướng kinh dị hay tâm lí. Dù đa phần các hệ thống xếp Ich seh, Ich seh vào nhóm phim kinh dị (Horror) nhưng IMDB xếp thể loại phim là Drama, Mystery, Thriller. Tôi hoàn toàn đồng tình cách sắp xếp này. Với tôi, Ich seh, Ich seh không phải là phim kinh dị không đáng sợ mà là phim tâm lí đen tối còn hơi non, thiếu chút nữa đã có thể chạm đến điểm sâu mà lẽ ra nó cần chạm đến. Vì vậy, tôi phải nói Ich seh, Ich seh không hay trong cảm giác rất tiếc nuối.

Điểm đánh giá: 7/10
Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Tiếng vọng từ tường đá như một câu thơ xanh xao, u buồn

Published

on

By

Tiếng vọng từ tường đá (Voice from the Stone) là phim kinh dị tâm lí không quá câu nệ vào việc tạo ra sự hồi hộp, căng thẳng – vốn là cách làm quen thuộc ở dòng phim này. Ngược lại, phim xoáy sâu vào tâm lí nhân vật khi họ đối diện với những thực tại mà bản thân không thể lí giải được.

Tiếng vọng từ tường đá lấy bối cảnh trong một tòa lâu đài hoang vắng ở Tuscany (Ý) vào những năm 1950. Cô y tá Verena (Emilia Clarke) được thuê đến đây để chăm sóc Jakob - cậu bé đột ngột trở nên câm lặng sau khi mẹ cậu mất vì bệnh nặng. Verena càng cố gắng để Jakob có thể nói lại thì càng ngày, cô càng dấn vào sâu hơn những bí mật đang bị che giấu trong tòa lâu đài. Cô đã không thể ngờ rằng có một thế lực tà ác đang cố gắng giăng bẫy mình.

Tiếng vọng từ tường đá được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên (La voce della pietra) của nhà văn Silvio Raffo. Cuốn tiểu thuyết này đã được đưa vào danh sách shortlist của giải thưởng Strega (giải thưởng văn học danh giá nhất nước Ý) năm 1997. Silvio Raffo không chỉ là nhà văn, ông còn là một dịch giả tập trung dịch rất nhiều tác phẩm văn học của những nữ tác giả Anh, Mỹ từ tiếng Anh sang tiếng Ý. Đặc biệt, ông nổi tiếng với những bản dịch thơ của Emily Dickinson sang tiếng Ý. Có lẽ công việc dịch thuật đã ảnh hưởng trở lại đến công việc sáng tác của ông. Bởi vì qua câu chuyện trong Tiếng vọng từ tường đá, người xem có thể thấy được ông rất am hiểu tâm lí của phụ nữ, của người mẹ với con, của người vợ với chồng.

Tiếng vọng từ tường đá cũng tràn ngập âm hưởng về bệnh tật, cái chết, sự bất tử - những chủ đề chính trong thơ của Emily Dickinson. Do đó, khi chuyển thể câu chuyện này, đạo diễn Eric D. Howell đã cố gắng để sao cho từng phân cảnh trong phim đều như một câu thơ xanh xao, u buồn. Điều này thể hiện qua cách Howell sử dụng ánh sáng trong phim. Những cảnh ngoại trong phim phần lớn được bao phủ bởi lớp sương mù dày đặc khiến người xem dễ liên tưởng đến thứ không khí uể oải đặc trưng tương tự của London trong những ngày sương mù. Trong khi đó, những cảnh nội của phim được thiết kế với tông màu chủ đạo là nâu xám lại khiến người xem như bị vây lấy bởi những điều bí ẩn xưa cũ trong ngôi nhà. Như vậy, dù là trong cảnh nội hay cảnh ngoại, người xem cũng sẽ khó lòng thoát khỏi giây phút nào nỗi buồn, sự cô đơn của nhân vật.

Ngoài ra, rất nhiều chi tiết trong Tiếng vọng từ tường đá cho thấy sự ảnh hưởng từ những tác phẩm của Edgar Allan Poe: The Black Cat, The Fall of the House of Usher… Trong Tiếng vọng từ tường đá, có một đoạn nhân vật nhắc đến tập tục chôn mèo sống trong những bức tường liền kề với tường nhà hàng xóm để xua đuổi những điềm dữ - chi tiết này dễ khiến người xem liên tưởng đến tác phẩm The Black Cat của Poe. Tuy nhiên, bản thân đạo diễn Eric D. Howell lại cho rằng bộ phim mang không khí gần với phim Rebecca (đoạt giải Oscar phim xuất sắc nhất năm 1941) của đạo diễn Hitchcock: “Tiếng vọng từ tường đá có một kịch bản khiến bạn phải thét lên khi trùm chăn đọc dưới ánh đèn flash. Nó giống như diễn lại câu chuyện thần tiên của Hitchcock nhưng đặt dưới bối cảnh Tuscany năm 1950 với những nhân vật bí ẩn và một hồn ma phản diện.”

Trong Tiếng vọng từ tường đá, người xem sẽ gặp lại Emilia Clarke – nàng Louisa kiều diễm năm nào của Trước ngày em đến (Me before you). Verena cũng có tính cách mạnh mẽ tương tự như Louisa. Nhưng khác với Lou, nàng không còn gia đình, nàng cô độc hơn; và vì thế, nàng đồng thời vừa mạnh mẽ hơn, vừa yếu đuối hơn. Ở Tiếng vọng từ tường đá, Emilia vẫn tận dụng được ưu điểm là nụ cười tươi sáng như trong Trước ngày em đến. Nhưng thêm vào đó, nàng còn có đôi mắt u buồn khiến người xem như bị cuốn vào sâu bên trong đôi mắt ấy ở những cảnh cận. Vậy nên, Verena của Emilia rất có thể sẽ khiến bạn vui cùng nàng, khóc cùng nàng – một con người cô độc cần được yêu thương. Nàng sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc tìm lại giọng nói cho cậu bé Jakob trầm tính? Cũng như, nàng sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc tìm hạnh phúc cho chính mình?

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Lavender: Chiếc hộp rỗng lưu trữ tàn dư của những thứ-đã-từng-tồn-tại

Published

on

By

Là một phim có không khí căng thẳng như phim kinh dị nhưng Lavender lại tích hợp trong nó nhiều thể loại phim khác nhau: tâm lí, gia đình, hình sự… Đó dường như là dụng ý của đạo diễn Ed Gass-Donnelly khi cố gắng tái hiện lại những phần kí ức phân mảnh của Jane (Abbie Cornish) – một người phụ nữ chịu nhiều tổn thương và có những ẩn ức sâu kín trong quá khứ.

Jane là nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Cô thích chụp ảnh những ngôi nhà cũ bị bỏ hoang trong các nông trại – đó gần như là chủ đề chính trong sáng tác của cô. Những ngôi nhà hoang luôn có sức hút kì lạ với cô vì cô cho rằng chúng giữ lại một phần đời sống của gia đình đã từng ở đó trước đây, nó là chiếc hộp rỗng lưu trữ tàn dư của những thứ-đã-từng-tồn-tại. Và rồi, một tai nạn xe xảy ra mà dư chấn của nó đã khiến Jane bắt đầu tiếp xúc với những hiện tượng kì lạ, những manh mối giúp cô tìm về ngôi nhà tuổi thơ - nơi vẫn còn ẩn chứa nhiều bí mật đằng sau vụ thảm sát kinh hoàng khiến toàn bộ thành viên gia đình Jane đều tử vong, ngoại trừ Jane may mắn sống sót. Vào đêm định mệnh hai mươi năm về trước, điều gì đã xảy ra?

Thông thường ở những phim kinh dị hay các phim hình sự, nhân vật sẽ bị vật thể siêu nhiên (ma, quỉ…) hay vật thể giống siêu nhiên (con người giả làm ma quỉ) ám hại ở thời điểm hiện tại của câu chuyện. Nhưng Lavender lại có cách tiếp xúc câu chuyện khá kì lạ: sự kiện kinh hoàng nhất trong phim đã diễn ra ở thì quá khứ, cách xa thời điểm hiện tại đến những hai mươi năm. Vì vậy, sự kiện kinh hoàng ấy không phải là thứ được trình hiện trước khán giả như một trải nghiệm đồng thời với nhân vật. Ngược lại, sự kiện ấy chỉ là động cơ cho câu chuyện bắt đầu và thứ mà khán giả trải nghiệm cùng nhân vật chính là hành trình tái hiện lại sự kiện ấy bằng những mẩu kí ức rời rạc, cơ hồ không đáng tin cậy. Chính vì có điểm lùi với sự kiện kinh hoàng rất xa như thế, Lavender không có nhiều cảnh ghê rợn đáng sợ như các phim kinh dị thông thường của những nhà làm phim Hollywood. Đó cũng là điều đạo diễn Ed Gass-Donnelly tâm niệm: “Tôi luôn xem Lavender như sự đối lập với thể loại phim kinh dị hiện đại: nó không có những cảnh máu me cũng như không thỏa mãn thị hiếu thông thường, mọi sự căng thẳng và khiếp sợ hơn là một cú shock đơn thuần.”

Thêm vào đó, Donnelly còn chia sẻ rằng: “Thay vì là fan của thể loại phim kinh dị nặng nề, tôi luôn bị cuốn hút bởi dòng phim tâm lí li kì và bí ẩn. Rosemary’s Baby, The Shining, The Conversation, Caché, The Others, The Machinist là những tác phẩm ảnh hưởng đến tôi từ thời thơ ấu và trong suốt quá trình trưởng thành. Sự khiếp sợ trong tâm tưởng, theo tôi, thú vị hơn rất nhiều so với nỗi dằn vặt thể xác.” Có thể thấy được trong Lavender sự ảnh hưởng về mặt không khí rõ rệt từ các phim như Rosemary’s Baby hay The Others. Điểm chung của cả ba phim kinh dị về tâm lí này là sự nữ tính. Giống như Rosemary’s Baby, The Others, nhân vật chính trong Lavender cũng là một người mẹ. Vì vậy, sự căng thẳng trong phim không chỉ đến từ các mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến Jane mà còn là những yếu tố tiềm tàng hiểm họa đe dọa Alice - con gái của Jane. Do đó, Lavender không chỉ là cuộc đấu tranh sinh tồn của người phụ nữ bị bóng ma quá khứ đè nặng lên người, nó còn là sự bảo vệ và tình yêu rất đỗi dịu dàng của một người mẹ thương con - ở điểm này, Jane không khác gì Rosemary (Rosemary’s Baby) hay Grace (The Others).

Trong Lavender, khán giả sẽ thấy rằng mối nguy hiểm không phải lúc nào cũng đến từ bóng tối hay các không gian nhỏ bé, khuất hẹp. Ở trước căn nhà cũ của Jane là một cánh đồng mênh mông rộng lớn. Và ngay tại cánh đồng ấy, người xem vẫn có thể rợn lên cảm giác ghê sợ khi nhìn nhân vật đứng một mình trên cánh đồng rộng xa ngút tầm mắt không một bóng người với những âm thanh trầm mặc kì lạ, thoảng hoặc vang lên trong không trung. Và như thế, đạo diễn Ed Gass-Donnelly đã làm được nhiệm vụ nới rộng vùng nguy hiểm, thu hẹp vùng an toàn lại – một điều rất cần thiết để tạo ra tâm lí căng thẳng trong những phim kinh dị, hồi hộp.

Bên cạnh sự căng thẳng, Lavender còn đem đến cho khán giả cuộc khảo sát thú vị về tâm lí của những đứa trẻ chịu nhiều tổn thương tinh thần và dư chấn của chúng ảnh hưởng đến đứa trẻ khi trưởng thành như thế nào. Về điều này, đạo diễn Donnelly chia sẻ rằng: “Nhiều năm trước, tôi đã tận mắt chứng kiến thời điểm một người bạn bất giác nhớ lại tuổi thơ bị đối xử tệ bạc mà thậm chí trước đây người ấy chưa từng nghĩ rằng nó có tồn tại. Nó giống như một mảnh vỡ nằm sâu bất chợt sống dậy mãnh liệt và phơi bày ra ánh sáng. Thật đáng sợ và đầy e ngại. Không chỉ là kí ức, đó còn là tâm trí được tự chữa lành hoàn hảo, chôn vùi tất cả trong sự minh bạch, tựa như một dữ liệu ban sơ đợi chờ được khai quật nhiều năm sau đó.”

Và vì thế, Lavender không nhấn mạnh nỗi sợ hãi khi con người phải đối đầu với thế lực tà ác. Ngược lại, nó bắt con người đối diện với kí ức đau thương đã bị bản thân lãng quên, đối diện với chính quá khứ của mình. Nó trở thành thứ uốn cong lằn ranh giữa ký ức và loạn trí, quá khứ và hiện tại, hệt như mảnh vụn của trí não đấu tranh tìm cách thoát ra vùng tối trong tiềm thức.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng