Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Những người đàn ông không có đàn bà: Haruki, ông có tiến gần hơn đến câu trả lời mà ông đang tìm kiếm?

Những cuộc đối thoại như thế cho tôi cảm giác rằng Haruki ngày nay đã vững vàng hơn rất nhiều trong niềm tin dành cho con người, ông không còn dễ dàng để mọi thứ mong manh trôi qua trong sự hoài nghi và im lặng nữa.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Sau Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương, đã một năm rồi tôi mới có dịp đọc tiếp một tác phẩm mới của Haruki ra mắt bản dịch tiếng Việt trong năm nay: Những người đàn ông không có đàn bà. Khi lật sơ lược qua toàn thể tập truyện ngay khoảnh khắc vừa cầm nó trên tay, tôi đã có một cảm giác khác lạ, một cảm giác trước đây tôi chưa từng trải qua. Tôi biết ngay được nguyên nhân nằm ở đâu: trong bảy truyện nằm trong tập truyện ngắn này thì có hai truyện tôi đã đọc trước đây trên mạng. Trong kinh nghiệm đọc sách của tôi, đây là lần đầu tiên tôi đọc một quyển sách mà nội dung của nó không hoàn toàn là thứ tôi chưa đọc. Những thứ tôi đã đọc giờ đây xuất hiện dưới một dạng thức khác và đang hòa lẫn vào thứ tôi chưa đọc. Hai truyện ngắn mà tôi đã đọc trước đó là YesterdaySamsa đang yêu. Tính trong vị trí tương quan các truyện nằm trong tập truyện thì hai truyện này vô tình nằm ở vị trí đối xứng nhau: Yesterday là truyện liền sau truyện thứ nhất và Samsa đang yêu lại là truyện liền trước truyện cuối cùng. Vậy là vô tình tôi có hai điểm neo quen thuộc trong hành trình khám phá hải cảng mới này. Cảm giác ấy khá lạ lẫm. Nó chẳng phải là cảm giác hồi hộp, háo hức khám phá một người bạn mới nhưng đồng thời cũng không phải là cuộc hội ngộ để tìm hiểu lại về nhau giữa những người bạn cũ. Bây giờ, sau khi đọc xong tập truyện ngắn này, tôi nhận ra rằng không chỉ là cảm giác khi đọc mà chính bản thân việc đọc tập truyện này với tôi cũng mang tính “lưỡng nghĩa” giống như khi Kino trầm tư về ý nghĩa việc bầy rắn bò quanh nhà anh vậy. Tôi nhận ra những thay đổi của Haruki trong suy tư (hay ít nhất là tôi nghĩ vậy), tôi nhận ra những thay đổi trong cách nghĩ của mình về lối viết của Haruki, và rồi tôi nhận ra những thay đổi của chính mình thông qua việc nhận biết chuỗi thay đổi diễn ra trước đó. Và sự thay đổi này, tôi cũng không rõ có thể định danh nó là tích cực hay tiêu cực.

Khi quay lại thì không còn chính xác là nơi cũ nữa

Trước khi tiếp tục viết cảm nhận của mình về Những người đàn ông không có đàn bà, tôi muốn viết bên lề một chút về cách tôi vẫn gọi ông trong tâm thức và khi trò chuyện với bạn bè. Như những gì tôi đã viết ở trên, tôi luôn gọi ông là Haruki, chưa bao giờ tôi gọi ông là Murakami cả. Việc này đến với tôi thật tự nhiên. Ngay từ lần đầu đọc tên ông, tôi đã nghĩ nếu có thể gọi ông bằng một cái tên ngắn gọn hơn, tôi sẽ gọi ông là Haruki. Tôi thích gọi tên một người nào đó hơn là họ của người ấy dù không có đủ sự thân thiết. Lí thuyết là ta không thể gọi tên một người Nhật trống trơn nếu không đủ thân thiết, ta chỉ có thể gọi người đó bằng họ. Nhưng trên thực tế, có những người ta sẽ không bao giờ có đủ sự thân thiết với họ để chuyển đổi xưng hô, vậy nên tôi tự cho phép bản thân mình gọi những người đó bằng tên nếu như tôi thích gọi họ như thế. Haruki. Mỗi lần gọi tên ông như thế, tôi lại liên tưởng đến cảm giác thân mật trong tâm tưởng. Tôi nghĩ những mối quan hệ chỉ thân mật trong tâm tưởng là những mối quan hệ thật đặc biệt. Ít ra đó là một trong những điều tuyệt vời mà một người có thể tận hưởng nó trong vai trò là độc giả đối với tác giả mình yêu thích. Trong vai trò của người đọc, bản thân việc được thưởng thức tác phẩm hay đã là điều tuyệt vời, nhưng sự chia sẻ mối quan hệ thân mật trong tâm tưởng với người viết mình yêu thích cũng là một điều thú vị không kém. Tuy vậy, không phải lúc nào tác giả mình yêu thích cũng đồng thời là người mang đến cho mình cảm giác thân mật đó. Ít ra, với trường hợp của tôi là như vậy và Haruki là một trong số ít tác giả đồng thời mang đến cho tôi hai cảm giác đó: vừa yêu thích, vừa thân mật. Việc gọi ông là Haruki trở thành điều hiển nhiên đến mức khi tôi gặp ai đó gọi ông là Murakami, tôi lập tức cảm thấy rất xa lạ. Từ lâu tôi vẫn luôn nghĩ rằng nếu chỉ gọi ông là Murakami thì chẳng phải sẽ dễ bị nhầm lẫn với Murakami Ryu sao? Mỗi lần nghe ai gọi ông là Murakami, tôi lại hỏi như thế. Câu trả lời tôi nhận lại luôn là sẽ không có sự nhầm lẫn đáng kể vì ở Việt Nam Murakami Haruki nổi tiếng hơn Murakami Ryu, khi nhắc đến Murakami, người ta sẽ nghĩ đến Haruki nhiều hơn Ryu. Nhưng như thế chẳng phải là có chút bất công cho Ryu sao? Về điểm này, tôi nhận thấy mình khá cực đoan. Tuy không muốn phân biệt nhưng tôi nhận ra mình dễ dàng nói chuyện về Haruki với những người cũng gọi ông là Haruki hơn những người gọi ông là Murakami dù tôi biết rằng cách gọi nào cũng đều là ông và đó không phải điều quan trọng lắm.

Nhưng tại sao tôi lại viết điều không quan trọng lắm ấy ra đây?

Bởi vì qua những truyện trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà, Haruki lại một lần nữa giúp tôi nhận ra có những điều dù thoạt nhìn qua có vẻ như nó không quan trọng lắm nhưng nếu soi chiếu thật sâu, có thể ta sẽ tìm ra những ý nghĩa của nó mà ta đã vô tình bỏ sót, cũng có thể ta sẽ nhận ra đó lại chính là điều quan trọng. Drive my car, Yesterday… là những truyện soi vào các điều tưởng chừng không quan trọng ấy. Drive my car mở đầu bằng việc Kafuku muốn tìm một người lái xe thay anh trong khoảng thời gian anh không thể lái xe, Yesterday mở đầu bằng lời bài hát Yesterday trong tiếng Kansai do Kitaru viết lại lời… Những việc đó, thoạt đầu khi vừa đọc qua, ta sẽ thấy có vẻ như đó là những điều không mấy quan trọng nhưng bằng sự tỉ mỉ trong quan sát như mọi khi, Haruki dần cho người đọc cảm nhận một cách tự nhiên rằng dường như có điều gì đó quan trọng hơn vẻ bề ngoài không mấy quan trọng của những hành động này, dường như có điều gì đó ẩn giấu sau những suy nghĩ của Kafuku về việc ngồi trong xe do đàn ông lái hay phụ nữ lái, thói quen chạy xe, sử dụng xe của anh; dường như có điều gì đó khuất lấp sau Kitaru, một người vùng Kantou lại học tiếng Kansai hết sức bài bản và nhiệt thành như thế… Và cứ thế, chúng ta từ từ khám phá câu chuyện của họ, dần dần nhận ra có những khoảng trống nào đó chen vào giữa những điều tưởng chừng không quan trọng ấy, cố gắng tìm hiểu những khoảng trống đó, cùng nhân vật lấp đầy nó bằng những hồi ức được hé lộ. Thế nhưng, khoảng trống giữa các sự kiện ấy trong những truyện của Haruki không bao giờ được lấp đầy hoàn toàn.

Drive my car, Cơ quan độc lập, Scheherazade, Những người đàn ông không có đàn bà đều bắt đầu bằng một sự kiện mà người đọc không biết được nguyên nhân khởi điểm, điều này dễ khiến người đọc có cảm giác mình đột ngột bị ném vào câu chuyện này trong khi chưa nắm được điều gì đã xảy ra trước đó. Và sau đó, bằng việc tiếp tục theo dõi câu chuyện, người đọc biết được những sự kiện đã xảy ra trước đó để lấp vào khoảng trống mà mình không hiểu rõ khi câu chuyện vừa bắt đầu để rồi sau đó lại quay về điểm khởi đầu hoặc cùng nhân vật đi tiếp các sự kiện diễn ra sau sự kiện khởi đầu và kết thúc câu chuyện. Kiểu cấu trúc này gợi ra hành trình tìm hiểu bản thân bằng cách quay về quá khứ – đồng nghĩa với việc thoát khỏi bản thân ở hiện tại, rồi cuối cùng lại trở về với bản thân ở hiện tại. Nhưng vì khoảng trống không được lấp đầy hoàn toàn hoặc khi ngược về những sự kiện trước đó, ta lại thấy xuất hiện thêm những khoảng trống khác nên ta không hoàn toàn thực sự quay về khởi điểm của câu chuyện. Cảm giác này có lẽ cũng tương tự cảm giác của Kafuku khi nhận định về việc diễn xuất của anh: “Thoát khỏi bản thân, rồi lại trở về với bản thân. Nhưng khi quay lại thì không còn chính xác là nơi cũ nữa.” Tôi nghĩ đó cũng chính là điều tuyệt vời ở bốn truyện ngắn này của Haruki khi mà ở điểm kết thúc, người đọc nhận ra mình được đẩy xa hơn điểm khởi đầu của câu chuyện dù bản thân câu chuyện đang quay trở lại điểm khởi đầu của nó, ngay cả những nhận định, cảm giác về các sự kiện khởi đầu của người đọc cũng được thay đổi – không phải theo kiểu chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác mà là chuyển từ góc nhìn này sang góc nhìn khác khi biết được những sự kiện trước nó hay những sự kiện hỗ tương cho nó. Quá trình theo dõi bốn câu chuyện này cũng làm tôi nhớ đến một câu nói quen thuộc mà không nhớ là của ai nói: “Cuộc sống giống như là đến rạp chiếu phim trễ và chúng ta đang xem một bộ phim đã chiếu từ trước đó vậy. Ta không hiểu chuyện gì đang xảy ra và chỉ bằng cách xem tiếp hay sống tiếp, cố gắng kết nối những sự kiện mới lại với nhau, nhận ra cấu trúc của nó, dần dần chúng ta mới hiểu được mình hơn trong quá khứ và biết được rốt cuộc chuyện gì đang diễn ra.”

Nếu Scheherazade biến mất…

Xét ở một góc độ khác, tất cả những truyện trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà (ngoại trừ truyện Samsa đang yêu vốn không nằm trong tập truyện gốc) đều được viết dưới góc nhìn của người kể lại những gì đã qua, không phải của người đang trải nghiệm những điều ấy ở thì hiện tại trong câu chuyện cùng người đọc. Vì thế, người đọc luôn ở trong biên độ hiểu biết về câu chuyện ít hơn nhân vật và chính điều này duy trì sự bí ẩn của nhân vật với người đọc. “Rõ ràng có chuyện gì đó trước đây đã xảy ra với người này, một điểm gãy đổ nào đó đã diễn ra. Liệu người đó có kể ra hết tất cả những chuyện đã xảy ra trong quá khứ để mình hiểu hơn về điểm gãy đổ đó không?” Trong quá trình đọc tập truyện ngắn này, tôi thường hay tự hỏi mình những câu tương tự như thế và nhờ đó mà nhận ra rõ ràng rằng khi người đọc tiếp xúc câu chuyện với dữ kiện thông tin ít hơn nhân vật rất nhiều thì trong vô thức, có thể người đọc sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng rằng liệu khi kết thúc câu chuyện, nhân vật – cái người trên cơ ấy có chịu tiết lộ cho độc giả – những người dưới cơ biết hết những gì đã diễn ra hay không? Trong trường hợp của Haruki hay những nhân vật của Haruki thì câu trả lời không hẳn là có mà cũng không hẳn là không. Bởi lẽ có những truyện rõ ràng ông không tiết lộ hết, có những truyện dù ông tiết lộ hết nhưng chính từ góc nhìn của một người kể lại, người đọc không thể tránh khỏi việc tự chất vấn về tính toàn vẹn của câu chuyện mà truyện điển hình nhất là Cơ quan độc lập vì sự kiện quan trọng nhất trong truyện không được người kể chuyện chứng kiến mà chỉ là kể lại dựa trên lời kể lại của một người khác. Thế nhưng sự mơ hồ và lưỡng nghĩa đó ở văn phong của ông vẫn luôn là thứ thu hút người đọc. Haruki đã đưa người đọc đến gần với tâm trạng của Habara khi nghe những câu chuyện do Scheherazade kể: “Nếu Scheherazade biến mất, Habara sẽ không còn được nghe chuyện của cô nữa. Mạch chuyện bị ngắt, những câu chuyện kì lạ, bí ẩn lẽ ra được kể cứ thế biến mất mà không bao giờ được kể.” Khi đọc truyện của Haruki, tôi thường có tâm trạng sợ rằng câu chuyện sắp kết thúc, nhân vật sắp biến mất mà mình vẫn chưa kịp hiểu rõ về họ, chưa kịp biết những dữ kiện thông tin mình muốn biết. Như thế, Haruki đã thực sự trở thành Scheherazade và người đọc hạnh phúc khi thấy mình là Habara.

Bên cạnh việc duy trì khoảng cách, cảm giác bí ẩn của người đọc đối với nhân vật, tôi nghĩ rằng lối kẻ lại cũng tạo được cảm giác “bình tĩnh đến kì lạ” mà ở bìa 4 cuốn sách, Nhã Nam có viết. Bởi lẽ khi người đọc theo dõi một câu chuyện không phải từ điểm nhìn đồng hành cùng nhân vật lúc nó đang xảy ra mà nhận thức được rõ đây là câu chuyện do nhân vật đã trải qua và kể lại thì trong chính lời kể của nhân vật, trong chính tâm thức của người đọc sẽ có một lớp màng mỏng phân cách giữa thời gian việc được kể thực sự xảy ra và thời gian kể câu chuyện. Sự phân tách rạch ròi đó, sự biết rằng dù sao đó cũng là việc đã xảy ra rồi có lẽ chính là một phần tạo nên thứ cảm giác “bình tĩnh đến kì lạ” ấy.

Những cái tên, người kể chuyện, sự chắc chắn và không chắc chắn

Đọc Những người đàn ông không có đàn bà, đôi chỗ tôi không thể tránh khỏi cảm giác “biết tỏng như thế rồi” khi bắt gặp những chi tiết quen thuộc thường xuyên lặp lại trong truyện của ông. Cái tên Kafuku trong Drive my car, thoạt tiên khiến tôi liên tưởng ngay đến Kafka trong Kafka bên bờ biển. Tôi tin là ông đã nghĩ đến Kafka khi đặt cho nhân vật tên Kafuku. Chi tiết Misaki hỏi lại Kafuku rằng liệu Kafuku có phải họ thật của anh không cũng làm tôi nhớ đến truyện Tony Takitani, việc Tony Takitani luôn nhấn mạnh rằng đó là tên thật của anh. Thế nhưng, ngay chính giây phút nhân vật luôn nhấn mạnh rằng đó là tên thật của mình lại là lúc tôi cảm thấy câu chuyện trở nên mờ ảo hơn. Nếu như tất cả các nhân vật trong thế giới của Haruki đều chấp nhận một cái tên lạ so với người Nhật, chúng ta sẽ không còn quá băn khoăn về tính chất của cái tên nữa, tên lạ ấy mặc nhiên sẽ trở thành một hiện thực được chấp nhận trong thế giới hư cấu của ông. Nhưng Haruki không chỉ dừng ở việc gán cho nhân vật một cái tên lạ, ông còn ném vào cái tên ấy giả thuyết đó có thể là tên không thật cùng với lời khẳng định đó chính là tên thật như bất cứ tên thật nào. Có lẽ ông không muốn người đọc dễ dàng chấp nhận tên lạ như một điều hiển nhiên, người ta phải tự vấn trong một khoảnh khắc và rồi sau đó lại nhận ra thật giả cũng không quan trọng vì trong thật có giả, trong giả có thật, hệt như cách các nhân vật của Haruki trao đổi thông tin cho nhau vậy: luôn có một điều gì đó không chắc chắn trong thái độ chắc chắn và một điều gì đó chắc chắn trong thái độ không chắc chắn.

Ở tập truyện ngắn này, một lần nữa người đọc lại có thể thấy hình bóng Haruki rõ ràng qua hai truyện ngắn: Yesterday, Cơ quan độc lập. Trong hai truyện ngắn này đều có chung một nhân vật là nhà văn Tanimura. Ngay từ cái tên, Tanimura cũng dễ khiến người đọc liên tưởng đến ông – Murakami do cùng có điểm tương đồng là ‘Mura’. Điều này cũng tương tự với lối chơi chữ mà ông từng xây dựng cho nhân vật nhà văn Makimura Hiraku (gần giống với Murakami Haruki) trong Nhảy Nhảy Nhảy. Trong cả hai truyện mà Tanimura xuất hiện, nhân vật này đều đóng vai trò là người kể chuyện ngôi thứ nhất nhưng dường như lại nằm bên lề câu chuyện (Cơ quan độc lập), hoặc chỉ là người đóng vai trò trung gian để làm nổi bật nhân vật khác (Yesterday). Điều này khiến tôi nhớ đến cách kể chuyện của Haruki trong Người tình Sputnik. Người tình Sputnik, nhân vật tôi cũng không phải là nhân vật chính và chỉ đơn thuần đóng vai trò kể chuyện lại. Lối kể chuyện này không phải là hiếm hay mới mẻ nhưng trong trường hợp của Haruki, tôi nhận thấy ông ít khi kể chuyện theo lối này. Ông thường kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba, có thể đơn tuyến hay đa tuyến. Việc chọn ngôi thứ nhất để kể lại câu chuyện của những nhân vật ở ngôi thứ ba khiến tôi tự hỏi liệu việc này có phải là biểu hiện cho sự tương tác nhiều hơn giữa ông và những người xung quanh không? Ông đã tìm được mối liên kết vững chắc hơn với họ và bây giờ ông cúi mình xuống, lắng nghe những câu chuyện của họ. Đó là điều mà tôi chỉ mới nhận thấy trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà, là điều mà tôi nghĩ rằng đó là sự thay đổi nơi ông.

Cuộc đối thoại ấm áp trong thế giới còn nhiều điều phải học

Ngoài ra, các truyện ngắn trong Những người đàn ông không có đàn bà còn có một điểm chung khiến tôi lưu ý: mật độ đối thoại. Ngoại trừ Kino, Những người đàn ông không có đàn bà có ít đối thoại, sáu truyện ngắn còn lại đều dành rất nhiều dung lượng cho đối thoại giữa các nhân vật với nhau (Yesterday, Drive my car, Cơ quan độc lập) hoặc đôi khi người đọc còn có thể nhận thấy chính mong muốn được đối thoại lại là thứ thúc đẩy câu chuyện diễn tiến (Scheherazade, Samsa đang yêu). Điều này không làm tôi thấy khó chịu, ngược lại tôi còn thấy vui. Trong nhiều tác phẩm trước đây của Haruki, các nhân vật cô đơn thường hay chọn sự im lặng; những khi đối thoại với nhau, họ ít nói ra điều mình hoang mang; những khi gặp biến cố lớn, phản ứng của họ thường là im lặng hoặc biến mất. Nhưng trong Những người đàn ông không có đàn bà, tôi nhận thấy các nhân vật của Haruki bây giờ dù vẫn cô đơn nhưng họ đã chịu cởi mở hơn với số ít những người gắn bó trong thế giới của họ. Cuộc đối thoại giữa Kafuku và Misaki, giữa Tokai và Tanimura, giữa Samsa và cô gái lưng gù là những cuộc đối thoại khiến tôi cảm thấy vui và ấm áp nhiều nhất trong tập truyện ngắn này. Bởi lẽ tôi nghĩ đó là những cuộc đối thoại không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng bắt gặp trong các tác phẩm của Haruki, đó là những cuộc đối thoại giữa hai con người tưởng chừng không có chút điểm nào chung nhưng thông qua việc trò chuyện cùng nhau, họ trở nên cởi mở với nhau hơn, chân tình với nhau hơn và dù ít, dù nhiều, họ nhận lại được sự đồng cảm nơi người kia. Những cuộc đối thoại như thế cho tôi cảm giác rằng Haruki ngày nay đã vững vàng hơn rất nhiều trong niềm tin dành cho con người, ông không còn dễ dàng để mọi thứ mong manh trôi qua trong sự hoài nghi và im lặng nữa. Samsa đã rất mạnh mẽ bày tỏ mong muốn được gặp lại cô gái lưng gù dù còn nhiều điều trong thế giới này anh chưa hiểu và cần phải học nhưng anh đã biết rõ điều mình mong muốn. Tôi tin rằng anh sẽ có thể gặp lại cô gái ấy. Và tôi tin rằng Haruki cũng đang tiến gần hơn đến những câu trả lời mà ông luôn tìm kiếm. Nhưng kể cả không tìm được, có lẽ bây giờ ở khía cạnh nào đó ngay cả chính những câu hỏi cũng khiến ông hạnh phúc với tâm thế như một người vẫn còn đang học hỏi về thế giới. Có lẽ giống như Samsa vậy. Có lẽ đó không còn là sự đau khổ và tạm chấp nhận giống Toru ngày xưa nữa. Tôi tin là như thế. Có lẽ.

Hết.

Kodaki


Muôn màu của Haruki Murakami




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng