Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Những người đàn ông không có đàn bà: Haruki, ông có tiến gần hơn đến câu trả lời mà ông đang tìm kiếm?

Những cuộc đối thoại như thế cho tôi cảm giác rằng Haruki ngày nay đã vững vàng hơn rất nhiều trong niềm tin dành cho con người, ông không còn dễ dàng để mọi thứ mong manh trôi qua trong sự hoài nghi và im lặng nữa.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Sau Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương, đã một năm rồi tôi mới có dịp đọc tiếp một tác phẩm mới của Haruki ra mắt bản dịch tiếng Việt trong năm nay: Những người đàn ông không có đàn bà. Khi lật sơ lược qua toàn thể tập truyện ngay khoảnh khắc vừa cầm nó trên tay, tôi đã có một cảm giác khác lạ, một cảm giác trước đây tôi chưa từng trải qua. Tôi biết ngay được nguyên nhân nằm ở đâu: trong bảy truyện nằm trong tập truyện ngắn này thì có hai truyện tôi đã đọc trước đây trên mạng. Trong kinh nghiệm đọc sách của tôi, đây là lần đầu tiên tôi đọc một quyển sách mà nội dung của nó không hoàn toàn là thứ tôi chưa đọc. Những thứ tôi đã đọc giờ đây xuất hiện dưới một dạng thức khác và đang hòa lẫn vào thứ tôi chưa đọc. Hai truyện ngắn mà tôi đã đọc trước đó là YesterdaySamsa đang yêu. Tính trong vị trí tương quan các truyện nằm trong tập truyện thì hai truyện này vô tình nằm ở vị trí đối xứng nhau: Yesterday là truyện liền sau truyện thứ nhất và Samsa đang yêu lại là truyện liền trước truyện cuối cùng. Vậy là vô tình tôi có hai điểm neo quen thuộc trong hành trình khám phá hải cảng mới này. Cảm giác ấy khá lạ lẫm. Nó chẳng phải là cảm giác hồi hộp, háo hức khám phá một người bạn mới nhưng đồng thời cũng không phải là cuộc hội ngộ để tìm hiểu lại về nhau giữa những người bạn cũ. Bây giờ, sau khi đọc xong tập truyện ngắn này, tôi nhận ra rằng không chỉ là cảm giác khi đọc mà chính bản thân việc đọc tập truyện này với tôi cũng mang tính “lưỡng nghĩa” giống như khi Kino trầm tư về ý nghĩa việc bầy rắn bò quanh nhà anh vậy. Tôi nhận ra những thay đổi của Haruki trong suy tư (hay ít nhất là tôi nghĩ vậy), tôi nhận ra những thay đổi trong cách nghĩ của mình về lối viết của Haruki, và rồi tôi nhận ra những thay đổi của chính mình thông qua việc nhận biết chuỗi thay đổi diễn ra trước đó. Và sự thay đổi này, tôi cũng không rõ có thể định danh nó là tích cực hay tiêu cực.

Khi quay lại thì không còn chính xác là nơi cũ nữa

Trước khi tiếp tục viết cảm nhận của mình về Những người đàn ông không có đàn bà, tôi muốn viết bên lề một chút về cách tôi vẫn gọi ông trong tâm thức và khi trò chuyện với bạn bè. Như những gì tôi đã viết ở trên, tôi luôn gọi ông là Haruki, chưa bao giờ tôi gọi ông là Murakami cả. Việc này đến với tôi thật tự nhiên. Ngay từ lần đầu đọc tên ông, tôi đã nghĩ nếu có thể gọi ông bằng một cái tên ngắn gọn hơn, tôi sẽ gọi ông là Haruki. Tôi thích gọi tên một người nào đó hơn là họ của người ấy dù không có đủ sự thân thiết. Lí thuyết là ta không thể gọi tên một người Nhật trống trơn nếu không đủ thân thiết, ta chỉ có thể gọi người đó bằng họ. Nhưng trên thực tế, có những người ta sẽ không bao giờ có đủ sự thân thiết với họ để chuyển đổi xưng hô, vậy nên tôi tự cho phép bản thân mình gọi những người đó bằng tên nếu như tôi thích gọi họ như thế. Haruki. Mỗi lần gọi tên ông như thế, tôi lại liên tưởng đến cảm giác thân mật trong tâm tưởng. Tôi nghĩ những mối quan hệ chỉ thân mật trong tâm tưởng là những mối quan hệ thật đặc biệt. Ít ra đó là một trong những điều tuyệt vời mà một người có thể tận hưởng nó trong vai trò là độc giả đối với tác giả mình yêu thích. Trong vai trò của người đọc, bản thân việc được thưởng thức tác phẩm hay đã là điều tuyệt vời, nhưng sự chia sẻ mối quan hệ thân mật trong tâm tưởng với người viết mình yêu thích cũng là một điều thú vị không kém. Tuy vậy, không phải lúc nào tác giả mình yêu thích cũng đồng thời là người mang đến cho mình cảm giác thân mật đó. Ít ra, với trường hợp của tôi là như vậy và Haruki là một trong số ít tác giả đồng thời mang đến cho tôi hai cảm giác đó: vừa yêu thích, vừa thân mật. Việc gọi ông là Haruki trở thành điều hiển nhiên đến mức khi tôi gặp ai đó gọi ông là Murakami, tôi lập tức cảm thấy rất xa lạ. Từ lâu tôi vẫn luôn nghĩ rằng nếu chỉ gọi ông là Murakami thì chẳng phải sẽ dễ bị nhầm lẫn với Murakami Ryu sao? Mỗi lần nghe ai gọi ông là Murakami, tôi lại hỏi như thế. Câu trả lời tôi nhận lại luôn là sẽ không có sự nhầm lẫn đáng kể vì ở Việt Nam Murakami Haruki nổi tiếng hơn Murakami Ryu, khi nhắc đến Murakami, người ta sẽ nghĩ đến Haruki nhiều hơn Ryu. Nhưng như thế chẳng phải là có chút bất công cho Ryu sao? Về điểm này, tôi nhận thấy mình khá cực đoan. Tuy không muốn phân biệt nhưng tôi nhận ra mình dễ dàng nói chuyện về Haruki với những người cũng gọi ông là Haruki hơn những người gọi ông là Murakami dù tôi biết rằng cách gọi nào cũng đều là ông và đó không phải điều quan trọng lắm.

Nhưng tại sao tôi lại viết điều không quan trọng lắm ấy ra đây?

Bởi vì qua những truyện trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà, Haruki lại một lần nữa giúp tôi nhận ra có những điều dù thoạt nhìn qua có vẻ như nó không quan trọng lắm nhưng nếu soi chiếu thật sâu, có thể ta sẽ tìm ra những ý nghĩa của nó mà ta đã vô tình bỏ sót, cũng có thể ta sẽ nhận ra đó lại chính là điều quan trọng. Drive my car, Yesterday… là những truyện soi vào các điều tưởng chừng không quan trọng ấy. Drive my car mở đầu bằng việc Kafuku muốn tìm một người lái xe thay anh trong khoảng thời gian anh không thể lái xe, Yesterday mở đầu bằng lời bài hát Yesterday trong tiếng Kansai do Kitaru viết lại lời… Những việc đó, thoạt đầu khi vừa đọc qua, ta sẽ thấy có vẻ như đó là những điều không mấy quan trọng nhưng bằng sự tỉ mỉ trong quan sát như mọi khi, Haruki dần cho người đọc cảm nhận một cách tự nhiên rằng dường như có điều gì đó quan trọng hơn vẻ bề ngoài không mấy quan trọng của những hành động này, dường như có điều gì đó ẩn giấu sau những suy nghĩ của Kafuku về việc ngồi trong xe do đàn ông lái hay phụ nữ lái, thói quen chạy xe, sử dụng xe của anh; dường như có điều gì đó khuất lấp sau Kitaru, một người vùng Kantou lại học tiếng Kansai hết sức bài bản và nhiệt thành như thế… Và cứ thế, chúng ta từ từ khám phá câu chuyện của họ, dần dần nhận ra có những khoảng trống nào đó chen vào giữa những điều tưởng chừng không quan trọng ấy, cố gắng tìm hiểu những khoảng trống đó, cùng nhân vật lấp đầy nó bằng những hồi ức được hé lộ. Thế nhưng, khoảng trống giữa các sự kiện ấy trong những truyện của Haruki không bao giờ được lấp đầy hoàn toàn.

Drive my car, Cơ quan độc lập, Scheherazade, Những người đàn ông không có đàn bà đều bắt đầu bằng một sự kiện mà người đọc không biết được nguyên nhân khởi điểm, điều này dễ khiến người đọc có cảm giác mình đột ngột bị ném vào câu chuyện này trong khi chưa nắm được điều gì đã xảy ra trước đó. Và sau đó, bằng việc tiếp tục theo dõi câu chuyện, người đọc biết được những sự kiện đã xảy ra trước đó để lấp vào khoảng trống mà mình không hiểu rõ khi câu chuyện vừa bắt đầu để rồi sau đó lại quay về điểm khởi đầu hoặc cùng nhân vật đi tiếp các sự kiện diễn ra sau sự kiện khởi đầu và kết thúc câu chuyện. Kiểu cấu trúc này gợi ra hành trình tìm hiểu bản thân bằng cách quay về quá khứ – đồng nghĩa với việc thoát khỏi bản thân ở hiện tại, rồi cuối cùng lại trở về với bản thân ở hiện tại. Nhưng vì khoảng trống không được lấp đầy hoàn toàn hoặc khi ngược về những sự kiện trước đó, ta lại thấy xuất hiện thêm những khoảng trống khác nên ta không hoàn toàn thực sự quay về khởi điểm của câu chuyện. Cảm giác này có lẽ cũng tương tự cảm giác của Kafuku khi nhận định về việc diễn xuất của anh: “Thoát khỏi bản thân, rồi lại trở về với bản thân. Nhưng khi quay lại thì không còn chính xác là nơi cũ nữa.” Tôi nghĩ đó cũng chính là điều tuyệt vời ở bốn truyện ngắn này của Haruki khi mà ở điểm kết thúc, người đọc nhận ra mình được đẩy xa hơn điểm khởi đầu của câu chuyện dù bản thân câu chuyện đang quay trở lại điểm khởi đầu của nó, ngay cả những nhận định, cảm giác về các sự kiện khởi đầu của người đọc cũng được thay đổi – không phải theo kiểu chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác mà là chuyển từ góc nhìn này sang góc nhìn khác khi biết được những sự kiện trước nó hay những sự kiện hỗ tương cho nó. Quá trình theo dõi bốn câu chuyện này cũng làm tôi nhớ đến một câu nói quen thuộc mà không nhớ là của ai nói: “Cuộc sống giống như là đến rạp chiếu phim trễ và chúng ta đang xem một bộ phim đã chiếu từ trước đó vậy. Ta không hiểu chuyện gì đang xảy ra và chỉ bằng cách xem tiếp hay sống tiếp, cố gắng kết nối những sự kiện mới lại với nhau, nhận ra cấu trúc của nó, dần dần chúng ta mới hiểu được mình hơn trong quá khứ và biết được rốt cuộc chuyện gì đang diễn ra.”

Nếu Scheherazade biến mất…

Xét ở một góc độ khác, tất cả những truyện trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà (ngoại trừ truyện Samsa đang yêu vốn không nằm trong tập truyện gốc) đều được viết dưới góc nhìn của người kể lại những gì đã qua, không phải của người đang trải nghiệm những điều ấy ở thì hiện tại trong câu chuyện cùng người đọc. Vì thế, người đọc luôn ở trong biên độ hiểu biết về câu chuyện ít hơn nhân vật và chính điều này duy trì sự bí ẩn của nhân vật với người đọc. “Rõ ràng có chuyện gì đó trước đây đã xảy ra với người này, một điểm gãy đổ nào đó đã diễn ra. Liệu người đó có kể ra hết tất cả những chuyện đã xảy ra trong quá khứ để mình hiểu hơn về điểm gãy đổ đó không?” Trong quá trình đọc tập truyện ngắn này, tôi thường hay tự hỏi mình những câu tương tự như thế và nhờ đó mà nhận ra rõ ràng rằng khi người đọc tiếp xúc câu chuyện với dữ kiện thông tin ít hơn nhân vật rất nhiều thì trong vô thức, có thể người đọc sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng rằng liệu khi kết thúc câu chuyện, nhân vật – cái người trên cơ ấy có chịu tiết lộ cho độc giả – những người dưới cơ biết hết những gì đã diễn ra hay không? Trong trường hợp của Haruki hay những nhân vật của Haruki thì câu trả lời không hẳn là có mà cũng không hẳn là không. Bởi lẽ có những truyện rõ ràng ông không tiết lộ hết, có những truyện dù ông tiết lộ hết nhưng chính từ góc nhìn của một người kể lại, người đọc không thể tránh khỏi việc tự chất vấn về tính toàn vẹn của câu chuyện mà truyện điển hình nhất là Cơ quan độc lập vì sự kiện quan trọng nhất trong truyện không được người kể chuyện chứng kiến mà chỉ là kể lại dựa trên lời kể lại của một người khác. Thế nhưng sự mơ hồ và lưỡng nghĩa đó ở văn phong của ông vẫn luôn là thứ thu hút người đọc. Haruki đã đưa người đọc đến gần với tâm trạng của Habara khi nghe những câu chuyện do Scheherazade kể: “Nếu Scheherazade biến mất, Habara sẽ không còn được nghe chuyện của cô nữa. Mạch chuyện bị ngắt, những câu chuyện kì lạ, bí ẩn lẽ ra được kể cứ thế biến mất mà không bao giờ được kể.” Khi đọc truyện của Haruki, tôi thường có tâm trạng sợ rằng câu chuyện sắp kết thúc, nhân vật sắp biến mất mà mình vẫn chưa kịp hiểu rõ về họ, chưa kịp biết những dữ kiện thông tin mình muốn biết. Như thế, Haruki đã thực sự trở thành Scheherazade và người đọc hạnh phúc khi thấy mình là Habara.

Bên cạnh việc duy trì khoảng cách, cảm giác bí ẩn của người đọc đối với nhân vật, tôi nghĩ rằng lối kẻ lại cũng tạo được cảm giác “bình tĩnh đến kì lạ” mà ở bìa 4 cuốn sách, Nhã Nam có viết. Bởi lẽ khi người đọc theo dõi một câu chuyện không phải từ điểm nhìn đồng hành cùng nhân vật lúc nó đang xảy ra mà nhận thức được rõ đây là câu chuyện do nhân vật đã trải qua và kể lại thì trong chính lời kể của nhân vật, trong chính tâm thức của người đọc sẽ có một lớp màng mỏng phân cách giữa thời gian việc được kể thực sự xảy ra và thời gian kể câu chuyện. Sự phân tách rạch ròi đó, sự biết rằng dù sao đó cũng là việc đã xảy ra rồi có lẽ chính là một phần tạo nên thứ cảm giác “bình tĩnh đến kì lạ” ấy.

Những cái tên, người kể chuyện, sự chắc chắn và không chắc chắn

Đọc Những người đàn ông không có đàn bà, đôi chỗ tôi không thể tránh khỏi cảm giác “biết tỏng như thế rồi” khi bắt gặp những chi tiết quen thuộc thường xuyên lặp lại trong truyện của ông. Cái tên Kafuku trong Drive my car, thoạt tiên khiến tôi liên tưởng ngay đến Kafka trong Kafka bên bờ biển. Tôi tin là ông đã nghĩ đến Kafka khi đặt cho nhân vật tên Kafuku. Chi tiết Misaki hỏi lại Kafuku rằng liệu Kafuku có phải họ thật của anh không cũng làm tôi nhớ đến truyện Tony Takitani, việc Tony Takitani luôn nhấn mạnh rằng đó là tên thật của anh. Thế nhưng, ngay chính giây phút nhân vật luôn nhấn mạnh rằng đó là tên thật của mình lại là lúc tôi cảm thấy câu chuyện trở nên mờ ảo hơn. Nếu như tất cả các nhân vật trong thế giới của Haruki đều chấp nhận một cái tên lạ so với người Nhật, chúng ta sẽ không còn quá băn khoăn về tính chất của cái tên nữa, tên lạ ấy mặc nhiên sẽ trở thành một hiện thực được chấp nhận trong thế giới hư cấu của ông. Nhưng Haruki không chỉ dừng ở việc gán cho nhân vật một cái tên lạ, ông còn ném vào cái tên ấy giả thuyết đó có thể là tên không thật cùng với lời khẳng định đó chính là tên thật như bất cứ tên thật nào. Có lẽ ông không muốn người đọc dễ dàng chấp nhận tên lạ như một điều hiển nhiên, người ta phải tự vấn trong một khoảnh khắc và rồi sau đó lại nhận ra thật giả cũng không quan trọng vì trong thật có giả, trong giả có thật, hệt như cách các nhân vật của Haruki trao đổi thông tin cho nhau vậy: luôn có một điều gì đó không chắc chắn trong thái độ chắc chắn và một điều gì đó chắc chắn trong thái độ không chắc chắn.

Ở tập truyện ngắn này, một lần nữa người đọc lại có thể thấy hình bóng Haruki rõ ràng qua hai truyện ngắn: Yesterday, Cơ quan độc lập. Trong hai truyện ngắn này đều có chung một nhân vật là nhà văn Tanimura. Ngay từ cái tên, Tanimura cũng dễ khiến người đọc liên tưởng đến ông – Murakami do cùng có điểm tương đồng là ‘Mura’. Điều này cũng tương tự với lối chơi chữ mà ông từng xây dựng cho nhân vật nhà văn Makimura Hiraku (gần giống với Murakami Haruki) trong Nhảy Nhảy Nhảy. Trong cả hai truyện mà Tanimura xuất hiện, nhân vật này đều đóng vai trò là người kể chuyện ngôi thứ nhất nhưng dường như lại nằm bên lề câu chuyện (Cơ quan độc lập), hoặc chỉ là người đóng vai trò trung gian để làm nổi bật nhân vật khác (Yesterday). Điều này khiến tôi nhớ đến cách kể chuyện của Haruki trong Người tình Sputnik. Người tình Sputnik, nhân vật tôi cũng không phải là nhân vật chính và chỉ đơn thuần đóng vai trò kể chuyện lại. Lối kể chuyện này không phải là hiếm hay mới mẻ nhưng trong trường hợp của Haruki, tôi nhận thấy ông ít khi kể chuyện theo lối này. Ông thường kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba, có thể đơn tuyến hay đa tuyến. Việc chọn ngôi thứ nhất để kể lại câu chuyện của những nhân vật ở ngôi thứ ba khiến tôi tự hỏi liệu việc này có phải là biểu hiện cho sự tương tác nhiều hơn giữa ông và những người xung quanh không? Ông đã tìm được mối liên kết vững chắc hơn với họ và bây giờ ông cúi mình xuống, lắng nghe những câu chuyện của họ. Đó là điều mà tôi chỉ mới nhận thấy trong tập truyện ngắn Những người đàn ông không có đàn bà, là điều mà tôi nghĩ rằng đó là sự thay đổi nơi ông.

Cuộc đối thoại ấm áp trong thế giới còn nhiều điều phải học

Ngoài ra, các truyện ngắn trong Những người đàn ông không có đàn bà còn có một điểm chung khiến tôi lưu ý: mật độ đối thoại. Ngoại trừ Kino, Những người đàn ông không có đàn bà có ít đối thoại, sáu truyện ngắn còn lại đều dành rất nhiều dung lượng cho đối thoại giữa các nhân vật với nhau (Yesterday, Drive my car, Cơ quan độc lập) hoặc đôi khi người đọc còn có thể nhận thấy chính mong muốn được đối thoại lại là thứ thúc đẩy câu chuyện diễn tiến (Scheherazade, Samsa đang yêu). Điều này không làm tôi thấy khó chịu, ngược lại tôi còn thấy vui. Trong nhiều tác phẩm trước đây của Haruki, các nhân vật cô đơn thường hay chọn sự im lặng; những khi đối thoại với nhau, họ ít nói ra điều mình hoang mang; những khi gặp biến cố lớn, phản ứng của họ thường là im lặng hoặc biến mất. Nhưng trong Những người đàn ông không có đàn bà, tôi nhận thấy các nhân vật của Haruki bây giờ dù vẫn cô đơn nhưng họ đã chịu cởi mở hơn với số ít những người gắn bó trong thế giới của họ. Cuộc đối thoại giữa Kafuku và Misaki, giữa Tokai và Tanimura, giữa Samsa và cô gái lưng gù là những cuộc đối thoại khiến tôi cảm thấy vui và ấm áp nhiều nhất trong tập truyện ngắn này. Bởi lẽ tôi nghĩ đó là những cuộc đối thoại không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng bắt gặp trong các tác phẩm của Haruki, đó là những cuộc đối thoại giữa hai con người tưởng chừng không có chút điểm nào chung nhưng thông qua việc trò chuyện cùng nhau, họ trở nên cởi mở với nhau hơn, chân tình với nhau hơn và dù ít, dù nhiều, họ nhận lại được sự đồng cảm nơi người kia. Những cuộc đối thoại như thế cho tôi cảm giác rằng Haruki ngày nay đã vững vàng hơn rất nhiều trong niềm tin dành cho con người, ông không còn dễ dàng để mọi thứ mong manh trôi qua trong sự hoài nghi và im lặng nữa. Samsa đã rất mạnh mẽ bày tỏ mong muốn được gặp lại cô gái lưng gù dù còn nhiều điều trong thế giới này anh chưa hiểu và cần phải học nhưng anh đã biết rõ điều mình mong muốn. Tôi tin rằng anh sẽ có thể gặp lại cô gái ấy. Và tôi tin rằng Haruki cũng đang tiến gần hơn đến những câu trả lời mà ông luôn tìm kiếm. Nhưng kể cả không tìm được, có lẽ bây giờ ở khía cạnh nào đó ngay cả chính những câu hỏi cũng khiến ông hạnh phúc với tâm thế như một người vẫn còn đang học hỏi về thế giới. Có lẽ giống như Samsa vậy. Có lẽ đó không còn là sự đau khổ và tạm chấp nhận giống Toru ngày xưa nữa. Tôi tin là như thế. Có lẽ.

Hết.

Kodaki


Muôn màu của Haruki Murakami




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khách không mời: Khi mọi thứ đều cong

Published

on

By

khach khong moi

  Em thường nhìn vào những khu nhà cao mới xây, em thấy không cái nhà nào thẳng cả […] Nàng chưa bao giờ thấy ai có sống mũi thẳng một trăm phần trăm. Cũng đúng như bạn chẳng bao giờ thấy một cái cây, một bức tường, một cái chân bàn, hay một cây cột điện thoại nào thẳng một trăm phần trăm.

Tôi đọc Geling Yan rất vô tình. Trong một lần lướt xem những đầu sách nào chuẩn bị được in ở các thị trường lớn trên thế giới, thì The Secret Talker lọt vào mắt tôi với cái bìa khá ấn tượng cùng tên tác giả gợi nhớ nhiều tới gốc gác Trung Quốc. Thông thường, những thị trường lớn này hay ưa chuộng các tác giả châu Á có phần đặc biệt – họ viết hoặc phản ánh những điều bị cấm (trường hợp Diêm Liên Khoa, Lý Dực Vân) hoặc thật sự khác biệt với phong cách nổi trội (trường hợp Tàn Tuyết, Dư Hoa…). Và cũng vì thế, Geling Yan để lại một ấn tượng sâu sắc nhưng tôi vẫn chưa có khái niệm gì về bà sau lần chạm mặt tình cờ ấy.            

Tiếp sau đó, trong một lần đi tìm sách cũ ở những ngõ ngách Saigon, tôi bỗng lại gặp một quyển sách khác của bà, Khách không mời. Thú thật đây không phải là lần đầu tiên tôi bắt gặp nó, nhưng với chiếc bìa không để lại quá nhiều ấn tượng thì tôi đã lướt qua nó rất nhiều lần trước đây. Nhưng dĩ nhiên duyên phận đã lôi kéo vào vòng xoáy này khi tuần trước nhớ tên tác giả, tuần sau đã gặp sách của bà, thêm vào đó là dịch giả vô cùng tiếng tăm, nên tôi đã thử và đọc cuốn này. Khách không mời thật sự mới lạ, vì so với hầu hết những tiểu thuyết Trung Quốc khác tôi từng đọc qua viết về Cách mạng Văn hóa, hậu Phong trào Tứ Thanh hay thời chuyển giao quyền lực của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay biến cố Thiên An Môn… thì Khách không mời lại tập trung vào một quãng thời gian mới hơn, gần đây hơn nhưng cũng đầy vận động với một Trung Quốc đương thời.

Không thể phủ nhận chính việc đặt Khách không mời vào bối cảnh của thời “mở cửa” đã trở thành một trong những lý do khiến nó mới mẻ, độc đáo và không bị nhàm chán. Nếu văn chương Xô Viết dễ bị hình dung như văn chương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Trung Đông là tiếng nói mới của phụ nữ bị áp bức thì Trung Quốc như phần lãnh thổ rộng lớn của mình, lại có nhiều cái tên - từ văn chương hậu Cách mạng văn hóa, làn sóng linglei đến trào lưu tiểu thuyết quan trường… Geling Yan cũng từ đó phát triển và phối trộn những màu sắc đặc trưng rất Trung Hoa. Bà lùi về quá khứ một chút với thời nghèo đói, bà tiến vài bước đến kì tương lai, và hay ho là Khách không mời nằm được ở giữa, với chủ đề mới, rặc tính Đông phương nhưng hầu như rất ít tác phẩm nào từng gợi nhớ đến, mà gần đây nhất có thể coi Parasite của Bong Joon-ho như sự thấu cảm cùng chung chủ đề.

Nếu ai tìm hiểu về Geling Yan thì chắc sẽ không thể quên gia tài đồ sộ những cuốn tiểu thuyết của bà. Về nhà (tựa gốc Coming Home) hay Kim Lăng Thập tam thoa (The flowers of war) từng được Trương Nghệ Mưu chuyển thể, đã lấy đi nhiều giọt nước mắt lãnh đạm, khi thì trong chiến tranh Trung – Nhật, khi thì là tình yêu và sự cứu rỗi. Phần lớn những nhân vật của bà đều là phụ nữ. Họ bị bán đứng, xem thường, rẻ rúng và trở thành trò tiêu khiển trong chiến tranh hay như phụ nữ nông thôn thường thấy – vất vả, cơ cực. Bước ra từ Khách không mời, bà phá vỡ motif thường thấy của mình, khi không đặt chân bước vào chiến tranh, cũng không tạc thù miêu tả phụ nữ, mà rộng ra hơn và linh hoạt hơn với những vấn đề lớn hơn, vĩ mô hơn và nhất quán hơn.

Nhân vật chính của Khách không mời là Đan Đông, một người đàn ông ưa nhìn ở độ tuổi trung niên sống trong xí nghiệp sản xuất nay phải hoạt động cầm chừng ngày có ngày không. Hơn 10 tháng nay họ không nhận gì ngoài những phiếu lương có vẻ như vô giá trị. Được ở đấy với Tiểu Mai – người vợ xinh đẹp, họ có giá thuê chỗ ở rẻ, được ăn cắp điện để nấu nướng, có nước nóng rửa ráy, mua được thịt thà không phải qua kiểm định và có cá hộp hết hạn để trả thay lương. Sống trong tận cùng của những nghèo xơ xác ấy, trong một lần đi phỏng vấn làm bảo vệ khách sạn, một con đường mới đã mở ra cho Đan Đông – đó là đóng giả phóng viên để được ăn tiệc miễn phí và nhận về tiền “xin lỗi đã làm phiền”.

Geling Yan mô tả khá hay hình tượng người đàn ông này. Bà không chỉ nêu bật cái khổ, bà còn dồn ép nhân vật của chính mình vào con đường khốn đốn, tận cùng. Trong những buổi ăn tiệc ấy, ngoài Đan Đông thì những con rệp ăn tiệc khác nay cũng đánh mồi thấy được sự béo bở. Chúng cướp quyền sở hữu trí tuệ là mánh khóe làm giả danh thiếp của anh, chúng thuê thêm người làm thợ chụp ảnh, và dĩ nhiên, cảnh sát không thể ngó lơ. Một vài tuần sau chiến lược càn quét của ngành công an đã tàn phá mâm cổ miễn phí, và cũng như bao kẻ khác, Đan Đông hay Tiểu Mai cuối cùng cũng phải chui vào tấm lưới muôn phương vây bủa.

Song song với việc bị đẩy đi đến đường cùng, Đan Đông cũng phải đối mặt với những thứ khác đang kềm giữ anh. Có thể tưởng tượng người đàn ông ấy là một miếng cam nay bị vắt kiệt, mà bàn tay ấy, khốn thay không phải bởi những tầng lớp giàu sang – mà là những người còn nghèo hơn anh. Đó là nỗi thương cảm của một người nghèo dành cho những người nông dân nghèo còn kiết xác hơn cả mình với những tham nhũng, bắt bớ, quan liêu. Đó còn là sự mông lung giữa dục tính thật sự và việc lợi dụng người cùng khổ khác, mà hiển hiện nhất chính là Mười Khó với lời thỉnh cầu về một bài báo vách trần sự thật, trong khi anh chỉ là một tay lừa bịp không hơn không kém. Anh tự nhủ rằng Mày phải cẩn thận trong những ngày này, hoặc mày sẽ bị đẩy vào tình huống mà ở đó phải chạm trán với cái nghèo khó trên mọi nẻo đường.

Vượt thoát ra khỏi Đan Đông, Geling Yan xây dựng một bầu không khí được chia ra thành hai tầng lớp dựa trên nhận thức, giữa một bộ phận những người cảm được trò mèo của nhịp sống hiện đại (như Đan Đông, người họa sỹ già Trần Dương) và một bộ phận những người còn lại. Mối quan hệ một mặt thâm giao với Trần Dương – người phản đối những trò mê dụ, người bị tổn thương khi giá trị con người đã xuống thấp nhất - giữ anh lơ lửng cùng mối quan tâm với những bác nông dân, những người cùng khổ và không có gì. Đan Đông đã bị dồn nén từ cả 2 phía, không chỉ người giàu, mà là kẻ hèn trong cơn quằn quại.

Một người không phải cứ bán thân mình thì mới là mãi dâm. Một người thậm chí có thể trở thành một con điếm còn bẩn thỉu hơn bằng cách bán một thứ gì đó quý hơn cả thân xác mình, dường như là lời miêu tả đúng nhất những trò điêu ngoa của lớp thị dân được thời sung túc. Khi bị đồng tiền chi phối, họ có thể làm những bữa tiệc ăn thịt chim công; nặng hơn một chút họ mua thánh bán thần, họ mua chuộc báo chí để mọi sự thật thành ra bẻ cong. Đau đớn hơn cả khi họ lừa dối cùng chung một dòng giống người, họ bắt bớ, chiếm đoạt; họ lừa đảo từng đồng lương ít ỏi, từng căn họ xây thêm để làm giàu nữa cho bản thân mình.

Nhưng ngay cả khi những người giàu có nhất ấy chường mặt ra ngoài, trong bản thân họ luôn là tình thế chông chênh lo sợ ngai vàng ấy một ngày bị cướp đi mất. Trong họ luôn là nỗi bất an nghe tin một cơn bão tới. Tầng lớp dưới cùng thì sợ chiến dịch dọn dẹp loài con rệp ăn tiệc, tầng lớp giàu sang thì sợ phanh khui trốn thuế, đầu tư lừa bịp hay ti tỉ những công việc khác. Tất cả bọn họ đều có một tật: Trần Dương thì bứt đầu lông cọ vẽ, tổng giám đốc Võ thì bóp que diêm, Hồng Ngọc thì đùa giỡn với chiếc dép lê đi trong nhà. Họ làm những điều không cần suy nghĩ này để tự trấn tĩnh bản thân. Để hiểu được cái gì làm cho họ rối trí.

Với Khách không mời, Geling Yan hay Nghiêm Ca Linh đã mang đến một bữa tiệc khỏa thân trong chính trải nghiệm của việc nói lên sự thật.Với cuốn sách này bà một lần nữa chứng minh được tên tuổi mình, khi luôn linh hoạt với đời sống và mở thế giới quan một cách rộng khắp lướt qua thực tại. Hiện đại, sắc sảo, tinh tế và vô cùng mạnh mẽ; có thể nói đây là một trong những cuốn sách có tầng sâu nhất của bà, vượt thoát khỏi những tiểu thuyết thời hậu Cách mạng văn hóa thường thấy, nhưng dẫu sao cũng dễ thấy rằng, nó còn thiếu một chút đột phá với những thể nghiệm trên cùng.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu – Một hành trình mạnh mẽ

Published

on

By

thao go phep mau featured

Tháo gỡ phép màu của Julie Yip – Williams có lẽ là một tựa sách gây nhiều băn khoăn khi ta lần đầu bắt gặp. Thế nhưng khi đã đi hết hành trình của người phụ nữ đầy bản lĩnh và kiên cường này, ta sẽ hiểu vì sao đến cuối cùng thì Phép màu cũng cần được tháo gỡ, và điều quan trọng nhất không phải là ta có được điều gì từ sự kỳ diệu, mà là ta hiểu được gì từ sau cuộc sống vốn luôn hạn hữu này.

Được viết như một ghi chép về cuộc đời mình, Julie - người mẹ, người vợ, người bạn, người phụ nữ tràn đầy cảm hứng – đã kể về quá trình trưởng thành, nhận thức, buông bỏ và thấu hiểu chính cuộc sống này. Sinh ra với bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh mà bước ngoặt đầu tiên đã là thử thách, liệu cô có giữ được mạng sống ở tuổi lên 3?

Những năm miền Nam Việt Nam mới được giải phóng, cuộc đời của một đứa trẻ không thể nhìn thấy là rất khó đoán, và đó cũng là lý do vì sao bà nội vẫn luôn nghĩ rằng cái chết là thứ quá đỗi êm dịu với một đứa bé như cô. Như một phép màu bỗng chốc xảy ra, vị thầy thuốc từ chối ban phát vị thuốc chết; và cũng chính sự kiện ấy đã làm nảy sinh một sự cố thủ từ chính mẹ cô – người phụ nữ vốn được dạy bảo phải phục tùng chồng – nay lần đầu tiên đứng lên bảo vệ con mình, và đi đến quyết định di cư sang Mỹ.

Với gốc gác là dòng tộc Hoa, sau cơn chính biến Nạn kiều 1978, cô cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, đến Hongkong và sau cùng là thẳng đến Mỹ. Với một đứa trẻ gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể, hành trình lênh đênh đến hơn 3 tháng trên một chiếc thuyền ọp ẹp mà vẫn bình yên kỳ thực là một phép màu. Như sau này cô cũng thừa nhận, quá nhiều phép màu đã đến với cô, là thứ tạo ra, tái sinh và giúp cô sống tiếp trong cuộc đời này.

Và dĩ nhiên, Phép màu chưa dừng ở đó. Sau khi được các bác sỹ ở Mỹ phẫu thuật can thiệp dẫu cho không thể hoàn toàn sáng mắt, cô phần nào có lại thị lực dẫu bị sa sút, ở một trạng thái mà ta vẫn gọi là ‘mù pháp lý’. Cô chăm chỉ học tập, gạt bỏ hết mọi định kiến người khác áp đặt lên mình, tốt nghiệp Havard và trở thành luật sư ở một hãng luật danh tiếng. Chưa dừng ở đó, cô còn gặp được Josh – người đàn ông của đời mình, có một căn nhà ở khu Brooklyn và hơn hết là 2 thiên thần nhỏ - Mia và Bella.

Thế nhưng một ngày năm 2013 khi 37 tuổi, cô được chuẩn đoán mắc phải ung thư đại tràng, và tình hình còn xấu hơn nữa khi đó là giai đoạn IV đang có dấu hiệu di căn ra khắp cơ thể. Trong những ngày nằm ở bệnh viện đối mặt ban đầu với ung thư, những con số thống kê nhấp nháy trên màn hình Ipad được Josh đưa ra chỉ có khoảng 0.08% phụ nữ dưới 40 tuổi có thể mắc phải bệnh này, và tỷ lệ sống sót là 6-15%. Phép màu lại một lần nữa tiếp tục hiển hình khi có tới 99% khả năng Julie không mắc ung thư; nhưng lần duy nhất này thật sự khắc nghiệt.

Một điểm đặc biệt là với cuốn hồi kỳ này, Julie không cố che giấu một điều gì cả. Cô không tự an ủi bản thân với chút hy vọng hão huyền, khi việc di căn từ nơi màng bụng đã lan ra đến tử cung, phổi và sau này là xương và gan. Cô đã thử đến 3 lần thí nghiệm lâm sàng với các loại thuốc khó tìm khác nhau, các phương pháp mới mẻ, các loại đông – tây y,,, cô không từ chối bất cứ điều gì. Thế nhưng ung thư ngày càng tai ác, sau cơn hòa giải với những lần xạ trị tưởng chừng bình yên thì ngay lập tức nó quay trở lại và tấn công cô.

Trong những ngày chiến đấu với những hạch nhỏ xuất hiện nơi phổi và đầu thời kỳ di căn vào xương, trong Julie là một vũ trụ của những cảm xúc. Cô khóc than, bất lực cho số phận mình; cô nổi đóa với Chúa – nếu Ngài có tồn tại – vì việc chọn cô; cô giận dữ với bất cứ một yêu cầu nào không được đáp ứng và cả ganh tị với ‘Cô vợ Hai Lẳng Lơ’ – biệt hiệu của người sẽ thay cô chăm sóc Josh cùng các con gái khi cô rời đi.

Từ người du lịch 5 châu đến tận Nam Cực nay chuyến đi cuối cùng là quần đảo Galapagos, nơi những nguyên sơ vẫn được bảo tồn - nơi cô cảm nhận được Josh trong mối quan hệ và là tình yêu cuối đời của mình. Trong những tháng ngày đối chọi ở trên giường bệnh, cô vẫn níu kéo một chút hơi sức để các con gái không thấy mình đã từ bỏ. Cô dũng cảm chiến đấu với ung thư, nhưng theo một cách thực tế, lý trí và cũng mạnh mẽ.

Thay vì than khóc vì chính cái tạ mình đang đeo phải, thay vì mù quáng tin tưởng vào việc điều trị ở giai đoạn cuối; cô ở đó và lên kế hoạch cho những người thân yêu nhất. Hợp nhất căn nhà để các con gái có không gian riêng khi chúng lớn lên, nhờ vả chị gái chăm sóc hai cô gái nhỏ, nhắn gửi cô giáo phụ trách về việc học đàn, gửi gắm đến Josh về niềm hạnh phúc, tự lên kế hoạch cho tang lễ mình… Tất cả được cô chăm chút kỹ càng như chuyến cuối cùng bên lề cái chết, là chốn hội ngộ với bà cố tổ – nơi cô vốn nghĩ không quá đáng sợ mà chỉ đơn thuần là dịp gặp mặt như những ngày xưa.

Nhà văn trinh thám Sidney Sheldon từng nói ‘Phép Màu có thật trong cuộc sống này... với điều kiện, ta phải tự mình tạo ra chúng’, và cuộc đời của chính Julie là một Phép màu. Biết rằng Phép màu đã đến rồi đi, cô đã trân trọng, yêu thương và tận dụng hết mọi khoảnh khắc; để khi cánh cửa mới mở ra, những Phép màu sẽ được tháo xuống, gỡ ra và truyền tiếp cho thế hệ sau bằng chính niềm tin, sự hy vọng cũng như niềm hân hoan. Dũng cảm, thẳng thắn và rất xúc động – hành trình của Julie Yip – Williams là niềm ham sống, khát khao tự do, vươn lên số phận. Một chặng đường vô cùng mạnh mẽ.

Hết.

Chiêu Dương

Ảnh đầu bài: Kafla Bookstore

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Cafe sáng