Từ Sách đến Phim

Nàng là phúc lành tôi được ân hưởng để có thể lần nữa lại viết

Tác phẩm mới của anh sẽ thắng giải Akutagawa, sẽ thành best-seller, anh sẽ nhận được nhiều tiền tác quyền. Từ giờ đến lúc đó, hãy để em lo chi phí sinh hoạt của chúng mình.

Published

on

Tôi nhớ em.

Tôi muốn bắt đầu giản dị như thế. Vì chính nỗi nhớ ngập tràn ấy thôi thúc tôi viết đôi dòng cho em sau gần hai năm hầu như không viết gì.

Tôi yêu cách em yêu. Yêu cách em thật mạnh mẽ, dứt khoát tiến đến bên người ấy dù chân trần có phải vấy bẩn bụi cát nóng bỏng hoang mạc. “Em vẫn sẽ bước đi.”

“Dù có thể em sẽ gây nhiều phiền hà cho anh, em hứa sẽ cố gắng sống hết mình. Hãy giúp em nhé.”

Trong bốn năm cuối đời ấy, em đã sống như thế nào? Ở vùng quê đó, ngày ngày nhìn ống khói kiêu hãnh vươn lên trời cao, chiều chiều ra biển ngắm hoàng hôn; và thỉnh thoảng, một người đàn ông lạ mặt có nốt ruồi đen thật to dưới cánh mũi phải sẽ đến thăm em. Là ai nhỉ? Em không thể nào nhớ tên người này. Dường như anh ta đã đến thăm em vào hôm qua hoặc hôm kia, tuần trước hoặc tháng trước. Như cát trôi qua kẽ tay, rơi xuống bãi biển rồi hòa vào bọt trắng xóa hoặc bẹp dí dưới gót chân người, em không thể nhớ chút kí ức nào về người ấy. Chỉ có cảm giác thân quen khó hiểu. Tựa như một đứa trẻ khi mới chào đời có thể dễ dàng phát âm “a” chẳng phải vì tiện lợi về mặt sinh học, hay vì “a” là âm tiết đầu tiên trong bảng chữ cái; mà vì nó đã đem kí ức về chữ “a” từ thế giới trước sang thế giới này. Em – một người phụ nữ bắt đầu đi ngược chiều tiến trình sinh học ở độ tuổi ba mươi để trở về là một đứa trẻ nguyên sơ chưa biết gì về thế giới, có lẽ em đã cảm nhận như thế khi đối diện người đàn ông ấy chăng?

Và rồi cái chết của em được nhắc đến chỉ bằng một lời thoại đơn giản giống như nàng Gelsomina trong La Strada. Không có những hình ảnh sau cùng về những ngày cuối đời em. Nhưng nỗi buồn vẫn thấm sâu trong tôi khi nhớ đến những giọt nước mắt của em – khoảnh khắc em thốt ra tên người đàn ông không phải xa lạ ấy, khi cuối cùng kí ức đã chịu quay về với em trong giây phút nhỏ nhoi: “Shinji!”

“Quả nhiên, em biết là Shinji có tài mà. Anh viết hay quá.”

Vẫn là em.

Ngay cả lúc đã ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, đã quên đi cách thực hiện những sinh hoạt hằng ngày đơn giản nhất, thậm chí quên đi chính bản thân mình là ai, trong thời khắc ngắn ngủi kịp nhớ ra ấy, em vẫn không quên động viên người đàn ông em luôn yêu thương từ lần đầu gặp gỡ. Người cùng thích loại nước uống giống em. Người đã bắt trọn chiếc hộp bé xíu ấy trong cú ném tạo thành vòng cung hoàn hảo của em. Người luôn tự ti trước em nhưng em vẫn không ngừng khen ngợi, khích lệ người ấy. Người là tác giả của cuốn tiểu thuyết em yêu thích nhất – “Angelica chân trần vấy cát”. Tôi thật sự ghen tị với Mamiya Shinji khi người phụ nữ anh yêu thương nhất trên đời cũng là độc giả hâm mộ trung thành nhất của anh.

Như ống khói đứng thẳng vươn cao giữa trời, kiêu hãnh và bộc trực, Angelica nghĩ rằng mình đã yêu người đàn ông ấy mất rồi.

“Nếu cứ nhớ mấy dòng đó, cô sẽ bị não phẳng đấy.”

“Dù như thế thật thì cũng đáng mà. Với người bình thường như tôi thì sự kích thích từ những chuyện ái tình phóng đãng kiểu này rất quan trọng.”

Và em cùng người đàn ông viết những dòng ấy đã có một mối tình khắc cốt ghi tâm, buồn bã nhưng ấm áp. Về sau, anh ấy sẽ viết rằng: “Cuộc sống thật kì lạ, ngay cả trong những ngày thậm tệ, thỉnh thoảng ta vẫn có thể thấy được viễn cảnh tươi đẹp nhất. Đó là điều tôi đã hiểu ra.”

Vào những ngày đầu mới quen nhau, lúc em vừa mắc bệnh, có lần anh ấy đã trách em gọi nhầm tên vị hôn phu cũ khi em ôm anh và nói lời yêu thương. Anh bảo rằng điều đó chứng tỏ trong tiềm thức của em, vào những lúc em sợ hãi nhất, người em cần không phải là anh mà là vị cựu hôn phu kiêm bác sĩ đương nhiệm chữa trị căn bệnh của em. Anh muốn chia tay vì nghĩ rằng sẽ tốt hơn khi em ở cạnh người đàn ông kia, rằng tình cảm em dành cho anh thực chất chỉ là sự thúc đẩy nhất thời do căn bệnh mang lại. Nhưng em nhanh chóng nhận ra sự thật không phải như thế. Với đôi mắt buồn nhưng dứt khoát, cái cúi đầu xin lỗi thật sâu nhưng cương nghị, em đường hoàng nói với người cũ rằng: “Tôi vô cùng biết ơn những việc bác sĩ đã làm cho tôi. Thực sự, thực sự rất cảm kích. Nhưng người tôi yêu là Mamiya Shinji. Sự tồn tại của anh ấy tiếp thêm sức mạnh cho tôi sống hơn bất kì ai khác. Tôi xin lỗi.”

Em luôn thẳng thắn, rõ ràng như thế. Ngay sau đêm đầu tiên ái ân với Shinji trong lúc đã đính hôn cùng Yuuichi, vào buổi sáng khi vừa tỉnh dậy, em quyết định sẽ hủy hôn ước.

“Em sẽ hủy hôn ước. Em không hủy để đòi anh cưới em đâu. Chỉ là em đã quyết định vậy thôi.”

“Khoan đã. Anh nghĩ là em nên… suy nghĩ lại.”

“Em không có thời gian suy tính đâu. Em phải thông báo với anh ấy, rồi bố mẹ anh ấy vì có nhiều thứ cần phải hủy lắm.”

“Nhưng mà… em đừng làm vậy. À, chẳng hạn, chúng ta có thể tiếp tục thế này đến tận trước ngày cưới của em mà?”

“Em đã quyết định bước xuống tàu tốc hành và đi bộ trên sa mạc. Dù ngày mai chuyện với anh chẳng đi đến đâu, em cũng sẽ không quay đầu lại. Đưa em chìa khóa đi.”

Ban đầu, tôi cũng ngỡ ngàng trước tình yêu mãnh liệt em dành cho Shinji; vì sao một bác sĩ thông minh, thành đạt, xinh đẹp, dịu dàng như em lại yêu người đàn ông dường như chẳng có gì ngoài khiếu hài hước này, vì sao em quá tha thiết với tình yêu ấy đến nỗi một người như em lại phải chủ động trước một người quá bị động như anh… Câu trả lời đã có sẵn ngay từ đầu: vốn dĩ, tình yêu thực sự không nằm ở lí trí, không phải là phạm trù để đặt câu hỏi về nguyên nhân và kết quả.

“Em không biết những điều mình làm đúng hay sai, không biết liệu một ngày nào đó em có tìm được đáp án không. Chẳng ai biết cả. Nhưng em bị bản năng thúc đẩy phải đi ngược lại mọi khuôn khổ lí trí.”

Em yêu bằng bản năng nhưng lại biết suy nghĩ thực tế cho người mình yêu.

“Tác phẩm mới của anh sẽ thắng giải Akutagawa, sẽ thành best-seller, anh sẽ nhận được nhiều tiền tác quyền. Từ giờ đến lúc đó, hãy để em lo chi phí sinh hoạt của chúng mình.”

Em chân thành như thế, tha thiết như thế. Dù chuyện gọi nhầm tên anh chỉ vì căn bệnh ác nghiệt ấy, chẳng phải lỗi do em, nhưng em đã tự trách mình rất nhiều. Khoảng thời gian chín tháng xa nhau, có lẽ em đã lẩm nhẩm tên anh rất nhiều lần.

Tiểu thuyết em thích đọc nhất là “Angelica chân trần vấy cát” do anh viết.

Họ của mẹ em khi chưa lấy chồng là Mishima.

Tên ngôi đền nơi anh bị bỏ rơi lúc nhỏ là Matsushiro.

“Tiểu thuyết yêu thích nhất. Họ thời con gái của mẹ. Tên ngôi đền anh bị bỏ rơi. Hãy chia tay khi em không trả lời được ba câu hỏi đó anh nhé.”

Em đã tự nhủ với mình: “Nếu một ngày nào đó, mày không trả lời được ba câu hỏi này nữa, mày nên chết đi.”

Rồi em gặp lại anh, kết hôn với anh, và khi bệnh tình đột ngột trở nặng, trước lúc ngất đi, em đã thốt lên tên anh: “Shinji.”

“Shinji.”

“Shinji.”

“Có phải là anh không, Shinji?”

Vậy là nỗi niềm băn khoăn ngày xưa của cả anh và tôi đều đã được giải tỏa. Ngay trước lúc bất tỉnh và cả khi đã mất ý thức, em vẫn chỉ gọi thầm mỗi tên anh. Phân cảnh ấy khiến tôi ấm áp. Chỉ bằng việc quan sát tình yêu vĩ đại đó – tuy không phải dành cho mình nhưng tôi cũng có cảm giác chính mình được yêu. Đó có lẽ là lí do vì sao đến tận bây giờ tôi vẫn thích xem phim tình yêu như thế. Để gợi nhắc tôi rằng tình yêu chân thành có thể vẫn đang hiện hữu đâu đó. Em rất hoàn hảo, mọi điều về em đều tốt đẹp, nhưng không hiểu sao sự hoàn hảo không tì vết đó chẳng hề khiến tôi mảy may cảm thấy em không thực. Ngược lại, với tôi, em rất thực. Tôi luôn cảm giác có thể em đang tồn tại đâu đó. Chỉ là một người như em vốn không dành cho tôi. Nếu em thực sự có mặt trên cuộc đời này, em xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn. Không biết bao lần, Shinji cũng tự nhủ như thế.

“Suốt hai mươi năm tôi chẳng có động lực để viết bất kì ý tưởng hay thậm chí một chữ nào. Thế rồi một người phụ nữ đã khiến tôi có động lực ấy thêm lần nữa. Nhưng người cần ở bên cạnh người phụ nữ không thể thay thế ấy vốn dĩ không phải là tôi.”

“Nàng là phúc lành tôi được ân hưởng để có thể lần nữa lại viết. Chẳng cần nghi ngờ gì, nàng chính là một thiên thần.”

Và thiên thần ấy không chỉ cho anh tình yêu hay trở thành nàng thơ của anh, nàng còn là người vợ hiền lúc nào cũng ưu tiên quyền lợi vì anh, lúc nào cũng nghĩ cách hỗ trợ anh sáng tác. Khi hai vợ chồng mới kết hôn, dọn vào căn hộ khang trang hơn phòng trọ trước đây của anh nhưng lại chỉ có hai gian phòng, nàng đã bảo đồng nghiệp anh nơi công ty cũ đến phụ dọn nhà rằng hãy để giường ngủ trong phòng khách kiêm nhà bếp thay vì để sang hẳn một phòng riêng.

“Mình có nên để bàn ở đây thay vì giường không? Em biết đấy, anh viết ở đâu cũng được mà.”

“Không cần anh. Như vậy được rồi. Em muốn anh có một chỗ đàng hoàng để viết, để anh có thể tạo ra những tác phẩm thật hay.”

Thế là, cảnh tượng trong căn phòng ấy có đôi chút kì lạ, khi bạn vừa mở cửa bước vào tổ ấm của họ, bạn sẽ thấy cùng lúc không gian chung để tiếp khách với dãy bếp và bàn ghế ở tay trái, trong khi bên tay phải lại là không gian riêng với chiếc giường ấm cúng nơi hai người ân ái mỗi đêm. Nhưng với Nao, điều đó không kì lạ, hay ngại ngùng, hay bất tiện; nàng có một không gian riêng tư hơn cần bảo vệ, vốn dĩ được thiết lập không phải cho nàng: không gian để chồng nàng đắm chìm vào thế giới riêng trong trang viết. Vào những đêm anh thức khuya viết lách, nàng mở cửa thật khẽ đủ để nhìn anh đang chăm chú gõ chữ trên máy tính; khi ấy, nàng sẽ mỉm cười thật tươi, khuôn mặt rạng rỡ vẻ tự hào, thì thầm không thành tiếng mà chỉ mấp máy môi rằng: “Cố lên anh nhé.” Rồi nàng lặng lẽ đóng cửa phòng, ra giường ngủ nằm nhắm mắt đợi anh. Nhưng nàng không ngủ hẳn. Khi anh viết xong, khi anh nằm xuống giường cạnh nàng, nàng sẽ vờ như vô thức mà dịu dàng quay sang ôm anh, mũi nàng khẽ chạm vào gò má anh cảm nhận mùi cơ thể quen thuộc. Đến khi ấy, nàng mới mỉm cười đi vào giấc ngủ.

Trên tất cả, nàng đã cho anh một mái ấm gia đình đúng nghĩa khi quyết định sẽ sinh con, sẽ để lại cho anh món quà cuối cùng sau khi nàng qua đời.

“Cứ nắm tay thế này mãi anh có mỏi không?”

“Em muốn buông tay à?”

“Không! Em thích như thế này.”

“Dù sao, ban nãy mình cũng đã buông tay ở quán ăn rồi.”

“Em tự hỏi mình có thể nhớ được khoảnh khắc này đến khi nào?”

“Em sẽ quên thôi, dù gì cũng chẳng phải dịp đặc biệt.”

“À, em đã quyết định sẽ có con với anh. Em từng nghĩ rằng nếu sức khỏe tốt hơn, em mới mong mỏi điều ấy. Nhưng bây giờ, khi biết rằng tình hình chẳng thể tiến triển tốt, ngược lại, em càng muốn có con với anh hơn.”

“Thật ư?”

“Vì con chúng mình sẽ là điều duy nhất mình có chung, đúng không anh?”

“Ừm, tất nhiên rồi.”

“Từ lúc em chào đời, rồi dần dần trở thành bác sĩ, phục vụ vì lợi ích của mọi người, gặp được anh, có cuốn tiểu thuyết dựa trên cuộc đời em, và bây giờ em muốn tạo một ghi chú để đánh dấu tình yêu của chúng mình.”

“Một ghi chú?”

“Em biết đứa trẻ không thể là một ghi chú, nhưng… nhưng em muốn con chúng mình sống trên đời này. Anh có thể giúp em được không? Dù chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi với con, cả ba chúng ta có thể sống bình yên bên nhau. Em nghĩ lí do đó đáng để mình cố gắng.”

Kitazawa Nao.

Tên của nàng Nao (尚) trong tiếng Nhật, có một nghĩa là “vẫn còn” (still). Điều này khiến tôi nhớ đến tiêu đề một tác phẩm cũng về người phụ nữ mắc bệnh Alzheimer “Still Alice”. Nao cũng vậy. Nàng vẫn là Nao kể cả khi đã mất đi hết kí ức. Một Nao kiên cường nhưng dịu dàng, điềm tĩnh và dứt khoát, lúc nào trong nàng cũng ngập tràn tình yêu thương và trách nhiệm.

Vào một ngày bình thường nào đó, thiên thần ấy đã lặng lẽ từ biệt cõi đời này.

Như ống khói đứng thẳng vươn cao giữa trời, kiêu hãnh và bộc trực, Angelica nghĩ rằng mình đã yêu người đàn ông ấy mất rồi.

Tôi cũng đã yêu em mất rồi.

Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Angel’s Egg – Nghệ thuật kể chuyện bằng thị giác độc đáo của Oshii Mamoru

Đạo diễn Oshii Mamoru đã truyền tải xuất sắc câu chuyện về sự sống và cái chết, nỗi cô đơn thuộc về bản chất tồn tại của mỗi người.

Published

on

By

Thông qua đề tài hậu tận thế, bộ phim hoạt hình Angel’s Egg (tên tiếng Nhật: Tenshi no Tamago, tạm dịch: Quả trứng của thiên thần, sản xuất năm 1985) của đạo diễn Oshii Mamoru đã truyền tải xuất sắc câu chuyện về sự sống và cái chết, nỗi cô đơn thuộc về bản chất tồn tại của mỗi người.

Trong một thành phố bỏ hoang – nơi dường như sự sống không còn tồn tại, có cô gái luôn mang theo một quả trứng bên mình. Ngày qua ngày, cô lang thang khắp nơi để tìm thức ăn, nước uống, những chiếc bình hình cầu. Bất kể đi đâu, làm gì, cô cũng không rời quả trứng ấy. Nó nằm bên trong lớp váy cô, ngay phần bụng, cô vừa đi vừa ôm nó như thể đó chính là bào thai của cô. Một hôm, cô gặp chàng trai xa lạ trên phố. Anh chất vấn cô về thứ bên trong quả trứng và muốn cô phá vỡ nó để tìm hiểu. Cô nổi giận và không chấp nhận ý tưởng này.

Đó là câu chuyện chính của Angel’s Egg: một câu chuyện có vẻ khá bài bản với một nhân vật có một mục tiêu và một nhân vật khác chống lại mục tiêu đó. Tuy nhiên, đạo diễn Oshii Mamoru từng phát biểu rằng cách tiếp cận phim của ông khác với công thức Hollywood thông thường; đối với ông thị giác là yếu tố quan trọng nhất, sau đó mới đến câu chuyện và nhân vật nằm ở vị trí cuối cùng. Có lẽ vì vậy mà câu chuyện trong Angel’s Egg rất mỏng, thiếu đi những nút thắt kịch tính; cả bộ phim chỉ có hai nhân vật và hai nhân vật ấy đều vô danh, không có tính cách rõ ràng, thoại rất ít. Do đó, nếu chỉ phân tích Angel’s Egg dựa trên những diễn biến chính, ta sẽ bỏ qua rất nhiều lớp nghĩa Oshii truyền tải thông qua những hình ảnh đơn lẻ, rải rác xuất hiện trong phim, đôi khi không dính líu thật chặt đến cốt truyện.

Dưới nghệ thuật thị giác độc đáo của Oshii, những hình ảnh xuất hiện trong phim được nâng thành biểu tượng và nỗi ám ảnh của nhân vật để thay phiên nhau cung cấp cho ta manh mối về một câu chuyện khác, dường như đã bị ẩn đi dưới câu chuyện chính. Khi câu chuyện đó không tồn tại rõ ràng trong phim, ta chỉ còn thấy những phản chiếu về các mảnh rời của chúng khi đã bị tách ra khỏi tổng thể. Việc quan sát những phản chiếu này khiến ta như bước vào công việc của người “nhìn bóng đoán vật”. Những cái bóng không phải lúc nào cũng cung cấp cho ta dự tưởng chính xác nhất về chủ sở hữu của nó. Như hiện tượng những từ đồng âm dị nghĩa, một cái bóng có thể là kết quả từ nhiều phiên bản vật chất khác nhau vì ở đây, chi tiết đã bị xóa mờ, chỉ còn lại hình khối tổng thể. Nhưng chính sự mơ hồ ấy đã khiến việc thưởng thức Angel’s Egg trở thành một trải nghiệm thú vị cho người xem.

Khung hình đầu tiên của Angel’s Egg cho ta thấy một hình ảnh rất ấn tượng và mang nhiều ngữ nghĩa. Đó là cận cảnh, góc máy chính diện một đôi tay trẻ thơ như đang nâng niu vật nào đó vô hình. Bàn tay ấy dần chuyển thành đôi tay thô kệch của người lớn, rồi nó co chặt lại như đang bóp nát thứ gì đó. Một tiếng “rắc” vang lên khiến ta liên tưởng thứ vô hình ấy chính là quả trứng. Một sự nâng niu rồi phá vỡ. Cảnh đầu tiên này đã tiết lộ cấu trúc trong câu chuyện chính của toàn bộ phim. Đôi tay nhỏ nhắn ấy có thể là đôi tay của cô gái, bàn tay người lớn sậm màu ấy có thể thuộc về chàng trai. Nhưng cách giữ nguyên khung hình và chỉ bằng một động tác tay xoay vòng cho sự biến đổi từ tay này thành tay kia có thể là một gợi ý của Oshii rằng: cô gái và chàng trai có khả năng chỉ là một cá thể; người này có thể đã tạo ra người kia, người kia có thể chỉ là phản chiếu của người này. Ngoài ra, nó cũng có thể diễn giải thành hai lớp nghĩa như sau. Lớp nghĩa thứ nhất có lẽ nhằm ám chỉ đến câu chuyện Chúa đã tạo ra thế giới, nhưng rồi vì phẫn nộ trước những tội ác của loài người, Ngài đã hủy diệt địa cầu bằng trận Đại hồng thủy – đây cũng là câu chuyện chàng trai kể cho cô gái nghe; và ở cuối phim, thế giới họ sống cũng có một trận mưa lớn. Lớp nghĩa thứ hai có vẻ như ít liên quan đến phim hơn nhưng tôi cảm nhận nó có thể hiểu là: trẻ con đôi khi lại biết gìn giữ những điều quan trọng hơn người lớn. Điều này khiến tôi suy tư về câu hỏi tại sao chúng ta thường có khuynh hướng muốn phá hủy những thứ ta đã từng trân trọng? Mỗi người có lẽ sẽ có một cách lý giải khác nhau nhưng ở bộ phim này, Oshii đã rất tinh tế khi chọn quả trứng làm hình ảnh biểu tượng. Quả trứng gợi cho ta cảm giác mong manh, sự sống chứa đựng trong nó khiến ta luôn muốn nâng niu bảo vệ; nhưng đồng thời, nó cũng có thể chứa đựng nỗi sợ hãi của ta, là thứ ta muốn lẩn tránh vì không thấy được cụ thể bên trong. Có lẽ chính sự song hành hai cảm giác đối nghịch ấy khiến ta muốn hủy diệt những thứ mình từng trân trọng.

Hình ảnh đôi bàn tay xuất hiện ở đầu phim

Ánh sáng cũng là yếu tố cần lưu ý trong Angel’s Egg. Cả thành phố diễn ra câu chuyện dường như ngập trong bóng tối, không có chút ánh sáng. Phân cảnh duy nhất người xem thấy được ánh sáng thiên nhiên là một trong những cảnh đầu phim: cô gái bị đánh thức bởi tiếng kêu từ khối cầu lơ lửng trên bầu trời, cô bước đến một nơi tương tự khung cửa sổ để ngắm cảnh vật bên ngoài chìm trong buổi hoàng hôn đỏ rực. Sự thiếu vắng ánh sáng đã tô đậm lên không khí mục ruỗng hậu tận thế, nhấn mạnh cảm giác những sinh hoạt đời thường của con người từ lâu đã rời xa nơi này.

Trong thành phố vô minh ấy, cô gái cô đơn lang thang mỗi ngày để tìm lương thực nuôi sống mình. Đó là mục tiêu kéo cô ra khỏi nơi cư ngụ, nhưng đó cũng là hành vi buộc cô phải bảo vệ quả trứng cẩn thận hơn trước những mối đe dọa từ bên ngoài. Quả trứng là thứ quý giá giúp cô thoát khỏi tình trạng đơn độc, cũng là thứ giúp cô tìm được lẽ sống. Một trong những điều cô lo sợ là những người đàn ông như tượng đá, tay cầm cây lao móc. Họ ngồi hoặc đứng khắp thành phố như chờ đợi một cuộc săn lớn nơi đại dương. Và rồi con mồi của họ: những đàn cá hay bóng của những đàn cá có hình dạng như cá vây tay cũng xuất hiện. Những người đàn ông điên cuồng đuổi theo những chiếc bóng của đàn cá bơi lướt qua mặt đường, vách tường để rồi những lưỡi câu của họ chạm leng keng vào gạch đá, phá hủy những ngọn đèn, những ô cửa sổ mà vẫn không thể bắt được bóng một con cá nào. Trong cảnh này, cô gái đã nói một thông tin quan trọng cho chàng trai và cũng là cho chúng ta: “Đàn cá không còn ở đây nữa, vậy mà họ vẫn đuổi theo chúng. Những động vật như cá chẳng nơi đâu còn nữa…” Đây có thể là một thông điệp của Oshii Mamoru về bảo vệ môi trường. Nhưng đồng thời, nghĩ rộng ra, đàn cá cũng có thể tượng trưng cho thứ con người luôn khao khát, nhưng chúng chỉ là những cái bóng, những ảo ảnh. Con người đã tàn phá chính quê hương của mình chỉ vì những điều vô nghĩa.

Bóng những đàn cá đi qua thành phố

Tại sao Oshii lại chọn cá mà không phải bất cứ động vật nào khác để nói lên điều đó? Trong phim xuất hiện khá nhiều hình ảnh bọt khí tròn nổi lên trong nước, chúng có hình dạng tương tự như những quả trứng. Có lẽ, đây cũng là lí do Oshii chọn cá. So với những động vật khác, ta rất dễ quan sát sự sống của cá biểu hiện qua hơi thở khi luồng khí ấy được tạo hình rõ ràng trong nước. Nước điêu khắc thứ vốn vô hình như hơi thở thành thứ hữu hình, cũng giống như quả trứng là trạm chuyển tiếp giữa cái chưa tồn tại và cái sắp tồn tại. Chàng trai và cô gái cũng đã từng có một cuộc trò chuyện về hơi thở khi cô ôm quả trứng vào lòng, lắng nghe âm thanh của nó.

“Cô có nghe thấy gì không?”

“Tôi nghe thấy. Đó là một tiếng thở rất khẽ.”

“Đó chỉ là hơi thở của cô thôi.”

“Tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh. Nó hẳn đang mơ được bay trên bầu trời cao rộng.”

“Đó chỉ là tiếng gió thổi ngoài kia.”

Đây không chỉ là cuộc đối thoại đơn thuần về quả trứng, nó còn là cuộc đối thoại giữa sự sống và sự phủ nhận sự sống, giữa ý thức và vật chất, giữa dự tưởng và thực tế.

Khi chàng trai và cô gái đi qua cửa hang nơi cô sống, cỡ cảnh toàn cho thấy hình ảnh cửa hang có sự tương đồng về thị giác với âm hộ phụ nữ. Đó vốn là nơi sự sống phôi thai. Nhưng khi tiến vào trong, ta lại thấy ngay bộ xương khô lớn có cấu trúc tựa như một con Leviathan bị mắc cạn.  Ngoài ra, trong hang còn rất nhiều xương của động vật đã chết nhưng chỉ có duy nhất một quả trứng tượng trưng cho sự sống. Điều đó lại càng khắc sâu trong ta cảm giác cuộc sống mong manh như thế nào giữa cái chết còn hiển nhiên hơn cả hiển nhiên.  

Cửa hang nơi cô gái sinh sống

Sau khi chàng trai đập vỡ quả trứng, cảnh cô gái nằm ngủ trên giường xuất hiện ở đầu phim được lặp lại. Từng động tác của cô khi vừa tỉnh dậy đều giống hệt phân cảnh đầu phim. Điều này khiến người xem dễ lầm tưởng thời gian đã quay ngược nhưng thực tế, câu chuyện vẫn tiếp diễn. Điểm khác biệt duy nhất là cô gái không tìm thấy quả trứng trên giường, cô phát hiện trứng đã vỡ trên nền đất. Ở đây, việc lặp lại giống hệt góc máy, từng động tác khi cô gái vừa thức dậy có tác dụng xóa mờ lằn ranh giữa hiện thực và giấc mơ. Có khả năng quả trứng vốn đã bị vỡ, và từ đầu phim đến phân đoạn này chỉ là giấc mơ của cô nhằm đánh lừa chính mình rằng quả trứng vẫn nguyên vẹn, cô vẫn đang ấp nó, bảo vệ nó. Tuy nhiên, cô không thể tự lừa dối mình mãi. Khi chàng trai xuất hiện trong giấc mơ, tính hiện thực dần trở lại, mối đe dọa dành cho quả trứng bắt đầu gia tăng. Có lẽ đó cũng là lí do ngay từ đầu, cô gái chạy trốn chàng trai. Thế nhưng, rồi cũng đến lúc quả trứng trong giấc mơ vỡ nát. Cô phải tỉnh dậy, đối diện với thực tế đau lòng ấy.

Cảnh cô gái thức dậy ở đầu phim

Oshii đã rất khéo khi chọn phân cách hai mốc sự kiện quan trọng nhất trong phim bằng giấc ngủ và sự tỉnh thức của cô gái, khiến ta luôn có cảm giác không chắc chắn giữa mơ và thực. Chàng trai có khả năng là người xuất hiện trong giấc mơ của cô gái; nhưng đồng thời, điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Chàng trai có thể là người cuối cùng còn sống trong thế giới ấy. Cô gái thực chất chỉ là giấc mơ hay ảo giác do anh tạo ra vì quá cô đơn. Hình ảnh đôi bàn tay chạm vào quả trứng vô hình ở đầu phim có thể là một ám hiệu rằng: thực tế, quả trứng đó đã mất đi. Chàng trai chỉ tái tạo lại quả trứng bằng cách cho cô gái giữ gìn nó trong giấc mơ.

Nhập nhằng giữa những phiên bản khác nhau của hiện thực và giấc mơ, cô gái liên tục hỏi chàng trai cả trong mơ lẫn ngoài đời thực: “Anh là ai?” Câu hỏi ấy dường như không chỉ đơn giản để lấy được thông tin lý lịch cơ bản của chàng trai, nó như muốn phơi bày đến tận cùng thân phận anh, mục đích tồn tại của anh. Nó bỗng dưng trở thành độ rỗng vô tận khi chính anh cũng hỏi lại cô rằng “cô là ai” và cả hai đều không trả lời được câu hỏi của đối phương. Rồi nó chuyển hóa thành vực sâu hun hút khi chàng trai nói về con chim của Noah và sự lãng quên.

“Tất cả những loài động vật trên Trái Đất đều chết. Những con chim, gia cầm, thú hoang, tất cả những loài bò trên mặt đất và tất cả con người. Chỉ có Noah và những loài động vật trên con thuyền của ông là sống sót. Rồi ông cho một con bồ câu do thám xem nước đã rút bớt trên mặt đất chưa. Ông đợi thêm bảy ngày và lại cho nó bay đi… nhưng nó không trở về nữa. Con chim đã đậu nơi đâu? Hay là nó đã kiệt sức và bị những làn nước nuốt chửng? Không ai biết được. Mọi người chỉ có thể chờ nó quay trở lại. Chờ đợi và dần chán nản vì chờ đợi. Họ quên rằng đã phóng con chim đi, quên rằng đã từng có một con chim. Họ thậm chí cũng quên rằng có cả một thế giới đã chìm dưới nước. Họ quên mình từ đâu đến, mình đã phiêu bạt bao lâu, mình đang đi về đâu. Đó là chuyện đã xảy ra rất lâu trước khi những loài động vật bắt đầu hóa thạch. Con chim tôi từng nhìn thấy, tôi cũng không nhớ rõ đã thấy nó ở đâu hoặc khi nào, chuyện đã từ rất lâu rồi. Có lẽ đó chỉ là một giấc mơ.  Có lẽ tôi, cô và đàn cá chỉ tồn tại trong ký ức của một người đã mất. Có lẽ không ai thực sự tồn tại và chỉ có mưa rơi ngoài kia. Có lẽ con chim ấy chưa từng tồn tại.”

Lời thoại này của chàng trai không khác gì một áng văn tự sự đẹp và buồn, một bài thơ u uất. Có lẽ cả bộ phim cũng chỉ là một giấc mơ trong một giấc mơ. Hình ảnh chàng trai chúng ta thấy có thể không phải là hình ảnh thực của chàng trai đang nằm mơ giấc mơ chồng chéo nhiều tầng này. Người ta có thể tự tái tạo hình ảnh của chính mình trong giấc mơ. Suy cho cùng, đôi bàn tay xuất hiện đầu phim có vẻ như là hình ảnh hiện thực nhất ta thấy được.

Cả chàng trai và cô gái đều có đôi mắt tam bạch nhãn với tròng đen khá nhỏ. Họ luôn cúi đầu và ngước mắt nhìn lên đối phương khi trò chuyện. Tại sao họ không thể nhìn thẳng mặt nhau? Những lúc không đối thoại, hầu như họ cũng luôn cúi đầu và ngước mắt lên để quan sát xung quanh. Chi tiết này phần nào cho ta cảm giác về sự rụt rè, khép mình của họ với đối phương, với cuộc sống, với chính mình.

Đôi mắt tam bạch nhãn của cô gái và chàng trai

Phân cảnh cuối phim khi máy quay từ từ đi xa khung hình chàng trai đứng lẻ loi bên bờ biển cho thấy vùng đất xung quanh trống vắng, hoang liêu ở cấp độ vĩ mô hơn khiến tôi nhớ đến cảnh kết với chuyển động máy tương tự trong Into the wild (2007). Cảnh toàn được tạo ra từ động tác zoom out dần xóa nhòa sự gần gũi với đối tượng ghi hình, nhấn chìm ta trong nỗi cô đơn của không gian mênh mông. Nhưng ở Angel’s Egg, cú máy ấy đã cung cấp cho người xem một thông tin vô cùng quan trọng: đó là lần đầu tiên ta được thấy tổng thể vùng đất này, nó là một hòn đảo nằm giữa đại dương mà nhìn từ xa trông giống như hình dạng của một con thuyền bị lật úp. Phải chăng đó chính là con thuyền của Noah?

Oshii Mamoru vốn nổi tiếng vì cách kể chuyện mang tính triết lí trong những bộ phim có hơi hướng khoa học viễn tưởng mà đỉnh cao chói lọi là serie Ghost in the Shell, Kerberos… Angel’s Egg là phim thuộc giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp ông tự đạo diễn và viết kịch bản (trước đó, Oshii đạo diễn loạt phim hoạt hình Urusei Yatsura chuyển thể từ manga của Takahashi Rumiko); dù vậy, ở tác phẩm này, ta đã thấy những đặc trưng trong phong cách của ông được xác lập khá rõ ràng. Ở thời điểm mới ra đời, Angel’s Egg không nhận được đánh giá tích cực từ giới phê bình. Tuy nhiên, qua thời gian, bộ phim dần khẳng định được vị trí trong gia tài sự nghiệp của Oshii Mamoru. Brian Ruh, một chuyên gia nghiên cứu văn hóa Nhật Bản đương đại đã cho rằng tác phẩm này là “một trong những bộ phim đẹp và giàu thi tính nhất dưới hình thức hoạt họa.” Trong một bài báo trên tạp chí Senses of Cinema về Oshii, tác giả Richard Suchenski cũng có nhận xét rằng bộ phim là “sự chắt lọc tinh túy nhất từ cả yếu tố thần thoại nằm trong mặt thị giác và phong cách thường thấy của Oshii,” “Patlabor 2 có thể tinh tế hơn, Ghost in the Shell có thể quan trọng hơn, và Avalon có thể mang phức cảm thần thoại nhiều hơn, nhưng Angel’s Egg với công nghệ thấp và vẽ tay vẫn là tác phẩm mang đậm tính cá nhân nhất của Oshii.”

Điểm đánh giá: 10/10
Kodaki

Bài viết đã được đăng trong sách Điện ảnh Nhật Bản và Việt Nam đương đại: Giao lưu văn hóa và ảnh hưởng do TS. Đào Lê Na chủ biên, NXB. Thông tin và Truyền thông ấn hành năm 2019.

Đọc bài viết

Cafe sáng