Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Một góc nhìn chính trị về Giải Nobel Văn chương 2019

Giải Nobel Văn học 2018 và 2019 – trao cho Olga Tokarczuk và Peter Handke – được công bố cùng thời điểm, nguyên nhân vì kết quả năm ngoái bị trì hoãn bởi vụ scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện hàn lâm.

Published

on

Trong hơn một thế kỷ qua, Giải Nobel Văn chương vốn dĩ luôn là màn trình diễn gây tranh cãi, khi phía phê bình chỉ trích những người nhận giải là quá ít tiếng tăm, quá Âu hóa, quá trọng nam, quá thử nghiệm, hay đơn giản chỉ là không xứng đáng với vinh dự bậc nhất trong giới văn chương. Và thứ Năm vừa rồi, Nobel đã đặt chân vào vũng bùn lầy lội hoàn toàn mới khi trao giải cho một nhà văn khuynh-hướng-cánh-tả, Peter Handke, người đã đứng lên phát biểu một bài ca ngợi tại tang lễ của Slobodan Milosevic1, cựu lãnh đạo Nam Tư, người từng hầu tòa vì tội ác chiến tranh.

Năm nay đáng nhẽ phải là cú tái khởi động của Ủy ban Nobel, sau vụ scandal khó coi dính líu đến bạo hành tình dục và sai lầm tài chính, buộc Ủy ban Nobel phải trì hoãn Giải Nobel Văn chương 2018. Năm nay, Viện hàn lâm Thụy Điển đối diện với những kỳ vọng lớn lao và áp lực mạnh mẽ, bởi họ đã hứa hẹn sẽ trao không chỉ một mà đến hai giải thưởng.

Bên cạnh Handke – người nhận Giải Nobel 2019 vào thứ Năm, tiểu thuyết gia Olga Tokarczuk cũng nhận Giải Nobel 2018. Cả hai nhà văn đều đến từ Trung Âu, đều nổi tiếng bởi những quan điểm chính trị bộc trực và thỉnh thoảng trái chiều. Nhưng chính giải thưởng dành cho Handke mới là yếu tố khai hỏa những phản ứng dữ dội, trong đó có lời khiển trách hiếm hoi từ một tổ chức văn học khác, PEN America.

Chủ tịch PEN America, tiểu thuyết gia Jennifer Egan phát biểu trong một tuyên ngôn đại diện cho tổ chức: “Chúng tôi chết lặng trước sự lựa chọn một nhà văn, người đã sử dụng phát ngôn công chúng của mình để đục khoét lịch sử và công khai gửi cứu trợ đến những kẻ gây ra tội ác diệt chủng, như cựu Tổng thống Serbia Slobodan Milosevic và thủ lĩnh Bosnian Serb Radovan Karadzic. Ngay tại thời điểm mà chủ nghĩa dân tộc và lãnh đạo chuyên quyền đang trỗi dậy, những thông tin đánh lạc hướng lan rộng khắp thế giới, cộng đồng văn học xứng đáng nhiều hơn là quyết định này. Chúng tôi hối tiếc sâu sắc lựa chọn của Ủy ban Nobel trong lĩnh vực Văn chương.”

Khi được hỏi về quyết định của viện hàn lâm liên quan đến Handke, Mats Malm – thành viên và thư ký thường trực của viện – phát biểu quyết định này dựa trên những lập trường văn chương và thẩm mỹ, bổ sung rằng: “Tôn chỉ của Viện hàn lâm không phải là cân bằng giữa chất lượng văn chương và những cân nhắc chính trị.”

Trong khi giải thưởng của Handke bị một số phe phái lên án, rất nhiều người trong giới văn chương đã hân hoan chúc mừng Tokarczuk, một tiểu thuyết gia và nhà thơ thử nghiệm từ Ba Lan, người được cả độc giả và giới phê bình yêu quý.

Handke đến từ nước Áo, mẹ ông là người Slovenia. Ông có quan điểm tán thành chủ nghĩa dân tộc và đã công khai bày tỏ hoài nghi về vụ tàn sát người Hồi giáo trong Chiến tranh Balkan. Tokarczuk là người thường xuyên phê bình thành viên chủ nghĩa dân tộc cánh-tả tại Ba Lan, những người đã quy kết bà là kẻ phản bội. Chủ biên người Ba Lan của bà đã từng phải thuê vệ sĩ để bảo vệ bà.

Một số tác gia xuất chúng khác, trong số đó có Hari Kunzru và Salman Rushdie, cũng phê bình quyết định lựa chọn Handke, người từ chối mọi liên hệ thông qua chủ biên người Mỹ. Về phần Tokarczuk, bà có vẻ chẳng mấy bận tâm. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Ba Lan Gazeta Wyborcza vào thứ Năm, Tokarczuk nói bà rất vui khi nhận giải Nobel cùng với Handke. “Tôi cũng rất vui khi Peter Handke nhận giải cùng tôi, tôi rất coi trọng ông ấy. Thật tuyệt vì Viện hàn lâm Thụy Điển đã đánh giá cao văn học Trung Âu. Tôi mừng là chúng tôi vẫn còn bám trụ được.”

Qua việc trao giải cho hai nhà văn châu Âu danh tiếng, viện hàn lâm dường như đã phớt lờ những lời chỉ trích trong quá khứ rằng giải thưởng đã trở nên quá Tây phương và trọng Âu châu. Kể từ giải thưởng đầu tiên được trao vào năm 1901, phần lớn người thắng cuộc là người châu Âu và những tác giả nói ngôn ngữ Anh. Trong lịch sử, phụ nữ cũng không được đại diện đúng mực. Trong số 116 người chiến thắng Giải Nobel Văn học, Tokarczuk là người phụ nữ thứ 15.

Một số người theo dõi văn chương đã trông chờ rằng năm nay, viện hàn lâm sẽ lựa chọn ít nhất một nhà văn không phải người châu Âu; có lẽ sẽ trao giải cho những cái tên phổ biến, trong số đó là tiểu thuyết gia người Kenya Ngũgĩ wa Thiong’o, nhà văn Trung Quốc Tàn Tuyết và nhà thơ người Syria Adunis.

Trong một phát biểu thực hiện năm nay, Anders Olsson, người dẫn dắt ủy ban văn học của viện hàn lâm, thừa nhận rằng tính đa dạng hẳn nên trở thành một ưu tiên và ngụ ý ủy ban sẽ cân nhắc việc đa dạng hóa về mặt địa lý và giới tính khi đưa ra lựa chọn của mình.

“Thời gian trước đây, chúng ta đã có, hẳn nên nói là, một quan điểm văn chương hướng về phương Tây, và giờ chúng ta đã phổ cập cái nhìn của mình ra toàn thế giới,” ông nói trong một bài phỏng vấn video. “Thời gian trước đây, chúng ta đã quá trọng-nam-giới. Hiện nay chúng ta đã có rất nhiều nữ nhà văn thật sự xuất sắc, vì thế giải thưởng và cả quá trình liên quan đến giải thưởng càng trở nên căng thẳng với quy mô rộng lớn hơn.”

Viện hàn lâm đã trì hoãn giải thưởng năm ngoái vì scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện – người bị kết tội cưỡng hiếp và rò rỉ tên của những người chiến thắng. Đây là cuộc khủng hoảng dẫn đến sự ra đi của thành viên ban quản trị và đòi hỏi đến sự can thiệp từ nhà vua Thụy Điển. Sau scandal, viện hàn lâm đã đưa ra nhiều điều chỉnh trong tổ chức, bao gồm việc bổ nhiệm năm cố vấn độc lập để bình chọn người xứng đáng.

Thậm chí, một nhóm những nhân vật có tầm ảnh hưởng văn hóa tại Thụy Điển đã thiết lập một giải thưởng thay thế, the New Academy Prize (tạm dịch Giải Tân Hàn Lâm) để lấp đầy khoảng trống và chứng minh rằng việc tìm kiếm người chiến thắng có thể được thực hiện theo phong cách công khai, đối lập với sự vận hành trong bóng tối của viện hàn lâm. Người chiến thắng được họ lựa chọn là Maryse Conde, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử từ Guadeloupe.

Về Peter Handke

Handke sinh năm 1942 tại miền nam nước Áo. Cả cha đẻ và cha dượng ông đều phục vụ trong quân đội Đức Wehrmacht. Sau khi mẹ ông tự tử vào năm 1971, Handke thi thoảng sẽ viếng thăm Nam Tư. Phần lớn tuổi thơ ông trải qua tại một Berlin sứt sẹo sau chiến tranh và sau đó, ông học luật tại Đại học Graz. Ông bỏ học năm 1965, sau khi tiểu thuyết đầu tay The Hornets (tạm dịch Những con ong bắp cày) được một chủ biên nhận in. Hiện nay, thành tựu của ông bao gồm tiểu thuyết, luận văn, kịch bản và những tác phẩm kịch khác. Ông hiện sống tại Chaville, vùng ngoại ô Paris kể từ năm 1990.

Peter Handke được vinh danh bởi “công trình có sức ảnh hưởng lớn cùng tài nghệ ngôn ngữ khéo léo để khám phá vùng ngoại biên và đặc trưng riêng biệt của trải nghiệm loài người.”

Những nhà phê bình văn học đã mô tả công trình của ông là avant-garde2, nhưng Handke phủ nhận cái nhãn ấy, tự nhìn nhận mình là một “nhà văn cổ điển bảo thủ.”

Những tác phẩm mà ông dành nhiều thập kỉ để viết, xuất bản lần đầu tại Đức bao gồm A Sorrow Beyond Dreams (tạm dịch Nỗi buồn hơn cả những giấc mơ), tiểu thuyết ngắn dựa trên cái chết của mẹ ông đã nhận được sự hoan nghênh từ giới phê mình. Khi bình tác phẩm trên tờ The New York Times năm 1975, Michael Wood gọi đây là “lễ truy điệu hoành tráng dành cho những sinh mệnh Đức và Áo bị chôn vùi” và “bài viết xuất sắc nhất mà tôi từng được đọc trong nhiều năm.”

Tuy nhiên, tình bạn giữa Handke và Slobodan Milosevic cùng lời bình luận của ông – dường như giảm thiểu sức nặng của những vụ thảm sát người Hồi giáo Bosnia tại Serbia – dẫn đến việc ông bị lên án. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2006, ông nói về Milosevic: “Tôi nghĩ ông ấy là một người đàn ông bi kịch. Không phải là anh hùng, chỉ là một con người bi kịch thôi. Tôi là nhà văn, không phải là thẩm phán.”

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông nói mình không hề trông đợi việc nhận Giải Nobel, nguyên nhân đến từ chính vụ tranh cãi này. “Khi tôi còn trẻ hơn thì tôi đã để tâm đấy. Nhưng hiện nay tôi nghĩ là tất cả đã chấm hết sau những lời bình luận về vụ Nam Tư rồi.”

Trong năm ấy, ông được lựa chọn là người chiến thắng giải thưởng danh giá của Đức – Giải Heinrich Heine, nhưng quyết định đã bị thu hồi giữa những phẫn nộ từ phía công chúng. Đáp lại cơn thịnh nộ này, Handke khẳng định rằng ông chưa bao giờ phủ định hoặc giảm thiểu những cuộc thảm sát tại Nam Tư. Khi Handke nhận Giải International Ibsen năm 2014, ông phải đối mặt với những người chống đối ngay tại lễ trao giải.

Tại Mỹ, Farrar, Straus và Giroux đã xuất bản những bản dịch của Handke từ năm 1970, bắt đầu với tuyển tập Kaspar and Other Plays (tạm dịch Kaspar và những vở kịch khác), theo sau đó là tiểu thuyết The Goalie’s Anxiety at the Penalty Kick (tạm dịch Mối lo âu của thủ môn trước những cú đá penalty). Kể từ đó, FSG đã phát hành hơn 15 cuốn sách được viết bởi Handke.

“Handke là một trong những người chú trọng văn phong, tạo nên những vần văn tuyệt vời nhất ở Đức, người đã dành cả sự nghiệp của mình để thám hiểm cả thế giới tự nhiên và thế giới của ý thức con người với sự chính xác tinh xảo, sự hóm hỉnh và đầy dũng khí,” chủ tịch của FSG, Jonathan Galassi phát biểu.

Về Olga Takarczuk   

Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan, là con gái của hai giáo viên. Cha của bà cũng là thủ thư trường, và chính trong thư viện, Tokarczuk đã tìm thấy tình yêu văn chương, ngấu nghiến hết cuốn sách này đến cuốn sách khác.

Nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk nhận Giải Nobel Văn chương 2018 “vì khả năng sáng tạo lối tường thuật, cùng sự say mê tường tận, đại diện cho việc băng qua những ranh giới như một hình thức sự sống.”

Bà theo học chuyên ngành tâm lý tại Đại học Warsaw, sau đó từng làm việc như một nhà tâm lý học trị liệu nhưng cảm thấy mình không phù hợp với công việc. Bà ghi nhận trong một bài phỏng vấn rằng bà từ bỏ công việc sau khi nhận ra bà “còn loạn thần kinh hơn cả bệnh nhân của mình.”

Tokarczuk xuất bản cuốn sách đầu tiên, một tập thơ năm 1989. Năm 1993, bà giành được rất nhiều lời khen ngợi khi xuất bản tiểu thuyết đầu tiên The Journey of the Book-People (tạm dịch Cuộc du hành của Người-Sách), một câu chuyện hư cấu kể về những nhân vật đang kiếm tìm một cuốn sách bí ẩn ở Pyrenees, lấy bối cạnh tại Pháp và Tây Ban Nha thế kỷ 17. Cuốn sách được trao Giải Polish Publisher’s cho tiểu thuyết đầu tay.

Nhưng bước đột phá thật sự của bà được cho là tiểu thuyết thứ ba Prawiek i inne czasy, hay Primeval and Other Times (tạm dịch Thời nguyên sinh và những thời đại khác). Xuất bản lần đầu năm 1996, cuốn sách kể về câu chuyện ba thế hệ của một gia đình người Ba Lan, từ 1914 đến khởi nguyên của kỳ Đại Đồng năm 1980.

Năm 2018, bà trở thành tác giả Ba Lan đầu tiên đoạt Giải Man Booker International với tiểu thuyết Flights (tạm dịch Những chuyến bay), do Jennifer Croft dịch và được Riverhead xuất bản tại Hoa Kỳ. Croft bình luận, “Tác phẩm của bà vừa phổ thông vừa rất Ba Lan.” Là một sê-ri 116 mẩu truyện ngắn về những nhân vật đang trên đường lưu chuyển hoặc ly hương, cuốn sách được khen ngợi là một liều thuốc văn chương, giải độc cho sự cô lập văn hóa, chủ nghĩa bài ngoại và chủ nghĩa dân tộc.

Tokarczuk viết, “Tính lưu động, tính di động và cảm giác viễn vông – đó là những phẩm chất khiến chúng ta trở nên văn minh. Người man rợ không du ngoạn. Họ đơn giản chỉ đi từ địa điểm này sang địa điểm khác hoặc thực hiện những cuộc cướp bóc.”

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Times, Tokarczuk nói rằng bà đặt bút viết cuốn tiểu thuyết này từ hơn một thập kỷ trước, ngay trước vụ Brexit và những phong trào chủ nghĩa dân tộc diễn ra khắp châu Âu. “Tôi viết cuốn sách này khi thế giới hướng về việc mở rộng vòng tay với tất cả mọi người. Hiện nay, chúng ta lại chứng kiến Liên Minh Châu Âu có lẽ sẽ bị suy yếu dần bởi nhiều chính sách từ những quốc gia như Ba Lan và Hungary, một lần nữa tập trung vào biên giới của họ.”

Bà đồng thời nhắc đến chính sách nhập cư càng ngày càng khắt khe tại Mỹ. “Mười hai năm trước đây, không hề có ai đề cập đến cái ý tưởng xây tường hay ranh giới – cái ý tưởng đầu tiên được thực hiện bởi chế độ độc tài. Vào thời điểm bấy giờ, tôi phải thừa nhận rằng mình đã dám chắc chúng ta đã đi qua cái thời của chủ nghĩa chuyên chế rồi.”

Tại Ba Lan, Tokarczuk là nhân vật có sức ảnh hưởng với tính cách thẳng thắn, được biết đến bởi quan điểm chính trị đối lập với đảng Luật lệ và Công Lý cánh hữu. Bà gặp phải với nhiều lời chỉ trích sau khi xuất bản The Books of Jacob (tạm dịch Những cuốn sách của Jacob), lấy bối cảnh thế kỷ 18 tại Ba Lan, ủng hộ sự đa dạng văn hóa, và đạt giải thưởng văn học hàng đầu tại Ba Lan – Giải Nike năm 2015. Mặc dù được độc giả và nhà phê bình đón nhận, tiểu thuyết đã thu hút nhiều lời lên án sắc bén từ những nhóm chủ nghĩa đế quốc, và Tokarczuk phải chịu đựng những chiến dịch quấy rối, những lời dọa giết và kêu gọi trục xuất. Vào tháng Một, bà thực hiện một bài viết quan điểm trên tờ Times bàn về tình trạng của quốc gia sau vụ mưu sát một vị thị trưởng dẫn đầu đảng Tự do. “Tôi lo lắng về tương lai gần của chúng ta.”

Trong tháng này, khi được hỏi về các tác phẩm của Tokarczuk, Piotr Glinski – bộ trưởng bộ văn hóa Ba Lan – đáp rằng ông đã thử đọc nhưng chưa bao giờ kết thúc bất cứ cuốn sách nào của bà. Vào thứ Năm, Glinski đã chúc mừng Tokarczuk. “Đây là bằng chứng rằng văn hóa Ba Lan được toàn thế giới coi trọng,” ông viết trên Twitter. Donald Tusk, chủ tịch Hội đồng Châu Âu và cựu thủ tướng Ba Lan, cũng đưa ra lời chúc mừng trong một tweet. Ông bổ sung rằng, ông đã đọc xong hết tất cả những cuốn sách của bà.

Nobel văn chương từng gặp phải những scandal nào khác?

Một số người lúc nào cũng gièm pha về người nhận giải, hoặc ít nhất phán xét những người này không hợp với gu thưởng thức của họ. Năm 2016, khi Bob Dylan3 chiến thắng, ông là nhạc sĩ đầu tiên có vinh dự này. Giải thưởng của ông đã kéo theo hàng tuần tranh luận rằng liệu một người viết nhạc có nên đạt giải thưởng văn học không. Tiểu thuyết gia Jodi Picoult viết trên Twitter: “Tôi rất mừng cho Bob Dylan, #NhưngLiệuĐiềuNàyCóNghĩaLàTôiCóThểĐạtGiảiGrammy?”

Giải thưởng trong năm tiếp theo là một sự lựa chọn truyền thống hơn, được trao cho Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh được biết đến với tiểu thuyết The Remains of the Day (Tạm dịch Tàn dư của ngày), kể về một quản gia phục vụ Lãnh chúa Anh trong những năm trước Thế chiến thứ II.

Hết.

Mèo Heo dịch từ The New York Times.

Chú thích:

  1. Slobodan Milosevic là Tổng thống Serbia (1989 – 1997) và Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nam Từ (1997 – 2000). Sau Chiến tranh Kosovo năm 1999, ông bị khối quân sự NATO do Mỹ dẫn đầu lật đổ và bị buộc tội diệt chủng tại tòa án xử các tội phạm chiến tranh. Theo cáo buộc của phương Tây, ông đã tham gia tích cực vào việc thảm sát nhiều thường dân ở Sarajevo và Sebrenica. Phải đến năm 2015, tòa án quốc tế mới tuyên bố không có đủ chứng cứ để kết tội ông, nhưng khi đó ông đã mất gần 10 năm.
  2. Avant-garde là phong cách thử nghiệm, đột phá hoặc không chính thống áp dụng trong nghệ thuật, văn hóa và xã hội. Những đặc trưng cơ bản của nó là phi truyền thống, cách tân thẩm mỹ cùng sự phản đối ban đầu, thậm chí nó có thể đưa ra những lời phê bình trong mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Avant-garde tranh đấu với giới hạn thông thường về quy chuẩn hoặc nguyên trạng.
  3. Bob Dylan là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt năm thập kỷ trở lại đây.

1 Comment

1 Bình luận

  1. Minh

    Tháng Mười 16, 2019 at 10:21 sáng

    Với danh sách được tuồn ra năm nay từ trang NiceOdds thì những nhà văn được giải tới từ Trung Âu không hẳn là điều gì quá đặc biệt. Văn chương Ba Lan nói riêng và Đông Âu nói chung luôn mang một điều gì đó bảng lảng, có cũng có thể, hợp với đại đa số các nhà phê bình Nobel đến từ bên kia bán đảo Scandinavi hơn là phần đông. Ta có Cái trống thiếc của Gunter Grass, có phố Descarte của Czeslaw Milosz hay Sosha của Isaac Singer, có Kinh cầu cho những đứa trẻ chưa ra đời của Kertész Imre và hàng ha sa số những tác phẩm khác được dịch giả Lê Bá Thự đều đặn chuyển ngữ hàng năm. Điều này rõ ràng không hẳn là sự mới mẻ gì cho cam, nhưng nó như lời tự khẳng định thì có thể.

    Nobel qua đây vẫn chứng minh sự già nua của mình, mà đôi ba văn sĩ khác đôi lần đòi hạ bệ nó, như Sinead O’Connor từ chối nhận Grammy trong một mặt trận khác. Đứng dưới góc độ một đọc giả châu Á, Tàn Tuyết đáng nhẽ nên được công nhận nhiều hơn bởi khả năng tiên phong trong lối viết và các bài bình so sánh của bà. Có lẽ văn chương của bà siêu thực đến độ, chính sự chuyển ngữ làm cản trở nó (do đôi khi bà được so sánh với Kafka) hay một chế độ Trung cộng đang lên và Nobel cũng đang đồng lõa với chủ nghĩa tư bản? Khó mà tin vào vị thay mặt hội đồng bên trên rằng chính trị vô nghĩa lý, nhưng dẫu sao, ít ra, được NiceOdds đem ra cá cược, Tàn Tuyết cũng có chỗ đứng riêng mình.

Viết bình luận

Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Chấm xanh mang tên Phương Nam trong 39 năm lịch sử vàng son của Sài Gòn

Published

on

39 năm làm bạn với Sài Gòn cũng là 39 năm nhìn thời cuộc thay đổi, bao biến động trôi qua và chứng kiến ba lớp thế hệ người ta trưởng thành.

Khởi điểm bằng cách “xé rào văn hóa” thời bao cấp 

Tua ngược trở về thời điểm 40 năm trước, Sài Gòn của thời bao cấp hoàn toàn khác với một Sài Gòn phóng khoáng của bây giờ.

“Nhà sách tự chọn” từng là một khái niệm không tồn tại.

Thời bao cấp, việc xuất bản sách có một hệ thống phát hành riêng. Không ai được phép xuất bản trật đường ray khỏi quy trình phân phối của Đảng. Có thể hiểu là, các nhà xuất bản sau khi in sách xong thì phải giao cho Công ty Phát hành sách Trung ương hoặc Thành phố. Người đọc nhận sách từ các cô mậu dịch viên với gương mặt lạnh tanh cùng biểu cảm “như sắp ban ơn cho người khác”. Hơn nữa, trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, sách và tập học sinh thường sử dụng giấy tái chế, dẫn đến chất lượng giấy và chất lượng in đều rất kém.

Không hài lòng với cung cách phân phối lưu thông cũ kỹ này, một nhóm những sinh viên và tri thức trẻ “khát sách” thời bấy giờ đã vận động kêu gọi sự “xé rào trong văn hóa”, cụ thể là thay đổi quá trình xuất bản và phân phối sách. Họ đã không ngần ngại cày xe cuốc bộ đến các nhà xuất bản xin phép liên kết phát hành – một việc chưa hề có tiền lệ tại Sài Gòn! May mắn thay, họ đã nhận được sự ủng hộ của Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (mà sau này là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt.

Ngày khai trương Nhà Sách Phương Nam - Đại Thế Giới (Quận 5)

Cửa hàng sách đầu tiên của Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 (một cái tên đúng điệu thập niên 90!) ra đời với diện tích rộng 300-400 mét vuông, để khách hàng có thể thoải mái xem sách, lựa chọn và tính tiền. So với thời nay thì chẳng có chi mới mẻ và độc đáo, nhưng mô hình “nhà sách tự chọn” đầu tiên đã gây nên cơn sốt tại Sài Gòn vào năm 1982.

Không còn hình ảnh các cô mậu dịch viên “khó ở trong truyền thuyết”, nay ta được ngắm các cô nhân viên nhà sách trẻ trung, nền nã, duyên dáng trong tà áo dài thoăn thoắt phục vụ khách. Đội ngũ nhân viên ấy là một phần không thể thiếu trong việc trao gửi những cuốn sách chất lượng đến tay nam thanh nữ tú yêu sách, yêu văn hóa đọc. Họ cũng trở thành một biểu tượng của nhà sách thuở ấy, làm biết bao trái tim nam thanh niên Sài Thành rung động.

Nhà Sách Phương Nam - Phú Thọ (Quận 11)

Năm 1999, Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 đổi tên thành Nhà Sách Phương Nam. Lấy trọng tâm là Sài Gòn, lan tỏa tri thức khắp miền Nam (và xa hơn nữa).

Trưởng thành cùng Gen X, Millennial và Gen Z

Là "nhà sách tự chọn" tiên phong tại Sài Gòn, nhưng khi thời cuộc thay đổi, Phương Nam có giữ vững được vị thế của người đi đầu không?

Sài Gòn từ thập niên 90 đến khi bước sang thiên niên kỷ mới đã trải qua nhiều biến chuyển, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần. 30 năm, Nhà Sách Phương Nam chứng kiến sự ra đời và “trỗi dậy” của Gen X, Millennial và sắp tới là Gen Z. Hiện nay, những thế hệ này chiếm đa số trong tệp khách hàng của Nhà Sách Phuơng Nam, càng ngày càng tự tin và khẳng định mình chính là lực lượng cốt yếu tô vẽ nên tấm phông nền độc đáo mang tên văn hóa Sài Gòn.

Thời bao cấp trôi qua, Gen X - những người con trưởng thành trong bối cảnh xã hội mới có đầy đủ điều kiện học tập, với nguồn tài chính dồi dào và nhu cầu văn hóa nâng cao. Lúc này, nhà sách không chỉ đơn thuần là nơi đến, lựa sách và mang về đọc, mà cần phát huy tiềm lực trở thành một địa điểm tham quan và giải trí cho giới trẻ sau 8 tiếng học tập và làm việc.

Nhà Sách Phương Nam quyết định đưa mô hình nhà sách vào các Trung tâm thương mại lớn, khởi đầu là Vincom Lê Thánh Tôn (quận 1). Thời điểm bấy giờ, đây là một quyết định liều lĩnh, nhiều ý kiến cho rằng Phương Nam “chơi trội”. Liệu nhà sách có tồn tại được trên một năm không? Tuy nhiên, sự thật đã chứng minh: đưa sách trở thành một sản phẩm sang trọng là quyết định đúng đắn.

Nhà Sách Phương Nam - Vincom Lê Thánh Tôn (Quận 1)

Thế hệ Millennial (Gen Y) và Gen Z tại Sài Gòn may mắn chứng kiến những tác động đầu tiên và sự lan tỏa mạnh mẽ của Internet. Đời sống của họ gắn chặt với công nghệ; điện thoại và máy tính trở thành công cụ không-thể-tách-rời trong cuộc sống, cùng những suy nghĩ độc lập hoàn toàn so với ông bà cha mẹ. Một thế hệ mới, với túi tiền rủng rỉnh hơn và nhạy bén với xu hướng toàn cầu hơn - không giới hạn trong thời trang, điện ảnh và còn cả mảng thông tin sách báo.

Nhà Sách Phương Nam - Đường sách Nguyễn Văn Bình (Quận 1)

Sách - với Milennial và Gen Z - không chỉ là “tập hợp rất nhiều chữ”, mà là một phong cách và lối sống cần sẻ chia. Sự phát triển của các cộng đồng đọc sách, các tạp chí sách online, #bookstagram và các trào lưu văn hóa tương tự liên tục được sinh ra và cập nhật mới thúc đẩy Phương Nam không được phép dậm chân tại chỗ, mà phải “trưởng thành” cùng thế hệ trẻ.

Học hỏi những mô hình thành phố sách cả ngàn mét vuông từ trên thế giới, Nhà Sách Phương Nam khai sinh 3 Book City tại Sài Gòn, mỗi nơi lại được cộp mác đóng mộc một phong cách thời thượng riêng để làm hài lòng các độc giả sành điệu, đồng thời không quên tái định hướng và cách tân thương hiệu “Nhà Sách Phương Nam” một cách tổng thể.

Phương Nam Book City - Vạn Hạnh Mall (Quận 10)

Phương Nam Book City - Hồng Bàng (Quận 5)

Và không thể nhắc đến lợi thế ngoại ngữ - một trong những mũi nhọn để các 8X, 9X có được tấm hộ chiếu công dân toàn cầu. Mà thông thạo ngoại ngữ không chưa đủ, người trẻ hiện nay có nhu cầu mạnh mẽ được hòa mình vào các làn sóng văn hóa, học thuật của thế giới, thông qua cây cầu là các sản phẩm văn hóa nhập ngoại với chất lượng đã được kiểm chứng. Các sản phẩm sách báo ngoại văn của Phương Nam xuất hiện, như một chất xúc tác cho quá trình tiếp cận này.

Phương Nam liên tục cập nhật các tác phẩm văn học mới phát hành trên thế giới, được công nhận bởi hội đồng và giải thưởng văn học lớn như Pulitzer, Man Booker,... cùng những cuốn sách phát hành cùng thời điểm với thế giới. Lồng ghép những tiện ích mới vào tấm phông nền văn hóa truyền thống, Nhà Sách Phương Nam đã trở thành “món ngon tinh thần” của giới trẻ Sài Thành. 

Nhà Sách Phương Nam - Estella Place (Quận 2)

Phương Nam chống dịch cùng Sài Gòn!

Để tôi kể cho bạn nghe, câu chuyện về cách Phương Nam linh hoạt chống dịch cùng Sài Gòn!

Dịch Covid trong năm 2020-2021 chắc chắn là sự kiện “độc đáo” và có tác động to lớn nhất đến xã hội Việt Nam trong thập niên 2020.

Hai năm trôi qua, đến bây giờ chắc bản thân người Sài Gòn cũng chẳng thể nhớ chính xác được số lần thành phố nhà mình đã bị dịch bệnh “xâm lấn”. Hiển nhiên Nhà Sách Phương Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng. Với 20 chi nhánh nhà sách tại Sài Gòn, Phương Nam vội vàng "gồng gánh" chống dịch. Nghiêm túc thực hiện những quy định vệ sinh và giãn cách của Thủ tướng Chính phủ chỉ là bước khởi đầu, Phương Nam không ngại thay đổi mình để đồng hành cùng thành phố.

Hội Sách Tết Canh Tý 2020

Khoảnh khắc khiến rất nhiều khách hàng Phương Nam giật mình kinh ngạc là khi họ phát hiện, giữa tầng tầng sách báo là sự hiện diện hiên ngang của... gạo thơm lài, dầu ăn Tường An cùng 101 chủng loại mì tôm, thịt hộp, mắm muối.

Phương Nam dành không gian để nhập về mặt hàng nhu yếu phẩm và sản phẩm vệ sinh - kháng khuẩn. Giải thích cho sự xuất hiện không hề được dự đoán trước này, ban lãnh đạo của Nhà Sách Phương cười xòa đáp: Đất nước chống dịch, thì mình linh hoạt hỗ trợ thôi!

Và khi đất nước cần, Phương Nam cũng sẵn sàng đóng cửa một số nhà sách để hạn chế tụ tập đông người và “di chuyển địa bàn” lên mặt trận online: website nhasachphuongnam.com rục rịch thay áo và xác lập vị thế thiết yếu của mình trong hệ sinh thái Phương Nam, để chắc chắn rằng đời sống văn hóa tinh thần của người Sài Gòn vẫn phong phú và giàu có, hệt như cái thời chúng ta chưa hề biết Covid là gì!

Phương Nam Book City - Saigon Center (Quận 1)

39 năm đồng hành cùng Sài Gòn, trong đó có 2 năm lịch sử đại dịch Covid. Cũng như những cư dân thành phố, Nhà Sách Phương Nam bắt đầu bằng lo lắng, ngạc nhiên,... cũng đã chuyển sang trạng thái tập làm quen và vững vàng chống dịch.

Sài Gòn vẫn chưa thất thủ! Lịch sử của thành phố vẫn đang chờ những cư dân hiện tại và thế hệ tương lại viết tiếp, và mong rằng những trang vàng son ấy vẫn có sự hiện diện của một nét bút xanh mang tên Phương Nam.

Đọc bài viết

Trà chiều

Cách Gudetama, một chiếc trứng lười có mông, trở thành hiện tượng văn hoá

Ôi, Gudetama! Ôi, loài người!

Published

on

Nhìn sơ qua thì khó có thể nhận ra, nhưng Gudetama là một chiếc lòng đỏ trứng có mông. Nó là nhân vật hư cấu: một nhân vật có tứ chi nhưng không có ngón tay hay ngón chân. Nó có miệng nhưng không có răng. Nó có đùi nhưng không thấy khớp, có đầu nhưng không có cổ. Đôi mắt nó trông giống như hai hạt vừng. Nó không có giới tính cụ thể.

Nhìn bằng mắt thường, chiếc trứng lười có thể bị nhầm thành một hạt đậu vàng, một hạt ngô, hay một giọt mật ong chẳng mấy bắt mắt. Nhưng Gudetama không phải là bất kì thứ gì trong số đó – bởi vì điều đó sẽ mang sức nặng quá lớn, đặc biệt khi đây là một câu chuyện thành công mà thoạt hình thì chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả.

Gudetama là nhân vật được sinh sau đẻ muộn trong vũ trụ Sanrio – thế giới nhân vật hư cấu mà cho đến gần đây vẫn xoay quanh Hello Kitty. Những năm gần đây, Gudetama là nhân vật nổi tiếng nhất của Sanrio, mặc dù cái ngoại hình lõng bõng của nó đi ngược với định nghĩa của công ty về khái niệm “dễ thương”.

Nếu Hello Kitty và những nhân vật đồng hương như chú ếch Keroppi nổi tiếng với khả năng “hóa phép” các vật dụng như hộp cơm, hành lý, áo phông, bàn chải đánh răng,... thêm phần dễ thương và cuốn hút, đồng thời gợi lên sự ấm áp nơi những trái tim lạnh giá nhất; Gudetama - chào đời vào năm 2013 – lại được sinh ra trong một thế giới mà có lẽ nó sẽ muốn chối bỏ và trốn tránh.

Chú ếch Keroppi.

Gudetama trông giống như một thiết kế nhân vật dang dở, thế nhưng mọi người không thể ngừng yêu thích nó. Vẻ ngoài của Gudetama chỉ là một phần nhỏ trong sức hấp dẫn của nó. Điểm thu hút nhất chính là tính cách lãnh đạm và thờ ơ của nó. Gudetama có thể nói chuyện (bằng những câu ngắn), di chuyển (nhưng giống như ngọ nguậy hơn), thể hiện cảm xúc (chỉ có đau đớn) và thở (đặc biệt là khi nó ngủ). Mặc dù nó có thể làm những điều này và có tiềm năng làm nhiều thứ hơn thế, nhưng nó không muốn làm. Mỗi ngày mới là một cơ hội để Gudetama trải nghiệm cuộc sống với mức năng lượng thấp nhất, và điều khiến nó sung sướng nhất là không làm gì cả.

Thật kỳ lạ khi một quả trứng lười biếng lại có thể thu hút sự yêu mến rộng rãi như vậy. Sự yêu mến này bắt nguồn từ tính cách gần gũi của nhân vật, nhu cầu được chăm sóc của nó và cách nó thách thức ta, khiến ta phải suy nghĩ lại về những gì ta thường coi là dễ thương. Gudetama và sự nổi tiếng của nó là một phần của phong trào văn hoá mở rộng – đây là phản lực hướng tới cuộc sống vốn đã bị chọt thủng bởi sự nghi ngờ, sóng gió và phẫn nộ.

Sự ra đời của Gudetama: một sản phẩm “về nhì” nhưng vẫn cứ phát triển mạnh mẽ

Từ khoảnh khắc chào đời, Gudetama đã luôn là kẻ thua cuộc.

Năm 2013, Sanrio tổ chức cuộc thi sáng tạo nhân vật dựa trên thực phẩm. Những cuộc thi như vậy được tạo ra vì hai mục đích: giúp nhà thiết kế của công ty nghĩ ra ý tưởng để sáng tạo, và đóng vai trò như một cuộc thử nghiệm cho các gương mặt mới tiềm năng trước khi Sanrio đổ tiền vào hàng hoá tương ứng. Fan bỏ phiếu, và Gudetama đứng thứ hai, thua một miếng cá hồi phi lê vui vẻ tên là Kirimichan.

Lát cá hồi vui vẻ Kirimichan.

Dave Marchi, phó chủ tịch tiếp thị và quản lý thương hiệu của Sanrio chia sẻ với tôi rằng: “Ban đầu, chúng tôi ra mắt các sản phẩm dựa trên nhân vật cá hồi phi lê và bạn bè. Quả trứng lười Gudetama đứng thứ hai, nhưng chúng tôi [vẫn] phát hành những sản phẩm dựa trên Gudetama, và chúng thực sự, thực sự rất thành công.”

Marchi đang khiêm tốn. Hãy nhìn cái góc nhỏ đáng buồn trên trang web của Sanrio - nơi mà Kirimichan và nụ cười bất diệt của nó tồn tại trong cô độc - khi chỉ có hai món đồ in hình Kirimichan được rao bán. Gudetama lại có tới 115 sản phẩm, bao gồm ván trượt, quạt bàn và hộp đựng khăn giấy biết nói, ngoài ra còn có nhiều trang phục thường ngày và thú nhung. Để so sánh thì Hello Kitty - nhân vật hàng đầu của Sanrio - có 226 sản phẩm.

Mặc dù Sanrio chưa tiết lộ doanh thu bán hàng chính xác, Marchi cũng nhận thấy rằng những khách hàng quan tâm đến Gudetama “chắc chắn thiên về nhóm người trưởng thành, nhưng cũng có những đứa trẻ 7 tuổi sở hữu một con thú nhung Gudetama bởi vì chúng nghĩ nó là một chiếc trứng dễ thương và vui nhộn.”

Khi cân nhắc về hình tượng Gudetama, chiến thắng từ tốn và lượng fan trưởng thành hoàn toàn dễ hiểu. Trong một cuộc thi thuần túy dựa trên sự "dễ thương", Kirimichan giành chiến thắng vì đó là tất cả những gì Kirimichan có – một miếng cá hồi phi lê dễ thương, tươi cười và tự xưng là “ngôi sao trong thế giới thực phẩm thái lát”.

Nhưng Gudetama đại diện cho nhiều, nhiều điều hơn thế.

Sức hấp dẫn thực sự của Gudetama là tính cách của nó.

Điều khiến Gudetama khác biệt với các nhân vật còn lại của Sanrio là mối liên kết cá nhân mà nhiều người hâm mộ cảm thấy với nhân vật. Có thể bạn sẽ không hiểu được này nếu bạn mới chỉ nhìn thấy hình vẽ Gudetama. Kết nối đó đến từ các video của Gudetama, trong đó nó, chà, chẳng làm gì cả. Sanrio đã tạo một chuỗi video mà bạn có thể xem trên YouTube - gồm các đoạn ngắn ghi lại cuộc sống đáng chán của Gudetama. Các video cho thấy sự thiếu nhiệt tình của Gudetama theo những cách mà hình ảnh tĩnh không thể nắm bắt được.

“Tôi nghĩ đặc biệt với Gudetama và thái độ mà chúng ta thấy từ nó, nó có một chút khác biệt,” Marchi nói. “Nó hơi lười biếng, nó hơi u sầu, nó có một chút chả quan tâm, thái độ hơi mệt mỏi, buồn ngủ, lười biếng, sao cũng được, mà điều đó có thể được đồng cảm bởi nhiều người, cho dù là bạn 14 tuổi, 34 tuổi hay 50 tuổi.”

Cái tên “Gudetama” kết hợp cụm từ tiếng Nhật “gude gude”, có nghĩa là lười biếng, với “tama”, một dạng viết tắt của “tamago”, tiếng Nhật có nghĩa là trứng. Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Gudetama luôn mệt mỏi. Nó (theo Sanrio, Gudetama không được thụ tinh và không có giới tính) quá mệt mỏi để hắt hơi, quá mệt mỏi để bị ăn, quá mệt mỏi để bị rán lên, và rất nhiều lúc, rất mệt mỏi để chui ra khỏi vỏ trứng. Nó sử dụng một dải thịt xông khói làm chăn và dùng bít tết để làm gối. Nó luôn nói về việc trở về nhà, nhưng không bao giờ nói rõ nhà là đâu. Cuộc sống đối với Gudetama, chủ yếu là nằm trên đĩa, phần lớn là không thể chịu đựng được.

Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Bất kỳ nỗ lực nào cũng đồng nghĩa với đau đớn. Điều duy nhất tồi tệ hơn nỗ lực là nỗ lực cần thiết để phàn nàn về những nỗ lực trên. Bạn có thể lười trong mọi việc, chỉ cần bạn quyết tâm là được.

Trong sự không muốn làm bất cứ việc gì, Gudetama đã luyện thành một nhân cách từ chứng “suy nhược hành động”. Thái độ không có động lực này đã mang lại cho nó nhiều danh hiệu khác nhau, từ “Hello Kitty dành cho thế hệ Millennials” cho đến cái tên chung chung hơn là “anh hùng”.

Gudetama cho thấy văn hoá “kawaii” của Nhật Bản đã trở nên phức tạp - đối lập với định nghĩa “dễ thương” của người Mỹ

Để hiểu Gudetama, bạn phải hiểu rằng khái niệm “dễ thương” của người Mỹ rất đơn giản. Ở Mỹ, những gì bạn thấy, về cơ bản, là những gì bạn có.

Theo lời Aya Kakeda, một chuyên gia hoạt hình và giảng viên tại trường Visual Arts (Nghệ thuật thị giác) tại New York: “Văn hoá nhân vật tại Mỹ và phương Tây vẫn rất trắng đen rõ ràng. Vai ác là vai ác, và anh hùng là anh hùng. Nhân vật dễ thương là biểu tượng của sự ngọt ngào và những điều tốt lành. Bạn có thể nhận thấy điều đó thông qua diện mạo của họ. Điều đó cũng tương tự với các nhân vật ‘ác’.”

Ví dụ kinh điển: hầu hết các bộ phim cũ của Disney. Có thể dễ dàng phân biệt được đâu là nhân vật phản diện vì họ thường xấu xí (Evil Queen trong Bạch Tuyết và 7 chú lùn), kinh tởm (Phù thuỷ biển Ursula của Nàng tiên cá), và/hoặc hoà mình với bóng đêm và những gam màu tối (Scar trong The Lion King). Những kẻ “xấu” trong phim Disney được xem là kẻ ác, lúc nào cũng xấu xa, và không bao giờ dễ thương.

Nhân vật phù thủy biển - đại diện cho cái "xấu" và tàn ác, mưu mẹo và Ariel - đại diện cho sự "đáng yêu", tốt bụng trong phim hoạt hình Disney Nàng tiên cá (1989).

Nhưng ở Nhật Bản, khái niệm dễ thương có nhiều vùng xám hơn, và nó chậm rãi phát triển trong nhiều năm. Khi thảo luận về sự dễ thương ở Nhật Bản, cụm từ được mọi người sử dụng là “kawaii”, một thuật ngữ xuất hiện vào những năm 1970 (theo Sharon Kinsella thuộc Đại học Manchester).

Nguyên lí cơ bản của kawaii là cảm giác dễ thương như trẻ con. Alissa Freedman, giáo sư về văn học và điện ảnh Nhật Bản tại Đại học Oregon nói với tôi rằng: “Kawaii không chỉ là một kiểu dễ thương. Đó là một kiểu dễ thương rất mong manh. Kiểu như là, bạn quá dễ thương nên mọi người muốn chăm sóc bạn. Nó khiến chúng ta muốn quan tâm đến họ.”

Gần đây, theo Kakeda, khái niệm kawaii đã trở nên rời rạc hơn, dẫn đến việc phân mảnh thành nhiều nhóm kawaii khác nhau. “Ví dụ như, kimo-kawaii [đôi khi còn gọi là gro-kawaii] – kimo có nghĩa là kì cục. Có điều gì đó đáng sợ và kỳ lạ về [một nhân vật kimo-kawaii], nhưng đồng thời nó cũng mang vẻ kawaii tương tự.”

Một nhân vật kimo-kawaii của văn hóa Mỹ mà Kakeda đưa ra là Spongebob Squarepants, với đôi mắt lồi và làn da đầy lỗ. Kakeda cũng đưa ra các nhân vật của Nhật gọi là “Kobito Zukan”, trông giống như những người lùn hay thần lùn. Nhân vật này, theo như trang web chính thức của Kobitos thì thích hút đường từ những quả đào.

Kakeda chỉ ra rằng: Khái niệm kimo-kawaii không chỉ xoay quanh ngoại hình. Một trong những nhân vật kimo-kawaii nổi tiếng hơn cả ở Nhật Bản là “Gloomy Bear”. Được tạo ra bởi nghệ sĩ Mori Chack, ngoại hình Gloomy Bear giống bạn bè của Hello Kitty và các nhân vật còn lại của vũ trụ Sanrio. Nhưng khi nhìn vào bộ móng vuốt đẫm máu của nó, bạn sẽ nhận ra rằng nhân vật này rất bạo lực, mà đích nhắm của sự bạo lực thường là chủ của nó, một cậu bé tên Pitty.

Nhân vật kimo-kawaii Gloomy Bear.

Sự kết hợp giữa đẫm máu và dễ thương của Gloomy Bear là những gì Kakeda nhận ra được khi cô miêu tả những gì còn thiếu sót trong văn hoá nhân vật Mỹ, nơi những sinh vật dễ thương thường không có khả năng trở thành bất cứ điều gì ngoài tốt bụng và sinh vật xấu xí thì, dĩ nhiên, phải đi cùng với sự xấu xa. Nó cũng cho thấy mức độ rộng và hẹp xen kẽ nhau của văn hoá kawaii như thế nào.

Gudetama thể hiện các yếu tố của kimo-kawaii. Nó không dễ thương theo kiểu truyền thống, và vẻ bề ngoài của nó nghiêng về Spongebob hơn là Hello Kitty. Thái độ của nó không giống như trẻ con và cũng không được vui vẻ lắm. Ngoài ra, Gudetama còn thể hiện những đặc điểm của một nhóm kawaii nhỏ khác là yuru-kawaii.

Theo Kakeda, “Yuru có nghĩa là buông thả, thoải mái và bình tĩnh, thể loại này trở nên nổi tiếng vì cuộc sống căng thẳng trong xã hội hiện đại. Mọi người luôn tìm kiếm điều gì đó để khiến họ bình tĩnh và thư giãn. Ở Mỹ, có lẽ mọi người sẽ đi tìm kiếm các tiệm spa hay các lớp học thiền. Ở Nhật Bản, có những nhân vật Yuru khiến bạn bình tĩnh và thư giãn chỉ bằng cách nhìn vào chúng.”

Điển hình của yuru-kawaii là một chú gấu được biết đến với cái tên Rilakkuma, một nhân vật được do công ty đối thủ của Sanrio - công ty văn phòng phẩm San-X tạo ra. Tên của Rilakkuma có nghĩa là “có tâm trạng thoải mái” và nhân vật này có một cuộc sống không căng thẳng.

Nhân vậy yuru-kawaii Rilakkuma.

Hình ảnh không nói dối. Tôi chỉ mất khoảng 14 giây để phải lòng cái sự đáng yêu này. Nhịp tim của tôi chậm hơn. Hơi thở của tôi sâu hơn. Tôi quên mất việc giặt giũ và rửa chén của mình. Tôi trút bỏ sự lo lắng liên quan đến công việc của mình. Tôi tưởng tượng mình là chú chim nhỏ màu vàng, mặc bộ quần áo nhỏ xíu, đi chơi với hai người bạn gấu của tôi và tận hưởng một cuộc sống ấm cúng. Nhìn chằm chằm vào con gấu này khiến tôi dễ chịu hơn.

Khi Kakeda giải thích sự khác biệt giữa Rilakkuma và Gudetama, cô ấy sử dụng từ “tiêu cực” để phân biệt hai nhân vật. Đó là một đặc điểm phân biệt phù hợp. Rilakkuma là thư giãn theo mặt tích cực. Gudetama không nghiêng nhiều về sự thư giãn mà là về sự khó chịu đối với thế giới xung quanh nó. Gudetama, màu vàng và mang bộ dạng trần trụi, tự nghi ngờ về ý nghĩa cuộc sống.

Gudetama hỏi: “Nếu nhàn rỗi là hạnh phúc thật sự, thì làm những gì khác chẳng phải là đau khổ sao?”

Sự ra đời của thế hệ nhân vật sau này – một thế hệ giống Gudetama hơn là Hello Kitty

Có một sự khác biệt lớn giữa Gudetama và Hello Kitty: Hello Kitty vừa dễ thương hơn Gudetama - theo phong cách cũ - nhưng đồng thời cũng vô cảm – Hello Kitty thậm chí còn không có miệng để cười hay cau mày. Điều này khiến nó trông như một bức phông trống: Hello Kitty có thể là bất cứ điều gì mà chúng ta muốn cô nàng trở thành. Nhưng nhiều người đặc biệt cảm thấy kết nối với Gudetama vì tính cách của nó.

Và Sanrio bắt đầu tận dụng sự nổi tiếng này.

Năm ngoái, công ty đã giới thiệu Aggretsuko – từ “agrressive” (hung hăng) kết hợp với tên riêng là Retsuko – hướng đến khách hàng quốc tế (những người nói tiếng Anh). Aggretsuko là một cô gấu trúc đỏ làm việc trong văn phòng toàn những đồng nghiệp phiền phức. Để thư giãn, cô dành cả đêm để uống rượu và hát nhạc death metal tại quán karaoke.

Nhân vật Aggretsuko.

Theo Freedman, Aggretsuko hay ở chỗ, cô là một là một dạng parody nhẹ nhàng của nhóm phụ nữ Nhật “OL”, hay “office lady” (phụ nữ văn phòng), họ xuất hiện vào những những năm 80. OL là những nhân viên nữ làm việc trong những ngành nghề thiên hướng “nữ tính”, hoặc những công viêc dịch vụ với phong cách mặc định là lịch sự, đoan trang. Aggretsuko đã xoá bỏ định kiến đó, cho chúng ta thấy cô không chỉ biết “lịch sự”. Thật vậy, cô hoàn toàn thành thật về mức độ khó khăn của công việc, khi mà cô phải chịu đựng những người đồng nghiệp khó ưa của mình.

Nếu chuyện Aggretsko đang thách thức cái hình tượng ngoan ngoãn, hoài cổ của phụ nữ Nhật là một vấn đề xa lạ với người Mỹ, thì những nỗi bức bối của cô và sự khác biệt giữa cái tôi nơi công sở và cái tôi thật lại là vấn đề chung toàn thế giới.

Mặc dù tính cách của cô không giống Gudetama, Aggretsuko cũng thuộc một nhóm nhân vật kì lạ nhưng mang ý nghĩa quan trọng. Chiếc trứng lười có mông kia đã thay đổi khái niệm dễ thương của Sanrio, cũng như phản ứng của mọi người đối với nó.

Dễ thương không chỉ là vẻ bề ngoài. Nó có sức mạnh để thay đổi chúng ta, là cứu cánh cho những nỗi bức bối và sợ hãi lớn nhất của chúng ta, và có lẽ cho chúng ta thấy điều gì đó trong bản thân mà chúng ta không biết là mình cần – đặc biệt nếu cái tôi thật của bạn là một quả trứng có mông và chán ghét cuộc sống.

Hết.

Alex Abad-Santos
Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc How Gudetama, a lazy egg yolk with a butt, became an unstoppable cultural phenomenon đăng tại Vox.

Đọc bài viết

Trà chiều

Bài học đạo đức thâm sâu trong truyện cổ tích: Khi các cô gái kết hôn với quái vật

Published

on

Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật) là cuốn sách vừa ra mắt, tập hợp những câu chuyện cổ tích từ khắp nơi trên thế giới, khám phá sự khác lạ của mối quan hệ vượt ranh giới giống loài.

Trong cả hai phiên bản Người đẹp và Quái vật của Disney, giữa khung cảnh bộ đồ dùng làm bếp nhảy múa, nhạc đệm lãng mạn và điệu waltz ngất ngây, thật dễ dàng bỏ qua việc câu chuyện này kỳ lạ như thế nào. Đây là một câu chuyện - được kể lại bởi tập đoàn hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giải trí dành cho thiếu nhi - về một cô gái phải lòng một con quái vật. Trong bản hoạt hình năm 1991, biểu cảm ngốc nghếch của Quái vật khiến hắn ta trông giống con người và đáng yêu hơn hẳn, giảm bớt sự kỳ quặc trên. Nhưng trong bản live-action năm 2017, tạo hình Quái vật lại vô cùng giống… một con quái thú.

Người đẹp và Quái vật bản hoạt hình năm 1991.

Người đẹp và Quái vật bản live-action năm 2017.

Trong bản gốc Người đẹp và Quái vật được phát hành năm 1740 bởi tiểu thuyết gia người Pháp Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, Quái vật được mô tả là một loài lai tạp giữa voi và cá, với “vòi voi quấn quanh cổ”, “cơ thể nặng nề”, “tiếng loảng xoảng khủng khiếp phát ra từ bộ vảy” mỗi khi hắn di chuyển. Nhưng trong phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất - một phiên bản cô đọng dành cho trẻ em từ cựu giáo viên Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, ngoại hình của Quái vật được nhường lại cho trí tưởng tượng của độc giả. De Beaumont chỉ nói rằng hắn ta trông “đáng sợ”, và Người đẹp đã phải run rẩy “trước ngoại hình kinh khủng của sinh vật này”. Quái vật có thể trông giống một con trâu nước, hoặc một con gấu, hay một con hổ; hắn ta cũng có thể được miêu tả như một ông già tầm thường, bản chất tốt bụng nhưng ngoại hình thì cực kỳ xấu xí. Đó chính là mục đích của câu chuyện.

De Beaumont luôn lồng ghép các bài học đạo đức mạnh mẽ vào đa số những câu chuyện của mình, và xuất bản chúng như một bản hướng dẫn giáo dục dành cho trẻ nhỏ. Bà không phải là người duy nhất làm vậy. Jack Zipes viết trong cuốn sách Fairy Tale as Myth/Myth as Fairy Tale năm 1983: “Truyện cổ tích không thể trở nên phổ cập, trừ khi chúng hoàn toàn nhất quán với các nguyên tắc cơ bản về cách nam giới trong xã hội tìm cách sắp xếp mối quan hệ để thoả mãn mong muốn và nhu cầu của họ.” Thật vậy, như Maria Tatar đã chỉ ra trong phần giới thiệu tuyệt vời về tuyển tập mới Beauty and the Beast: Classic Tales About Animal Brides and Grooms From Around the World (Người đẹp và Quái vật: Những câu chuyện kinh điển về những cô dâu và chú rể động vật trên khắp thế giới), câu chuyện về Người đẹp và Quái vật vốn dành cho những cô gái có thể bị áp đặt vào những cuộc hôn nhân sắp đặt. Người đẹp bị cha mình trao đổi để nhận lại sự an toàn và của cải, và bị gửi đến sống với một người lạ đáng sợ. Tatar giải thích câu chuyện của De Beaumont nhấn mạnh sự cao quý trong hành động hy sinh thân mình của Người đẹp, đồng thời khiến độc giả phấn khích “vì một mối quan hệ đòi hỏi sự đè nén mong muốn của bản thân và phục tùng ý chí của một con quái vật.”

Nhưng Người đẹp và Quái vật cũng là một bổ sung tương đối hiện đại cho nhiều điển tích có từ hàng ngàn năm trước: những câu chuyện về con người phải lòng động vật. Những ví dụ đặc trưng đến từ Ấn Độ, Iran, Na Uy và Ireland; Tatar liệt kê những câu chuyện về vua ếch, công chúa chim, cô dâu chó, và chồng là chuột muskrat. Về cơ bản, mỗi câu chuyện là một biểu hiện cho sự lo ngại về hôn nhân và các mối quan hệ - về tính thú của các giới, và sự xa lạ giữa đàn ông và phụ nữ. Có một số câu chuyện, như Người đẹp và Quái vật, cảnh báo về sự phù phiếm hoặc độc ác. Nhưng nhiều câu chuyện chỉ đơn giản minh hoạ cho sự thôi thúc cơ bản của con người – phổ biến trong các nền văn minh – là sử dụng các câu chuyện để giải nghĩa cuộc sống.

*

Tatar viết: “Người đẹp và Quái vật là câu chuyện về sức mạnh của sự đồng cảm”, nhưng là một câu chuyện tăm tối và xạ lạ. Ngấm ngầm bên trong nó là nhiều quan ngại liên quan đến cấu trúc xã hội và cảm xúc hôn nhân: sợ hãi đối phương, không muốn rời xa gia đình, sợ thay đổi bản thân trong một mối quan hệ mới. Câu chuyện của De Beaumont “phản ánh mong muốn chuyển đổi những câu chuyện cổ tích từ vai trò giải trí thành những câu chuyện ngụ ngôn về hành vi tốt, là phương tiện để truyền dạy và khai sáng cho trẻ em về các đức tính tốt và giáo dục tốt.” Ngoại hình quyến rũ của Người đẹp kết hợp hoàn hảo với đức hạnh và lòng vị tha của cô, điều này tương phản với sự phù phiếm, tham lam và gian ác của các chị em cô.

Khi bố của Người đẹp lên đường để bắt kịp chuyến tàu vừa cập cảng, ông hỏi các cô con gái của mình muốn quà gì. Những người chị em của Người đẹp yêu cầu quần áo và đồ trang sức khác; Người đẹp, vì không muốn gây phiền hà cho cha mình hay làm xấu mặt các chị em mình, chỉ yêu cầu duy nhất một bông hoa hồng - thứ sẽ định hình số phận của cô. Cha của cô bị ngã ngựa và được dẫn lối vào ngôi nhà bí ẩn không người ở, nơi ông được cho ăn và nghỉ ngơi. Vào buổi sáng, ông nhớ tới việc phải ngắt một bông hồng cho Người đẹp, nhưng hành động không kiêng nể của ông đã triệu hồi Quái vật, kẻ đã kết án tử hình cho ông, nhưng lại cho phép cha của Người đẹp gửi một trong những cô con gái của mình đến chết thay.

Người đẹp, dĩ nhiên, hy sinh bản thân mình. “Con thà bị con quái vật đó nuốt chửng còn hơn chết vì đau buồn khi phải mất cha.” Hành động của cô đã nói với độc giả rằng việc “cứu” gia đình mình bằng cách bước vào một hôn nhân sắp đặt là hành vi cao cả, đồng thời chuẩn bị cho họ tinh thần hy sinh chính bản thân mình trong một viễn cảnh tương tự. Tatar viết: “Khát khao vật chất và leo thang xã hội thúc đẩy các bậc cha mẹ giao con gái của họ cho loài cầm thú, và các câu chuyện phản ánh hành vi này như là tập quán xã hội của thời kỳ xa xưa. Nhiều cuộc hôn nhân sắp đặt khiến ta có cảm giác như bị trói vào tay một con quái vật.”

Tương tự, nhiều câu chuyện trong tuyển tập của Tatar là “huyền thoại khởi đầu” – các câu chuyện kể về những nghi lễ đa dạng khi bước vào tuổi trưởng thành, cho dù bằng cách giết rồng, hành trình qua các quốc gia hay giao ước với những linh hồn kỳ lạ và không đáng tin cậy. Trong Cupid và Psyche, Psyche bị ép kết hôn với một con quái vật, và nàng bị cấm nhìn thấy gương mặt hắn ta. Hàng đêm, hắn ta làm tình với nàng trong bóng tối. Nhưng các chị em của nàng (cũng là những kẻ nhiều chuyện quỷ quyệt) thuyết phục nàng dùng một ngọn đèn để nhìn trộm, lúc đó nàng phát hiện hóa ra đó là thần Cupid, “người đẹp trai và quyến rũ nhất trong các vị thần”. Tuy nhiên, hậu quả của việc bất chấp quy tắc của nàng thật là thảm khốc. Thần Cupid biến mất, và Psyche phải vượt qua những nhiệm vụ bất khả thi để chứng minh giá trị của mình với Venus, người mẹ độc đoán của Cupid.

Amore e Psiche bởi Giuseppe Crespi, cảnh Psyche dùng ngọn đèn để nhìn trộm Cupid.

Trong một câu chuyện của người Ghana, Tale of the Girl and the Hyena-Man (Câu chuyện về cô gái và chàng linh cẩu), một cô gái trẻ tuyên bố cô sẽ không lấy người chồng mà cha mẹ đã chọn. Thay vào đó, cô ấy chọn một người lạ, “một chàng trai trẻ, có sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt vời”. Thật không may, anh ta hoá ra là một con linh cẩu giả dạng - gã đã đuổi theo vợ mình khi cô biến mình thành một cái cây, sau đó là một vũng nước, sau đó là một hòn đá. Câu chuyện kết thúc ngắn gọn: “Truyền thuyết về cuộc phiêu lưu của cô được truyền lại cho tất cả mọi người, và đó là lý do tại sao cho đến ngày nay phụ nữ không được phép tự chọn chồng cho mình và đó cũng là lý do tại sao trẻ em cần học cách vâng lời người lớn tuổi.”

Những câu chuyện cảnh báo phụ nữ về hiểm nguy của quyền tự quyết và hậu quả của sự tò mò không kiểm soát cũng phổ biến tương tự những câu chuyện khuyên răn các chàng trai về thói hoang dại hiển nhiên của đàn bà. Khi cô dâu là động vật, họ biến thành người nội trợ đảm đang và có năng lực, nhưng thú tính vẫn còn trong họ. Trong The Swan Maidens (Tiên nữ thiên nga), một thợ săn bắt gặp một nhóm phụ nữ trẻ đang tắm trong hồ sau khi trút bỏ áo choàng làm từ lông vũ. Anh ta giấu đi một chiếc áo choàng, khiến một trong những thiếu nữ bị mắc kẹt trong hình dạng con người, bất lực nhìn những người chị em của mình hóa thiên nga bay về trời. Người thợ săn kết hôn với cô; họ có hai đứa con và sống hạnh phúc bên nhau, nhưng một ngày nọ, khi cô tìm thấy chiếc áo choàng lông vũ bị giấu đi, cô lập tức mặc nó vào và trở lại hình dạng thiên nga, bay đi và bỏ rơi chồng con mình.

Tiên nữ thiên nga dường như nói lên mong muốn bẩm sinh của phụ nữ, cũng như cảm giác trung thành và tình thân đối với bộ tộc nguyên thuỷ của một người. Nó cảnh báo độc giả nam về sự khác biệt tiềm ẩn trong phụ nữ, những người từ lâu được quy là quá gần gũi với thiên nhiên, quá hoang dã. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ những gì Tatar miêu tả là “bản chất áp bức bí mật của hôn nhân, với nhiệm vụ trong nom và nuôi dạy con cái. Những cô dâu động vật là những người bạn đời tuyệt vời khi đảm nhận nhiệm vụ trong gia đình, nhưng có một cái giá phải trả: Họ không được phép nắm giữ chìa khoá tự do của mình.

*

Rất nhiều yếu tố nguyên sơ và cảnh báo trong truyện cổ tích được Angela Carter đề cập hoặc lật tẩy trong The Bloody Chamber (Căn hầm đẫm máu), một tuyển tập truyện năm 1979 lấy cảm hứng từ truyện dân gian. Trong tiêu đề câu chuyện, nhân vật nữ chính bán mình cho cuộc hôn nhân, bỏ qua những nghi ngờ của mẹ cô; sau đó cô “rời đi Paris, rời xa thời con gái, rời xa không gian yên tĩnh trắng muốt trong căn hộ của mẹ tôi để đến đất nước không thể đoán được về hôn nhân.” Cuối hành trình là người chồng người mà thực sự là một con quái vật – không phải một con thú mà là một kẻ sát hại phụ nữ hàng loạt. Cuối cùng nhân vật nữ chính không phải được cứu bởi một người đàn ông mà bởi người mẹ liều lĩnh, dũng cảm và nổi loạn của cô.

Những cạm bẫy đạo đức trong truyện cổ tích tràn ngập trong các câu chuyện của Carter, nhưng bà từ chối tuân theo các quy ước của họ. Trong Căn hầm đẫm máu, Carter đã tạo nên một câu chuyện ngụ ngôn nữ quyền, riêng biệt và chứng minh rằng ngay cả những mô hình kể chuyện lâu đời nhất cũng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những trải nghiệm vào lo lắng đương thời.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc The Dark Morality of Fairy-Tale Animal Brides được thực hiện bởi Sophie Gilbert, đăng tại The Atlantic.

Ảnh đầu bài: Minh họa Người đẹp và Quái vật, 1913 bởi Warwick Goble

*

Có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Cafe sáng