Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Mình cần nói chuyện về Kevin và công cuộc trả đũa bạo tàn

Trong mắt tôi thế giới chia làm hai loại, kẻ xem và kẻ được xem, và càng nhiều người xem thì càng ít thứ để xem. Những người thực sự làm gì đó thực sự là loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Published

on

Thật khó để tưởng tượng ra quá trình Lionel Shriver viết nên Mình cần nói chuyện về Kevin, một cuốn sách nằm chênh vênh giữa những bến bờ đạo đức, giữa lạnh lùng đỉnh điểm và những khúc cua ngoặt khỏi lý trí. Shriver đi ven biên giới của những quan điểm nhạy cảm: giữa tội ác – tình thân, giữa căm thù – tha thứ. Tuy dựa trên câu chuyện có thật về các sự kiện đã từng xảy ra, thế nhưng với cách viết khoắng sâu vào lòng người đọc, thậm chí đôi khi còn là nhát lẹm cắt phạm vào cực hạn đạo đức mà mỗi một người vẫn tự quy ước; Shriver mang đến cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng cho những ai đủ can đảm theo dõi xuyên suốt cuộc đấu của những bộ não lạc lối trong mê cung xã hội đầy nhiễu nhương, lệch lạc, loạn trí.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Mình cần nói chuyện về Kevin.

*

Cuốn sách được kể thông qua những lá thư mà Eva viết cho chồng mình – Franklin sau ngày thứ 5 đen tối ở trường Gladstone, nơi máu do vụ thảm sát Kevin gây ra rực sáng góc nhà thể chất như trong lễ hội ném cà chua ở những cảnh đầu phim chuyển thể. Từ đó, cô lần ngược về lại thời khắc của những dè dặt, tranh cãi nơi cặp vợ chồng vào độ trung niên hoang mang liệu nên có một đứa con; câu chuyện dần dà tiếp tục diễn tiến đến khoảng thời gian cậu bé lớn lên cùng những hành động kỳ lạ, những mưu tính khó đỡ và hơn hết là thế đối đầu giữa Eva và con trai mình. Ẩn sâu giữa những xung đột gia đình vợ – chồng – con cái, đồng thời hiện lên đời sống chính trị – xã hội ngột ngạt, những trào lưu mới, những làn sóng mới mà những đứa trẻ mới lớn bị hút chặt vào trong từ trường lệch lạc. Lionel Shriver am hiểu phụ nữ đến vô cùng tận. Bà viết Mình cần nói chuyện về Kevin trong giọng nói của Eva, nhưng từng câu, từng chữ và từng suy nghĩ của cô đều chứa đựng một sự chua chát ngấm ngầm. Và hơn ai hết, dường như chỉ có Shriver mới viết được một cuốn sách đầy gai góc và mong manh giữa những phạm trù đạo đức như thế.

Đi tuần tự tuyến tính theo ba khoảng thời gian: giữa quyết định có con, khi Kevin lớn lên và cuối cùng đến tuổi trưởng thành; Shriver đánh dấu tiểu thuyết của mình cũng theo ba giai đoạn đó. Với phần đầu khi cặp gia đình thành công, hạnh phúc, thượng lưu đang tận hưởng những ngày êm đẹp của mình, thì một thứ gì đó đánh thức họ sau cuộc nói chuyện ở nhà Louise nơi Eva thấy ở Franklin niềm khao khát phận sự lớn lao. Cũng chính trong đêm đó, những cãi vã lần đầu xuất hiện giữa họ, và cũng là nguồn cơn tạo ra mọi thứ. Là một doanh nhân thành đạt với công ty lữ hành, một nhà nhân chủng học, một người xem cả thế giới là nhà mình – Eva từ lâu vốn luôn ngờ vực về việc có con. Đối với cô việc có thêm một đứa trẻ chỉ đơn thuần như việc duy trì nòi giống, tiếp tục cuộc sống vốn luôn dè dặt, âu lo khi cả hai đã quá hạnh phúc từ trước đến giờ. Thế nhưng với những khúc quanh trong cảnh dè dặt đầy phiền muộn này, Shriver mở ra cả một vũ trụ của những quan điểm mang thai.

Đầu tiên về sự ích kỷ. Ở một khắc nào đó, ta thấy Eva và Franklin có đủ mọi thứ mà mọi người cần. Giàu có, sung mãn, hạnh phúc và cuốn hút lẫn nhau. Thế nhưng việc chần chừ mang thai đứa con liệu có xuất phát từ sự ích kỷ cho riêng bản thân? Là người điều hành công ty lữ hành, việc của Eva là xách ba lô lên và đi. Thế nên nếu có Kevin, nghĩa là việc đó sẽ phải chấm dứt. Và dù sau này khi Eva đã chấp nhận chính đường hướng đó, những lời kêu than về việc nhảy múa ở tháng thứ 7, những viễn cảnh đau đớn trong tháng mang thai hay cơn đau đớn lúc sinh Kevin; dường như gợi cho người đọc một chút gì đó về sự không mong muốn ở người phụ nữ này.

Sự không mong muốn đó có thể là khởi đầu cho những lý giải về cách Kevin hành xử và cho nguồn cơn của cuộc thảm sát mà cậu tạo ra. Bào thai gắn kết với mẹ một cách thiêng liêng, ít nhiều nếu có toan tính từ trong vật chủ, hẳn nhiên những sinh vật mới và đầy nhạy cảm ấy cũng sẽ là người cảm nhận rõ nhất. Từ khi Kevin còn nằm trên ngực em, em ngay lập tức cảm thấy nó đã là một con người đầy đủ tri giác với đời sống nội tâm phức tạp và khôn ngoan. Còn về phía Franklin, anh đón nhận việc có con đầy háo hức trong khuôn khổ những người đàn ông Mỹ điển hình – khoa trương, mềm yếu và đầy bao che. Việc dang tay che chở trong khao khát một đứa con trai, việc bảo bọc nó trong mọi khoảnh khắc… Kevin tuy nhiên chỉ là đứa trẻ từ lúc sinh ra, thế nhưng, nó xem cách cư xử của cha như một trò hề. Trong khi hai người họ tranh cãi về những thiên chức của mình, Kevin ở đó quan sát, lớn lên và hình thành trong mình dòng máu đầy những quả bom nổ chậm.

Và cũng từ khi Kevin tồn tại ở đó, một sự gặm nhấm vào trong Eva được cô cảm nhận từ sâu trong mình. Cũng như những người đọc khác, một sự nghi ngại về tính khả thi của lựa chọn này không thể không đưa ra bình luận. Việc một đứa trẻ sinh ra và hiểu hầu hết mọi thứ trên đời trong vẻ lãnh cảm, xa cách và lạnh lùng cố hữu liệu có quá thực tế? Liệu Kevin quá thông minh hay Shriver đã viết nên một cuốn sách đầy tính thần thoại? Nếu con rắn ở vườn địa đàng dụ dỗ Eva thử ăn trái cấm; thì với Eva (trong cuốn sách này), một con rắn khác đã được hình thành và xui khiến cô – không khác mấy so với câu chuyện ban đầu. Việc từ chối sữa mẹ, lẳng lặng học đếm và không ăn khi có ai khác đang quan sát mình; những hình tượng thần thoại thế này dường như không quá phù hợp, và ở điểm này Shriver mang đến người đọc một sự hoài nghi về tính logic và sự xác thực. Thế nhưng cũng rất có thể bản chất của cái lãnh cảm đã được sinh ra từ trong nguyên bản, tồn tại và phân chia sâu.

*

Kevin ngày càng lớn lên thì những thứ đáng sợ lại càng dâng lên. Shriver nâng cấp những chi tiết này trong vẻ kinh dị của sự lạnh lùng. Từ việc trêu chọc người phục vụ có vết bớt là “mặt phân” đến phá hỏng những tấm bản đồ trên tường; từ việc không chịu đi vệ sinh mà vẫn mặc tã đến tận 6 tuổi cho đến nhại lại những khi Eva nổi nóng; Kevin từ lâu tạo nên cuộc chiến giữa mẹ và chính cậu ta – như lời sau này cậu nói ở lần thăm tù – Bà chưa từng muốn sinh ra tôi phải không? Và dĩ nhiên, mọi thứ chưa dừng ở đó. Việc dụ dỗ Violetta cào những lớp da từ phần cơ thể lành lặn do bệnh chàm, việc vặn bộ nhả phanh phía trước xe đạp của Corley, móc ruột chiếc bánh sinh nhật hay thì thầm và làm tổn thương cô bé ở vũ hội lớp tám… Tất cả dường như chỉ mới bắt đầu cho những tháng ngày kinh khủng.

Thế kình chống giữa Kevin và Eva cũng như sự hoang tưởng của Franklin là động lực chính khiến Kevin ngày càng trở nên dữ tợn trong hành động mình. Cậu tìm cách phá vỡ mối quan hệ của cha mẹ mình, luôn luôn đáp trả 1 chọi 1 với mẹ trong sự bao che của cha. Để rồi khi Celia ra đời, cậu càng cảm thấy vị thế đang bị đe dọa, đơn giản bởi lẽ bản thân không còn là cái đinh trong mắt để chọc tức được mẹ. Việc phân chia tình cảm một cách ngầm hiểu khi cậu cho cha và Celia cho mẹ làm cậu đau đớn. Cái đau đớn lạnh lùng ấy được hiện thực hóa bằng cách bỏ sâu trong cặp em gái, dụ dỗ cô bé leo cây để rồi mắc kẹt hàng tiếng đồng hồ. Hơn thế là món soup lõm bõm đánh vào nỗi sợ cố hữu và đẩy đến cao nhất bằng cách đổ nước thông cống vào mắt cô bé hay là thủ dâm trước mặt mẹ mình.

Kevin nâng lên từ từ những cách trả thù của bản thân mình mỗi khi Eva tìm được cách khác hẳn cao tay hơn. Việc làm mù một mắt Celia và biến dạng hoàn toàn bởi acid một bên mặt cô bé làm mẹ cậu đau đớn, dẫn đến rạn nứt trong mối nghi ngờ mà việc ngụy tạo vu khống cô Pargorski như giọt nước tràn ly khiến cuộc hôn nhân đi vào kết thúc. Và ngay sau đó cậu nhận ra rằng, thà sống với một kình địch như chính mẹ cậu còn hơn sống với người cha như một tên hề, kẻ bị dắt mũi để rồi mãi mãi mắc kẹt với bố.

*

Cũng chính ở chi tiết cuối làm nên bi kịch của ngày thứ năm ở sân thể chất. Việc mắc kẹt với bố và phải từ bỏ tình thế trả đũa Eva khiến Kevin nuôi thêm một sự trả thù ở cấp độ khác còn khủng khiếp hơn. Khi đã quá mỏi mệt với trò trả đũa lẻ tẻ, nay khi cuộc hôn nhân chìm xuồng đang ngay trước mắt, cuối cùng Kevin cũng đã phản công cướp hết những gì Eva từng dấu yêu. Từ người chồng, cô con gái đến niềm kiêu hãnh, bản năng của việc làm mẹ; nay Kevin cướp sạch mọi thứ không chừa thứ gì cho bà mẹ ấy.

Cây nỏ và chín mạng người ở phòng thể chất vốn bị khóa kín. Bảy học sinh – những ai cậu luôn cho rằng vốn thích tỏ vẻ, và một giáo viên từ lâu đọc vị được mình. Không dừng ở đó, vào buổi sáng trước khi bi kịch ở trường diễn ra, năm mũi tên cắm ngập Celia vào trong hồng tâm và một ngay ức người cha đáng thương đã mang tất cả ra khỏi Eva như điều cuối cùng. Mười một mạng người và bảy năm tù vì còn ba ngày mới kịp 18, đó là tất cả những gì cậu phải chịu đựng – những gì vốn hẳn đã toán tính trước. Từ kế hoạch trùng khớp đến từng chi tiết đến việc dùng nỏ thay súng để tránh tiếng động; từ việc đặt mua hàng tá chiếc khóa xe đạp đến việc dùng thuốc an thần như lời biện hộ… Tất cả cho thấy một nỗi bất ổn dâng lên từ từ, có kế hoạch, quá trình và dĩ nhiên, được nghiên cứu một cách cẩn thận.

Đến cuối cùng, vào sinh nhật lần thứ 18, cậu cũng đã sẵn sàng từ bỏ mặt nạ của người thiếu niên lạc lối trong những mê cung của bản thân mình. Ở chi tiết này Shriver cố gắng mang lại hy vọng nào đó từ phía Kevin, khi cậu nhận ra rằng những việc mình làm hoàn toàn vô nghĩa. Cậu gục đầu khóc trên vai Eva và thừa nhận rằng không hiểu những gì đã làm. Thế nhưng lại một lần nữa vượt lên trên hết, Eva đã thắng ở ván sau cùng khi không còn đó chứng kiến công cuộc trả đũa đi vào hồi kết. Cô đi một bước phía trước bằng chính cái chết nơi bản thân mình, khép lại những pha rượt đuổi như cuộc báo thù những gì đã qua.

*

Với Mình cần nói chuyện về Kevin, Lionel Shriver đã khắc họa nên bức tranh của những bất ổn tâm lý xã hội, của những đối lập trong mối quan hệ gia đình đầy sự trả đũa leo thang theo cấp số nhân. Đồng thời, bằng việc thấu hiểu cảm xúc của người phụ nữ cùng những trần thuật đầy vẻ chua cay, Shriver đã họa nên một tổng thể bi kịch xót xa. Được trao tặng giải thưởng Orange vào năm 2005, Mình cần nói chuyện về Kevin là cuốn sách dữ dội, đau đớn, bi thiết và đầy cảm xúc về một câu chuyện gia đình đầy sự tổn thương. Dữ dội muôn vàn lớp ngầm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh: BachvietBooks

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khúc hát của cây: Thước phim Pocahontas về thời hiện đại

Pocahontas – bộ phim hoạt hình Disney về một tù trưởng da đỏ trong thế kỷ 17 tại Bắc Mỹ. Bằng tình yêu và sự quả cảm, cô đã trở thành cầu nối hòa bình giữa người da trắng và người da đỏ.

Published

on

By

khuc hat cua cay feature

          Vẻ đẹp là tài sản của các mối quan hệ được đan dệt và có thể nghe được thông qua đôi tai được thiết kế riêng biệt và đa năng

Nếu Rachel Carson từng mang đến cho tôi những nhận thức thức thời về môi trường dường như luôn đúng dẫu bao năm qua, Michael Pollan là mối liên hệ được thêu dệt giữa mọi sinh vật trong một mạng lưới mạng sống; thì có thể nói, David George Haskell là người đầu tiên cho tôi cảm thức tìm về nguồn cội, lạc vào thế giới tự nhiên để đến đúng tâm điểm, khi con người và đời sống tự nhiên là hai phạm trụ lồng trong nhau, không tách khỏi nhau, tồn tại song song và phát triển cùng nhau. 

Khúc hát của cây đầy tính tượng thanh như chính tên gọi của nó. Có những thanh âm đến từ những khu vực còn chưa có nhiều tác động của con người như rừng Amazon ở biên giới Ecuador; nhưng cũng đôi khi, cây đứng đó và hòa mình vào những thanh âm của đời sống hiện đại khu Manhattan, New York hay đời sống chính trị đầy căng thẳng ở biên giới Palestine và Israel. Ở mỗi khoảnh khắc và mỗi nơi chốn, thực vật hay đời sống tự nhiên luôn gợi con người trở về với tổ kén của mình, và Haskell một cách tài tình với bộ não của một nhà khoa học trong giọng kể của một nhà thơ đã một lần nữa đi lại từ đầu, thức tỉnh, đánh bóng và làm rõ vai trò của loài Homo sapiens trong mạng lưới đầy phức tạp này.

Gồm 3 phần lớn và cũng đồng thời là 3 cuộc khảo sát tỉ mỉ những điều kiện khác nhau, Khúc hát của cây đưa ta về vùng hoang dã rừng Amazon với cây Ceibo, nơi tiếng mưa dường như thay đổi theo từng điều kiện, đối tượng hay bộ phận cây cối. Mưa là một thanh âm quen thuộc, nhưng liệu có bao giờ ta chịu lắng nghe những thang âm riêng biệt của chúng? Cách ly bối cảnh trong một khu rừng dường như nguyên sơ với bộ tộc người Waonari đầy tinh khôi và chất phác, con người như đang vượt thoát khỏi chốn hang động ý thức của Plato để đến với tiếng nói thiện lành của những gì trần truồng và nguyên bản nhất nơi con người chúng ta.

Đọc phần đầu tiên của cuốn sách này ta không thể không nhớ đến Pocahontas và những linh hồn rừng sâu của cô. Nếu nữ chiến binh bộ tộc da đỏ từng chiến đấu hết mình vì tình yêu xuyên qua sắc tộc cũng như niềm tin hướng vào tự nhiên; thì mối quan hệ giữa các loài với nhau, về nghệ thuật khoa học và chiến tranh sinh học đạt đến đỉnh điểm hay tính cộng đồng trong đời sống người Waorani đã một lần nữa cho ta góc nhìn nguyên bản nhất về giới tự nhiên. Nếu tính cá nhân bị lu mờ trước tập thể trong cộng đồng này, thì luôn tồn tại những mục đích nhỏ nhen khác, khi con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Từ khu rừng có phần hoang dã để ta nhìn lại những gì là tự nhiên nhất, Haskell dẫn dắt người đọc quay ngược về thời lịch sử, với những hóa thạch, địa tầng trồi sụt đã từng tạo nên những cá thể đầu tiên nhất, để từ đó cho thấy tự nhiên không chỉ được kết nối qua một mạng lưới, mà bản thân nó đã là một tấm lưới. Trong quá trình ấy, đi từ chuyển lưu, giao tiếp, phụ thuộc lẫn nhau sang loại thải bởi đột biến và chọn lọc tự nhiên; mối quan hệ giữa những loài với nhau được thắt chặt và càng khẳng định hơn nữa, thực vật hay những sinh vật đơn bào nhỏ bé cũng đều có những tế bào thần kinh truyền dẫn ghi nhớ. Chúng có trí thông minh để tạc ghi những mối quan hệ với các giống loài khác.

Trong những di chỉ của người Mesolithic khai quật được ở tại công trường Queensferry vùng Edinburg nước Anh, người ta đã chứng minh rằng hóa thạch của than, củi thu thập từ đây đã có tuổi đời hơn 10.369 năm. Từ gỗ cây phỉ dùng sưởi ấm cho đến loại hạt họ ăn hàng ngày; những hóa thân gỗ này biến thành than đã bị chôn vùi, từ đó được tìm thấy trong lịch sử ngành khai thác mỏ. Từ khói của những lò lửa mà bất cứ tác phẩm văn chương nước Anh đương đại nào trong thời kì này cũng từng khắc họa; cho đến những phần tử nhựa trôi lênh đênh phía trên đại dương để rồi tắp vào gốc cọ Sebal bật rễ; một phần nào đó Haskell cũng mang đến cho ta góc nhìn về những gì con người đã làm với giới tự nhiên.

Dù cho là những hoạt động có vẻ đánh mất nhân tính, nhưng tự nhiên không chần chừ và ôm cánh tay lần nữa tái sinh. Trong mối quan hệ giữa các loài vi khuẩn biển và sinh vật phù du, rác thải nhựa khiến sự trao đổi thông tin giữa các tế bào bị phá vỡ, khiến những sinh vật này có sự biến đổi so với tổ tiên mà chúng thừa hưởng, phần nào giải quyết một phần được rác thải nhựa. Thế nhưng như một câu hỏi mà ông trích dẫn từ Thoreau khi chứng kiến hàng ngàn những người tị nạn Ireland vì nạn thiếu ăn phải lênh đênh rồi chết trên biển, rằng “Tại sao phải lãng phí thời gian trong nỗi sợ hay lòng thương hại?”, thì tự nhiên giờ đây đứng trước con người cũng vẫn với ánh mắt ấy, với bụi mịn, khí thải, bê tông hóa, đô thị hóa hay rác thải nhựa… Tất cả đặt ra câu hỏi của Thoreau trong thời đại này, dường như cấp bách và khó khăn hơn cả.

Con người ta dần dà xâm chiếm để khai thác dầu khi không đạt được thỏa thuận bảo vệ rừng của chính phủ trong cam kết quốc tế, mà hành động ấy như người Waorani mô tả, là cắt cụt tay cụt chân loài cây Ceibo, cắt cụt sự sống.

Nhưng một mặt nào đó, mục nát không phải là đã kết thúc, mà nó là bom hẹn giờ, là ngòi kích nổ cho quá trình tái sinh. Với những tàn tích để lại của cây tần bì xanh vươn cao đã ngã, từng loài ong bắp cày, bọ cánh cứng, ruồi, cuốn chiếu… đã đến và hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhìn nhận con người không thoát khỏi mối quan hệ giữa các thành phần môi trường, thời đại ngày nay dường như loài Homo sapiens cũng đang tham gia vào quá trình ấy, khi Trung Quốc và Ấn Độ có một chiến dịch cải thiện trong việc phủ xanh những đồi đất trọc; còn những nước tiên tiến đã đến gần hơn với xe hạn chế phát thải trong dáng hình của xe điện mà Tesla dường như đi đầu trong phân khúc này.

Haskell không phải là người tiên phong chỉ riêng trong việc lắng nghe cây cỏ; mà ông vươn xa hơn với tác phẩm này, để đến với những trường đoạn triết học, đạo đức, tôn giáo, chính trị… thông qua đời sống tự nhiên. Ở đó liệu cây hay những loài sinh vật khác có nhận thức được thẩm mỹ hay những làn ranh đạo đức ta vẫn thường nghe? Vì bởi giá trị vẻ đẹp nằm ở trạng thái bên ngoài. Nó tồn tại trong tâm trí kẻ đang chiêm ngưỡng, nên hoàn toàn có thể nói rằng, cây cối hay mọi thành phần trong một mạng lưới đều có một thẩm mỹ riêng. Và có hay không lằn ranh đạo đức chia đôi thế giới thành hai đối trọng chúng tachúng, khi con người rốt cuộc cũng là tự nhiên, khi hủy hoại môi trường cũng là đồng thời giết đi chính mình, bởi bất cứ loài sinh vật nào cũng có một thẩm mỹ riêng, một vẻ đẹp riêng, một trí khôn riêng.

Mang con người từ vùng hoang dã và từ quá khứ về lại đời sống đô thị, Haskell phần nào mô tả “nỗi sợ địa lý” của loài Homo sapiens với thế giới tự nhiên. Nếu người da màu sợ hãi khu rừng vì những giá treo cổ có thể ập đến họ bất cứ lúc nào như bài ca Strange Fruit của Billie Holiday, phụ nữ thì sợ tiến trình ‘cô bé quàng khăn đỏ’ khi phải nương nhờ một sức mạnh nào đó, tránh khỏi bắt bớ, hãm hiếp hay lợi dụng. Người da trắng cũng chẳng tốt hơn, khi nếu dừng lại quá lâu trên một vỉa hè cũng là vi hiến hoặc phạm pháp. Giữa đời sống thành thị mà con người bị gò bó như thế, tự nhiên và sự mất mát bản sắc đa dạng đang tỉ lệ thuận với sự đồng hóa. Những loài thực vật ngoại lai như Lê Callery đang bị lên án bởi những đặc tính của mình. Nhưng nhờ có hơn 5 triệu cây xanh ở riêng New York mà nó đã giảm thiểu 2 ngàn tấn chất ô nhiễm không khí và xử lý gần hơn 40 ngàn tấn CO2.

Cây cối đã đứng đó như một hiện thân từ trong lịch sử. Những cây olive ở xứ Tiểu Á vừa là ngọn nguồn vừa là phế tích cho những kì địa chất đã qua. Những trầm tích từ phấn hoa bay qua Biển Chết báo hiệu một lịch sử dài của chính loài người. Từ cổ chí kim khi qua những kiến tạo địa chất cho đến nhân tạo hơn, trong cuộc chiến giữa Palestine và Israel hay quả bom nguyên tử biến Hiroshima thành bãi chiến địa; thì cây cối vẫn vững vàng, đứng đó, và ghi lại âm thầm trong mình một khúc hát riêng. Tường tận, bao quát mà đầy trữ tình; Khúc hát của cây là một tác phẩm lớn làm nên cuộc cách mạng về nhân tính, về sợi dây kết nối và hơn hết là vẻ đẹp của tự nhiên, để đặt ngang hàng với những tuyệt tác của Thoreau, Rachel Carson hay Aldo Leopold.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Cafe sáng